1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án nghiên cứu xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh ở nghệ an và hà tĩnh

219 585 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 219
Dung lượng 3,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vẫn được xem là cây trồng phụ nên nông dân không quan tâm đến việc đầu tư thâm canh và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật canh tác mới vào sản xuất; 2 Bộ giống đậu xanh hiện nay của Nghệ An

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Đậu xanh [Vigna radiata (L.) Wilczek] là cây đậu thực phẩm có nhiều giá trị khác nhau: (1) là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho con người, hạt đậu xanh giàu protein, hyđratcarbon, sắt và axit amin không thay thế (2) là cây trồng có

thời gian sinh trưởng ngắn nên có thể tham gia vào nhiều công thức cây trồng

(luân canh, xen canh, gối vụ) góp phần nâng cao giá trị sử dụng đất (3) là cây có

khả năng cải thiện độ phì nhiêu cho đất thông qua hệ rễ và thân lá

Ở Việt Nam, đậu xanh là cây đậu đỗ đứng thứ ba sau lạc và đậu tương Đậu xanh được trồng rộng khắp từ Bắc tới Nam Những năm gần đây với tình hình biến đổi khí hậu cực đoan diễn ra khá nghiêm trọng như hạn hán, lũ lụt thì cây trồng ngắn ngày có thể né tránh thiên tai như cây đậu xanh đã và đang ngày càng được đầu tư nghiên cứu phát triển ở hầu hết các địa phương

Diện tích trồng đậu xanh của Việt Nam năm 2015 là 90.950 ha, đạt năng suất bình quân 1.089 kg/ha Vùng sinh thái Bắc Trung bộ có diện tích sản xuất đậu xanh là 18.470 ha (năm 2015) và đạt năng suất bình quân là 938 kg/ha Năng suất đậu xanh của Bắc trung bộ và Tây Nguyên đạt thấp nhất so với các vùng sinh thái, thấp hơn năng suất bình quân của cả nước là 160 - 236 kg/ha Nghệ An và Hà Tĩnh thuộc vùng sinh thái Bắc trung bộ, cây đậu xanh

là cây trồng chính trong vụ hè, đậu xanh được gieo trồng ngay sau khi thu hoạch lạc xuân, ngô xuân Diện tích sản xuất đậu xanh năm 2015 ở Nghệ An

là 4.547 ha và ở Hà Tĩnh là 7.786 ha Năng suất đậu xanh bình quân năm

2015 ở Nghệ An là 865 kg/ha ở Hà Tĩnh là 970 kg/ha (Cục thống kê Nghệ An

và Hà Tĩnh., 2016)

Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến năng suất đậu xanh song nguyên

nhân chính làm cho năng suất đậu xanh thấp là: (1) Cho đến nay cây đậu xanh

Trang 2

vẫn được xem là cây trồng phụ nên nông dân không quan tâm đến việc đầu tư

thâm canh và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật canh tác mới vào sản xuất; (2) Bộ

giống đậu xanh hiện nay của Nghệ An và Hà Tĩnh chủ yếu là giống địa phương (đậu tằm hạt mốc) và một diện tích nhỏ các giống VN99-3, VN99-1 đã bị lẫn tạp cho năng suất thấp

Do vậy, để phát triển đậu xanh có hiệu quả ở Nghệ An và Hà Tĩnh trong giai đoạn tới rất cần có sự đầu tư nghiên cứu đồng bộ các giải pháp công nghệ như: xác định giống đậu xanh năng suất cao, chống chịu sâu bệnh, chịu hạn, chín tập trung và các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp với điều kiện sinh thái, kinh

tế - xã hội của vùng

Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu xác định giống và biện pháp

kỹ thuật canh tác đậu xanh ở Nghệ An và Hà Tĩnh"

2 Mục tiêu của đề tài

Đánh giá được thực trạng sản xuất và đề xuất biện pháp kỹ thuật canh tác mới phù hợp với điều kiện sinh thái nhằm góp phần tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất đậu xanh bền vững tại Nghệ An, Hà Tĩnh

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài là những dẫn liệu khoa học trong việc đánh giá khả năng chịu hạn, đặc tính nông sinh học của các giống đậu xanh cũng như các biện pháp kỹ thuật canh tác để đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao tại vùng nước trời Đây là tài liệu khoa học có giá trị phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu về cây đậu xanh

Trang 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của đề tài đã tuyển chọn được một số giống đậu xanh mới (ĐX14; NTB02 và ĐXVN7) cho năng suất và chất lượng tốt thích hợp cho vụ Hè, góp phần vào việc bố trí cơ cấu cây trồng, mở rộng diện tích trồng đậu xanh tại Nghệ An và Hà Tĩnh

- Hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác đậu xanh thích hợp cho vụ Hè tại Nghệ An và Hà Tĩnh, góp phần tăng năng suất, chất lượng và mang lại lợi nhuận kinh tế cao cho người sản xuất

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các yếu tố hạn chế đến sản xuất đậu xanh ở Nghệ An và Hà Tĩnh

- Mô hình sản xuất thử nghiệm giống đậu xanh mới và kỹ thuật canh tác mới

4.2 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài

- Đề tài được tiến hành tại 2 địa điểm đại diện cho 2 tỉnh :

 Huyện Hương Sơn ở phía Tây Bắc tỉnh Hà Tĩnh, là huyện miền núi thuộc vùng đất gò đồi khó khăn của tỉnh Hà Tĩnh

 Huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An, là huyện đồng bằng thuộc vùng đất thâm canh đậu xanh của tỉnh Nghệ An

- Đề tài tập trung nghiên cứu về giống mới và các giải pháp kỹ thuật cải tiến có liên quan, bao gồm: Thời vụ, thời điểm bón phân, lượng phân bón và mật độ gieo Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình ứng dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất

5 Những đóng góp mới của luận án

(1) Luận án đã xác định được các yếu tố hạn chế đến sự phát triển sản xuất đậu xanh ở Nghệ An và Hà Tĩnh đó là: (i) Hạn hán do biến đổi khí hậu và

Trang 4

hiện tượng El Nino, (ii) Thiếu bộ giống đậu xanh phù hợp, (iii) Thiếu tiến bộ

kỹ thuật canh tác đậu xanh hiệu quả

(2) Ba giống đậu xanh ĐX14, NTB02, ĐXVN7 có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái đã được tuyển chọn và giới thiệu cho sản xuất ở Nghệ An và Hà Tĩnh, trong đó hai giống NTB02 và ĐXVN5 có khả năng chịu hạn tốt

(3) Năm mô hình sản xuất thử nghiệm đối với các giống đậu xanh mới và kỹ thuật canh tác mới có tỷ suất lợi nhuận biên đạt từ 2,00 – 2,27 lần so với giống cũ và biện pháp kỹ thuật cũ

Trang 5

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Vai trò của cây đậu xanh

1.1.1 Cây đậu xanh đối với dinh dưỡng con người

Đậu xanh là đậu thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, hạt đậu xanh giàu hydratcacbon, protein và các loại vitamin khác Protein đậu xanh chứa đầy đủ các axit amin không thay thế và tương đối phù hợp với tiêu chuẩn dinh dưỡng dành cho trẻ em được tổ chức Nông lương và y tế thế giới đưa ra theo

bảng 1.1 (Khatik et al., 2007)

Hàm lượng dinh dưỡng trong 100g bột đậu xanh không tách vỏ có 24,0g Protein; 1,3g dầu; 59,7g hydratcacbon; 3,5g khoáng; 124mg Ca; 326mg P; 7,3mg Fe; 94,0mg Caroten; 0,47mg B1; 0,39mg B2 và 334kcalo

Bảng 1.1 Axit amin trong bột đậu xanh và tiêu chuẩn của FAO/WHO

Trang 6

Với hàm lượng dinh dưỡng cao của hạt đậu xanh nên sản phẩm chế biến từ hạt đậu xanh rất phong phú như: Bột đậu xanh, bánh đậu xanh, đồ xôi,

nấu chè làm miến, làm giá đỗ (Trần Văn Lài và CS., 1993) Ngoài việc

cung cấp dinh dưỡng, hạt đậu xanh còn được dùng trong đông y như một bài thuốc nam: Vỏ hạt đậu xanh có vị ngọt, tính hàn có tác dụng giải nhiệt giải độc Dùng nấu ăn để tiêu phù thũng, hạ bí, giải nhiệt độc, giải các chất độc của thuốc và kim loại, hạt đậu xanh còn dùng chữa bệnh đái tháo đường (Đỗ Tất Lợi., 2001)

Giống đậu xanh T135 có hạt tinh bột dạng hình cầu, hình ovan hoặc quả thận Trong đó những hạt nhỏ có dạng hình cầu còn những hạt lớn có dạng hình ovan hay quả thận Về trạng thái bề mặt thì tinh bột đậu xanh tương đối nhẵn không có vết nứt, trên bề mặt có một số hạt có nếp nhăn (Lê Thị Ánh Nguyệt., 2011)

1.1.2 Vai trò của cây đậu xanh trong hệ thống cây trồng nông nghiệp

Đậu xanh là cây đậu đỗ ngắn ngày, khả năng sinh trưởng mạnh, dễ thích ứng với nhiều mô hình trồng trọt Thời gian từ gieo đến ra hoa của hầu hết các giống hiện nay chỉ dao động từ 30-50 ngày Thời gian sinh trưởng của đậu xanh nhìn chung dao động từ 60 – 90 ngày tùy giống, mùa vụ và điều kiện canh tác Đặc biệt trong những nghiên cứu gần đây cho thấy đậu xanh có thể trồng được nhiều vụ trong năm Đậu xanh có thể trồng xen, trồng gối,

trồng thuần trên nhiều loại đất canh tác khác nhau (Trần Đình Long và CS.,

1998)

Để nâng cao giá trị sử dụng đất cây đậu xanh được sử dụng trong hệ thống trồng xen, trồng gối vụ Trong hệ thống trồng gối vụ, đậu xanh được trồng chủ yếu với vai trò cây trồng phụ Sử dụng cây đậu xanh trong hệ thống

gối vụ mang lại những lợi ích sau: (1) Diện tích đất được sử dụng triệt để giữa các giai đoạn sinh trưởng của cây trồng chính (2) Nhu cầu lao động được

Trang 7

phân bố đều trong năm (3) Tạo được khối lượng sản phẩm (4) Lượng đạm

để lại trong đất được cải thiện và cây trồng sau cho năng suất cao hơn

Cơ sở khoa học cho phương pháp trồng gối cần được nghiên cứu cụ thể đối với cây trồng chính, thậm chí từng giống đậu xanh nhưng cần thỏa mãn một số yêu cầu sau đây:

Thời gian trồng gối không ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng phát triển của cây trồng chính

Giống đậu xanh tham gia trồng gối phải có khả năng tự phục hồi nhanh sau khi thu hoạch cây trồng chính hoặc có khả năng dễ thích nghi với điều kiện che bóng của cây trồng chính

Giống đậu xanh được trồng gối cần có thời gian sinh trưởng ngắn, <75 ngày, sinh trưởng mạnh, chín tập trung, ít nhiễm sâu bệnh, năng suất và chất

lượng khá (Trần Đình Long và CS., 1998)

Cây đậu xanh có thể trồng xen với các loại cây trồng khác như: Sắn, mía, ngô, lạc, cây ăn quả,… Trồng đậu xanh xen sắn cho thu nhập gấp 2,88 lần và lượng đất bị mất đi do rửa trôi xói mòn trong quá trình canh tác giảm

26,29% so với trồng sắn thuần (Nguyễn Thanh Phương và CS., 2010)

Khi trồng xen đậu xanh với mía, cây ăn quả … năng suất đậu xanh có thể đạt 700 – 1.000 kg/ha mà không làm giảm năng suất cây trồng chính (S

trường đất tương đương từ 30 – 60kg N/ha (Vũ Tiến Bình và CS., 2014)

Luân canh cây đậu xanh là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, không chỉ có ý nghĩa đối với đậu xanh mà còn tăng hiệu quả đối với các cây trồng ở

Trang 8

vụ khác Cơ sở của luân canh được giải thích bởi nhiều nguyên nhân khác nhưng quan trọng nhất là những cây trồng khác nhau có sự tương tác khác nhau đối với đất trồng Sau mỗi vụ thu hoạch, mỗi cây trồng đã làm thay đổi nhất định đến thành phần dinh dưỡng, tính chất lý hóa học của đất, thậm chí

cả thành phần vi sinh vật Nếu tiếp tục cây trồng cũ, thành phần dinh dưỡng của đất bị phá vỡ, mất cân đối, nguồn bệnh trở nên trầm trọng, nguy cơ giảm năng suất sẽ sảy ra Hiện nay ở nước ta vẫn đang sử dụng một số công thức luân canh có cây đậu xanh tham gia là:

Lúa xuân - Đậu xanh hè thu - Cây vụ đông (ngô, rau, khoai lang…)

Trên đất chuyên màu:

Lạc xuân - Đậu xanh hè thu - Cây vụ đông (ngô, rau, khoai lang…) Ngô xuân - Đậu xanh hè thu – Cây vụ đông

Trên đất ven sông, bãi bồi:

Lạc xuân sớm - Đậu xanh hè thu - Cây vụ đông (ngô, rau, khoai lang…)

Đất bãi ven sông thuộc đồng bằng sông cửu long:

Đậu xanh - lạc; Lạc – Ngô - đậu xanh; Mía - đậu xanh (luân canh) Lúa - đậu xanh – lúa

1.2 Nhu cầu về điều kiện ngoại cảnh của cây đậu xanh

1.2.1 Nhu cầu về điều kiện khí hậu

1.2.1.1 Nhiệt độ

Đậu xanh là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới và Á nhiệt đới của vùng Trung Á, nên khả năng thích ứng với nhiệt độ dao động trong phạm vi rộng từ 16-360C Tuy nhiên, khả năng sinh trưởng tốt nhất trong phạm vi nhiệt độ từ 22-270C và kém nhất ở khoảng nhiệt độ từ 33-360C Thời kỳ mọc mầm và cây con thường dễ nhạy cảm với nhiệt độ Hạt sẽ nảy mầm tốt trong phạm vi từ

Trang 9

22-270C, nhiệt độ dưới 150C thì tỷ lệ nảy mầm cũng như tốc độ phát triển của cây con giảm đi đáng kể

Tốc độ sinh trưởng và khả năng tích luỹ chất khô tăng mạnh ở nhiệt độ

từ 24-250C Quá trình phát triển của đậu xanh chịu sự tác động của nhiệt độ trong sự tương tác với chế độ chiếu sáng và độ ẩm đất Trong điều kiện ngày ngắn, nhiệt độ trong phạm vi 22-270C, sự nở hoa diễn ra sớm do đó thời gian sinh trưởng (TGST) được rút ngắn và ngược lại

Nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh trưởng của đậu xanh trong điều kiện tự nhiên còn cho thấy nhiệt độ thường tương tác với chế độ chiếu sáng Khi đó nhiệt độ đóng vai trò như một hợp phần trong tổng thể các yếu tố để cùng tác động Trong điều kiện ngày dài, tương tác giữa chúng thường kéo dài thời gian sinh trưởng Đồng thời trong điều kiện ngày ngắn, nếu gặp nhiệt độ ấm thời gian sinh trưởng diễn ra nhanh hơn (Trần Thị Trường và CS., 2005)

1.2.1.2 Ánh sáng

Các thời kỳ sinh trưởng phát triển của đậu xanh nhìn chung mẫn cảm với chế độ chiếu sáng Hầu hết các giống đậu xanh đều mẫn cảm với phản ứng số lượng (phản ứng với ngày ngắn)

Trong điều kiện ngày ngắn phản ứng của các giống khác nhau khó phân biệt do không có sự thay đổi lớn về số ngày giữa các giống Trong điều kiện ngày dài tạo nên sự kích thích đối với quá trình nở hoa, làm cho trên cùng một cây có thể tồn tại cả nụ, hoa, quả xanh và quả chín Kết quả là ảnh hưởng tới các giai đoạn sinh thực, đó là sự kéo dài thời gian nở hoa và làm chậm quá trình chín của quả Sự nhạy cảm với độ dài ngày là kết quả của tương tác giữa giống và thời gian gieo trồng, làm thay đổi cấu trúc hình thái, kiểu hình cây

và thường chỉ gặp ở vùng cận nhiệt đới (Trần Đình Long và CS., 1998)

Trang 10

1.2.1.3 Độ ẩm

Đậu xanh là cây trồng chịu hạn khá, song muốn nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế thì phải tưới nước cho đậu xanh, đặc biệt với những giống thâm canh Ở hầu hết các thời kỳ sinh trưởng của đậu xanh cần độ ẩm 80% Thời kỳ khủng hoảng nước là giai đoạn ra nụ, hoa, quả Giai đoạn cây con chỉ cần tưới độ ẩm <60%, còn giai đoạn ra hoa không để độ ẩm <80% (Trần Thị Trường và CS., 2005)

1.2.2 Nhu cầu về đất đai

Cây đậu xanh có thể sinh trưởng và phát triển trên đất nghèo dinh dưỡng, lớp đất mặt nông Điều đó được giải thích bởi tính chịu hạn, chịu mặn, chịu kiềm của cây đậu xanh Tuy nhiên, để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế, đậu xanh cần được trồng trên loại đất màu mỡ, chủ động tưới tiêu Đậu xanh thích hợp nhất với môi trường pH đạt giá trị trung tính (6-7,5) là phù hợp nhất Nếu pH<5 khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu giảm

và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình dinh dưỡng đạm, khả năng tích luỹ chất khô của cây Do đó việc cung cấp (Ca) cho đất để điều chỉnh pH là rất quan trọng trong sản xuất thâm canh tăng năng suất đậu xanh (Trần Đình Long và

Nốt sần trên rễ đậu xanh hình thành khá sớm nếu điều kiện thuận lợi sau 1 tuần chúng có thể hình thành Tuy nhiên, hoạt động khử Acetylen chỉ có

ý nghĩa từ 15-25 ngày sau trồng Do đó, ở giai đoạn đầu khi cây còn nhỏ cần

bón đạm cho cây (Trần Đình Long và CS., 1998)

Trang 11

Nitơ là một trong các thành phần quan trọng của axit amin để cấu tạo nên Protein trong hạt đậu xanh Nitơ cấu tạo nên các cơ quan từ các axit Nucleic, là thành phần không thể thiếu được của diệp lục Thiếu Nitơ làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất diệp lục, làm đảo lộn quá trình trao đổi chất Nếu thiếu nghiêm trọng cây còi cọc, lá vàng nhanh, cây mềm yếu, rễ kém phát triển do đó khả năng tích luỹ chất khô giảm, các yếu tố cấu thành năng suất giảm và năng suất hạt giảm đáng kể

Tại Iran từ năm 2011-2012, đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc phun Urê và phân bón hữu cơ sinh học (Nitroxin, Amino acid, Green hum, Biocrop L- 45, Nutriman N24 và Mas Raiz, phân chuồng) đối với sinh trưởng của đậu xanh trong điều kiện nhà lưới Kết quả cho thấy, phun urê và phân chuồng làm tăng chiều cao cây, diện tích lá, khối lượng chất khô của thân và rễ, chiều dài của rễ và thân, khối lượng và số rễ Trong khi đó, Green hum và Amino acid làm tăng số chồi, số lá và nốt sần Tuy nhiên, Nutriman N24 và urê lại

làm giảm số nốt sần của bộ rễ (Khalilzadeh et al., 2012)

1.2.3.2 Lân

Tuỳ theo mức độ thiếu lân mà cây đậu xanh có những phản ứng khác nhau Trong trường hợp thiếu nặng lá có màu tím, đỏ, cuống lá ngắn, các lá chét thu nhỏ lại Khi gặp rét hoặc ngập úng rễ cây không lấy được lân, khi thời tiết ấm áp, đất tơi xốp cây có thể tự phục hồi nhanh chóng

Lượng lân cần để tạo ra 1 tấn hạt đậu xanh từ 3-5kg Tuy nhiên, một số cây đậu đỗ khả năng hút lân chậm và hiệu quả hút lân thấp nên người sản xuất phải bón một lượng lân khá lớn, có thể bón tới 100kg P2O5/ha (Vũ Tiến Bình

và CS., 2014)

Trang 12

1.2.3.3 Kali

Trong cây, kali tồn tại dưới dạng muối vô cơ hoà tan và muối của axit hữu cơ trong tế bào Bộ phận non hoạt động sinh lý mạnh thường chứa nhiều kali Kali dễ dàng vận chuyển từ bộ phận già đến bộ phận non của cây

Kali tham gia vào các hoạt động của các enzim và là chất điều chỉnh xúc tác, làm tăng cường mô cơ giới, tăng tính chống đổ của cây Thiếu kali quá trình tổng hợp đường đơn và tinh bột, vận chuyển gluxít, khử nitrat, tổng hợp prôtêin và phân chia tế bào không thực hiện được Trong cây trồng kali được huy động nhiều vào thời kỳ bắt đầu ra hoa, quả (R1) Thiếu kali ở giai đoạn này làm tăng tỷ lệ rụng hoa, quả, giảm số quả/cây và khối lượng 1.000 hạt (Vũ Quang Sáng và CS., 2015)

1.2.3.4 Các yếu tố trung và vi lượng

Canxi cần cho sự phát triển ban đầu của rễ Thiếu canxi rễ chuyển sang màu nâu rồi dần dần suy yếu khả năng hút chất dinh dưỡng Trong đất trồng đậu xanh hàm lượng canxi có thể lớn gấp 10 lần kali Vùng nhiệt đới ẩm thường có hàm lượng canxi dễ tiêu thấp, do đó bón vôi đã trở thành tập quán

từ lâu đời

Magiê là thành phần quan trọng của diệp lục và có vai trò rất quan trọng trong việc tăng năng suất đậu xanh Thiếu Mg có thể làm suy giảm năng suất đậu xanh đến 14%

Lưu huỳnh là thành phần của nhiều loại axít amin quan trọng trong cây, lưu huỳnh có mặt trong thành phần prôtêin của đậu xanh Thiếu lưu huỳnh, sự sinh trưởng của cây bị cản trở, lá có biểu hiện vàng nhạt, cây chậm phát triển Molipđen rất cần thiết cho hoạt động cố định đạm của vi khuẩn nốt sần Thiếu Mo hoạt động cố định đạm bị giảm sút nên cây có biểu hiện thiếu đạm (Vũ Tiến Bình và CS., 2014)

Trang 13

Ngoài ra, một số nguyên tố vi lượng khác Bo, Fe, Cu, Zn, Mn… cũng đóng vai trò quan trọng đối với năng suất cây đậu xanh Cây đậu xanh có thể hấp thu các chất này từ đất đủ cho quá trình sinh trưởng phát triển của cây, do

đó ít phải bổ sung các loại vi lượng này

1.3 Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới

1.3.1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu xanh trên thế giới

Cây đậu xanh đã được phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt

là các nước châu Á Diện tích sản xuất đậu xanh trên thế giới hàng năm có sự tăng trưởng đáng kể biến động từ 938.112 – 985.679 ha Theo số liệu thống

kê của FAO từ 2004-2008, năng suất đậu xanh bình quân biến động từ 692 –

723 kg/ha, năm 2006 năng suất bình quân đậu xanh đạt cao nhất 723kg/ha (FAOSTAT Database., 2009) (Phụ lục 8)

Ấn Độ là nước sản xuất và tiêu thụ đậu xanh lớn nhất trên thế giới với khoảng 65% diện tích gieo trồng và 54% sản lượng (Lambrides et al., 2007) Năm 2007, diện tích sản xuất đậu xanh ở 5 châu lục có sự biến động từ 5.812 – 646.829 ha, châu Á có diện tích sản xuất đậu xanh lớn nhất với tổng diện tích là 646.829 ha Năng suất đậu xanh của các châu lục có sự biến động

từ 512 – 971 kg/ha, châu Âu có năng suất đậu xanh bình quân đạt cao nhất thế giới là 971 kg/ha Châu Á có năng suất đậu xanh bình quân đạt 724 kg/ha cao hơn năng suất bình quân của thế giới 4,0 kg/ha

Diện tích sản xuất đậu xanh năm 2008 ở các châu lục, tăng 47.567 ha cao hơn 5% so với năm 2007 Trong đó diện tích sản xuất đậu xanh ở châu Á

và châu Phi tăng lần lượt là 15.424 ha và 34.176 ha Diện tích sản xuất đậu xanh ở châu Mỹ và châu Âu có sự sụt giảm đáng kể so với năm 2007 lần lượt

là 442 ha và 581 ha

Trang 14

Năng suất đậu xanh năm 2008 ở các châu biến động từ 511 – 976 kg/ha, năng suất đậu xanh ở châu Mỹ đạt thấp nhất 511 kg/ha, năng suất đậu xanh ở châu Âu đạt cao nhất là 976 kg/ha cao hơn so với năng suất đậu xanh bình quân cả thế giới là 284 kg/ha Năng suất đậu xanh bình quân ở châu Á năm 2008 đạt 729 kg/ha vượt so với năng suất bình quân của thế giới là 38,0 kg/ha vượt 5,4% năng suất so với thế giới (FAOSTAT Database., 2009) (Phụ lục 8)

1.3.1.2 Diện tích năng suất sản lượng đậu xanh ở một số nước châu Á

Diện tích sản xuất đậu xanh ở một số nước châu Á gồm Trung Quốc,

Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia và Nhật Bản năm 2008 biến động từ 8.000 – 228.030 ha Nước có diện tích sản xuất đậu xanh lớn nhất châu Á là Trung Quốc đạt 228.030 ha tiếp theo là Ấn Độ là 150.000ha và Indonesia là 141.714

ha Năng suất đậu xanh của 5 nước ở châu Á biến động từ 280 – 1.126 kg/ha, năng suất đậu xanh bình quân đạt cao nhất là Trung Quốc đạt 1.126 kg/ha, nước có năng suất bình quân đạt thấp nhất là Ấn Độ chỉ đạt 280 kg/ha thấp hơn năng suất bình quân của châu Á năm 2008 là 449 kg/ha và chỉ bằng 61% Sản lượng đậu xanh năm 2008 đạt cao nhất là Trung Quốc 2.566.748 tấn, Indonesia đạt sản lượng cao thứ 2 là 867.560 tấn (FAOSTAT Database., 2009) (Phụ lục 8) Hiện nay có 29 quốc gia trồng đậu xanh với diện tích

khoảng 6 triệu ha và sản lượng 3 triệu tấn (Nair et al., 2014)

1.3.2 Tình hình sản xuất đậu xanh ở Việt Nam

Ở nước ta, đậu xanh là một trong những cây trồng truyền thống với nhiều mục đích: Lấy hạt, cải tạo đất, chống xói mòn, làm cây phân xanh… Đậu xanh là một trong 3 cây đậu đỗ chính, sau lạc và đậu tương, song diện tích gieo trồng còn manh mún, rải rác từ Nam ra Bắc, từ các tỉnh đồng bằng đến trung du và miền núi

Trang 15

Diện tích sản xuất đậu xanh của Việt Nam qua 4 năm 2012 và 2015 biến động từ 88.180 – 98.200 ha, diện tích sản xuất đậu xanh năm 2015 giảm so với năm 2012 là 7.250 ha Năng suất đậu xanh bình quân của Việt Nam qua 4 năm biến động từ 1.026 – 1.098 kg/ha Năng suất đậu xanh bình quân của cả nước có xu hướng tăng dần qua các năm và năng suất đạt cao nhất năm 2015

là 1.098 kg/ha

Diện tích sản xuất đậu xanh ở Việt Nam được phát triển ở 7 vùng sinh thái trên cả nước Diện tích sản xuất đậu xanh giữa các vùng trong năm 2015 biến động từ 4.880 – 25.120 ha trong đó có 3 vùng có diện tích sản xuất đậu xanh lớn là Tây Nguyên, Bắc trung bộ và Duyên hải Nam trung bộ có diện tích lần lượt là 25.120 ha; 18.470 ha; 18.090 ha

Bảng 1.2 Diện tích và năng suất đậu xanh ở Việt Nam

Nguồn: Viện Quy hoạch Thiết kế Nông nghiệp., 2016

Năng suất đậu xanh bình quân của cả nước đạt khá cao, cao hơn so với năng suất đậu xanh của châu Á và thế giới Năng suất đậu xanh bình quân ở các vùng sinh thái lại có sự chênh lệch khá lớn Năng suất đậu xanh biến động giữa các vùng năm 2012 từ 837 – 1.506 kg/ha; năm 2015 biến động từ 861 – 1.719 kg/ha Năng suất đậu xanh bình quân đạt cao nhất ở Đồng bằng sông

Trang 16

Cửu Long và Đồng bằng Sông hồng lần lượt là 1.719 kg/ha và 1.511kg/ha (2015)

Năng suất đậu xanh bình quân đạt thấp nhất là Tây Nguyên và Bắc Trung bộ, năm 2015 năng suất đậu xanh ở Bắc Trung bộ là 938 kg/ha thấp hơn năng suất bình quân của cả nước là 160 kg/ha Tây Nguyên năng suất đậu xanh đạt 861 kg/ha và thấp hơn năng suất bình quân của cả nước là 236 kg/ha Năng suất đậu xanh của cả nước nói chung và vùng Bắc Trung bộ nói riêng qua các năm có xu hướng tăng dần đó chính là sự áp dụng các giống đậu xanh mới và các biện pháp kỹ thuật canh tác mới vào sản xuất

Hiện nay đã có nhiều công ty tham gia vào mạng lưới cung ứng giống đậu xanh cho người sản xuất như: Công ty CP giống cây trồng miền Nam; Công ty CP giống cây trồng miền Bắc; và các Viện, Trung tâm nghiên cứu cũng tham gia vào mạng lưới cung ứng giống đậu xanh như Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ; Trung tâm Nghiên cứu và Thực nghiệm Hưng Lộc; Viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ Với số lượng lớn các công ty và các Viện, Trung tâm tham gia cung ứng giống đậu xanh đã góp phần thay đổi bộ giống đậu xanh và tác động tăng năng suất đậu xanh

1.3.2.1 Tình hình sản xuất đậu xanh ở Nghệ An

Bảng 1.3 Diện tích năng suất và sản lượng đậu xanh ở Nghệ An

Nội dung 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015* Diện tích

Trang 17

Nghệ An là tỉnh có tiềm năng về đất đai và khí hậu, phù hợp với những cây trồng cạn như lạc, đậu, vừng, v.v… Sản xuất nông nghiệp của Nghệ An trong những năm qua khá ổn định song hiệu quả kinh tế bình quân trên một đơn vị diện tích vẫn chưa cao, đặc biệt là trong vụ Hè Nghiên cứu thực tế cho thấy, sau vụ thu hoạch lạc xuân, phần lớn diện tích được trồng vừng và đậu xanh Tuy nhiên, năng suất và hiệu quả kinh tế khi sản xuất vừng rất bấp bênh, năm được năm mất

Diện tích sản xuất đậu xanh của tỉnh Nghệ An từ năm 2008 – 2015 có

sự biến động từ 4.549 – 8.211 ha, đến năm 2015 diện tích sản xuất đậu xanh đạt 4.549 ha giảm 3.664 ha Diện tích sản xuất đậu xanh ở Nghệ An đã giảm gần 1/2 trong thời gian gần đây do các nguyên nhân sau: Do biến đổi khí hậu (đầu vụ hạn hán cuối vụ mưa nhiều) nên khó khăn trong việc gieo trồng và thu hoạch; Do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, sự cạnh tranh của một

số cây trồng có giá trị cao… Diện tích sản xuất đậu xanh của tỉnh Nghệ An tập trung chủ yếu ở các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông và Nam Đàn… (Cục thống kê Nghệ An., 2016) Năng suất đậu xanh của tỉnh Nghệ An biến động từ 736 - 879 kg/ha, năm 2014 năng suất đậu xanh bình quân của tỉnh Nghệ An đạt cao nhất 879 kg/ha (bảng 1.3)

1.3.2.2 Tình hình sản xuất đậu xanh ở Hà Tĩnh

Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu xanh ở Hà Tĩnh

Nội dung 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015* Diện tích

Trang 18

Đậu xanh là cây truyền thống của nông dân Hà Tĩnh, được trồng chủ yếu trong vụ hè, sau thu hoạch lạc xuân và ngô xuân Hiệu quả kinh tế mang lại từ sản xuất đậu xanh là khá cao trong những năm gần đây nhờ việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới về giống và kỹ thuật canh tác mới Diện tích sản xuất đậu xanh của Hà Tĩnh năm 2015 là 7.786 ha giảm 3.388 ha so với năm 2008, đậu xanh được sản xuất tập trung chủ yếu ở các huyện Hương Khê, Hương Sơn, Đức Thọ (Cục thống kê Hà Tĩnh., 2016)

Năng suất đậu xanh bình quân ở Hà Tĩnh qua các năm biến động từ 740 – 1.034 kg/ha, năng suất đậu xanh bình quân ở Hà Tĩnh đạt cao nhất là 1.034 kg/ha (2014) Năng suất đậu xanh bình quân của toàn tỉnh có xu hướng tăng dần qua các năm, song năng suất chỉ bằng 1/2 năng suất của các giống đậu xanh mới ĐX14; ĐXVN7 (Khoa học & Công nghệ Hà Tĩnh., 2014) Năng suất đậu xanh của tỉnh Hà Tĩnh chưa đạt bằng năng suất tiềm năng của các giống đậu xanh mới nhưng đã đạt cao hơn so với năng suất đậu xanh bình quân của thế giới và của châu Á Năng suất đậu xanh năm 2008 của thế giới đạt 692 kg/ha, của châu Á đạt 729 kg/ha (FAOSTAT Database., 2009) (Phụ lục 8) Mặc dù năng suất đậu xanh của tỉnh Hà Tĩnh trong những năm qua đều đạt cao hơn so với Thế giới và châu Á song so với năng suất đậu xanh của nước láng riềng như Trung Quốc thì năng suất đậu xanh của Hà Tĩnh chỉ đạt ở mức khá khiêm tốn Năng suất đậu xanh 2008 của Hà Tĩnh đạt 920 kg/ha và Trung Quốc đạt 1.126 kg/ha (Cục thống kê Hà Tĩnh., 2016); (FAOSTAT Database., 2009) (Phụ lục 8)

1.4 Tình hình nghiên cứu đậu xanh trên thế giới và ở Việt Nam

1.4.1 Tình hình nghiên cứu đậu xanh trên thế giới

1.4.1.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống đậu xanh trên thế giới

Các trung tâm lưu trữ nguồn gen đậu xanh được tập trung tại ở các khu vực khác nhau trên thế giới bao gồm: Trường ĐH Philippines; Trung tâm

Trang 19

Nghiên cứu Rau Quốc tế (AVRDC) tại Đài Loan; Viện Nghiên cứu Vật liệu Giống cây trồng của Học Viện Nông nghiệp Trung Quốc, Phòng Lưu trữ Quốc gia Nguồn gen Cây trồng của Ấn Độ, Trung tâm Dự trữ Nguồn gen Cây trồng của Trường Đại học Georgia, Mỹ (Ebert., 2013)

Ấn Độ và Trung Quốc là 2 nước có diện tích sản xuất đậu xanh tăng đứng thứ 2 so với các nước, Ấn Độ từ 1980-2008 diện tích sản xuất đậu xanh tăng 265.500 ha tăng vượt so với năm 1980 là 93% (Shanmugasundara., 2007)

Nghiên cứu xây dựng sơ đồ gen cho đậu xanh, các tác giả đã dùng các markers 430 SSR và EST-SSR để xây dựng bản đồ gen Sự khác biệt giữa các giống so với thủy tổ của chúng được phân tích dựa trên những locus quy định tính trạng số lượng (QTL – Quantitative Trait Locus) Kết quả cho thấy, tất cả các marker này đều phân ra 11 nhóm liên kết cho chiều dài khoảng 727.6 cM Đây là sơ đồ gen đầu tiên tại thời điểm nghiên cứu mà các nhóm gen liên kết tương đồng với số nhiễm sắc thể đơn bội của loài đậu xanh Việc đánh giá các đặc tính bằng QTL có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận dạng ra các nguồn gen mới Kết quả nghiên cứu này là nền tảng cho việc chọn tạo ra các giống

đậu xanh mới trong tương lai (Isemura et al., 2012)

Trung Quốc từ năm 1984-2000 diện tích sản xuất đậu xanh tăng 229.000 ha vượt so với năm 1984 là 42% (Weinberger., 2003)

Bộ sưu tập nguồn gen của AVRDC là phong phú nhất với 6.379 mẫu giống Phần lớn nguồn gen đậu xanh của AVRDC được thu thập từ 41 nước trên thế giới và Ấn Độ là nước đóng góp chủ yếu (AVRDC., 2012)

Wang et al., (2015), đã áp dụng các marker là các đoạn lặp đơn thuần (SSR) để phân lập chức năng của các nhóm gen trong bộ nhiễm sắc thể của 06 giống đậu xanh là ACC41, VC1973A, V2709, C01478, C01558 và C01579 Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng số 308,509 đoạn SSR (56,9 % đơn thuần

Trang 20

và 43,1 % phức hợp) được phân lập ra từ 167,628 đoạn Tập trung nhất vẫn

là cấu trúc AAC/GTT, chiếm 45,14 % tổng số, tiếp đến là AC/GT, chiếm 41,80 % Các tác giả kết luận rằng, lập sơ đồ gen bằng QTL và các marker sẽ

hỗ trợ một cách hiệu quả cho việc tuyển chọn và lai tạo các giống đậu xanh Nghiên cứu của phương pháp xử lý hạt giống kết hợp với phun thuốc trừ sâu và trừ nấm để hạn chế bệnh đốm lá Cercospora và bệnh khảm vàng do virut trên cây đậu xanh Kết quả cho thấy, xử lý hạt giống với Thiamethoxam (Cruiser TM) liều lượng 4g/kg kết hợp với Carbendazim (BavistinTM) + TMTD (ThiramTM) liều lượng 2,5 g/kg (theo tỷ lệ 1:1), sau đó được phun với Thiamethoxam (ActaraTM) 0,02% và Carbendazim 0,05% tại thời điểm

21 và 35 ngày sau gieo cho sinh trưởng và phát triển tốt nhất (tỷ lệ mọc trên đồng ruộng, chiều dài rễ và thân, số quả, khối lượng sinh khối của cây, khối lượng 1.000 hạt, năng suất hạt), tỷ lệ nhiễm bện đốm lá Cercospora và khảm

vàng do vi rút là thấp nhất (Dubey et al., 2010)

Trong những năm qua, AVRDC đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc phát triển các dòng giống đậu xanh mới Con đường tạo giống đậu xanh chủ yếu là lai hữu tính và đột biến Từ 1973-1986 ở đây đã tiến hành lai 4.437 tổ hợp lai Các dòng tốt nhất được chuyển giao cho các nhà chọn giống trên khắp thế giới Từ nguồn vật liệu của AVRDC, 112 giống đậu xanh mới

được phát triển mở rộng ở 27 nước trên thế giới (Norihico Tomooka et al.,

1991) Ước tính diện tích trồng đậu xanh giống mới là 600.000ha ở Trung Quốc, 200.000ha ở Pakistan và Thái Lan, gần 1 triệu ha ở Myanmar, 500.000ha ở Ấn Độ, 70.000ha ở Băngladesh (S Shanmugasundaran., 2007) Kết quả nghiên cứu và đánh giá nguồn gen đậu xanh đáng chú ý nhất trong thời gian gần đây đã được thực hiện bởi sự hợp tác giữa các Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Nhiệt đới (Nhật Bản), Trung tâm Nghiên cứu Cây trồng Chinat (Thái Lan), Viện Tài nguyên Cây trồng Quốc gia Nhật Bản và

Trang 21

AVRDC Trong chương trình nghiên cứu này có 497 mẫu đã được sử dụng cho việc đánh giá kiểu sinh trưởng, 651 mẫu cho việc đánh giá đặc điểm hạt và 590 mẫu cho việc đánh giá sự đa dạng protein Hầu hết các mẫu giống này đều được cung cấp bởi các ngân hàng gen của AVRDC, trường đại học Tokyo (Nhật Bản) và Viện Tài nguyên Cây trồng Quốc gia Nhật Bản (Norihico

Tomooka et al., 1991)

Một chương trình chọn tạo giống đáng chú ý được thiết lập vào những năm 60 của thế kỷ 20 tại Trường Đại học Nông nghiệp Punjab, Ludhiana Chương trình này đã cho ra đời rất nhiều giống đậu xanh với các mục tiêu khác nhau như: có loại hình sinh trưởng trung bình, cây khoẻ mập, phát triển nhanh, chống chịu tốt với điều kiện khó khăn như: chống đổ, chịu hạn và

có tiềm năng năng suất cao, ổn định, hàm lượng protein cao; ngắn ngày phục

vụ sản xuất (Nair et al., 2014)

Các nhà Khoa học Trung Quốc đã thu thập và lưu giữ 4.936 mẫu giống đậu xanh từ các vùng trong cả nước, 60% các mẫu giống này đã được tiến hành phân tích thành phần dinh dưỡng, đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh hại, khả năng chống chịu điều kiện thời tiết bất thuận Hơn 200 dòng, giống đậu xanh từ AVRDC được nghiên cứu đánh giá tại Trung Quốc (Zhang

huijie et al., 2003)

Thái Lan là nước gặt hái được nhiều thành công trong công tác chọn tạo giống đậu xanh Các dòng, giống đậu xanh triển vọng của AVRDC tiếp tục được nghiên cứu đánh giá ở Thái Lan Nhiều giống đậu xanh mới có nguồn gốc từ AVRDC cho năng suất cao hơn giống địa phương đến 37%, kháng bệnh phấn trắng, cứng cây, chống đổ tốt… được đưa ra sản xuất như KPS1, KPS2, Chai Nat 36, Chai Nat 60, PSU1… Ngày nay những giống này đã phủ

kín hầu hết diện tích trồng đậu xanh của Thái Lan (Subramanyam et al.,

2010)

Trang 22

Trung tâm AVRDC đã phát triển một số dòng đậu xanh siêu trội cho vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Các giống này đều chín sớm và chín đồng bộ (55-65 ngày), năng suất và khả năng chống chịu bệnh cao Các giống này bao gồm: Chainat 60 -Thailand, BPI Mg7 - Philippines, and Merpati - Indonesia (Somta et al., 2009)

1.4.1.2 Nghiên cứu về khả năng chịu hạn của đậu xanh

Theo Naresh để tạo ra được giống chịu hạn (kiểu gen) năng suất cao trong điều kiện hạn là một thách thức lớn đối với các nhà chọn giống (Naresh

et al., 2013)

Hai tác giả Baroowa và Gogoi (2015) đánh giá khả năng chịu hạn của hai giống đậu xanh tại Ấn Độ ( Pratap và SG 21-5) đã dựa trên một số chỉ tiêu sinh trưởng, đặc tính sinh hóa và chất lượng hạt Thí nghiệm gây hạn bao gồm việc ngừng tưới nước 15 ngày liên tục tại các giai đoạn: sinh trưởng sinh dưỡng, ra hoa, tạo hạt Kết quả cho thấy, so với đối chứng thì tại các công thức gây hạn, chỉ số diện tích lá (LAI), hàm lượng protein trong hạt giảm rõ rệt (ở mức sai khác (p ≤ 0.01), trong khi đó chất proline, flavonoid tổng số và hàm lượng anthocyanin tăng ở mức có ý nghĩa (p ≤ 0.01) Trong hai giống tham gia thí nghiệm, giống Pratap thể hiện khả năng chịu hạn cao hơn giống

SG 21-5 vì các chỉ số như LAI, chiều cao cây, tích lũy chất khô, hàm lượng các chất proline, flavonoid tổng số, anthocyanin, tỷ lệ chất diệp lục cao hơn,

chất lượng hạt tốt hơn.(Baroowa et al., 2015)

Hạn chế sự mất nước cây có thể tự điều chỉnh bằng cách đóng khí khổng, áp suất thẩm thấu thông qua sự tích lũy chất hòa tan hay bằng cách thay đổi hình thái, cấu trúc như: cuộn lá lại, phủ lớp lông dày, giảm diện tích

lá hay rụng bớt lá, (Placide et al., 2014)

Chịu hạn là khả năng cây trồng duy trì sự cân bằng nước và sức trương trong tế bào khi sống trong điều kiện hạn Phản ứng sinh lý liên quan đến tính

Trang 23

chịu hạn phụ thuộc vào loài thực vật, giai đoạn phát triển, thời gian và mức độ hạn nhưng khả năng chịu hạn của cây liên quan nhiều đến sự duy trì hoạt động sống, sinh trưởng của cây (Blum., 2011)

Khả năng chịu hạn của cây trồng được biểu hiện sức sinh trưởng và tạo

năng suất tốt trong điều kiện thiếu nước (Naresh et al., 2013)

Khi cây sống trong điều kiện hạn các gốc oxy phản ứng (ROS) được hình thành trong cây bằng các phản ứng oxy hóa ROS chủ yếu là H2O và O-2

ROS phá hủy lipid, cacbon hydrat và protein ở màng trong tế bào Cây chịu được hạn là nó có những cơ chế bảo vệ chống lại ROS để hạn chế tác hại của

hạn (Placide et al., 2014; Zlako et al., 2012)

Trong cùng một loài có thể chia ra theo phổ chịu hạn hoặc nhạy cảm với nước Các cây trồng chịu hạn là những cây trồng có khả năng giữ nước bằng cách làm giảm sự mất nước thông qua giảm quá trình thoát hơi nước

hoặc tích lũy các hợp chất hữu cơ tương thích (Ashraf et al., 2007)

Khi cây gặp điều kiện hạn, phản ứng thích nghi của cây là giảm sự thoát hơi nước Nhưng thoát nước giảm cũng làm giảm quang hợp, dẫn đến khả năng tích lũy chất khô giảm Một số tác giả cho rằng, các cây có khả năng chịu hạn cao, mặc dù cường độ quang hợp có giảm trong tình trạng thiếu nước, nhưng thường ít nghiêm trọng hơn so với các cây không có khả năng chịu hạn Điều này thể hiện ở hiệu suất sử dụng nước của chúng thường cao (Earl, 2002)

Năm 2011 tại Iraq, hai tác giả Caser Ghaafar Abdel and Iqbal Murad Thahir Al-Rawi nghiên mức phản ứng của đậu xanh đối với các tỷ lệ phun GA3 khác nhau (0,100 and 200mg/lít) và chế độ tưới khác nhau Kết quả cho thấy, việc định kỳ 8 ngày tưới một lần đã làm giảm nghiêm trọng đến chiều cao cây (46,8%), chiều dài đốt (32,1%), tổng số lá trên cây (64,3%), chỉ số diện tích lá (179,3%), số hoa trên cây (119%), chiều dài quả (22,6%), số quả

Trang 24

trên cây (117%), số hạt trên quả (23,8%), năng suất chất khô (74,6%), năng suất hạt (91,3%) và năng suất hạt trên cây (83,7%) Tuy nhiên lại làm tăng số đốt đầu tiên tạo quả (180,1%) và khối lượng 1.000 hạt (11,5%) Phun GA3 với tỷ lệ 200 mg/lít làm tăng rõ rệt chiều cao cây (11,7%) Tuy nhiên nó làm

giảm năng suất hạt (12,5%) và chỉ số thu hoạch (8,2%) (Caser C.A et al.,

2011)

Hạn hán là một hiện tượng phức tạp và được gọi là nhân tố quan trọng nhất giới hạn sản lượng cây trồng Nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng có khả năng chịu hạn dựa trên các đặc điểm của thực vật có liên quan đến khả năng chịu hạn là rất cần thiết để từ đó có thể chọn tạo được giống có khả năng

chịu hạn và đạt năng suất cao, ổn định (Beltrano et al., 2008)

Kỹ thuật mồi nước (Seed priming) là phương pháp có hiệu quả ở giai đoạn mọc mầm và phát triển của nhiều loại cây trồng để chống lại các tác hại

của stress hạn (Jisha et al., 2013)

Theo Jisha and Puthur., (2015), có nhiều hóa chất để sử dụng trong kỹ thuật mồi hạt giống, trong đó ß- amino axit butyric (BABA) có hiệu quả hơn

và làm tăng khả năng chịu hạn, mặn và số nhiệt

Zarifinia và cộng tác viên (2010 – 2011) đã nghiên cứu những thay đổi

về đặc tính nông học của cây xanh trong điều kiện khô hạn tại Iran Thí nghiệm gồm có 03 chế độ tưới là 120, 180 và 240mm thông qua chảo đo bốc thoát hơi nước và 05 giống đậu xanh tham gia thí nghiệm Qua hai vụ thí nghiệm, kết quả cho thấy thiếu hụt nước tưới làm giảm ở mức có ý nghĩa đối với chỉ tiêu: khối lượng 1.000 hạt, năng suất hạt/ha, năng suất chất khô, chỉ số diện tích lá Mức độ giảm càng tăng cùng với mức tăng về mức độ thiếu hụt nước Giống Partow thể hiện khả năng chống chịu hạn cao nhất trong 05

giống tham gia thí nghiệm (Zarifinia et al., 2012)

Trang 25

Khi nghiên cứu sự đa dạng di truyền của 21 giống đậu xanh nhằm tạo giống đậu xanh có năng suất cao và chống chịu bệnh Tác giả đã sử dụng 34 mồi ngẫu nhiên kết quả thu được 204 phân đoạn ADN được nhân bản, trong

đó có 75% phân đoạn thể hiện tính đa hình (Afzal et al., 2004)

Nhiễm mặn là một trở ngại lớn nhất đối với sản xuất đậu xanh, khi mà với nồng độ 50mM NaCl có thể làm thiệt hại tới 70% năng suất (Papiya Saha

et al., 2010)

Mức độ nhiễm mặn của đất canh tác ngày một gia tăng trên phạm vi toàn cầu, có thể ảnh hưởng tới 50% đất canh tác cho tới giữa thế kỷ 21 này (Hasanuzzaman et al., 2013)

Các nghiên cứu cho thấy, sự tích tụ muối cao lên sẽ làm giảm khả năng thẩm thấu của dung dịch đất, dẫn đến khủng hoảng nước trong cây, xa hơn nữa là sự tương tác giữa các muối với dinh dưỡng khoáng, từ đó dẫn đến sự thiếu hụt và mất cân bằng dinh dưỡng, các tế bào sẽ bị suy yếu và thậm chí các loại bệnh sẽ xuất hiện làm chết cây là hệ quả của việc ngừng sinh trưởng

và sự phá hủy quá trình trao đổi chất (Hasanuzzaman et al., 2012)

Sử dụng phân bón kali ở dạng K2SO4 cũng làm tăng khả năng chịu hạn

cho nhiều loại cây trồng như: lúa, cây họ đậu… (Mohammd et al., 2011)

Giai đoạn mọc mầm là giai đoạn đầu trong chu kỳ sinh trưởng phát triển của cây Đây là một trong những giai đoạn quan trọng và mẫn cảm với nhiều

yếu tố môi trường bất thuận đặc biệt là hạn và muối (Misra et al., 2004) Nếu

thiếu nước trong giai đoạn này sẽ làm giảm tỷ lệ mọc mầm ngoài ra còn ảnh

hưởng rất lớn đến sinh trưởng của cây mầm (Delachiave et al, 2003)

Đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng polyethylene glycol (PEG)

để đánh giá khả chịu hạn của hạt trong giai đoạn nẩy mầm Nhiều thí nghiệm

đã được triển khai kết quả đã chỉ ra rằng tỷ lệ mọc mầm, chiều dài rễ, chiều dài mầm, khối lượng rễ, khối lượng mầm là những chỉ tiêu chịu sự chi phối lớn

Trang 26

hơn các tính trạng khác trong điều kiện thiếu nước (Zhu Jiao Jun, 2006; Vahid

Jajarmi, 2009; Majid Khayatnehad et al., 2010; Taregh Ghanifathi et al., 2011)

PEG giống như một tác nhân gây ra hạn bởi tác dụng của nó làm hạn chế quá trình thẩm thấu của nước vào hạt do đó làm chậm quá trình mọc mầm và ngăn chặn sự phát triển của cây mầm, mức độ ảnh hưởng lên cây mầm được

quan sát rõ ở thân mầm hơn ở rễ mầm (Yavari et al., 2003)

Khi cây bị hạn hàm lượng Proline và các chất hòa tan trong cây tăng lên, diệp lục trong lá giảm, nhưng khi bón phân K2SO4 lại làm tăng diệp lục

(Fanaei et al., 2011)

Năm 2014, Nahar và cộng sự tại Nhật Bản đã khám phá ra rằng, Glutathione là chất giúp tăng khả năng chống chịu hạn của cây đậu xanh bởi

nó giữ vai trò điều phối trong việc chống lại chất oxy hóa và hệ thống giải độc

methyglyoxal (Nahar et al., 2015)

Nghiên cứu khả năng chịu hạn của cây đậu xanh của tác giả Ranawake cho thấy: Thời kỳ quả mẩy bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn so với thời kỳ cây

con (3 tuần sau gieo) (Ranawake et al., 2011) Khi cây đậu xanh thiếu nước thì cường độ quang hợp giảm bộ rễ phát triển kém (Debashree et al., 2013)

Sissay và cộng sự cho rằng, khi cây đậu xanh bị hạn sẽ rút ngắn thời gian sinh trưởng, làm giảm năng suất tới 24,9% so với điều kiện đủ nước (Sissay et al., 2014) Cây đậu xanh sinh trưởng trong môi trường thiếu nước làm giảm diện tích lá, tốc độ sinh trưởng thân, rễ, nốt sần giảm Cường độ

quang hợp giảm do sắc tố trong lá giảm dẫn đến năng suất giảm (Kumar et al., 2013)

Theo Raheleh et al., (2011), khi cây bị thiếu nước thì sinh trưởng sinh khối bộ rễ tăng lên để tăng khả năng hút nước và bộ lá sinh trưởng chậm lại Trường hợp này xảy ra khi cây sống trong môi trường thiếu nước ở mức nhẹ Nếu thiếu nước nặng cây phải có cơ chế đặc thù để tồn tại

Trang 27

Kết quả nghiên cứu khả năng tăng cường chịu hạn của cây đậu xanh bằng việc phun Salicylic Acid (SA) Các tác giả kết luận rằng, phun 0.5 mM

SA đã làm giảm tối đa nồng độ của Na+,Cl-, H2O2 và các hợp chất tương tác với axit thiobarbituric cũng như sự rò rỉ các chất điện phân trong tế bào trong điều kiện bị nhiễm mặn so với đối chứng Mặt khác, nó lại làm tăng hàm lượng của N, P, K, Ca và sự hoạt động của các enzyme chống oxi hóa và hàm

lượng glutathione (Khan et al., 2010)

Hạn còn ảnh hưởng xấu đến hàm lượng nước tương đối trong lá (LRWC) liên quan đến sự hút nước của bộ rễ và thoát nước của lá Sự giảm LRWC trong lá sẽ làm giảm hàm lượng sắc tố quang hợp nên khả năng quang

hợp giảm dẫn đến sinh trưởng và năng suất cây trồng giảm (Yang et al.,

2010) Khô hạn có thể làm giảm năng suất cây trồng đến trên 50% và không

có thu hoạch nếu cây bị hạn quá nặng hay hạn vào giai đoạn ra hoa (Varshey

et al., 2013)

Umair et al., (2012), đã nghiên cứu tăng cường sức khỏe của hạt giống đậu xanh trước khi gieo bằng phương pháp Seed Priming Phương pháp seed priming là xử lý để hạt giống có thể hút nước từng phần, đến một thời điểm

mà hạt giống bắt đầu quá trình nảy mầm nhưng mầm rễ chưa kịp nhú ra Thí nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá hoạt động của các enzyme chống oxy hóa thông qua các phương pháp xử lý priming khác nhau: (i) theo phương pháp truyền thống – ngâm hạt với nước; (ii) phương pháp thẩm thấu (ngâm hạt trong dung dịch thoáng khí và nhược trương) sử dụng H2KPO4, Mannitol, Polyethylene glycol, Na2MoO4, và (iii) sử dụng hormone ( salicylic acid) Lực thẩm thấu của các công thức xử lý priming đều từ -0.5 đến -1.2 M Pa Tất cả các công thức thí nghiệm đều cho thấy ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của enzyme chống oxy hóa như Superoxide Dismutase (SOD), Peroxidase (POD),

Trang 28

Polyphenoloxidase (PPO) and Catalase (CAT) Đồng thời các công thức đều làm tăng tỷ lệ nảy mầm và sức khỏe của cây con

1.4.1.3 Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh

* Nghiên cứu về thời vụ gieo trồng

Thời vụ gieo trồng đậu xanh phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như điều kiện sinh thái, thổ nhưỡng, cơ cấu cây trồng, giống Thời vụ gieo trồng thích hợp là một trong các tác nhân tạo điều kiện cho đậu xanh đạt được năng suất tối ưu Nếu cây trồng không được gieo đúng thời vụ thì năng suất có thể giảm đáng kể do giảm số quả, giảm khối lượng hạt và cũng có thể suy giảm mạnh năng suất do gặp các điều kiện thời tiết bất thuận ở giai đoạn thu hoạch

(Sekhon et al., 2007)

Tại Parkistan đậu xanh được trồng cả vụ xuân (tháng 2 và 3) và vụ hè (tháng 6 và 7) Đậu xanh thường bị thiếu nước ở giai đoạn cây con dẫn đến cây sinh trưởng không tốt nên ảnh hưởng xấu đến năng suất (Muhammad R

et al., 2011)

Ở miền Bắc Ấn Độ, đậu xanh được trồng vào mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 10 với những giống dài ngày Miền Đông và Nam Ấn Độ đậu xanh được trồng sau khi thu hoạch lúa nước, ngô, cao lương… nên thường trồng vào mùa lạnh và khô từ tháng 12 đến tháng 2 với những giống ngắn ngày, ít mẫn cảm với độ dài ngày Trong mùa hè từ tháng 3 đến tháng 6 và thu hoạch trước mùa mưa cũng là thời điểm thích hợp để trồng đậu xanh Kết quả nghiên cứu tại Punjab, Ấn độ trong 2 năm (2003-2004) chỉ ra rằng: Thời vụ tốt nhất để gieo trồng đậu xanh trong vụ hè là từ 20/03 - 10/04 và trong mùa khô từ 10-25/07, riêng với những giống có TGST ngắn ngày (70-75 ngày) có thể gieo đến 10/08 (Sekhon et al., 2005)

Nghiên cứu về thời vụ gieo trồng đậu xanh ở Băngladesh cho thấy: Để đậu xanh đạt năng suất cao nên gieo từ 15/02 (ở Barisal) và từ tháng 03 -

Trang 29

tháng 04 (ở Jessore và Dinajpur) Nếu gieo muộn hơn thì năng suất đậu xanh giảm đáng kể từ 18 - 64% (A Hamid et al., 2004)

* Nghiên cứu về mật độ, khoảng cách

Đậu xanh trồng thuần thường được trồng theo một số cách khác nhau như gieo vãi, theo hàng hoặc theo hốc Phương pháp gieo vãi được áp dụng rộng rãi ở các nước châu Á khi đậu xanh được trồng quảng canh sau lúa nước Gieo vãi có thể tiết kiệm được thời gian và công lao động để gieo Sau khi thu hoạch lúa, đất được cày bừa vài lần, hạt đậu xanh được vãi bằng tay sau đó được bừa lấp Tuy nhiên, gieo vãi cần lượng hạt giống lớn hơn, phải làm cỏ bằng tay, hạt được lấp ở các độ sâu khác nhau, mọc không đồng đều dẫn đến năng suất thấp Phương pháp gieo vãi thường được áp dụng ở những nơi đất thiếu màu mỡ và độ ẩm thấp Trồng theo hàng tạo được mật độ khoảng cách cây hợp lý hơn so với gieo vãi Việc làm cỏ, xới xáo, phun thuốc sâu và thu hoạch thuận lợi hơn và thông thường năng suất thu được cao hơn so với gieo vãi Trồng theo hàng thường được áp dụng ở những nơi đất đai màu mỡ hơn

và độ ẩm đất đầy đủ cho cây phát triển

Nghiên cứu về mật độ gieo trồng đậu xanh trên đất pha thịt tại Ấn Độ là

40 cây/m2 cho các giống NM-92, NM-94 Ở Đài Loan đất đai màu mỡ hơn

và lượng mưa cao hơn nên các giống đậu xanh này trồng trên đất cát pha thịt với mật độ là 20 cây/m2 và khoảng cách (50cm x 10cm) cho năng suất cao hơn ở các mật độ 30, 40 và 50 cây/m2 (Guriqbal et al., 2011)

Kết quả nghiên cứu về khoảng cách giữa hàng có sự khác biệt khá lớn giữa các tác giả Khoảng cách trồng đậu xanh phụ thuộc vào ẩm độ cũng như

độ màu mỡ của đất, kiểu sinh trưởng của cây, chiều cao cây và thời gian sinh trưởng của giống, khoảng cách cần thiết cho các biện pháp kỹ thuật như xới xáo, phun thuốc sâu, thu hoạch và mật độ

Trang 30

Ở Pakistan, khoảng cách giữa các hàng là 20cm thì đậu xanh đạt năng suất cao nhất (Rajput et al., 1993) Nghiên cứu của Guriqbal Singh và cộng sự tại Ấn độ và Đài loan cho kết quả: Tại Trường đại học Nông nghiệp Punjab (Ấn độ) mật độ gieo trồng thích hợp để đậu xanh đạt năng suất cao nhất là 40 cây/m2 với khoảng cách 25x10cm Tại AVRDC (Đài Loan) đất đai màu mỡ, lượng mưa cao thì ở mật độ 20 cây/m2 với khoảng cách 50x10cm là tối ưu với cây đậu xanh (Griqbal Singh et al., 2011)

* Nghiên cứu về phân bón

Tuy là cây họ đậu, có khả năng cố định đạm, nhưng đậu xanh vẫn cần bón bổ sung một lượng đạm, nhất là ở những nơi đất xấu, vì đạm do vi khuẩn nốt sần cung cấp không đủ cho cây Mặt khác, ở giai đoạn cây con, sau khi lượng đạm dự trữ trong hạt cạn kiệt, trước khi nốt sần có thể hoạt động tạo ra lượng đạm cần thiết thì sự sinh trưởng của cây đậu xanh phụ thuộc vào lượng đạm có trong đất Cung cấp phân đạm vào đất giai đoạn này sẽ thúc đẩy sinh trưởng và năng suất đậu xanh Ở những chân đất nghèo cả đạm lẫn lân thì bón đạm có thể làm tăng hiệu quả của việc bón lân

Đất cát pha sét của Iran bón nitơ và photpho đã làm tăng năng suất đậu xanh (đạt 2.240kg/ha) ở mức phân bón 90kg N/ha và 120kg P2O5/ha

(Sadeghipour et al., 2010) Nghiên cứu về các mức bón nitơ khác nhau trên

nền 50kg P2O5/ha đối với một số giống đậu xanh NM-92, NM-98 và M-1 cho thấy: Thời gian ra hoa kéo dài, số cành trên cây đạt cao nhất khi bón 100kg

N/ha (Abdul et al., 2012)

Theo kết quả nghiên cứu của Eman A et al., (2013), với mức bón 69kg N/ha cho cây đậu xanh giống patow vùng đất Khorrambad (Iran) cho hiệu quả nhất về số cành trên cây, đường kính thân, số nốt sần trên cây và năng suất Bón đạm với lượng 30kg N/ha và tưới nước 1 lần ở giai đoạn bắt đầu ra hoa (35 ngày sau gieo) làm tăng số quả/cây, số hạt/quả khối lượng 1.000 hạt

Trang 31

do đó làm tăng năng suất cá thể và năng suất đậu xanh có thể đạt 1.680 kg/ha (Md Asaduzzaman et al., 2008)

Trong điều kiện khô hạn đất khác nhau (bốc hơi nước 50, 70, 100mm) tại Iran, mức bón phân 100kgN/ha là thích hợp nhất để cây đậu xanh sinh

trưởng phát triển và đạt năng suất cao (Mani et al., 2014)

Phốt pho là nguyên tố thiết yếu trong cấu tạo của nucleoprotein, phosphilipids, enzymes và những hợp chất khác của cây Phốt pho cần thiết cho việc tích luỹ và giải phóng năng lượng cho tế bào sống, cần thiết cho sự hình thành và tích luỹ carbonhydrates, sự chín của cây, sự phát triển của rễ và khả năng chống bệnh Khi thiếu phốt pho, cây còi cọc, ban đầu có màu lá xanh đậm, sau đó mất màu, màu sắc lốm đốm và có hàm lượng protein thấp Đối với những vùng chịu ảnh hưởng của phong hoá nhiệt đới, sự phân huỷ P xảy ra mạnh do đó cần phải bổ sung P cho đất là rất cần thiết Các nghiên cứu về bổ sung P cho đất cho thấy: Bón 20-40 kg P2O5/ha năng suất đậu xanh đã tăng lên khá rõ rệt Trên đất đá ong ảnh hưởng của bón lân tới năng suất có ý nghĩa rất lớn, thậm chí lượng bón có thể lên tới 100kg P2O5/ha mới cho hiệu quả cao nhất

Photpho là nguyên tố thiết yếu sau đạm đối với cây họ đậu nói chung

và cây đậu xanh nói riêng, đặc biệt đối với vùng đất nhiệt đới thường có hàm lượng lân dễ tiêu thấp nên bón lân sẽ có hiệu quả cao cho cây đậu xanh (tăng chiều cao cây, số cành/cây, số lượng nốt sần, số quả/cây, số hạt/quả ) nên

năng suất cao (Sompong et al., 2010)

Bón lân ở mức khác nhau (0; 20; 40 và 60kg P2O5/ha) cho các giống đậu xanh Mung-6, Binamoong-8 tại Bănglađet kết quả cho thấy: mức bón 60kg P2O5/ha cho hiệu quả cao nhất về các yếu tố cấu thành năng suất và

năng suất (Sompong et al., 2010)

Trang 32

Kali là một trong 3 loại phân bón hoá học quan trọng bên cạnh đạm và lân Kali liên quan tới nhiều chức năng trong cây như giúp cho quá trình quang hợp, hoạt động của enzyme, vận chuyển và tích luỹ đường, tinh bột, giảm hô hấp và tiêu hao năng lượng, tăng khả năng chịu hạn bằng cách duy trì sức căng tế bào, tăng khả năng chống đổ thông qua việc tăng lượng cellulose trong thân cây Ngoài ra, kali còn giúp làm chậm quá trình phát triển của bệnh Trong đất, kali đa phần tồn tại dưới dạng hợp chất khoáng không tan, vì vậy rất chậm được hấp thụ bởi cây

Nghiên cứu ảnh hưởng của phân kali đến sinh trưởng và phát triển của đậu xanh và đậu đũa cho thấy: trong điều kiện khủng hoảng về nước, kali làm tăng sinh trưởng của mầm cây, phát triển của rễ, tăng hệ số quang hợp của cả

2 loại đậu, tuy nhiên mức độ cải thiện các quá trình trên của từng loài khác nhau Vì vậy bón phân kali có ý nghĩa quan trọng đối với các cây họ đậu ở vùng nhiệt đới, nơi luôn xảy ra những khủng hoảng về nước, cụ thể là úng ngập hoặc khô hạn (Sangakkara et al., 2001)

Theo Bukhsh và cộng sự, trong điều kiện hạn cung cấp kali với liều lượng thích hợp giúp cải thiện tình trạng của cây, duy trì sức trương, điều

chỉnh đóng mở khí khổng để duy trì quang hợp (Bukhsh et al., 2012) Bón

phân kali có thể làm giảm tác động tiêu cực của thiếu nước, bón 180kg

K2O/ha trên nền 50kgN + 150kg P2O5 sẽ giảm tác hại của hạn đối với cây đậu

xanh và năng suất có thể đạt 2.090 kg/ha (Fooladivanda et al., 2014)

Hussain et al., (2011), cho biết: Các mức bón kali khác nhau đã ảnh hưởng rõ rệt đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất hạt đậu xanh trên đất thịt pha cát ở Parkistan, bón 90kg K2O/ha cho năng suất hạt và hiệu quả kinh tế cao nhất

Trồng đậu xanh bón kali giúp cây sinh trưởng tốt và cho năng suất cao trên đất thịt pha cát tại Ấn Độ Bón 80kg K2O/ha trên nền 20kg N + 40kg

Trang 33

P2O5 cho năng suất đạt 1.050 kg/ha (Pravez et al., 2013) Bón phân kali cho

đậu xanh trồng trong mùa mưa (tháng 10 đến tháng 1) và mùa khô (tháng 4 đến tháng 8) ở miền nam châu Á Khi bón 120kg, K2O/ha cùng với 20kg N + 45kg P2O5/ha có tác dụng làm tăng trưởng bộ rễ, tăng năng suất và tăng chỉ số

thu hoạch, tăng hiệu quả sử dụng đạm của cây đậu xanh và đạt tối ưu (Ravi et al., 2011)

1.4.2 Tình hình nghiên cứu đậu xanh tại Việt Nam

1.4.2.1 Nghiên cứu về chọn tạo giống đậu xanh ở Việt Nam

Đánh giá đa dạng nguồn gen đậu xanh đang bảo tồn tại ngân hàng gen cây trồng Quốc gia Tập đoàn đậu xanh địa phương hiện có tại Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia với 226 mẫu giống đang lưu giữ tại Trung tâm tài Nguyên thực vật, trong đó 172 mẫu giống được mô tả đánh giá trong các năm 2003,

2004, 2005 Các mẫu giống có sự biến động khá rõ về các đặc điểm hình thái nông sinh học Tập đoàn có sự đa dạng di truyền cao về kiểu hình Có 3 giống đậu xanh có tiềm năng phục hồi là các giống có số đăng ký 4461; 6492; 6694 cần được làm thí nghiệm so sánh giống và khảo nghiệm thêm để xác định giống tốt giới thiệu ra sản xuất (Bùi Phương Mỹ Dung và CS., 2006)

Tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2001-2005 đã tiến hành đánh giá 2.024 lượt mẫu giống trong đó có 150 mẫu giống địa phương Kết quả đã xác định được 09 mẫu giống đạt năng suất từ 1.800-2.200 kg/ha, thời gian sinh trưởng 70-75 ngày là: đậu xanh Quảng Bạ,

mỡ Hải Dương, VC6193B, Chianat 72, Chianat 56, Chianat 36, SEL8, MN19, VC3890 Đặc biệt là các giống Chianat 72, Chainat 36 có nguồn gốc từ Thái Lan có thể sử dụng trực tiếp để nghiên cứu hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp và mở rộng sản xuất (Trần Đình Long và CS., 2005)

Tại Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam, từ năm 1991, Viện đã tiến hành thu thập và khảo sát tập đoàn 88 mẫu giống qua các vụ: Đông Xuân, Hè,

Trang 34

Thu và Thu Đông Trong giai đoạn từ 1992-1994 tại Trung tâm Hưng Lộc, Trung tâm Trâu sữa và Đồng cỏ Sông Bé đã tuyển chọn và giới thiệu những giống đậu xanh triển vọng năng suất cao và thích ứng với điều kiện vùng Đông Nam bộ (Bùi Việt Nữ., 1995)

Giống đậu xanh NTB02 được chọn lọc từ dòng phân ly NTB01, có thời gian sinh trưởng 85-90 ngày, nhiễm nhẹ với các bệnh héo rũ, phấn trắng, đốm nâu, giống chịu hạn và chống đổ tốt Năng suất thực thu đạt 2.200-2.500kg/ha cao hơn đối chứng HL89-E3 và NTB01 từ 350 – 390 kg/ha vượt đối chứng từ 17,0-19,6% năng suất (Nguyễn Trung Bình và CS., 2014)

Để xác định giống đậu xanh thích hợp trong vụ thu đông, tác giả Lê Khả Tường đã khảo sát và đánh giá 108 mẫu giống đậu xanh về các đặc điểm hình thái của lá, quả, hạt, khả năng phân cành, khả năng chống chịu sâu bệnh hại, thời gian sinh trưởng và tiềm năng năng suất Qua đó tác giả đã chọn tạo được 4 dòng lai có triển vọng là T135, V123, T17, T18 (Lê Khả Tường., 2000)

Tác giả Nguyễn Ngọc Quất và CS., (2014) đã tuyển chọn và khảo nghiệm giống đậu xanh ĐX14 ở các tỉnh Phía bắc, giống đậu xanh ĐX14 có thời gian sinh trưởng trong vụ hè từ 73 – 75 ngày Năng suất thực thu trung bình ở các điểm khảo nghiệm đạt 1.883 – 1.960 kg/ha vượt đối chứng đậu tằm từ 75 – 86% năng suất Đậu xanh ĐX14 chín tập trung rất thuận lợi cho thu hoạch và chống đổ tốt, nhiễm nhẹ bệnh đốm nâu

Một số giống nhập nội được nghiên cứu và đưa vào sản xuất như ĐX044, HL89-E3, G87-1, VX87-E2, V87-13, ĐX92-1, V87-41, HL115 Hầu hết các giống nhập nội có nguồn gốc từ AVRDC, số ít khác được nhập từ

Ấn Độ, Philippin (Lê Xuân Đính., 1991) Giống đậu xanh mới được giới thiệu vào sản xuất gần đây nhất là ĐX11 được nhập nội từ Thái Lan (Nguyễn Văn

Bộ và CS., 2009)

Trang 35

Giống đậu xanh HLĐX10 thích hợp với điều kiện sinh thái vùng Đồng bằng sông Cửu Long có thời gian sinh trưởng 62-65 ngày Giống chín tập trung, tỷ lệ chín lần 1 đạt 75-85% năng suất, nhiễm nhẹ bệnh đốm nâu Năng suất đạt từ 1.820 – 2.200 kg/ha vượt so với đối chứng từ 23-34% (Nguyễn Văn Chương và CS., 2014)

Năm 2009 Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công bố 17 giống đậu xanh được công nhận từ 1988-2007 Trong đó có 6 giống lai tạo chọn lọc trong nước là HL42-8; HL33-6; VN99-1; VN99-3; T135; V123 Còn lại là 11 giống được nhập nội và đánh giá chọn lọc (Cục Trồng trọt., 2009)

Giống đậu xanh VN93-1 do Viện Nghiên cứu Ngô chọn tạo đã kết hợp được những đặc tính tốt của dòng mẹ ĐX044 (chống đổ tốt, năng suất cao) với giống địa phương Mốc Trung Châu có phẩm chất tốt (Đào Quang Vinh và CS., 1994)

Đánh giá năng suất và phẩm chất của 5 giống đậu xanh trồng thử nghiệm tại Thái Nguyên trong vụ xuân và vụ hè Năng suất của các giống đậu xanh dao động từ 685 – 1.023 kg/ha (vụ hè) và 756 – 1.004 kg/ha (vụ xuân), xác định sơ bộ chọn được 3 giống đậu xanh triển vọng là V123, ĐX01 và VC4053B Hàm lượng lipid của các giống dao động từ 1,35 – 1,72% (Lương Thị Thúy Vân và CS., 2005)

Nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương, đậu xanh và biện pháp kỹ thuật trong hệ thống canh tác với cây ngô giai đoạn 2006-2008 đã chọn tạo được hai giống đậu xanh ĐXVN4 và ĐXVN5 có nhiều ưu điểm như tiềm năng năng suất cao, chống chịu sâu bệnh khá (Nguyễn Thị Thanh., 2009)

Nghiên cứu đa dạng di truyền của đậu xanh bằng phương pháp RAPD Marker Thông qua dữ liệu marker RAPD với 9 primer được sử dụng 25 giống đậu xanh và được phân thành 3 nhóm chính Trong đó nhóm B đem lai tạo với nhóm A và nhóm C có thể cho ưu thế lai Không có sự tương quan

Trang 36

giữa 2 phương pháp phân nhóm dựa trên dữ liệu hình thái và dữ liệu marker RAPD Những tính trạng nghiên cứu thì có ít liên quan đến sự khác biệt di truyền Phương pháp phân nhóm dựa trên marker RAPD thì tương đối chính xác hơn kiểu hình Dựa vào marker phân từ có thể đánh giá gián tiếp sự hiện diện hay không hiện diện của gen chọn lọc nhờ marker mà không bị ảnh hưởng của môi trường (Nguyễn Thanh Quy và CS., 2007)

Tạ Minh Sơn và CS., (2006) đã nghiên cứu chọn lọc thành công giống đậu xanh NTB01 Đây là giống có hạt xanh mỡ thích hợp với thị hiếu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu Giống NTB01 có thời gian sinh trưởng

78 ngày trong vụ Đông Xuân và 72 ngày trong vụ Hè Thu Năng suất cao dao động từ 1.730-2.360 kg/ha tuỳ thuộc thời vụ và mức độ thâm canh Giống NTB01 cho năng suất cao hơn so với giống đối chứng HL89-E3 trong vụ Đông Xuân 17,4% và vụ Hè Thu là 13,8%

Kết quả khảo nghiệm 12 giống đậu xanh vụ hè 2012 tại Gia Lai cho thấy: Các giống đậu xanh có thời gian sinh trưởng trung bình từ 60-64 ngày Năng suất thực thu biến động từ 820 – 1.280 kg/ha, giống đậu xanh HL251 đạt năng suất thực thu cao nhất 2.280 kg/ha vượt đối chứng (cao sản) 20,4% năng suất (Nguyễn Thị Thanh Duyên và CS., 2012)

Nghiên cứu về khả năng thích ứng của một số giống đậu xanh trên đất cát biển huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hoá kết quả thu được cho thấy: đất cát ven biển tuy nghèo dinh dưỡng nhưng thích hợp với đặc tính sinh lý của cây đậu xanh Các giống đậu xanh đều trồng được trên đất này Bước đầu xác định được một số giống cho năng suất cao như T135, V123, KP11, trong đó giống T135 cho năng suất cao nhất 2.230 kg/ha trong điều kiện thí nghiệm (Đồng Văn Đại., 1997)

Kết quả khảo nghiệm giống đậu xanh tại Đồng bằng sông Cửu Long, giống đậu xanh cho năng suất cao nhất trong cả 2 vụ Đông Xuân và Xuân Hè

Trang 37

là giống OMX1; OMX2 và OMX8 Giống thích nghi và ổn định cả 2 vụ Đông Xuân và Xuân Hè là giống OMX2, giống này cũng có hàm lượng protein cao nhất 24,5 – 26,5% (Trần Thị Ánh Nguyệt và CS., 2006)

1.4.2.2 Nghiên cứu về khả năng chịu hạn của đậu xanh

Hạn hán là một trong những yếu tố phi sinh học quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và sản lượng cây trồng trên quy mô toàn cầu Theo Hoàng Minh Tấn và cộng sự có 3 loại hạn chính là hạn đất, hạn không khí và hạn sinh lý (ngoài ra có thể xảy ra hạn đất + hạn sinh lý) Tuy nhiên, phản ứng của thực vật đối với sự thiếu hụt nước phụ thuộc vào cường

độ thoát hơi nước, thời gian tiếp xúc với nước và đặc biệt là giai đoạn sinh trưởng của cây trồng (Hoàng Minh Tấn và cs., 2006)

Tính chống chịu của thực vật, trong quá trình sống thực vật luôn phải chịu sự tác động của các yếu tố ngoại cảnh như: ánh sáng, nhiệt độ nước, dinh dưỡng … để tồn tại, sinh trưởng và phát triển cũng như tái tạo thế hệ mới Những biến đổi của các yếu tố ngoại cảnh thường có tính chất chu kỳ theo ngày và theo mùa trong năm Thực vật chỉ có thể sống được trong một giới hạn nhất định của các điều kiện sinh thái như nóng, lạnh, khô hạn, ngập úng, sâu bệnh … Ngoài giới hạn này, các yếu tố đó trở thành bất lợi (stress) gây hại cho quá trình sinh trưởng phát triển của của cây, làm giảm năng suất sinh vật học và có thể làm chết cây Tùy theo đặc điểm của từng loài và giống mà mức độ thiệt hại khác nhau như: bị chết; bị tổn thương hoặc ít bị ảnh hưởng Khả năng thực vật có thể giảm thiểu được mức độ tổn thương khi bị tác động

bất lợi gọi là tính chống chịu (Stress tolerance) (Lê Trần Bình và CS., 1997);

(Lê Trần Bình và CS., 1998) Tính chống chịu của thực vật được hình thành trong quá trình sống, tiến hóa và được di truyền lại (Nguyễn Như Khanh và CS., 2008)

Trang 38

Thiết kế vector nhị thể mang gen mã hóa lipid transfer protein 2 phân lập từ đậu xanh để tăng khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh Đã thiết kế được cặp mồi đặc hiệu nhận được gen mã hóa LTP bằng phản ứng RT-PCR Sản phẩm PCR được đồng hóa vào vector pBT Trình tự nucleotide của gen mã hóa LTP dài 351 nucleotide Thiết kế được vector chuyển gen pCB301 mang gen LTP (Nguyễn Vũ Thanh Thanh và CS., 2013)

Hạn là khái niệm dùng để chỉ sự thiếu nước do môi trường gây nên Hạn cũng có thể được định nghĩa là sự thiếu nước mưa hay nước tưới trong thời gian dài, kèm theo độ ẩm không khí giảm, nắng nhiều, nhiệt độ tăng cao

Ở thực vật luôn diễn ra hai quá trình: sự xâm nhập của nước vào cây và

sự thoát hơi nước ra khỏi cây Khi thiếu nước, lượng nước mà cây hút vào không bù đắp được lượng nước bay đi qua bộ phận trên mặt đất, làm cho cây

bị mất cân bằng nước và bị héo (Lê Trần Bình và CS., 1997); (Hoàng Minh Tấn và CS., 2006) Khả năng thực vật có thể giảm thiểu tổn thương do hạn gây nên mà vẫn sinh trưởng và cho sản phẩm trong điều kiện thiếu nước gọi

là tính chịu hạn (Lê Trần Bình và CS., 1997)

Trong những năm gần đây ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về khả năng chịu hạn của đậu xanh Điêu Thị Mai Hoa và cộng sự đã nghiên cứu sự biến đổi hàm lượng axit amin prolin trong mầm và lá đậu xanh khi bị hạn đã cho thấy: Hàm lượng prolin trong mầm và lá đậu xanh có sự tăng lên khi cây đậu xanh bị hạn Khi cây bị thiếu nước axit amin prolin có vai trò làm tăng áp suất thẩm thấu của tế bào (Điêu Thị Mai Hoa và CS., 2005)

Nghiên cứu của Vũ Tiến Bình và CS., (2015) cho thấy, khi cây họ đậu

bị thừa hay thiếu nước cây sinh trưởng kém do bộ rễ phát triển kém, nốt sần ít đặc biệt nốt sần hữu hiệu

Nghiên cứu vai trò của các chất điều hòa áp suất thẩm thấu, đã có khá nhiều nghiên cứu tập trung tìm hiểu cơ chế hóa sinh của tính chịu hạn Đó là

Trang 39

những chất có khả năng tạo áp suất thẩm thấu cao trong tế bào như: axit abxisic, đường, axit amin prolin, axit hữu cơ khác và và các loại rượu đa chức hay các ion (chủ yếu là ion K+) Hầu hết các loại chất hữu cơ hòa tan có tác dụng điều chỉnh áp suất thẩm thấu được sinh ra ngay trong quá trình đồng hóa và trao đổi chất Quá trình thủy phân các hydratcacbon dự trữ cũng là nguồn cung cấp chất tan rất dồi dào cho quá trình điều chỉnh áp suất thẩm thấu Các chất này có khả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu nhờ khả năng giữ nước và lấy nước vào tế bào hoặc ngăn chặn sự xâm nhập của ion Na+ Ngoài ra chúng có thể thay thế vị trí của nước nơi xảy ra các phản ứng sinh hóa, tương tác với protein và lipit màng,

ngăn chặn sự phá hủy màng (Điêu Thị Mai Hoa và CS., 2007)

Nghiên cứu tính đa dạng di truyền và phân lập một số gen liên quan

đến tính chịu hạn của cây đậu xanh (Vigna radiata L Wilczek) Kết quả cho

thấy khi bị hạn hàm lượng đường khử, enzym ᾳ-amilaza và axit amin prolin đều có sự biến động theo xu hướng tăng lên đáng kể so với trước khi bị hạn Tác giả đã chọn dòng và đọc trình tự nucleotit thành công các gen mã hóa PLC3, LEA và cystatin liên quan đến khả năng chịu hạn của cây đậu xanh (Nguyễn Vũ Thanh Thanh., 2008)

Nghiên cứu ảnh hưởng của áp suất thẩm thấu cao đến sự nảy mầm, hoạt tính Enzym ᾳ - amylase và tích lũy prolin của mầm đậu xanh Tác giả Điêu Thị Mai Hoa và CS đã kết luận: Trong điều kiện áp suất thẩm thấu cao, kết thúc giai đoạn nảy mầm, giống vàng phú thọ thể hiện khả năng sinh trưởng mầm tốt nhất sau đó đến tiêu hải dương, ĐX14 và V123 Khi nảy mầm trong điều kiện

áp suất thẩm thấu cao, hàm lượng axit amin prolin ở giai đoạn cuối của sự nảy mầm tăng mạnh ở giống vàng phú thọ, 3 giống còn lại không tăng hàm lượng prolin so với đối chứng (Điêu Thị Mai Hoa và CS., 2011)

Chu Hoàng Mậu và CS., (2008), đã phân lập được gen cystatin liên quan đến khả năng chống chịu hạn của thực vật từ ADN của các giống đậu

Trang 40

xanh, kết quả đều nhận được gen có kích thước 1115 nucleotit chứa 2 exon và

1 intron, đoạn mã hóa cystatin dài 267 nucleotit mã phân tử protein dài 88 axit amin

Nguyễn Vũ Thanh Thanh và CS., (2011) đã phân lập và so sánh trình

tự gen cystatin của 4 giống đậu xanh có mức độ chịu hạn khác nhau thấy rằng trình tự nucleotit của gen cystatin ở 4 giống đậu xanh có mức độ tương đồng cao (99,6-99,8%), không có khác nhau nào trong 2 exon nhưng có 6 đa hình nucleotit đơn nằm trong vùng itron

So sánh khả năng quang hợp của một số giống đậu xanh chín tập trung

và chín không tập trung Chỉ số hàm lượng diệp lục và cường độ quang hợp ở nhóm đậu xanh chín tập trung tăng nhanh hơn và đạt cực đại cao hơn vào giai đoạn hình thành rễ, thân, lá, hoa và quả Ở giai đoạn quả chín chỉ số này lại giảm mạnh hơn nhóm chín không tập trung Nhóm chín không tập trung có mức độ cao của chỉ số này, duy trì lâu hơn theo thời gian chín rải rác của quả (Điêu Thị Mai Hoa và CS., 2006)

Kết quả chọn dòng chịu hạn và môi trường thích hợp cho tạo mô sẹo, tái sinh chồi, hình thành rễ, tạo cây con hoàn chỉnh Đã xác định được môi trường thích hợp cho tạo mô sẹo là môi trường MS có bổ sung 2,4D với nồng

độ 10mg/l (đối với các giống VN99-1; VN99-3; VC1973A; VC6148; VC6372; VC2768A0 còn giống đậu xanh ĐX06 thích hợp với nồng độ 11mg/l (Nguyễn Vũ Thanh Thanh và CS., 2012)

1.4.2.3 Nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh

* Nghiên cứu về thời vụ gieo trồng

Ở Việt Nam, thời vụ gieo đối với đậu xanh tuỳ thuộc vào vùng sinh thái Đối với các tỉnh miền Bắc trong vụ Xuân gieo trong tháng 3, từ phía nam Thanh Hoá trở vào ấm hơn nên có thể gieo từ cuối tháng 2 để tránh gió lào

Ngày đăng: 18/07/2016, 19:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Diễn biến nhiệt độ và lượng mưa từ năm 2002 đến 2012 tại Nghệ - Luận án nghiên cứu xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh ở nghệ an và hà tĩnh
Hình 3.1. Diễn biến nhiệt độ và lượng mưa từ năm 2002 đến 2012 tại Nghệ (Trang 60)
Hình 3.4. Diện tích, năng suất và sản lượng đậu xanh tỉnh Hà Tĩnh - Luận án nghiên cứu xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh ở nghệ an và hà tĩnh
Hình 3.4. Diện tích, năng suất và sản lượng đậu xanh tỉnh Hà Tĩnh (Trang 65)
Bảng 3.1. Các yếu tố hạn chế và khó khăn trong sản xuất đậu xanh ở Nghệ - Luận án nghiên cứu xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh ở nghệ an và hà tĩnh
Bảng 3.1. Các yếu tố hạn chế và khó khăn trong sản xuất đậu xanh ở Nghệ (Trang 66)
Bảng 3.6. Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu xanh triển - Luận án nghiên cứu xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh ở nghệ an và hà tĩnh
Bảng 3.6. Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống đậu xanh triển (Trang 74)
Bảng 3.9. Đánh giá tính thích ứng (bi) và tính ổn định (S 2 d) về năng suất - Luận án nghiên cứu xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh ở nghệ an và hà tĩnh
Bảng 3.9. Đánh giá tính thích ứng (bi) và tính ổn định (S 2 d) về năng suất (Trang 80)
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của thế thẩm thấu đến khối lượng cây mầm của các - Luận án nghiên cứu xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh ở nghệ an và hà tĩnh
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của thế thẩm thấu đến khối lượng cây mầm của các (Trang 84)
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của các thế thẩm thấu đến khối lượng rễ mầm của - Luận án nghiên cứu xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh ở nghệ an và hà tĩnh
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của các thế thẩm thấu đến khối lượng rễ mầm của (Trang 86)
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của các thế thẩm thấu đến khối lượng mầm của các - Luận án nghiên cứu xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh ở nghệ an và hà tĩnh
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của các thế thẩm thấu đến khối lượng mầm của các (Trang 87)
Bảng 3.44. Hiệu quả kinh tế của đậu xanh ở các liều lượng phân bón và - Luận án nghiên cứu xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh ở nghệ an và hà tĩnh
Bảng 3.44. Hiệu quả kinh tế của đậu xanh ở các liều lượng phân bón và (Trang 124)
Hình 1: Khảo nghiệm một số giống đậu xanh triển vọng - Luận án nghiên cứu xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh ở nghệ an và hà tĩnh
Hình 1 Khảo nghiệm một số giống đậu xanh triển vọng (Trang 153)
Hình 3: Đo cường độ quang hợp của đậu xanh trong nhà lưới - Luận án nghiên cứu xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh ở nghệ an và hà tĩnh
Hình 3 Đo cường độ quang hợp của đậu xanh trong nhà lưới (Trang 154)
Hình 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo và liều lượng phân bón đến - Luận án nghiên cứu xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh ở nghệ an và hà tĩnh
Hình 5 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ gieo và liều lượng phân bón đến (Trang 155)
Hình 7: Mô hình sản xuất thử nghiệm giống đậu xanh ĐX14 và kỹ thuật canh - Luận án nghiên cứu xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh ở nghệ an và hà tĩnh
Hình 7 Mô hình sản xuất thử nghiệm giống đậu xanh ĐX14 và kỹ thuật canh (Trang 156)
Hình 8: Mô hình sản xuất thử nghiệm giống đậu xanh ĐXVN7 và kỹ thuật - Luận án nghiên cứu xác định giống và biện pháp kỹ thuật canh tác đậu xanh ở nghệ an và hà tĩnh
Hình 8 Mô hình sản xuất thử nghiệm giống đậu xanh ĐXVN7 và kỹ thuật (Trang 156)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w