Môi trường kinh doanh của Việt Nam có thuận lợi và khó khăn gì trong việc phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế của nước nhà, Đầu tư quốc tế và các nguyên nhân của việc tăng trưởng đầu tư quốc tế. Cho biết vài nét về tình hình đầu tư nước ngoài trực tiếp tại Việt Nam hiện nay,Phân tích thị trường kinh doanh ngoại hối và các hình thức kinh doanh ngoại hối
Trang 1Câu 1: Môi trường kinh doanh của Việt Nam có thuận lợi và khó khăn gì trong việc phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế của nước nhà? 1
a Thuận lợi: 1 Câu 2: Đầu tư quốc tế và các nguyên nhân của việc tăng trưởng đầu tư quốc tế Cho biết vài nét về tình hình đầu tư nước ngoài trực tiếp tại Việt Nam hiện nay? .5
a Đầu tư quốc tế 5
b Nguyên nhân chính của việc tăng trưởng đầu tư quốc tế 7
c Vài nét về tình hình đầu tư nước ngoài trực tiếp tại Việt Nam hiện nay 8 Câu 3: Phân tích thị trường kinh doanh ngoại hối và các hình thức kinh doanh ngoại hối? 12
a Phân tích thị trường kinh doanh ngoại hối 12
b Các hình thức kinh doanh ngoại hối 16 Câu 4: Liên hệ thực tế hoạt động kinh doanh quốc tế trong đơn vị công tác của bạn hay cơ sở kinh doanh mà bạn quan tâm? 19
Trang 2Câu 1: Môi trường kinh doanh của Việt Nam có thuận lợi và khó khăn gì trong việc phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế của nước nhà?
a Thuận lợi:
- Môi trường luật pháp:
Đảng cũng như Nhà nước đã có những chủ trương và chính sách nhất quán cho việc chủ động tham gia vào tiến trình khu vực hoá và toàn cầu hoá Từ nhận thức này,
mà trong những năm qua Việt Nam đã có bước chuyển đổi lớn trong chính sách phát triển kinh tế nói chung, chính sách phát triển kinh tế đối ngoại nói riêng Các chính sách này đều theo hướng tự do hoá, tất cả ở các tầng cấp khác nhau phụ thuộc vào thực lực cụ thể của mỗi lĩnh vực
Hệ thống pháp luật Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trong 10 năm gần đây bằng những nỗ lực của Chính phủ trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và kết quả thể hiện bằng sự tăng bậc chỉ số quy định pháp luật
Chính phủ đã hoàn thiện khung pháp luật bảo vệ quyền sở hữu tài sản, cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách hành chính, thích đẩy phát triển các thị trường nhân
tố sản xuất, thị trường hàng hóa, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo an sinh xã hội là những lĩnh vực được ưu tiên
- Về chính sách kinh tế vĩ mô:
Kết quả đạt được từ năm 1991 đến nay cho thấy : nền kinh tế Việt Nam có nhịp
độ tăng trưởng khá cao và ổn định (từ 5-7%), đời sống dân cơ có phần cải thiện… ngày càng có nhiều nhà đầu tư quan tâm đến môi trường kinh doanh nhiều hứu hẹn ở Việt Nam
Nhà nước trên quan điểm đa phương hóa đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong việc mởi rộng thị trường xuất khẩu và tiếp cận thị trường thế giới Nhà nước đã
ký kết một loạt các Hiệp định thương mại đa phương và song phương, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thâm nhập thị trường nước ngoài Việc tham gia tổ chức thương mại thế giới WTO sẽ mở ra cơ hội thâm nhập thị trường nhiều nước khác, đồng thời đưa ra các cam kết mở cửa
- Về cơ sở hạ tầng của nền kinh tế:
Nhà nước quan tâm đầu tư hệ thống đường quốc lộ trục Bắc Nam, củng cố
Trang 3đang khởi công nhằm cải thiện giao thông ở các đầu mối, các trục chính ở các vùng kinh tế trọng điểm.
và chính qua hội nhập là điều kiện để hàng cao chát lượng nguồn lao động của Việt Nam
- Vị trí địa lý:
Tham gia toàn cầu hoá chính là nhằm tranh thủ những điều kiện quốc tế để khai thác các tiềm năng kinh tế nước nhà, Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng chưa được khai thác hiệu quả Với nguồn tài nguyên phong phú không chỉ tạo điều kiện cho việc phát triển các ngành công nghiệp khai thác chế biến mà còn là sức hút đối với các công ty nước ngoài Trên cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên chúng ta có thể xác lập cơ cấu ngành kinh tế với những sản phẩm
có tính cạnh tranh đáp ứng được nhu cầu, thị trường thế giới, về vị trí địa lý nước ta cửa ngõ đi ra Thái Bình Dương của một số quốc gia Đông Nam Á, là điểm tiếp giáp với các tuyến đường giao thông quan trọng của thế giới Đáng chú ý với bờ biển rộng, trải dài từ Bắc tới Nam với nihều hải cảng, đặc biệt cảng Cam Ranh có độ sâu thuận lợi cho phát triển giao thông hàng hải cũng như phát triển kinh tế hàng hoá Ngoài ra một só khoáng sản nưh Bôxít có trữ lượng lớn 5 tỷ tấn đứng thứ ba thế giới, quặng đất hiếm cũng có trữ lượng lớn đứng thứ hai thế giới
Sau Trung Quốc, thì các loại khoáng sản ở Việt Nam tuy trữ lượng không lớn nhưng rất đa dạng và phong phú Đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá hiện địa hoá,
Trang 4thì việc khai thác sử dụng các nguồn lực đó thông qua hợp tác là rất cần thiết Với thực trạng nguồn tài nguyên kinh tế chúng ta, không nên hình thành cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu tài nguyên lớn Cần qua, hợp tác, quỹ như phát huy năng lực bên trong đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chuyển sang xuất khẩu các mặt hàng chế biến.
b Thách thức
- Trình độ phát triển so với kinh tế.
3 thế hệ, thậm chí có lĩnh vực 4 -5 thế hệ mà các doanh nghiệp của Việt Nam còn nhỏ, yếu cả về khả năng quản lý kinh doanh lẫn khả năng, năng lực sản xuất Các doanh nghiệp của chúng ta sau một thời gian dài hoạt động theo cơ chế hoạch hoá chuyển sang phương thức kinh doanh mơí còn lúng túng, nhất là trong tham gia cạnh tranh quốc tế
Năng lực cạnh tranh yếu kém của nền kinh tế là nguy cơ lớn khi đẩy nhanh nhịp
độ hội nhập Để hội nhập có hiệu quả vấn đề làm sao phải nâng cao được sức cạnh tranh thì các xí nghiệp mới có thể đứng vững trước sự xam nhập của hàng hoá bên ngoài và từ đó mới có thể vươn mạnh ra thị trường thế giới Vì vậy Nhà nước cũng như doanh nghiệp cần có chính sách để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng năng lực cạnh tranh
- Tình hình nền kinh tế thị trường hiện tại.
Nền kinh tế thị trường thế giới hiện nay đã phát triển trong khi đó chúng ta mới chuyển sang kinh tế thị trường vì vậy các yêu tố của thị trường cũng chỉ mới hình thành ở bước đầu, chưa phát triển Hơn nữa nền kinh tế thị trường thế giới hiện nay đang nằm dưới sự chi phối của các công ty xuyên quốc gia Hội nhập, chúng ta phải tham gia vào các định chế kinh tế khu vực và toàn cầu Các luật chơi chúng ta chưa thông thạo, thậm chí kiến thức kinh tế thị trường còn bất cập Đó là chưa kể chúng ta hội nhập để xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tất yếu vấp phải sự chống đối thù địch chứ không phải chỉ là sự cạnh tranh kinh tế đơn thuần Thách thức này bộc lộ rõ trong quá tình hội nhập vừa qua Do mới chuyển sang kinh tế thị trường trình độ cán bộ quản lý, nhất là các cán bộ làm công tác, hội nhập còn mỏng
và yếu đi vì vậy trong thực thi nhiệm vụ không tránh khỏi những sai lệch làm ảnh hưởng đến tiến trình chung Hội nhập đặt ra yêu cầu cao đối với các nhà quản lý doanh
Trang 5nghiệp bên cạnh kiến thức, năng lực kinh doanh phải hiểu biết về kinh tế quốc tế, nhất
là thị trường quốc tế, tổ chức và hoạt động của các thể chế kinh tế quốc tế, các cam kết
mà Việt Nam và các quốc gia dã thoả thuận vv Có thể nói nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được điều này Vì vậy trên thực tế đã có doanh nghiệp tuỳ tiện phá bỏ hợp đồng gây mất lòng tin với khách hàng quốc tế, làm tâm lý lo ngại khi làm ăn ở Việt Nam Cũng do mối phát triển trong giao dịch thanh toán quốc tế chúng ta chưa áp dụng hoặc chưa quan tâm Trong xu thế gia tăng mạnh mẽ toàn cầu hoá thị trường tài chính thì đây là hạn chế không nhỏ cho phép ta tham gia có hiệu quả vào thị trường tài chính quốc tế
- Vấn đề cải cách chính sách.
Có thể nói rằng cho đến nay tuy chúng ta đã có rất nhiều cố gắng trong công tác soạn thảo xây dựng ban hành pháp luật, nhưng hệ thống luật lệ, chính sách của Việt Nam liên quan đến hội nhập quốc tế vẫn chưa hoàn chỉnh, còn nhiều bất cập so với các quy chuẩn quốc tế Trong lĩnh vực thương mại hệ thống các quy định về thuế quan và phi thuế quan của ta quá phức tạp lại hay điều chỉnh bổ xung thậm chí thay đổi làm cho các đối tác giảm nhiệt tình kinh doanh Chúng ta vẫn còn áp dụng nhiều quy định riêng trong hợp tác kinh tế quốc tế và ngược lại cũng còn không ít kẽ hở, về pháp luật,
về các chính sác, quy định để phía các đối tác gây thiệt hại cho phía Việt Nam cũng như thất thoát nguồn thu cho nhà nước Trong lĩnh vực liên quan đến đầu tư nước ngoài cũng có nhiều ý kiến phàn nàn về hệ thống luật, gồm ba điểm chính
Việc áp dụng luật ở nhiều nơi, nhiều lúc còn tuỳ tiện Các luật rất nhiều, song vẫn không đủ không đồng bộ, lại vênh nhau Các ngôn từ trong luật không rõ ràng gây
ra kẽ hở và khó khăn cho người điều hành
Việc hiểu biết về pháp luật, tôn trọng pháp luật còn nhiều bất cập trong vận dụng và thực thi pháp luật
Thiếu vắng một hệ thống các cơ quan giải quyết tranh chấp có hiệu quả công bằng Các toà án kinh tế Việt Nam được thành lập để giải quyết các tranh chấp kinh tế, nhưng lại không có nhiều uy tín trên thế giới Mặt khác các luật sư và doanh nghiệp Việt Nam thiếu sự hợp tác trong thi hành pháp luật
Sự hạn chế trong hệ thống luật như trên rõ ràng rất khó khăn cho việc đẩy nhanh quá trình hội nhập Hội nhập vào các tổ chức kinh tế đòi hỏi chúng ta phải tuân
Trang 6thủ các quy chế chung mà thực tế nhiều quy định của ta không phù hợp thậm chí trái ngược, cho nên các hoạt động trong thực tiễn thường bị ách tắc, làm chậm tiến độ theo hợp đồng Vấn đề đặt ra rõ ràng phải kiểm tra, hiện đại hoá hệ thống luật lệ cho phù hợp với việc xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại.
- Hội nhập chủ động sẽ là phương châm hợp lý bảo đảm cho chúng ta hoà nhập với công đồng thế giới mà không bị hoà tan, tức vẫn bảo đảm được bản sắc, giữ vững nền độc lập Để chủ động hội nhập đỏi hỏi chúng ta phải có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ những kiến thưc nghiệp vụ quản lý, phương tiện giao tiếp Phải tiến hành tổ chức nghiên cứu thường xuyên và chuyên sâu về tình hình quốc tế, về các tổ chức kinh doanh quốc tế nói chung và đặc biệt về các đối tượng làm ăn chính Nhiều thua thiệt của chúng ta trong giao lưu, hội nhập do chúng ta thiếu thông tin Và cũng
để chủ động hội nhập và hội nhập có hiệu quả cần kết hợp tốt giữa sức mạnh bên trong với bên ngoài Tránh lệ thuộc quá lớn vào bền ngoài làm tăng tình dễ bị tổn thương của nền kinh tế Phát huy đông sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế Vấn đề then chốt để hội nhập có hiệu quả cần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế dân tộc Muốn vậy phải đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Câu 2: Đầu tư quốc tế và các nguyên nhân của việc tăng trưởng đầu
tư quốc tế Cho biết vài nét về tình hình đầu tư nước ngoài trực tiếp tại Việt Nam hiện nay?
a Đầu tư quốc tế
Đầu tư quốc tế là quá trình kinh tế trong đó các nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào vào nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ nhằm thu lợi nhuận hoặc để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định Bản chất của đầu tư nước ngoài
là xuất khẩu tư bản, hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá Xuất khẩu tư bản là quá trình thực hiện giá trị thặng dư ở nước ngoài, còn xuất khẩu hàng hoá là quá trình thực hiện giá trị thặng dư ở trong nước
Xuất khẩu hàng hoá và xuất khẩu tư bản luôn luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau Các nhà tư bản thực hiện việc xuất khẩu hàng hoá để thâm nhập tìm hiểu thị trường, luật lệ, quyết định đầu tư tư bản (xuất khẩu tư bản) Đồng thời với xuất khẩu tư bản là
Trang 7việc thành lập các doanh nghiệp đầu tư, liên doanh để nhằm xuất khẩu máy móc thiết
bị, vật tư sang nước tiếp nhận đầu tư và khai thác nhân lực, lao động ở nước chủ nhà Cùng với thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư quốc tế là dòng chính trong trào lưu có tính quy luật trong liên kết kinh tế toàn cầu Phân loại đầu tư quốc tế (theo hình thức đầu tư) gồm có:
Đầu tư trực tiếp (FDI)
Trong hình thức đầu tư trực tiếp, chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay một phần vốn đầu tư đủ lớn của dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ thương mại
Do đầu tư bằng vốn sở hữu của tư nhân nên họ tự quyết định sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm về lỗ lãi Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có ràng buộc về mặt chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh
tế Chủ đầu tư tham gia điều hành nếu góp nhỏ hơn 100% vốn và trực tiếp tham gia điều hành mọi hoạt động nếu góp 100% vốn (công ty 100 % vốn đầu tư nước ngoài) Thông qua FDI, nước chủ nhà tiếp thu được công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được Về nguồn vốn: ngoài vốn pháp định, còn bao gồm cả vốn vay trong quá trình triển khai hoạt động, hoặc tái đầu tư từ lợi nhuận thu được
Đầu tư gián tiếp
Là hình thức đầu tư vốn quốc tế quan trọng, trong đó chủ đầu tư nước ngoài đầu
tư bằng hình thức mua cổ phần của các công ty nước sở tại (ở mức khống chế nhất định) để thu lợi nhuận mà không tham gia điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư Đặc điểm của loại đầu tư này là phạm vi đầu tư có giới hạn (Chủ đầu tư chỉ quyết định mua cổ phần của các doanh nghiệp có lãi và có triển vọng trong tương lai
Số lượng cổ phần bị khống chế ở mức độ nhất định để không có cổ phần nào chi phối doanh nghiệp (từ 10 - 25% vốn pháp định) Đồng thời, chủ đầu tư không tham gia điều hành, nước nhận đầu tư có quyền chủ động hoàn toàn trong sản xuất và kinh doanh Chủ đầu tư thu lợi nhuận qua lãi suất cổ phiếu không cố định phụ thuộc kết quả kinh doanh Mặc dù đầu tư gián tiếp không có cơ hội như FDI nhưng có cơ hội phân tích rủi
ro kinh doanh trong những người mua cổ phiếu
Tín dụng thương mại
Trang 8Là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay vốn và thu lợi nhuận qua lãi suất tiền vay Hình thức này có đặc điểm là ngân hàng cung cấp vốn tuy không tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp nhưng trước khi cho vay phải nghiên cứu tính khả thi của
dự án đầu tư, có yêu cầu về bảo lãnh hoặc thế chấp các khoản vay để giảm rủi ro Chủ đầu tư thu lợi nhuận cố định (lãi suất tiền vay) theo khế ước độc lập với kết quả kinh doanh của nước nhận đầu tư Ngân hàng có quyền sử dụng tài sản thế chấp và yêu cầu
cơ quan bảo lãnh thanh toán, khi bên vay không có khả năng thanh toán Tuy nhiên, hình thức này có độ rủi ro lớn và đối tượng vay vốn chủ yếu là các doanh nghiệp
b Nguyên nhân chính của việc tăng trưởng đầu tư quốc tế
Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự do hoá thương mại và đầu tư Quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới hình thành thị trường toàn cầu Quá trình phân công chuyên môn hóa trên quy mô quốc tế dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế dân tộc Các nước phát triển kinh tế thị trường thực hiện chính sách mở cửa (phần lớn gia nhập WTO) và chấp nhận xu hướng tự do hoá thương mại và đầu tư Nguồn vốn đầu tư quốc tế - hàng hoá đặc biệt - sẽ tuân theo quy luật của thị trường chảy từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn
Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng công nghệ và thông tin đã thúc đẩy việc đổi mới cơ cấu kinh tế của các nước, tạo nên sự dịch chuyển vốn giữa các quốc gia Cách mạng khoa học kỹ thuật rút ngắn thời gian từ khi nghiên cứu sản phẩm dẫn đến thời gian sản xuất, vòng đời sản phẩm ngắn, hàng hoá đa dạng và phong phú Vấn đề nghiên cứu, phát triển, đổi mới thiết bị có ý nghĩa sống còn, dẫn đến hai xu hướng chính:
Thứ nhất: Với những ngành khoa học, công nghệ có nhu cầu vốn lớn, một số ít
các tập đoàn tư bản lớn hơn liên kết, hợp tác đầu tư thay vì cạnh tranh để cùng chiếm lĩnh vị trí độc tôn trên thị trường
Thứ hai: Chuyển dịch đầu tư sang nước khác đối với các sản phẩm đã lão hoá,
cần nhiều nhân lực lao động hoặc gây ô nhiễm môi trường Hai xu hướng trên diễn ra theo mô hình "đàn sếu bay"
Cách mạng thông tin giúp các nhà đầu tư xử lý nhanh các tình huống, đưa ra các quyết định đầu tư kịp thời tạo điều kiện cho việc tăng quy mô luân chuyển vốn Sự thay đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh ở các nước sở hữu vốn tạo nên "lực đẩy" với
Trang 9các nhà đầu tư quốc tế Nguyên nhân là do trình độ phát triển kinh tế cao của công nghiệp phát triển dẫn đến hiện tượng "thừa tương đối" vốn Chi phí tiền lương tăng, tài nguyên giảm dẫn đến chi phí khai thác tăng.
Đó chính là nguyên nhân cơ bản, tạo động lực thúc đẩy các nhà đầu tư tìm kiếm
cơ hội đầu tư - giảm chi phí sản xuất, kéo dài tuổi thọ của các sản phẩm ở các thị trường tiềm năng mới Nhu cầu vốn để phát triển các nước công nghiệp hoá của các nước đang phát triển cũng tạo ra sức hút đối với các nhà đầu tư Phía các nước tư bản phát triển coi các nước đang phát triển là thị trường tiềm năng để tiêu thụ sản phẩm
Sự thịnh vượng của các nước đang phát triển tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
c Vài nét về tình hình đầu tư nước ngoài trực tiếp tại Việt Nam hiện nay
Môi trường kinh doanh được đổi mới mạnh mẽ, khuyến khích, ưu đãi các dự án
sử dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, ưu tiên các dự án phát triển công nghệ phụ trợ… là những tiền đề quan trọng để nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đổ mạnh vào Việt Nam trong năm qua Đây cũng là tiền đề để khơi thông nguồn vốn này trong những năm tiếp theo
Kết quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2015
Năm 2015, Việt Nam được nhiều tổ chức, nhà đầu tư nước ngoài đánh giá là có môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, ổn định tạo niềm tin vững chắc cho nhà đầu tư Minh chứng cho điều này, khu vực FDI đã chiếm bình quân khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm 2011 - 2015 Điều này đã góp phần tích cực trong hội nhập kinh tế, thúc đẩy đổi mới thủ tục hành chính và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, nâng cao trình độ nguồn nhân lực quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam
Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong năm 2015, tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 22,76 tỷ USD, tăng 12,5%
so với năm 2014 Kết quả thu hút FDI năm 2015 có sự tăng trưởng đồng đều trên tất cả các chỉ tiêu định lượng chủ yếu, đặc biệt là số vốn thực hiện đạt trên 14,5 tỷ, tăng 17,4
% so với 2014, và là mức cao nhất kể từ năm 2008, năm vốn FDI thực hiện lần đầu tiên vượt ngưỡng 10 tỷ USD Cụ thể, xuất khẩu (kể cả dầu thô) đạt 115,1 tỷ USD tăng
Trang 1013,8% so 2014 và vượt 5% so mục tiêu; xuất khẩu (không kể dầu thô) đạt 111,3 tỷ USD tăng 18,5% so 2014 và vượt 8,9% so mục tiêu; Nhập khẩu đạt 97,9 tỷ USD tăng 16,4% so 2014 và vượt 5,2% so mục tiêu.
Cùng với các kết quả trên, năm 2015 cũng là năm có những tiến bộ vượt bậc trong hoàn thiện hệ thống luật pháp liên quan đến đầu tư: Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực từ ngày 1/7/2015 thay thế cho Luật Đầu tư 2005 với nhiều thay đổi quan trọng, đặc biệt là các quy định về cấm đầu tư, đầu tư có điều kiện và cải cách thủ tục hành chính
về đầu tư Các tiến bộ vượt bậc này đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng về FDI trong 5 tháng cuối năm 2015, làm đảo chiều từ suy giảm trong 8 tháng đầu năm so cùng kỳ
2014 để về đích ngoạn mục
Các thay đổi mang tính đột phá của Luật Đầu tư 2014 đã thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ của FDI vào Việt Nam, thể hiện cụ thể:
Thứ nhất, đã tạo lập cơ sở pháp lý minh bạch để bảo đảm thực hiện nguyên tắc
hiến định về quyền tự do đầu tư kinh doanh của công dân trong các ngành nghề mà Luật không cấm;
Thứ hai, đã rà soát, loại bỏ các ngành nghề và điều kiện đầu tư kinh doanh
không hợp lý, không rõ ràng Chuẩn xác tên gọi và hệ thống một số ngành nghề chính xác lại, minh bạch các ngành nghề kinh doanh có điều kiện để không trùng lặp Trên
cơ sở đó, sau rà soát 386 ngành nghề đã rút xuống còn 267 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (Phụ lục 4 Luật Đầu tư 2014);
Thứ ba, củng cố, hoàn thiện cơ chế bảo đảm đầu tư phải hợp với quy định của
Hiến pháp và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (như cập nhật, hoàn thiện các quy định về việc Nhà nước bảo đảm quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư; Hoàn thiện nguyên tắc không hồi tố trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật thay đổi làm bất lợi đến ưu đãi đầu tư đã áp dụng cho nhà đầu tư );
Thứ tư, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, như Luật đã đơn giản hóa hồ sơ,
trình tự, thủ tục và rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng kinh doanh đối với Nhà đầu tư nước ngoài từ 45 ngày xuống còn 15 ngày (Điều 37 Luật đầu tư);
Thứ năm, hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư nhằm nâng cao chất lượng và
hiệu quả thu hút đầu tư;
Trang 11Thứ sáu, hoàn thiện chế độ phân cấp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
đối với hoạt động đầu tư;
Thứ bảy, cải cách thủ tục đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (như Luật đã bổ
sung hình thức đầu tư ra nước ngoài thông qua mua, bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác và đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài mà không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư )
Bên cạnh đó, năm 2015 FDI tiếp tục chảy mạnh vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo bao gồm cả sản xuất phân phối các sản phẩm công nghiệp như điện, khí với 18 tỷ USD, chiếm trên 79% tổng vốn đầu tư đăng ký, phù hợp với định hướng công nghiệp hóa Tiếp đến là các ngành kinh doanh bất động sản, xây dựng, bán buôn bán lẻ (bao gồm cả sửa chữa ô tô, mô tô), rồi đến nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
mà chủ yếu đến từ châu Á như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc Các đối tác tiềm năng khác đều đầu tư ở vị trí khiêm tốn: Hoa Kỳ ở thứ tự 16
dự án, Australia 17 dự án, Pháp 22 dự án, Đức 24 dự án, Canada 34 dự án, Nga 30
Vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu đánh giá lại thực tế này, làm rõ nguyên nhân vì sao dòng vốn FDI từ các nước: Mỹ, Canada, Đức, Pháp, Thụy Sỹ, Nga các nước khác từ châu Âu, Bắc Mỹ, châu Úc đến Việt Nam còn khiêm tốn ?
Từ góc độ nhìn nhận về hiệu quả và an ninh kinh tế lâu dài, cần tiến hành nghiên cứu các giải pháp về chính sách, về xúc tiền đầu tư để có được một tỷ lệ đầu
tư của từng nước tương xứng với tiềm năng của nước đó và giữa các nước tại Việt Nam trong giai đoạn tới Một tỷ lệ đầu tư FDI tại Việt Nam giữa các nước được đề xuất nghiên cứu là: các nhà đầu tư đến từ châu Á sẽ giữ mức 35%, tương ứng là châu
Âu 25%, châu Mỹ 25%, châu Úc 10% và còn lại là từ các khu vực khác thay cho tỷ lệ
Trang 12hiện tại là: châu Á 70% trong đó đầu tư đến từ Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan là khá cao chưa kể các dự án có yếu tố từ người Hoa khác.
Việc tăng cường thu hút FDI từ các nước phát triển như: Mỹ, châu Âu, Nhật Bản là yếu tố quan trọng để tiếp cận được công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Tuy nhiên, mức độ thu hút FDI từ Mỹ, châu Âu như hiện nay thực sự đã hạn chế khả năng tiếp cận, tiếp thu công nghệ từ các nước này, trong khi hàm lượng công nghệ cao tại nhiều các dự án khác còn rất ít, hiệu quả thấp, sử dụng nhiều lao động cho thấy là một vấn đề không nhỏ cần có giải pháp để cân bằng lại trong thời gian tới
Mặt khác, việc người nước ngoài thông qua người Việt Nam đứng tên mua bất động sản là một dạng đầu tư “chui” có vốn nước ngoài, chứa đựng nhiều tiềm ẩn bất lợi về lâu dài Công tác quản lý nhà nước tại các địa phương cần phải kiểm soát chặt chẽ vấn đề này Nói chung, đối với các dự án đầu tư đã được cấp phép ở những vùng nhạy cảm về quốc phòng, và các dạng đầu tư “chui” cần được thu hồi Các nhà đầu tư núp bóng hoặc cho núp bóng phải được xử lý nghiêm
Cũng trong năm 2015, vấn đề phát triển công nghiệp hỗ trợ vẫn chưa khắc phục được các tồn tại từ năm 2014 chuyển sang Điển hình như, số lượng doanh nghiệp Việt Nam đạt tiêu chuẩn sản xuất, cung cấp sản phẩm cho các doanh nghiệp FDI như Samsung, Canon vẫn còn rất thấp so yêu cầu của các nhà đầu tư Các doanh nghiệp Việt Nam chỉ mới tham gia được vào các khâu gia công phụ kiện đơn giản
Nhìn vào hình thức đầu tư của các dự án FDI được cấp phép trong năm 2015 cho thấy, số dự án đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài là chủ yếu chiếm tới trên 86% số dự án đầu tư Đây cũng là một trong các vấn đề cần lưu ý để có giải pháp khuyến khích, tăng cường đầu tư theo hình thức thành lập công ty liên doanh (hoặc công ty cổ phần)
Con đường tiếp thu công nghệ cao thông qua đầu tư, sản xuất - kinh doanh trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam trong các liên doanh, các công ty cổ phần là con đường ngắn hơn, ít chi phí hơn so với các con đường khác Tỷ lệ các doanh nghiệp FDI được thành lập theo hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm trên 86% (1.611 dự án/1.855 dự án ), là con số cao không phù hợp với mục tiêu tiếp nhận công nghệ và kinh nghiện quản lý thông qua FDI
Trang 13Ngoài ra, số lượng dự án không triển khai vấn đề về chuyển giá, trốn thuế của các DN FDI còn diễn biến phức tạp; tiếp cận đất của các nhà đầu tư cũng còn nhiều khó khăn; Sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao
Cơ hội và thách thức mới
Bước vào năm 2016 và giai đoạn mới 2016 - 2020, thu hút FDI vào Việt Nam đứng trước những thuận lợi và khó khăn đan xen Các thuận lợi Việt Nam có được là: Nền kinh tế tiếp tục phát triển với khả năng tăng trường GDP cao hơn, trên cơ sở các
cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát huy mọi tiềm năng, nguồn lực đất nước của Chính phủ đã và tiếp tục được ban hành trong thời gian tới; Các bộ ngành, địa phương đang rất quyết tâm cải cách môi trường kinh doanh thúc đẩy thu hút đầu tư Việt Nam đã và đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư, sẽ tác động tích cực mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế trong nước như: Hiệp định FTA với Hàn Quốc đã có hiệu lực; Cộng đồng Kinh tế ASEAN - Việt Nam đã kết thúc đàm phàn FTA với EU, Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương
Tuy nhiên, bên cạnh các cơ hội trên, các khó khăn, thách thức cũng đặt ra rất rõ như: Dòng vốn FDI của các đối tác lớn trong toàn cầu có xu hướng giảm; Cạnh tranh trong thu hút FDI ngày càng gay gắt giữa các quốc gia Sức cạnh tranh của môi trường đầu tư mỗi nước sẽ quyết định thành tựu thu hút đầu tư của nước đó Đối với Việt Nam, những khó khăn nội tại của nền kinh tế đã tồn tại nhiều năm vần cần tiếp tục được khắc phục: Nguồn nhân lực cao, đã qua đào tạo còn thiếu; Cơ sở hạ tầng và dịch
vụ còn yếu kém so nhiều nước trong khu vực; Công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển, còn
có khoảng cách giữa chính sách và việc thực thi
Trên cơ sở nhận diện những cơ hội và thách thức có thể, dự kiến nguồn vốn FDI thực hiện trong 2016 tăng khoảng 10% so 2015, đạt khoảng 15 tỷ USD; vốn FDI đăng ký đạt tương đương mức đã đạt được 2015 khoảng 23 tỷ USD
Câu 3: Phân tích thị trường kinh doanh ngoại hối và các hình thức kinh doanh ngoại hối?
a Phân tích thị trường kinh doanh ngoại hối
Trang 14Ngoại hối là khái niệm chung để chỉ các phương tiện có thê dùng để tiến hành thanh toán giữa các quốc gia Ở Việt Nam pháp luật ngoại hối 2005 quy định ngoại hối bao gồm:
a) Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ);
b) Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi
nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác;
c) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;
d) Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam;
đ) Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế
Thị trường ngoại hối là thị trường tiền tệ quốc tế trong đó một đồng tiền quốc gia này có thể đổi lấy đồng tiền của quốc gia khác Thị trường ngoại hối chính là nơi diễn ra hoạt động mua bán các đồng tiền dựa trên cơ so quan hệ cung và cầu
Đặc điểm thị trường ngoại hối:
Thị trường ngoại hối không nhất thiết phải tập trung tại vị trí địa lý hữu hình mà
có thể ở bất cứ nơi đâu diễn ra hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau
- Đây là thị trường toàn cầu, bởi lẽ: thời gian giao dịch 24/24 giờ(trừ những ngày nghỉ) và hầu khắp mọi nơi đều diễn ra việc mua bán chuyển đổi các đồng tiền khác nhau
Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng (Interbank) với các thành viên chủ yếu là các ngân hàng thương mại, các nhà môi giới ngoại hối và các ngân hàng trung ương Doanh số giao dịch trên Interbank chiếm tới 85% tổng doanh số giao dịch ngoại hối toàn cầu
Các nhóm thành viên tham gia thị trường duy trì quan hệ với nhau liên tục thông qua điện thoại, mạng vi tính, telex và fax Do thông tin được truyền đi nhanh và