1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước đối với Doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Hà Đông

68 1,9K 30

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân là vấn đề có nội dung rộng, liên quan đến nhiều chủ đề. Ở nước ta hiện nay, quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân sau đăng ký kinh doanh là vấn đề có tính cấp thiết, đặc biệt là ở các quận, thành phố lớn. Luật Doanh nghiệp 2014 đã đơn giản hóa thủ tục, giảm nhiều rào cản gia nhập thị trường, Luật Đầu tư 2014 đã xóa bỏ các phân biệt đối xử giữa những nhà đầu tư, bảo đảm hỗ trợ đầu tư. Tuy nhiên theo nhận định của nhiều nhà kinh tế, các doanh nghiệp tư nhân hiện nay chưa phát huy được hết tiềm năng của mình, còn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân một phần do bản thân các doanh nghiệp tư nhân chưa có nhiều kinh nghiệm nhất định trong nền kinh tế thị trường, chưa đủ năng động sáng tạo trong kinh doanh. Quan trọng hơn là hiện tại chưa có một khuôn khổ chính sách rõ ràng của Nhà nước trong việc đưa ra những biện pháp hữu hiệu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân phát huy hết khả năng của mình.

Trang 1

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG – HÀ NỘI

Giảng viên hướng dẫn : ThS Vũ Thị Bích Ngọc

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Uyên

Hà Nội, năm 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của Khoa quản lý nhà nước về Kinh tế - Học việnHành chính quốc giá, và sự đồng ý của Giáo viên hướng dẫn Th.s Vũ ThịBích Ngọc, em đã thực hiện đề tài “Quản lý nhà nước đối với các doanhnghiệp tư nhân trên địa bàn quận Hà Đông, Hà Nội”

Để hoàn thành bài khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy

cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiêncứu và rèn luyện ở Học viện Hành chính quốc gia

Xin chân thành cảm ơn cô Vũ Thị Bích Ngọc đã tận tình hướng dẫn,chỉ bảo để em có thể hoàn thiện bài khóa luận một cách tốt nhất

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnhnhất, song do hạn chế về thực tế cũng như kiến thức nên không thể tránh khỏinhững thiếu sót mà bản thân chưa thấy được Em rất mong được sự góp ý củacác thầy, cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Nguyễn Thị Uyên

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Phần mở đầu 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 4

1.1 Khái quát về doanh nghiệp tư nhân 4

1.1.1Khái niệm doanh nghiệp tư nhân 4

1.1.2 Vai trò của doanh nghiệp tư nhân 4

1.1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân 7

1.2 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân 8

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân 8

1.2.2 Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân 9

1.2.3 Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân 10

1.2.4 Phương hướng can thiệp của Nhà nước vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân 12

1.2.5 Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân 14

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân ở một số quận, huyện trên cả nước 22

1.3.1 Quận Thanh Xuân, Hà Nội 22

1.3.2 Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh 23

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho quận Hà Đông 24

Chương 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH GHIỆP TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI 26

2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội quận Hà Đông, Hà Nội 26

Trang 4

2.1.1 Dân số 26

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế quận Hà Đông, Hà Nội 27

2.2 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Hà Đông 28

2.2.1 Số lượng 28

2.2.2 Cơ cấu ngành nghề 29

2.2.3 Quy mô lao động 30

2.2.4 Quy mô vốn 32

2.2.5 Đóng góp của doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Hà Đông 33

2.3 Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân tại quận Hà Đông 34

2.3.1 Công tác thực thi các văn bản pháp luật liên quan đến doanh nghiệp tư nhân 34

2.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước quản lý doanh nghiệp tư nhân 35

2.3.3 Công tác hỗ trợ tạo môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp tư nhân 37

2.3.4 Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính 40

2.4 Đánh giá chung tình hình quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân tại quận Hà Đông 42

2.4.1 Những mặt đạt được 42

2.4.2 Những hạn chế, yếu kém 43

2.4.3 Nguyên nhân của những yếu kém hạn chế 45

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HÀ ĐÔNG 48

3.1 Các căn cứ để xây dựng giải pháp quản lý nhà nước đối đối với doanh nghiệp tư nhân 48

3.1.1 Định hướng phát triể doanh nghiệp thành phố Hà Nội đến 2020 48

3.1.2 Mục tiêu phát triển doanh nghiệp tư nhân 49

3.2 Một số giải pháp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân 49

3.2.1 Tăng cường công tác phối hợp, trao đổi thông tin trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân sau đăng ký kinh doanh 49

3.2.2 Tăng cường các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân 50

Trang 5

3.2.3 Đơn giản hóa thủ tục hành chính, đặc biết là thủ tục về thuế 51

3.2.4 Tập trung đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao 52

3.2.5 Nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra, giám sát doanh nghiệp tư nhân 54

3.3 Kiến nghị 54

Kết luận 57

Tài liệu tham khảo 59

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DNTN Doanh nghiệp tư nhân

ĐKKD Đăng ký kinh doanh

CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóaGDP Tổng sản phẩm trong nước

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về doanh nghiệp……… 18Hình 1.2 Sơ đồ cơ quan quản lý nhà nước theo “vòng đời” doanh nghiệp 19

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Dân số trung bình của quận Hà Đông từ 2012 – 2015 26Bảng 2.2: Phân bố lao động theo lao động theo loại hình doanh nghiệp tưnhân 2011 – 2015 31

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu kinh tế quận Hà Đông năm 2015 28Biểu đồ 2.2: Số lượng doanh nghiệp tư nhân 2011 - 2015 29Biểu đồ 2.3: Phân bố doanh nghiệp tư nhân theo cơ cấu ngành nghề trongnăm 2015 30Biểu đồ 2.4: Quy mô vốn của các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận HàĐồng năm 2015 32Biểu đồ 2.5: Số lượng doanh nghiệp thực tế tồn tại tính đến thời điểm31/12/2015 41

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế ở bất kỳ một quốc gianào, doanh nghiệp tư nhân cũng là một đơn vị cơ sở, một tế bào của cả nềnkinh tế, là một trong những bộ phận tạo ra tổng sản phẩm trong nước Sự pháttriển của doanh nghiệp tư nhân sẽ giải phóng và phát triển sức sản xuất, huyđộng và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết địnhvào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngânsách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm,xóa đói giảm nghèo,… Có thể nói vai trò của doanh nghiệp tư nhân có quyếtđịnh sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định

và lành mạnh hóa các vấn đề xã hội

Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân là vấn đề có nội dungrộng, liên quan đến nhiều chủ đề Ở nước ta hiện nay, quản lý nhà nước đốivới các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân sau đăng ký kinhdoanh là vấn đề có tính cấp thiết, đặc biệt là ở các quận, thành phố lớn LuậtDoanh nghiệp 2014 đã đơn giản hóa thủ tục, giảm nhiều rào cản gia nhập thịtrường, Luật Đầu tư 2014 đã xóa bỏ các phân biệt đối xử giữa những nhàđầu tư, bảo đảm hỗ trợ đầu tư Tuy nhiên theo nhận định của nhiều nhà kinh

tế, các doanh nghiệp tư nhân hiện nay chưa phát huy được hết tiềm năng củamình, còn gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân một phần do bản thân cácdoanh nghiệp tư nhân chưa có nhiều kinh nghiệm nhất định trong nền kinh tếthị trường, chưa đủ năng động sáng tạo trong kinh doanh Quan trọng hơn làhiện tại chưa có một khuôn khổ chính sách rõ ràng của Nhà nước trong việcđưa ra những biện pháp hữu hiệu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhânphát huy hết khả năng của mình

Trang 11

Hiện nay, việc quản lý doanh nghiệp tư nhân khi đăng ký thành lập vàsau thành lập được thực hiện theo quy định của luật và các văn bản hướng dẫnthi hành, quy định quản lý doanh nghiệp của cơ quan cấp trên Trên thực tế, ởthành phố Hà Nội hiện nay, việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệpcũng như việc quản lý doanh nghiệp tư nhân sau thành lập được thực hiện bởinhiều chủ thể khác nhau, do đó việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp

tư nhân khó được thống nhất, đặc biệt là ở các cấp quận, huyện còn chưa rõchức năng, nhiệm vụ, dẫn đến công tác quản lý nhà nước đối với doanhnghiệp chưa đạt hiệu quả cao Xuất phát từ những bất cập trên, em xin chọn

đề tài “ Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận

Hà Đông, Hà Nội”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến doanh nghiệp tư nhân

- Phân tích thực trạng và nêu ra được những hạn chế, nguyên nhân cảntrở việc thành lập và phát triển các doanh nghiệp, rút ra những đánh giá tổngquát về tình hình quản lý doanh nghiệp, cơ chế chính sách phát triển doanhnghiệp trên địa bàn quận Hà Đông thời gian qua

- Đề xuất giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tưnhân trên địa bàn quận Hà Đông trong những năm tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động quản lý nhà nước đối vớidoanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Hà Đông, Hà Nội

Trang 12

- Về thời gian: Nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2011 – 2015

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp để tìm hiểu hoạt động quản

lý nhà nước về doanh nghiệp tư nhân cũng như những rào cản đã cản trở tìnhhình hoạt động của doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Hà Đông, Hà Nội

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kêt luận, Tài liệu tham khảo, khóa luận bao gồm

Trang 13

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1.1 Khái quát về doanh nghiệp tư nhân

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp tư nhân

Khi kế hoạch Đổi mới nền kinh tế năm 1986 được thông qua, cácdoanh nghiệp tư nhân ( DNTN) Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện và giai đoạn

1986 – 1997 có thể coi là thời kỳ “ khai sinh” trong lịch sử DNTN Việt Namsau ngày giải phóng

Năm 1990, Luật Doanh nghiệp Tư nhân ra đời, đã khẳng định:“ Doanhnghiệp tư nhân là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn phápđịnh, do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản củamình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”

Năm 1999, Luật Doanh nghiệp được thông qua đã có những quy địnhchi tiết hơn về doanh nghiệp tư nhân, trải qua nhiều giai đoạn và liên tục đượcsửa đổi bổ sung, đến nay Luật Doanh nghiệp 2014 đã gần như hoàn thiện cácđiều khoản cần thiết cho DNTN thành lập và hoạt động Theo đó Luật Doanh

nghiệp 2014 quy định: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.”

1.1.2 Vai trò của doanh nghiệp tư nhân

Thứ nhất, doanh nghiệp tư nhân đã góp phần quan trọng vào việc thúc

đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, các doanh nghiệp nhà nước(DNNN) thường được ưu tiên xây dựng thành các khu cụm công nghiệp, dịch

vụ tổng hợp và các vùng đô thị, nơi có cơ sở hạ tầng phát triển Điều đó sẽ

Trang 14

dẫn đến tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế, vănhóa, xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng của một quốc gia.Chính sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân góp phần quan trọng trong việctạo lập sự cân đối trong phát triển giữa các vùng Nó sẽ giúp cho vùng sâu,vùng xa, các vùng nông thôn có thể khai thác được tiềm năng, thế mạnh củamình để phát triển nhanh các ngành sản xuất và dịch vụ tạo ra sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế và rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ kinh tế, vănhóa giữa các vùng, miền

Thứ hai, DNTN phát triển góp phần thu hút một bộ phận lớn lực lượng

lao động và đào tạo nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động

Nhìn chung lợi thế nổi bật của DNTN là có thể thu hút một lực lượng laođộng đông đảo, đa dạng, phong phú cả về mặt số lượng cũng như chất lượng từlao động thủ công đến lao động chất lượng cao ở tất cả mọi vùng miền của đấtnước, ở tất cả mọi tầng lớp dân cư… Như vậy, doanh nghiệp góp phần quantrọng trong việc giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động Ngoài việc tạocông ăn việc làm, do những đòi hỏi để đứng vững trong cạnh tranh, các doanhnghiệp tư nhân phải luôn tìm những biện pháp tổ chức lao động, quản lý có hiệuquả nhất, vì vậy kỹ thuật lao động được thực hiện rất nghiêm ngặt Chính điều này

đã góp phần vào việc đào tạo nên đội ngũ lao động có kỹ năng và tác phong côngnghiệp Đồng thời thông qua quá trình này, doanh nghiệp cũng được xem là nơiđào tạo, rèn luyện các chủ doanh nghiệp lớn trong tương lai và là cơ sở kinh tế banđầu để phát triển các doanh nghiệp lớn

Thứ ba, DNTN góp phần quan trọng thu hút vốn và sử dụng tối ưu các

nguồn lực của địa phương

Việc thành lập các doanh nghiệp tư nhân không đòi hỏi quá nhiều vốn,nhất là với các doanh nghiệp quy mô nhỏ Điều đó sẽ tạo cơ hội cho đông đảodân cư có thể tham gia đầu tư Mặt khác, trong quá trình hoạt động, các loại

Trang 15

hình doanh nghiệp tư nhân có thể dễ dàng huy động vốn vay dựa trên quan hệ

họ hàng, bạn bè…Chính vì vậy, việc đẩy mạnh doanh nghiệp tư nhân đượccoi là phương tiện hiệu quả trong việc huy động vốn, sử dụng các khoản tiềnđang phân tán, nằm im trong dân cư thành các khoản vốn đầu tư riêng Cácdoanh nghiệp tư nhân được phân tán ở hầu hết các địa phương nên chúng cókhả năng sử dụng các tiềm năng về nguyên vật liệu, lao động và kinh nghiệmsản xuất các ngành nghề truyền thống của địa phương

Thứ tư, DNTN đã đóng góp vào nguồn thu ngân sách nhà nước.

Thống kê cho thấy hiện nay đóng góp vào ngân sách nhà nước củadoanh nghiệp tư nhân ngày càng tăng lên So với đóng góp vào ngân sáchtrung ương thì đóng góp của DNTN vào nguồn thu ngân sách địa phương cònlớn hơn nhiều Ngoài đóng góp vào nguồn thu ngân sách, các DNTN còn có

sự đóng góp đáng kể vào việc xây dựng các công trình văn hóa, trường học,thể dục thể thao, đường xá, cầu cống, nhà tình nghĩa và các công trình phúclợi khác

- Thứ năm, DNTN cũng góp một phần thúc đẩy đất nước hội nhập kinh

tế quốc tế

Việt Nam muốn phát triển nhanh cần phải hội nhập kinh tế khu vực vàquốc tế, thu hút vốn và công nghệ vào nền kinh tế của mình Hội nhập kinh tếquốc tế là xu hướng tất yếu đối với Việt Nam trong quá trình CNH - HĐH đấtnước Quá trình hội nhập có thể thực hiện bằng con đường liên kết thông quadoanh nghiệp tư nhân Cũng thông qua quá trình đó, doanh nghiệp tư nhânvới những đặc tính của mình là chủ động đổi mới và lựa chọn công nghệ thíchhợp để giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường, tăng năng suất lao động,nâng cao chất lượng sản phẩm Từ đó, doanh nghiệp tư nhân góp phần thúcđẩy chuyển giao công nghệ, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực và kinh nghiệm

Trang 16

quản lý Đồng thời nó góp phần thúc đẩy thương mại Việt Nam phát triển vàhội nhập nhanh vào nền kinh tế thế giới

1.1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân

- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân đầu tư vốnthành lập và làm chủ

Chủ sở hữu tài sản của doanh nghiệp là một cá nhân Bởi vậy mà chủDNTN có toàn quyền quyết định những vấn đề liên quan tới quản lý doanhnghiệp, thuê người khác điều hành ( trong trường hợp này phải khai báo với cơquan đăng ký kinh doanh và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động củadoanh nghiệp), có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp, bán doanh nghiệp, tạmngừng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật

- Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân

Một tổ chức được công nhận là pháp nhân là khi có đủ các điều kiệnsau: thứ nhất, được thành lập hợp pháp; thứ hai, có cơ cấu tổ chức rõ ràng; thứ

ba, có tài sản độc lập với cá nhân tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tàisản đó; thứ tư, nhân danh mình khi tham gia quan hệ pháp luật một cách độclập

Có thể thấy DNTN không thỏa mãn điều kiện thứ ba, tài sản của DNTNkhông tách bạch rõ ràng với tài sản của chủ doanh nghiệp Tài sản mà chủdoanh nghiệp đầu tư vào hoạt động kinh doanh của DNTN không phải làmthủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp Tiêu chuẩn đầu tiên để xéttính độc lập về tài sản của một doanh nghiệp là tài sản của doanh nghiệp đóphải độc lập trong quan hệ với tài sản của chủ doanh nghiệp Doanh nghiệp tưnhân không thỏa mãn tiêu chuẩn quan trọng này, vì thế nó không hội đủ điềukiện cơ bản để có được tư cách pháp nhân

Trang 17

- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn vềcác khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp

Khác với các loại hình Công ty là sự góp vốn của nhiều chủ sở hữu,Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp mà vốn đầu tư thuộc sở hữuduy nhất một người là chủ doanh nghiệp tư nhân Loại hình doanh nghiệp nàyrất phù hợp với ai muốn độc lập tự chủ trong kinh doanh, tự quyết định và tựchịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh của bản thân và doanh nghiệp

- Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoánnào

- Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một DNTN Chủ DNTN khôngđược đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh

- DNTN không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phầnvốn góp trong công ty hợp danh, công ty TNHH hoặc công ty cổ phần

- Doanh nghiệp tư nhân ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vịtrí của một địa phương nhất định, sự phát triển cũng như suy giảm của nó ảnhhưởng đến địa phương đó

1.2 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân

Quản lý Nhà nước là tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhànước bằng nhiều biện pháp tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện nhữngchức năng của nhà nước trên cơ sở pháp luật

Như vậy, Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân là sự tác động có chủ đích, có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước thông qua một hệ thống các chính sách kinh tế với các công cụ kinh tế lên hệ thống các doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế quốc dân, nhằm sử dụng có hiệu quả

Trang 18

nhất các nguồn lực phát triển kinh tế, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Có thể hiểu, quản lý nhà nước là sự tác động của nhà nước vào toàn bộhoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung, doanh nghiệp tư nhân nói riêngbằng hệ thống luật pháp, chính sách tổ chức, các chế tài về kinh tế - tài chính vàcác công cụ quản lý để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với nền kinh

tế, nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, ổn định tình hình chính trị - xã hộicủa đất nước Điều đó nói lên tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động quản lý nhànước đối với doanh nghiệp nói riêng và nên kinh tế nói chung

1.2.2 Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân

Thứ nhất, các DNTN để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các doanh

nhân phải giải quyết hàng loạt các vấn đề, trong đó có những vấn đề mà từngdoanh nhân riêng biệt không đủ khả năng giải quyết Nhà nước bằng hoạtđộng của mình, giúp các doanh nhân giải quyết các vấn đề sản xuất kinhdoanh tầm vĩ mô, tìm ra những nhu cầu của họ để đáp ứng

Thứ hai, trong quá trình sản suất kinh doanh làm nảy sinh mối quan hệ

giữa các DNTN với nhau Các doanh nghiệp đều có lợi ích riêng của mình và

họ luôn tìm mọi cách để tối đa hóa lợi ích đó, đôi khi để đạt được mục đíchcủa mình họ đã vi phạm đến lợi ích của người khác Từ đó tất yếu nảy sinh rahiện tượng: lợi ích của cá nhân hay bộ phận này tăng lên làm thiệt hại đến lợiích của cá nhân khác xét trên phạm vi tổng thể nền kinh tế quốc dân Biểuhiện về mặt xã hội của xu hướng này là các hoạt động kinh tế chồng chéo, cảntrở nhau, sự phân bổ không hợp lý, các vấn đề chính trị xã hội phát sinh…Bởi vậy cần có Nhà nước đứng ra làm trung gian giải quyết, cân bằng mốiquan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau

Trang 19

Thứ ba, Nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường không

thể tách rời môi trường chính trị - xã hội Nếu môi trường chính trị không ổnđịnh, thường xuyên có các xung đột giữa các tầng lớp, giai cấp trong xã hội,các quan hệ buôn bán trên thị trường không lành mạnh, mang tính chất lừađảo thì cơ chế thị trường sẽ không phát huy tác dụng Từ đó dẫn đến các sailệch và những khuyết tật của cơ chế thị trường khó có thể khắc phục được,làm cho xã hội chậm phát triển Bởi vậy, đòi hỏi phải có vai trò quản lý củaNhà nước, một tổ chức hay một doanh nghiệp dù có lớn đến đâu cũng khôngthể thay thế được vai trò quản lý của Nhà nước

Thứ tư, trong hoạt động thực tế của DNTN có nhiều vấn đề nảy sinh

như cơ sở hạ tầng, môi trường,…mà bản thân doanh nghiệp tư nhân cũngkhông thể giải quyết được mặt khác, các doanh nghiệp tư nhân luôn tối đahóa lợi nhuận làm cạn kiệt tài nguyên môi trường, do đó, cũng cần phải có sựquản lý của nhà nước

1.2.3 Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân

Một là, phải đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp tư

nhân Quản lý nhà nước phải tôn trọng và tạo điều kiện để vận hành các quyluật khách quan của cơ chế thị trường đối với doanh nghiệp, như quy luậtcung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị Cơ quan quản lý nhà nước cótrách nhiệm đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, hạn chế sửdụng biện pháp hành chính để can thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanhcủa doanh nghiệp

Hai là, Nhà nước quản lý doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng

bằng pháp luật, chấm dứt quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính Pháp luật

về doanh nghiệp phải là công cụ để khuyến khích doanh nghiệp tự do pháttriển, thể hiện nguyên tắc doanh nghiệp tự do kinh doanh tất cả các ngành,nghề pháp luật không cấm Công cụ chính sách hành chính của quản lý nhà

Trang 20

nước cần được hạn chế trong phạm vi điều tiết vĩ mô, đảm bảo tiến bộ, côngbằng trong phân bổ các nguồn lực và phân phối lại kết quả sản xuất kinhdoanh

Ba là, trách nhiệm quản lý nhà nước đối với DNTN phải được phân

định rõ ràng gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhànước DNTN hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực, chuyên ngànhchịu sự quản lý của cơ quan Nhà nước nào thì cơ quan đó chịu trách nhiệmquản lý nhà nước đối với doanh nghiệp đó Đối với DNTN hoạt động kinhdoanh đa ngành, nghề, thuộc nhiều lĩnh vực chịu sự quản lý của nhiều cơquan Nhà nước, thì khi doanh nghiệp vi phạm pháp luật thuộc lĩnh vực nào sẽ

do cơ quan quản lý lĩnh vực, chuyên ngành đó chịu trách nhiệm xử lý Chấmdứt tình trạng chồng chéo trong quản lý nhà nước đổi với doanh nghiệp củacác cơ quan Nhà nước, đảm bảo khi doanh nghiệp vi phạm pháp luật thì luôn

có một cơ quan Nhà nước có trách nhiệm xử lý Mỗi sở, ban ngành thành phố

có chức năng, nhiệm vụ hướng dẫn DNTN thực hiện các quy định pháp luậttrong các lĩnh vực đó; xây dựng quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lýnhà nước của mình để doanh nghiệp vừa thuận lợi trong hoạt động sản xuấtkinh doanh, vừa đảm bảo trật tự an toàn xã hội và không xâm phạm lợi íchcủa bên thứ ba; kỉểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật của doanhnghiệp thuộc lĩnh vực mình quản lý

Bốn là, quản lý nhà nước đối với DNTN không tách rời với các hoạt

động giám sát doanh nghiệp của các chủ thể khác, Nhà nước khuyến khíchmọi thành phần kinh tế trong xã hội, chủ sở hữu doanh nghiệp cùng tham giaquản lý, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nướcchỉ quản lý bằng pháp luật, chỉ làm những việc thuộc chức năng quản lý hànhchính nhà nước

Trang 21

1.2.4 Phương hướng can thiệp của Nhà nước vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân

1.2.4.1 Xét theo mục đích can thiệp

Có 3 hướng lớn sau đây:

- Can thiệp để ngăn chặn, hạn chế các tác hại xuất phát từ hoạt độngcủa các doanh nhân và doanh nghiệp

- Can thiệp để giúp đỡ các doanh nhân và doanh nghiệp sao cho họ cóthể thành đạt trong sản xuất kinh doanh, nhờ đó mà quốc gia cũng hùng mạnhtheo, theo tinh thần “dân giàu, nước mạnh”

- Can thiệp để bảo vệ lợi ích của công dân, của cộng đồng

1.2.4.2 Xét theo nội dung hoạt động của doanh nghiệp tư nhân

- Quyết định DNTN được, hoặc không được kinh doanh trên lĩnh vựcnày hoặc lĩnh vực khác vì lý do chính trị, kinh tế, xã hội và an ninh quốc gia

Sự can thiệp này là cần thiết, vì nó liên quan đến hiệu quả của nền kinh tế đóđạt được sự phù hợp hay không phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệsản xuất Sự can thiệp này là quan trọng vì vấn đề để sở hữu chính là vấn đềchính trị của kinh tế, liên quan đến cơ sở chính trị của Nhà nước

- Định hướng tổ chức quản lý của nội bộ DNTN, định hướng điều lệdoanh nghiệp, ban hành điều lệ mẫu, quy định các tiêu chuẩn đối với từng loạidoanh nghiệp về vốn, về nhân sự, về hệ thống sổ sách, biểu mẫu thống kê, kếtoán, … Sự quản lý trên đây là cần thiết xét từ cả hai phía: Nhà nước vàdoanh nhân Với doanh nhân, đó là những chỉ dẫn chính đáng của Nhà nước

để họ đủ khả năng tồn tại và phát triển trên thương trường, bảo đảm cho nội

bộ họ sống tốt với nhau, từ đó mà sản xuất, kinh doanh phát đạt Với Nhànước, đó là việc đặt trước những tiền đề, những kênh giao tiếp quản lý, từ đóNhà nước có thể kiểm soát được các hoạt động của doanh nghiệp một các cóhiệu lực

Trang 22

- Định hướng chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trongquản trị kinh doanh, doanh nhân và bộ máy giúp việc bao giờ cũng phải tìmcâu trả lời cho câu hỏi: sản xuất hoặc làm dịch vụ gì? Việc trả lời câu hỏi này

có ý nghĩa lớn lao đối với cả Nhà nước và doanh nhân Trên thực tế, khôngphải doanh nhân nào cũng có khả năng tìm được lời giải tối ưu Vì vậy, Nhànước phải can thiệp để một mặt ngăn ngừa việc sản xuất những sản phẩm,hoặc tạo ra các dịch vụ bất lợi cho xã hội, mặt khác hỗ trợ doanh nhân tìmđược phương hướng sản xuất kinh doanh lâu bền, có doanh lợi cao và tránhđược rủi ro

- Can thiệp vào việc thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh của

họ, cụ thể là:

+ Trong việc sử dụng tài nguyên và công sản vào các quá trình kinh tế,Nhà nước cần phải ngăn chặn các hành vi trộm cắp tài nguyên; các hành vikhai thác một cách lãng phí các nguồn tài nguyên, các hành vi sử dụng tàinguyên vào các hoạt động sản xuất kinh doanh không đem lại hiệu quả cao;các hành vi lạm dụng, phá hoại, trốn phí khi sử dụng các công sản, nhằm bảotoàn chúng

+ Trong việc gây ô nhiễm môi trường, Nhà nước phải quan tâm đến cáchoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có liên quan đến việc làm ônhiễm môi trường Chẳng hạn, việc lựa chọn nguyên liệu đưa vào sản xuấtsao cho ít gây ô nhiễm; việc áp dụng các phương pháp tiêu huỷ chất thải; việc

bố trí địa thế doanh nghiệp sao cho ít ảnh hưởng đến dân cư và các loại sảnxuất xung quanh…

+ Trong phân bố địa điểm sản xuất chung của doanh nghiệp cũng nhưphân bố các bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp Trên thực tế, một số địa điểmđược các doanh nghiệp lựa chọn đem lại lợi thế cho doanh nghiệp, nhưng lạigây ra bất lợi chung cho xã hội Trên giác độ từng doanh nghiệp, việc bố trínơi làm việc có thể gây ra ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ người lao động

Trang 23

- Nhà nước quản lý vấn đề thống nhất hoá sản phẩm, tiêu chuẩn hoá sảnphẩm và bản quyền kiểu dáng sản phẩm, vấn đề này có ý nghĩa trên nhiềumặt Đối với người tiêu dùng, đây là cơ sở để bảo vệ quyền lợi cho người tiêudùng Đối với người sáng chế, đây là cơ sở để chống mọi hành vi ăn cắp bảnquyền sở hữu trí tuệ Đối với xã hội nói chung, đây là biện pháp để đảm bảocho quá trình chuyên môn hoá được duy trì và phát triển.

- Nhà nước định hướng sự lựa chọn đối tác quan hệ của các doanhnhân, đặc biệt là các quan hệ với người nước ngoài để ngăn ngừa được các tácđộng ngoại xâm về mọi phương diện: văn hoá, chính trị, an ninh, dịch bệnh…núp dưới con người và hàng hoá nhập khẩu, ngăn ngừa mọi sự rò rỉ chất xámkết tinh trong hàng hoá, thông tin kinh tế kỹ thuật…ra nước ngoài

- Nhà nước can thiệp vào các hoạt động tự bảo vệ của các doanh nghiệpnhằm giúp họ chống lại mọi đe doạ về tài sản và tính mạng, cũng như các bấttrắc, rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh do thiên tai, địch hoạ hoặc bất

kỳ sự đe doạ nào Đối với mọi doanh nhân, đây là mối quan tâm cực kỳ to lớn

mà họ không thể tự lo liệu nổi

1.2.5 Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân

1.2.5.1 Xây dựng, ban hành và thực thi các văn bản pháp luật liên quan đến doanh nghiệp tư nhân

Pháp lý là công cụ quản lý chủ yếu khi thực hiện chức năng quản lý nhànước đối với doanh nghiệp tư nhân Cho đến nay, hệ thống pháp luật về tổchức quản lý doanh nghiệp tư nhân đã tương đối đầy đủ và tạo lập đượckhung quản trị doanh nghiệp cho các loại hình doanh nghiệp khác nhau, trong

đó mọi loại hình doanh nghiệp được đảm bảo quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợppháp và bình đẳng trước pháp luật Nhà nước xây dựng hai loại văn bản phápluật để điều chỉnh các doanh nghiệp tư nhân đó là:

Trang 24

Thứ nhất, đó là các văn bản điều chỉnh trực tiếp hoặc gián tiếp đến

những nội dung quản lý nhà nước có sự phân biệt nhất định theo loại hình,nguồn vốn sở hữu hoặc lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm một sốvăn bản quan trọng như: Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Hợp tác xã, Luật Đầu

tư, Luật Chứng khoán, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Các tổ chức tíndụng…

Thứ hai, đó là các văn bản điều chỉnh trực tiếp hoặc gián tiếp đến

những nội dung quản lý nhà nước được áp dụng chung cho các loại hìnhdoanh nghiệp Đây là hệ thống văn bản pháp lý có phạm vi và đối tượng điềuchỉnh rất rộng, có tác dụng tạo ra một môi trường kinh doanh chung cho mọihình thức doanh nghiệp, bao gồm:

- Các quy định về chế độ tài chính, kế toán đối với doanh nghiệp như:Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Kế toán

và Thống kê

- Các quy định về phá sản, cạnh tranh, đấu thầu, bảo hộ nhãn hiệu, cácthị trường đầu vào như: Luật Phá sản, Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại,Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Đấu thầu, Luật Đất đai…

- Các quy định về điều kiện kinh doanh (điều kiện có giấy phép hoặckhông cần giấy phép): đây là hệ thống các quy định liên tục được ban hànhmới, hoặc sửa đổi, bổ sung và nằm trong hầu hết các văn bản pháp luật có liênquan đến hoạt động kinh doanh Đến nay, chỉ tính riêng hệ thống quy định vềngành, nghề kinh doanh phải có giấy phép bao gồm khoảng hơn 40 Luật,Pháp lệnh và khoảng nhiều Nghị định hướng dẫn thi hành

- Các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính đốivới doanh nghiệp như: Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Luật Thanh tra

và các Nghị định hướng dẫn thi hành theo từng lĩnh vực cụ thể

Trang 25

Luật Doanh nghiệp và các luật khác liên quan cùng với các văn bảnhướng dẫn thi hành đã góp phần quan trọng trong việc thiết lập một khungpháp lý mới trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiêp tư nhân Có thểthấy rằng, hệ thống văn bản pháp luật về quản lý nhà nước đối với doanhnghiệp đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ, nhất là giai đoạn

từ năm 2006 đến nay Việc nhà nước có trách nhiệm không ngừng hoàn thiệncác quy phạm pháp luật kinh doanh sao cho cởi mở, minh bạch và có thể dựbáo sẽ vừa có tác dụng định hướng và quản lý thống nhất doanh nghiệp, vừatạo lòng tin và thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.5.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân

Bên cạnh công cụ chủ yếu là hệ thống pháp luật, bộ máy quản lý nhànước dần thích nghi với những yêu cầu đổi mới mục tiêu và nội dung quản lýnhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân cả về cơ cấu tổ chức lẫn chức năngnhiệm vụ

Cơ chế vận hành của các cơ quan quản lý nhà nước đã có nhiều thayđổi đáng ghi nhận, từng bước nỗ lực tự hoàn thiện theo yêu cầu của đối tượngquản lý và sự phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân thay vì thụ độngđiều chỉnh hành vi của doanh nghiệp theo năng lực hạn chế của mình nhưtrước kia

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nóichung và doanh nghiệp tư nhân sau đăng ký thành lập nói riêng hình thànhtương đối rõ, trong đó:

- Quốc hội ban hành và sửa đổi các luật liên quan đến hoạt động củadoanh nghiệp tư nhân

Trang 26

- Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp xét xử và kiểmsoát việc tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp tư nhân cũng như cơ quanquản lý nhà nước

- Chính phủ thống nhất thực hiện các chức năng quản lý hành chínhnhà nước trên cơ sở phân công, phân cấp quản lý Chính phủ và Thủ tướngChính phủ trực tiếp ban hành Nghị định, Quyết định và các chính sách cụthể liên quan đến doanh nghiệp tư nhân; các biện pháp chỉ đạo và kiểm traviệc thi hành Hiến pháp, pháp luật, các quyết định của Chính phủ trong cácdoanh nghiệp

- Bộ, các cơ quan ngang Bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đốivới doanh nghiệp tư nhân trong phạm vi ngành, lĩnh vực thuộc chức năng,nhiệm vụ của mình, ban hành các văn bản hướng dẫn quy phạm pháp luậttheo thẩm quyền

- UBND cấp tỉnh, thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước đốivới doanh nghiệp ở địa phương, tổ chức thực hiện quản lý nhà nước đối vớidoanh nghiệp tư nhân theo ngành, lĩnh vực trên địa bàn theo thẩm quyền

- UBND cấp huyện, cấp xã tổ chức thực hiện quản lý nhà nước đốivới doanh nghiệp tư nhân sau đăng ký thành lập trên địa bàn theo thẩmquyền phân cấp hành chính và từng lĩnh vực cụ thể có liên quan Như vậy,trong lĩnh vực quản lý hành chính, UBND các cấp là cơ quan thực hiệnchức năng quản lý nhà nước có quan hệ trực tiếp hàng ngày đối với mọiloại hình doanh nghiệp

Trang 27

Cơ bản thực hiện quản lý gián tiếp

Kiểm tra, giám sát

trực tiếp theo địa bàn,

lĩnh vực kinh doanh

Hình 1.1: Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về doanh nghiệp

(Nguồn: Đề án “ Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký

thành lập”)

Ngoài cách tiếp cận hệ thống bộ máy quản lý nhà nước theo phân cấp

về hành chính, đứng trên góc độ hệ thống các cơ quan nhà nước liên quan trựctiếp đến “vòng đời” của doanh nghiệp ( từ khi đăng ký thành lập doanhnghiệp đến khi giải thể, phá sản doanh nghiệp), hệ thống này có thể khái quátnhư sau:

Quốc hộiChính phủThủ tướng Chính phủ

Ban hành văn bản Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định

Các Bộ

Ban hành Quyết định, Thông tưUBND cấp tỉnh

Các Sở UBND cấp

quận, huyện

Doanh nghiệp

Trang 28

Hình 1.2: Sơ đồ cơ quan quản lý nhà nước theo “ vòng đời”

doanh nghiệp

(Nguồn: Đề án “ Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng

ký thành lập”)

Như vậy, liên quan trực tiếp đến “vòng đời” của doanh nghiệp tư nhân,

có một số cơ quan đầu mối quan trọng trong công tác quản lý nhà nước đốivới doanh nghiệp tư nhân như: cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, cơquan quản lý chuyên ngành….Trong đó, cơ quan đăng ký kinh doanh, cơquan thuế đóng vai trò trung tâm, đầu mối theo dõi thông tin chung về hoạtđộng của doanh nghiệp

Cơ quan đăng ký

DN đăng ký

thành lập

DN đã hoạt động sản xuất – kinh doanh

Cơ quan quản lý chuyên ngành: lĩnh vực kinh doanh

có điều kiện, môi trường, lao động, xuất nhập khẩu,

an ninh trật tự…

Giải thể

DN chấm dứt hoạt độngPhá sản

Tòa án

Trang 29

1.2.5.3 Ban hành và thực thi chính sách hỗ trợ tạo dựng môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp tư nhân

Để thực hiện nội dung quản lý này, Nhà nước phải tiến hành hàng loạtcông vụ như:

- Tạo nguồn vốn đầu tư ưu đãi cho các chương trình kinh tế trọng điểmcủa Nhà nước, cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong các ngành, lĩnhvực mà Nhà nước khuyến khích

- Xây dựng và tiến hành bảo hiểm sản xuất kinh doanh cho nhữngdoanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh theo định hướngcủa Nhà nước và thực hiện các quy định của bảo hiểm

- Thực hiện miễn giảm thuế cho những doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh theo định hướng ưu tiên của Nhà nước

- Chuyển giao đến các nhà kinh doanh những thông tin chính trị, thời

sự quan trọng có giá trị trong sản xuất kinh doanh để họ tham khảo

- Thực hiện chương trình bồi dưỡng kiến thức quản trị kinh doanh,giúp các doanh nghiệp hiện đại hoá đội ngũ viên chức nghiệp vụ quản trịkinh doanh

- Mở ra các trung tâm thông tin, các triển lãm thành tựu kinh tế kỹ thuật

để tạo môi trường cho các doanh nghiệp giao tiếp và liên kết sản xuất kinhdoanh với nhau

- Thực hiện các hỗ trợ pháp lý, đặc biệt là hỗ trợ tư pháp quốc tế đốivới các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường quốc tế

- Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để tạo điều kiện cho sự hình thànhđồng bộ các loại thị trường Đồng thời quản lý các loại thị trường đó để cácdoanh nhân có được môi trường thuận lợi trong giao lưu kinh tế như: thị

Trang 30

trường hoá thông thường, thị trường vốn, thị trường sức lao động, thị trườngkhoa học công nghệ, thị trường thông tin, thị trường chất xám, …Nhà nướcbảo đảm một môi trường thị trường chân thực để giúp các doanh nhân không

bị lừa gạt trên thị trường đó

1.2.5.4 Tổ chức đăng ký kinh doanh và giải thể doanh nghiệp tư nhân

Chức năng quản lý nhà nước đối với quá trình thành lập, chuyển đổi,giải thể, phá sản doanh nghiệp tư nhân là một trong những nội dung tiếp cậngần nhất với các nguyên tắc của kinh tế thị trường Trong khung khổ quy địnhpháp luật của Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và các chủ sở hữu tự quyếtđịnh việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi hìnhthức pháp lý, giải thể và các thủ tục phá sản

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt và cấp giấy phép sảnxuất kinh doanh, làm các thủ tục khác để đưa doanh nghiệp và doanh nhânvào hoạt động trong nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước.Các quy định pháp luật về tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp tư nhân

đã bước đầu tạo được một khung khổ cho doanh nghiệp chấm dứt hoạt động

Sự can thiệp của cơ quan quản lý nhà nước chỉ dừng lại ở việc côngnhận và giám sát doanh nghiệp tư nhân thực hiện giải thể, phá sản theo phápluật; công nhận tính hợp pháp của tổ chức lại và chuyển đổi doanh nghiệp

1.2.5.5 Thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp tư nhân

- Kiểm tra tính hợp pháp đối với sự tồn tại doanh nghiệp tư nhân

Mỗi doanh nghiệp ra đời đều phải có giấy phép Giấy phép chỉ cấp chonhững doanh nhân với doanh nghiệp đủ điều kiện Việc kiểm tra này nhằmloại trừ các doanh nghiệp ra đời không đăng ký hoặc không đủ điều kiện mặc

dù đã được cấp giấy phép

Trang 31

- Kiểm tra để xác định khả năng tiếp tục tồn tại của doanh nghiệp

tư nhân

Khi các doanh nhân đăng ký kinh doanh, họ phải có đủ điều kiện mớiđược Nhà nước cấp giấy phép kinh doanh Do đó trong quá trình hoạt động,nếu những điều kiện ấy không được đảm bảo thì doanh nghiệp đó phải bị đìnhchỉ hoạt động Để kịp thời phát hiện được dấu hiệu sa sút khả năng, biểu hiệncủa sự phá sản, để có quyết định phá sản doanh nghiệp, Nhà nước phải tiếnhành kiểm tra

- Kiểm tra định kỳ theo chế độ nhằm đảm bảo nhắc nhở các doanhnghiệp thường xuyên chấp hành pháp luật

Các đối tượng kiểm tra thường là về vấn đề an toàn lao động, phòngchống cháy nổ, về chấp hành các quy định về an toàn vệ sinh môi trường, vềkiểm toán nhằm bảo đảm chế độ ghi chép ban đầu đúng quy định của chế độ

kế toán Nhà nước, …

- Thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, như cóhiện tượng trốn lậu thuế, xâm phạm tài sản quốc gia hoặc tài sản công dân,kinh doanh các mặt hàng quốc cấm, …

- Thanh tra, kiểm tra khi có đơn thư khiếu tố

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân ở một số quận, huyện trên cả nước

1.3.1 Quận Thanh Xuân, Hà Nội

Quận Thanh Xuân là một trong những quận phát triển của thành phố

Hà Nội, khu Trung Hòa Nhân Chính thuộc quận còn đang phát triển mạnhnhư một trung tâm mới của thành phố, bởi vậy số lượng doanh nghiệp tưnhân trên địa bàn quận Thanh Xuân ngày càng tăng nhanh Những cố gắngcủa chính quyền quận trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối

Trang 32

với các doanh nghiệp đã giúp các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp tưnhân đang ngày càng lớn mạnh, và có những đóng góp giúp quận ThanhXuân ngày càng phát triển.

Cụ thể, với những chính sách hỗ trợ, chương trình tư vấn hỗ trợ doanhnghiệp đổi mới thiết bị, công nghệ;…đã giúp các doanh nghiệp có khả năngtiếp cận nguồn vốn và phương thức sản xuất mới Đặc biệt, quận rất chú trọngđến năng lực của những cán bộ công chức, quận thường xuyên tổ chức cáclớp tập huấn, gần đây nhất 1/6/2016 quận đã tổ chức Hội nghị Tập huấn phổbiến những quy định mới trong Luật doanh nghiệp 2014 cho cán bộ làm côngtác quản lý nhà nước về doanh nghiệp

1.3.2 Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh

Các doanh nghiệp tư nhân mới thành lập tại quận Gò Vấp tăng lên liêntục, chỉ trong năm 2014, trên địa bàn tỉnh đã có trên 3000 doanh nghiệp tưnhân được thành lập, trong đó gần 1700 đã đi vào hoạt động sản xuất kinhdoanh làm tăng thêm năng lực sản xuất góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,tạo thêm việc làm thu hút nhiều lao động địa phương

Có được kết quả trên là do các cấp, các ngành tích cực triển khai, giảiquyết công việc liên quan đến cải cách thủ tục hành chính, cơ chế một cửaliên thông kịp thời, đạt hiệu quả đã tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp tưnhân để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh; thực hiện có trọng tâm, trọng điểm ởmột số cơ quan đơn vị nhằm tạo ra một bước đột phá về cải cách thủ tục hànhchính – thu hút đầu tư

Ngoài ra, quận còn thường xuyên tổ chức các các chương trình hỗ trợ,khuyến khích doanh nghiệp như “ Đồng hành cũng doanh nghiệp”, Hội nghịđối thoại doanh nghiệp, Họp mặt doanh nghiệp, tuyên dương các doanhnghiệp hoàn thành nghĩa vụ thuế,…

Trang 33

1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho quận Hà Đông, Hà Nội

Từ bài học kinh nghiệm của một số địa phương, ta nhận thấy rằng cónhững điểm tương đồng với tình hình tại quận Hà Đông, Hà Nội Hầu hết ởnhững nơi đó đều có điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp có thể phát triển, tuynhiên mỗi địa phương đều có những biện pháp riêng của mình để phát triểndoanh nghiệp Nhưng nhìn chung có thể rút ra một số bài học kinh nghiệmcho công tác quản lý nhà nước đối với DNTN tại quận Hà Đông như sau:

Thứ nhất, quận cần rà soát để bãi bỏ những thủ tục hành chính

không cần thiết, đơn giản hóa việc thực hiện thủ tục hành chính và điềukiện kinh doanh

Thứ hai, quận cần tạo môi trường thuận lợi khuyến khích người dân và

các thành phần kinh tế tham gia giám sát hoạt động của DNTN cũng như việcthực hiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp

Thứ ba, thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về lý luận, thực tiễn cho

những cán bộ phụ trách quản lý nhà nước đối với DNTN

Quận Hà Đông có được những lợi thế, nhưng để đạt được hiệu quả caohơn nữa trong công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân thìquận cần có chính kiến riêng cuả mình, dựa vào thực lực tiềm năng về diệntích đất đai, cơ chế quản lý cũng như nguồn nhân lực… để từ đó có nhữngbiện pháp riêng mang tính đột phá riêng của quận Hà Đông Bên cạnh đócũng luôn quan tâm đến công tác khuyến khích, hỗ trợ cho doanh nghiệp, cónhư thế, thì công tác quản lý nhà nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất để nângcap hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân

Ngày đăng: 18/07/2016, 22:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đỗ Đình Chuyền (2015), Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội 3.Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2011), Đề án 8925/ĐA-BKHĐT ngày 26/12/2011về “Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập
Tác giả: Đỗ Đình Chuyền (2015), Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội 3.Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2011
1.Phạm Thị Ngọc Anh (2012), Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Đà Nẵng Khác
4.Chi cục Thống kê Hà Đông ( 2015), Niên giám Thống kê quận Hà Đông năm 2015 Khác
5. Chi cục Thuế Hà Đông ( 2015), Báo cáo số lượng doanh nghiệp quận Hà Đông Khác
6.Quận ủy Hà Đông ( 2015), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ quận khóa XIX trình Đại hội đại biểu lần thứ XX Đảng bộ quận Hà Đông 7. Tạp chí Phát triển & Hội nhập số 25, Vai trò của kinh tế tư nhân với tăngtrưởng kinh tế của Việt Nam Khác
8. Cục phát triển doanh nghiệp, Cổng thông tin doanh nghiệp, bussines.gov.vn Khác
9. Cổng thông tin điện tử quận Hà Đông – Hà Nôi, hadong.hanoi.gov.vn 10. Diễn đàn doanh nghiệm, enternews.vn11. VCCI.com.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Sơ đồ cơ quan quản lý nhà nước theo “ vòng đời” - Quản lý nhà nước đối với Doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Hà Đông
Hình 1.2 Sơ đồ cơ quan quản lý nhà nước theo “ vòng đời” (Trang 27)
Bảng 2.2 Phân bố lao động theo loại hình doanh nghiệp quận Hà Đông - Quản lý nhà nước đối với Doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn quận Hà Đông
Bảng 2.2 Phân bố lao động theo loại hình doanh nghiệp quận Hà Đông (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w