1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)

65 732 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực tế đó, tôi quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ Limnodrilus hoffmeisteri Clapare

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Hoài Nam

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu để thực hiện đề tài tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự quan tâm tận tình của quý thầy cô hướng dẫn khoa học, Viện Nuôi trồng Thủy sản và các cá nhân trong trường, đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Tấn Sỹ,

đã hết lòng chỉ bảo và hướng dẫn tận tình, thường xuyên theo dõi quá trình thực hiện

Xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn quan tâm, chia sẻ khó khăn và động viên để tôi hoàn thành công việc

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Đặc điểm sinh học của Limnodrilus hoffmeisteri Claparede, 1862 3

1.1.1 Hệ thống phân loại 3

1.1.2 Đặc điểm phân bố 3

1.1.3 Đặc điểm hình thái cấu tạo 5

1.1.4 Dinh dưỡng và thức ăn 7

1.1.5 Sinh sản và phát triển 7

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của trùn chỉ 9

1.2.1 Chất nền 9

1.2.2 Các yếu tố môi trường 10

1.3 Vai trò của trùn chỉ 10

1.4 Những nghiên cứu ứng dụng Trùn chỉ trên thế giới và ở Việt Nam 11

1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới 11

1.4.2 Nghiên cứu tại Việt Nam 12

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 13

2.2 Phương pháp nghiên cứu 13

2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố của quần thể trùn chỉ 14

2.2.2 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ 16

2.2.3 Tính toán và xử lý số liệu 19

3.1 Đặc điểm sinh thái phân bố của quần thể trùn chỉ 20

3.1.1 Khảo sát, thu mẫu tại phường Vĩnh Phương 20

3.1.2 Khảo sát, thu mẫu tại phường Vĩnh Phước và Vĩnh Hải 22

Trang 5

3.1.3 Khảo sát, thu mẫu tại phường Vĩnh Hiệp và Ngọc Hiệp 25

3.1.4 Khảo sát, thu mẫu tại phường Vĩnh Ngọc 29

3.1.5 Khảo sát, thu mẫu tại phường Vĩnh Thái 32

3.2 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ 37

3.2.1 Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn phân gà, phân bò, cám gạo 37

3.2.2 Biến động các yếu tố môi trường 38

3.2.3 Tăng trưởng và phát triển của quần thể trùn chỉ 41

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 44

1 Kết luận 44

1.1 Đặcđiểm phân bố của quần thể trùn chỉ 44

1.2 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ 44

2 Đề xuất 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm thủy vực tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Phương 20

Bảng 3.2 Thông số môi trường tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Phương 21

Bảng 3.3 Đặc điểm thủy vực tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Phước và Vĩnh Hải 23

Bảng 3.4: Thông số môi trường tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Phước và Vĩnh Hải 24

Bảng 3.5 Đặc điểm thủy vực tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Hiệp và Ngọc Hiệp 26

Bảng 3.6: Thông số môi trường tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Hiệp và Ngọc Hiệp 27

Bảng 3.7 Đặc điểm thủy vực tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Ngọc 29

Bảng 3.8: Thông số môi trường tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Ngọc 30

Bảng 3.9 Đặc điểm thủy vực tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Thái 32

Bảng 3.10: Thông số môi trường tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Thái 33

Bảng 3.11: Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn 37

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Toàn bộ cơ thể, đoạn trước và tơ cứng của L.hoffmeisteri [69] 5

Hình 1.2: Sinh sản bằng hình thức phân mảnh ở giun ít tơ [65] 8

Hình 1.3: Kén nằm trên mảnh vụn hữu cơ [58] 8

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 14

Hình 3.1: Biến động hàm lượng oxy hòa tan 38

Hình 3.2: Biến động giá trị pH 39

Hình 3.3 Biến động nhiệt độ trong quá trình nuôi 40

Hình 3.4: Biến động sinh khối trùn chỉ qua các chu kỳ nuôi 42

Hình 3.5: Biến động mật độ trùn chỉ theo chu kỳ nuôi 43

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

COD Chemical oxygen demand Nhu cầu oxy hóa học

BOD Biochemical oxygen demand Nhu cầu oxy sinh hóa

TSS Total Suspended Solids Tổng lượng chất rắn lơ lửng trong nước

OM Organic matter in soil Hàm lượng chất hữu cơ trong đất

Trang 9

MỞ ĐẦU

Trùn chỉ là giống giun nước có thân rất mảnh, màu hồng hay hồng sậm, thường xuất hiện từng cụm rất dầy ở các vùng nước chảy chậm, hay đầm lầy, ao hồ nước tù… Tại những nơi mà nhiệt độ nước luôn ấm và ô nhiễm, nghèo khí oxy, chúng có thể sinh sôi, nẩy nở rất nhanh chóng có khi phủ đầy cả đáy nước [73] Trùn chỉ là thức ăn của hầu hết các loài cá ăn động vật, côn trùng thủy sinh và giáp xác, chúng cũng là thức ăn cho gia cầm nuôi như gà, vịt Trùn chỉ là một loại thức ăn ưa thích được dùng để nuôi cá cảnh, nhất là những loại cá có giá trị kinh tế và nghệ thuật cao như : cá rồng, cá dĩa

Trong nuôi trồng thủy sản trùn chỉ được sử dụng như một loại thức ăn sống trong quá trình sản xuất giống nhân tạo một số loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế như: cá

Chình Hoa, cá Ngát, cá Lăng Nha, cá Bống Tượng , cá Ba Sa Trùn chỉ được sử dụng

vào giai đoạn giống giúp tăng tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá con [5], [7]

Trên cơ sở đó, trùn chỉ trở thành đối tượng lý tưởng để chọn nuôi sinh khối là thức ăn tươi sống cho các trại sản xuất giống cá nước ngọt và cơ sở nuôi cá cảnh Tuy nhiên, hiện nay nguồn cung cấp trùn chỉ cho cá cảnh và các trại sản xuất giống cá nước ngọt đang phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên Trùn chỉ thu từ tự nhiên thường có số lượng không ổn định, lẫn tạp và không kiểm soát được chất lượng Thêm vào đó, trùn chỉ thu ngoài tự nhiên thường mang nhiều mầm bệnh, bởi vì chúng thường sinh sống với mật độ cao vùng nước thải, vùng nước ô nhiễm Chúng có thể là nguyên nhân truyền nhiễm một số bệnh cho đối tượng nuôi là cá cảnh và cá giống Do đó, nhiều người yêu thích cá cảnh đã gặp nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất giống và nuôi

cá cảnh Việc sản xuất giống một số loài cá bản địa có giá trị kinh tế cao như cá Lăng

Nha (Mystus wyckioides), cá Trê Phú Quốc (Clarias gracilentus) còn ở quy mô nhỏ và

thiếu sự ổn định Vì vây, việc nuôi sinh khối thành công loài trùn chỉ có vai trò quan trọng trong việc chủ động nguồn thức ăn tươi sống sạch mầm bệnh, nhằm đảm bảo và

mở rộng quy mô nuôi, sản xuất giống cá cảnh cũng như các loài cá bản địa có giá trị kinh tế

Từ thực tế đó, tôi quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ

Limnodrilus hoffmeisteri (Claparede, 1862)”

Trang 10

Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố của trùn chỉ tại Thành phố Nha Trang

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng của quần thể trùn chỉ

Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được đặc điểm sinh thái phân bố của trùn chỉ trong môi trường nước

từ đó áp dụng vào nuôi sinh khối trùn chỉ trong điều kiện nhân tạo

- Đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sự tăng trưởng của trùn chỉ để tìm ra loại thức ăn phù hợp để phục vụ cho nuôi sinh khối trong điều kiện nhân tạo

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học: Cung cấp dữ liệu ban đầu làm cơ sở khoa học cho các nghiên

cứu tiếp theo của loài này

Ý nghĩa thực tiễn: Bước đầu phục vụ cho việc nuôi sinh khối trùn chỉ, tạo cơ sở

cho các nghiên cứu về quy trình nuôi sinh khối trùn chỉ làm thức ăn cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp và thủy sản

Nha Trang, ngày tháng 10 năm 2014

Học viên thực hiện

Lê Hoài Nam

Trang 11

Trùn chỉ (Limnodrilus hoffmeisteri) là một trong những loài thuộc lớp giun ít tơ

(Oligochaeta), chúng phân bố với mật độ cao ở nền đáy các thủy vực nước ngọt, sử

dụng các chất hữu cơ lắng đọng làm thức ăn L.hoffmeisteri được biết đến là một trong

những loài động vật không xương sống tồn tại trong đất lúa ngập nước và tác động đến thành phần dinh dưỡng, tính chất vật lý của đất thông qua hoạt động hô hấp, đào hang,

ăn, tiêu hóa, bài tiết [38] Những nghiên cứu về L.hoffmeisteri chủ yếu tập trung vào

các vĩ độ ôn đới, nhưng vẫn còn hạn chế ở các vùng nhiệt đới [41] L.hoffmeisteri

thường được tìm thấy trong nhiều loại môi trường sống và đạt mật độ cao ở môi trường bị ô nhiễm hữu cơ nặng, loài này chi phối gần như hoàn toàn thành phần động

vật không xương sống dưới lớp đáy trầm tích [25] L.hoffmeisteri có thể chịu được độ

mặn lên đến 10 ppt [32] và cá thể trưởng thành có thể tồn tại ở điều kiện hạn hán trong

một thời gian ngắn [44] Ở nước ngọt, các loài L.hoffmeisteri, Tubifex tubifex, Peloscolex ferox được tìm thấy nhiều trong lớp trầm tích gồm bùn và mảnh vụn hữu cơ của sông, hồ [30], còn loài Rhyacodrilus coccineus và Stylodrilus lumbriculid heringianus lại sống trong những lớp cát [26]

Ngoài ra, lớp Oligochaeta được phân bố rộng rãi trên thế giới, trong đó các loài thuộc họ Tubificidae và Naididae được tìm thấy ở mọi lục địa, còn họ Lumbriculidae phân bố với khoảng 35 loài được tìm thấy ở Châu Á, gần 40 loài ở Châu Âu và khoảng

10 loài ở Bắc Mỹ [30] Lớp Oligochaeta có thể được tìm thấy trong các điều kiện môi trường khác nhau với các tính chất lý hóa của môi trường khác nhau Trong môi

Trang 12

trường nước lợ có thể tìm thấy một số loài như Monopylephorus, Tubifex costatus, Peloscolex benedeni, và một số loài Isochaeta [28]

Một số nghiên cứu về phân bố của lớp Oligochaeta trên thế giới như: Nghiên cứu ở hồ Erie, Michigan, Mỹ cho thấy có 52.390 cá thể thuộc lớp Oligochaeta được

tìm thấy từ 40 mẫu, trong đó loài L.hoffmeisteri chiếm 90% khi có mặt ở 33 trong số

40 mẫu Ngoài ra, loài L.hoffmeisteri còn được tìm thấy ở các con sông khác như:

Detroit, Raisin, và Maumee Chúng xuất hiện tại các khu vực bị ô nhiễm của con sông

và giảm dần đến không thấy xuất hiện tại các khu vực nước sạch [43] Ở phía Tây Bắc nước Anh, Oligochaeta chiếm thành phần lớn về số lượng động vật không xương sống phân bố dưới lớp nền đáy thủy vực của sông Irwell Đây là con sông bị ô nhiễm bởi chất thải sinh hoạt và công nghiệp Giun ít tơ (Oligochaeta) chiếm tới 86,8% với 3 loài

chính là: Tubifex tubifex, Limnodrilus hoffmeisteri, Limnodrilus udekcmianus Trong

đó, Tubifex tubifex và L.hoffmeisteri được tìm thấy nhiều dọc theo chiều dài của con

sông Nhưng đạt số lượng lớn nhất trong vùng hạ lưu bị ô nhiễm hữu cơ tại Agecroft

họ Naididae và Tubificidae đã được tìm thấy trong các con sông ở Mrtva Tisa – Serbia

từ lớp Oligochaeta L.hofmeisteri là một loài chiếm ưu thế trong tất cả các mẫu nghiên

cứu, chiếm 67% so với các loài khác và tỷ lệ này ngày càng tăng khi lớp Oligochaeta được tìm thấy nhiều trong mẫu nghiên cứu [53]

Trang 13

1.1.3 Đặc điểm hình thái cấu tạo

1.1.3.1 Hình thái

Lớp Oligochaeta có cấu tạo tương tự như giun đất nhưng nhỏ hơn, chiều dài dao động từ 1 đến 30 mm Cấu trúc cơ thể mềm mại, có các bó cơ được bao phủ bởi một lớp biểu bì mỏng Cơ thể được chia thành nhiều đốt, từ 7, 8 đến hàng trăm đốt, các đốt thường đồng nhất, đốt đầu tiên chứa miệng, đôi khi kéo dài thành vòi, một số loài có vài đốt phía trước khác các đốt còn lại về số lượng chùm tơ và hình dạng của tơ [1], [69] Số lượng đốt trên cơ thể tùy thuộc vào từng loài, ví dụ các loài thuộc họ Haplotaxidae có số lượng đốt lớn nhất lên đến 500 đốt Trong khi đó, họ Naididae thường có từ 7 đến 40 đốt, Tubificidae có 40 – 200 đốt Trừ đốt đầu tiên thì mỗi đốt thường có 1 bó tơ, một bó tơ có thể có từ 1 đến 20 sợi tơ [69] Trong nghiên cứu của

Warucha Kanchana Aksorn và Saran Petpiroon trên đối tượng L.hoffmeisteri được thu thập tại cửa sông Chao Phraya, Thái Lan cho thấy L.hoffmeisteri dài khoảng 20 – 30

mm, những con trưởng thành có cơ thể phân đốt từ 50 – 90 đốt, phần đầu có hình tam giác, phần đuôi có hình vòng Các chùm tơ xuất hiện trên lưng, bụng dài và mỏng hơn các chùm tơ ở phần đuôi Phần lưng có 5 – 6 tơ cứng, phần bụng có 6 – 7 tơ cứng và phần đuôi có 2 – 3 tơ cứng Cơ quan sinh dục nằm ở đốt thứ 11 của cá thể trưởng thành [69] Kết quả tương tự cũng được ghi nhận bởi nghiên cứu của Adrian M Pinder

và cộng sự về sự phân bố của Tubificidae tại Australia [27]

Hình 1.1: Toàn bộ cơ thể, đoạn trước và tơ cứng của L.hoffmeisteri [69]

1.1.3.2 Cấu tạo

Thành cơ thể có các lớp như giun nhiều tơ Mô bì tạo thành tầng cuticun trong suốt bao bên ngoài Xen lẫn các tế bào mô bì có tế bào tuyến và tế bào cảm giác Tế bào tuyến tiết lớp nhầy bao quanh cơ thể, có khi bám đầy vụn đất tạo thành vỏ tách khỏi tầng cuticun (Tubificidae, Dero, Aulophorus) hoặc hình thành đai sinh dục Ở

Trang 14

vùng tạo đai có 2 loại tế bào tuyến: tế bào hạt lớn hình thành lớp vỏ ngoài của đai, sau này thành vỏ kén và tế bào hạt bé hình thành chất dinh dưỡng cho phôi Tế bào cảm giác có lông, có thể tập trung thành nhú cảm giác [1]

Bao cơ của giun ít tơ có lớp cơ vòng ở ngoài và lớp cơ dọc ở trong Mức độ phát triển của các lớp cơ thay đổi tùy cách di chuyển của từng nhóm Các tế bào cơ trong mỗi lớp cũng có thể sắp xếp thành các bó cơ, đơn vị có tổng hiệu suất hoạt động cao hơn Quá trình phân hóa bao cơ thành chùm cơ rõ hơn ở giun đất Phía trong bao

cơ là thể xoang, được giới hạn bằng mô bì thể xoang Trong thể xoang có dịch thể xoang chứa các thành phần tế bào, trong đó có tế bào thực bào và tế bào thể xoang [1]

Dịch thể xoang có thể dồn từ đốt này sang đốt khác Vách đốt có thể phát triển hoặc tiêu giảm ở từng phần của cơ thể Hiện tượng này có liên quan tới cách di chuyển Phần lớn giun ít tơ chui rúc trong bùn, trong đất nhờ sự điều chỉnh áp suất từng phần của dịch thể xoang và sóng nhu động dọc cơ thể Một số loài thuộc họ Tubificidae và Naididae sống trong rãnh nước ngọt có hoạt động uốn sóng đặc trưng của phần đuôi tạo dòng nước giàu oxy cho hoạt động hô hấp [1]

Hệ tiêu hóa chia làm 3 phần: Ruột trước, ruột giữa và ruột sau, cấu tạo của ruột giữa, ruột sau ít biến đổi còn của ruột trước biến đổi đa dạng tùy theo cách lấy thức ăn của từng loài Hầu có thành cơ có thể thò ra ngoài để lấy thức ăn Thành lưng phía sau của hầu có vùng tập trung tuyến tiêu hóa đơn bào Vùng này có thể lõm sâu vào trong thể xoang Tiếp với hầu là thực quản hẹp, có thể phình to thành dạ dày tuyến (diều) Diều có vách mỏng là nơi tập trung thức ăn Tuyến tiêu hóa đổ vào thực quản, có tên gọi khác nhau tùy nhóm [1]

Hệ hô hấp ở phần lớn giun ít tơ có cơ quan hô hấp riêng Quá trình trao đổi khí tiến hành trực tiếp qua da, một số giun ít tơ nước ngọt có mang ở cuối hoặc hai bên cơ thể Chúng luôn hoạt động để hứng nước giàu oxy cho quá trình hô hấp [1] Theo nghiên cứu của Smith quá trình hô hấp trao đổi khí được thực hiện thông qua các mao mạch trên bề mặt cơ thể Ngoài ra, một cơ chế thực hiện qua trình trao đổi oxy cũng được thực hiện thông qua quá trình lấy nước từ miệng và lọc qua cơ thể trước khi được đưa ra ngoài qua hậu môn [65]

Hệ sinh dục của giun ít tơ là lưỡng tính, tuyến sinh dục tập trung ở một số đốt

và ở nhiều loài đã có hệ ống sinh dục riêng Cơ quan sinh dục cái gồm có tuyến trứng

và ống dẫn trứng Cơ quan sinh dục đực có tuyến tinh, túi chứa tinh, ống dẫn tinh,

Trang 15

tuyến tiền liệt và túi nhận tinh Thường thì tuyến trứng nằm ở đốt tiếp theo đốt chứa tuyến tinh [1]

1.1.4 Dinh dưỡng và thức ăn

Các nghiên cứu của Yoshizawa, Pennak, Smith cho rằng thức ăn của

L.hoffmeisteri là tảo sợi, tảo cát và mảnh vụn hữu cơ [57], [65], [74] Trùn chỉ sử dụng

hình thức ăn lọc, thức ăn là những mảnh vụn hữu cơ nhỏ và mềm được lấy ở độ sâu 2 – 3 cm tính từ bề mặt nền đáy Lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày của trùn chỉ bằng 2 –

8 lần so với trọng lượng cơ thể [50]

Để phục vụ cho hoạt động nuôi trồng thủy sản và làm mồi câu cá, trùn chỉ đã được nuôi trong môi trường nhân tạo với chất nền là phân gà và bùn phối trộn với tỷ lệ

1 : 1 [18], thức ăn này đáp ứng nhu cầu giúp trùn chỉ sinh trưởng, sinh sản và tăng sinh khối Trong nghiên cứu của Yuherman khi sử dụng phân gà đã ủ sau 10 ngày làm thức

ăn cho trùn chỉ, thời gian cho ăn từ 4 – 10 ngày/lần, kết quả thu được 358.400 cá thể/m2 trong điều kiện nhân tạo [18] Trong khi nghiên cứu của Syarip cho ăn với lượng phân bón 5 ngày/lần thu được năng suất sinh khối cao hơn với 560.900 cá thể/m2 vào ngày thứ 30 [17] Ngoài phân gà, phân bò cũng được sử dụng để nuôi trùn chỉ Marian và Pandian đã sử dụng hỗn hợp phân bò (75%) và cát mịn (25%) làm chất nền để nuôi trùn chỉ Phân bò được sử dụng làm thức ăn với liều lượng là 250 mg/cm2

và thời gian cho ăn là 4 ngày/lần Phân bò có hàm lượng dinh dưỡng không cao so với phân gà, nhưng phân bò có khả năng phân hủy và thẩm thấu vào đất nhanh hơn, giúp tăng độ xốp của đất [48] Ngoài ra, phân gà chứa hàm lượng N cao gấp 3 lần so với phân bò nên sinh ra lượng ammoniac lớn hơn trong quá trình phân hủy [13]

1.1.5 Sinh sản và phát triển

Lớp Oligochaeta sinh sản vô tính và hữu tính [1] Ở hình thức sinh sản vô tính chúng sử dụng nhiều phương pháp khác nhau bao gồm phân mảnh, phân đôi hoặc hình thành các chồi tiếp theo cho sự phân mảnh [65]

Trong phương pháp sinh sản phân đôi, từ đốt thứ 4 trở đi của cơ thể bố mẹ có thể tách ra để tạo ra một cá thể mới, sau một thời gian cá thể mới này có thể tạo ra được cá thể thứ ba, quá trình phân đôi thường diễn ra trong khoảng 2 – 3 ngày Quá trình này có thể lặp đi lặp lại nhiều lần, do đó một cá thể có thể tạo ra từ 4 – 8 cá thể mới trong vòng đời của nó Phương pháp sinh sản này được tìm thấy rõ nhất ở các loài thuộc họ Naididae [65].n

Trang 16

Một khả năng sinh sản vô tính tương tự là sự phân mảnh được tìm thấy phổ biến trong họ Tubificidae, Naididae và Lumbriculidae [30], [33] Quá trình phân mảnh diễn ra khi cá thể bố mẹ cố gắng tách cơ thể làm 2 phần, tại vị trí phân cắt là quá trình tái sinh phần đuôi của cá thể cũ và hình thành phần đầu của cá thể mới Vị trí phân

mảnh rất khác nhau tạo thành một cá thể khác trong phạm vi một loài Ở loài Nais elinguis vị trí phân mảnh xảy ra từ đốt 12 – 20, còn loài Stylaria fossula xảy ra từ đốt 8

– 23 nhưng thường là 18 [65]

Hình 1.2: Sinh sản bằng hình thức phân mảnh ở giun ít tơ [65]

Với hình thức sinh sản hữu tính, tất cả đều là lưỡng tính Khi giao phối 2 con đực và cái xếp phần bụng của cơ thể vào nhau, chúng tiết chất nhầy để giữ 2 cá thể với nhau Tinh trùng được chuyển đến túi chứa tinh của con cái bằng rãnh tinh, một số loài

có dương vật để chuyển tinh trùng Sau khi giao phối, 2 cá thể tách ra, con cái tạo ra một cái kén để chứa trứng đã thụ tinh Trứng được đặt trên đá, thảm thực vật hoặc các mảnh vụn (Hình 1.3), sau đó là quá trình phát triển phôi và con non nở ra, thoát khỏi cái kén [65]

Hình 1.3: Kén nằm trên mảnh vụn hữu cơ [58]

Aston đã tìm thấy 5 quả trứng trong mỗi kén, trong khi nghiên cứu của Haroldo

và cộng sự đã thu được trung bình 3,25 trứng trong mỗi cái kén và mất khoảng 25

Trang 17

ngày để trứng nở thành con non trong điều kiện nhiệt độ là 25 o

C [19] Trong khi đó,

Nascimento &Alves đã quan sát thấy rằng sự phát triển phôi của loài Branchiura sowerbyi mất 15 ngày ở 25 °C [55]

Theo kết quả nghiên cứu của Nascimento (2009), thời gian phát triển phôi của

L hoffmeisteri ít hơn 21 ngày ở 25 ºC [56] Nghiên cứu của Haroldo và Roberto cho

thấy 80% các mẫu vật nở trong vòng 8 – 12 ngày sau khi kén được tạo ra [41] Giai

đoạn này ngắn hơn so với quan sát cho Branchiura sowerbyi (14 – 16 ngày) trong

điều kiện nhiệt độ tương tự [55], [40]

L.hoffmeisteri và Tubifex tubifex trưởng thành trong giai đoạn sinh sản có thể

được tìm thấy quanh năm [24] Tuy nhiên, ở những nơi khác nhau thì có thể chu kỳ

sinh sản khác nhau Ví dụ, trong một chu kỳ sống L.hoffmeisteri có thể di chuyển từ

nơi này đến nơi khác hoặc có thể sống một nơi từ năm này qua năm khác [46]

L.hoffmeisteri sinh sản và phát triển mạnh từ tháng 5 – 11 [36]

Hầu hết giun ít tơ (Oligochaeta) trưởng thành và sinh sản trong 12 tháng Aston

phát hiện ra rằng Branchiura sowerbyi có chu kỳ sinh sản 1 năm cả ở ngoài tự nhiên

và trong phòng thí nghiệm [20] Trong một số trường hợp, Oligochaeta có thể mất đến

24 tháng để trưởng thành tùy thuộc vào mùa vụ và điều kiện sống Brinkhurst đã tìm

thấy bằng chứng rằng các loài Tubifex costatus, Aulodrilus pluriseta và Peloscolex ferox mất 2 năm để trưởng thành và sinh sản [23] Một số nghiên cứu cho rằng phần

lớn cá thể bố mẹ chết sau khi sinh sản hữu tính Tuy nhiên, trong một số loài, đặc biệt

là các loài thuộc họ Tubificidae có khả năng sống sót và có cấu trúc như cá thể chưa trưởng thành, sau một thời gian chúng tự tái sinh cơ quan sinh sản mới cho lần sinh sản tiếp theo [29]

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của trùn chỉ

1.2.1 Chất nền

Chất nền là rất cần thiết cho sự tồn tại và sinh sản của Oligochaeta và có thể ảnh hưởng đến sự phân bố của loài [39] Báo cáo của Aston & Milner cho thấy tầm quan trọng của lớp trầm tích cho sự sinh trưởng, phát triển và sinh sản của họ Tubificidae, vì nó tạo điều kiện cho quá trình di chuyển, cung cấp thức ăn và hỗ trợ cho hoạt động hô hấp của chúng [21] Theo nghiên cứu của Sauter và cộng sự, kích thước của các hạt chất nền ảnh hưởng đến sự phân bố của Oligochaeta, kết quả cho

thấy mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa mật độ của L.hoffmeisteri và tỷ lệ các hạt trầm tích

Trang 18

mịn (hạt nhỏ hơn 0,21 mm) [63] Bên cạnh đó, Moore khẳng định tầm quan trọng của chất hữu cơ với sự phân bố của các loài động vật, vì sự sẵn có của các chất hữu cơ làm tăng số lượng tảo và vi khuẩn, cả hai đều là nguồn thức ăn cho Oligochaeta [51]

1.2.2 Các yếu tố môi trường

Lớp Oligochaeta thường thích nghi tốt với điều kiện oxy thấp [71] Điều này

cũng được ghi nhận bởi Wilber khi cho rằng Tubifex sp có khả năng sống sót trong

điều kiện có hàm lượng oxy thấp Nhu cầu oxy cho sự phát triển bình thường của trùn chỉ dao động từ 2,5 – 7,0 ppm [70] Tuy nhiên, hàm lượng oxy ít hơn 2 ppm sẽ ức chế hoạt động tìm kiếm thức ăn và sinh sản [48] Trong môi trường có nồng độ oxy thấp, chúng khuấy đảo dòng nước và thực hiện quá trình hô hấp qua da [71], [18]

Nhiệt độ tác động đến từng giai đoạn phát triển của giun ít tơ (Oligochaeta) vì nhiệt độ ảnh hưởng đến tính chất vật lý và hóa học của nước nên đẩy nhanh tốc độ của quá trình sinh hóa của Oligochaeta [19], [57] Nhiệt độ nước tăng làm tăng tỷ lệ trao đổi chất và nhu cầu oxy, do đó đã làm gia tăng mức độ ô nhiễm nước [67] Nhiệt độ tốt nhất cho Oligochaeta phát triển trong khoảng từ 25 oC – 30 oC [20] Oligochaeta có khả năng sống sót trong điều kiện môi trường khắc nghiệt, ngay cả trong điều kiện yếm khí và nhiệt độ từ 0 oC – 2 oC [57]

Oligochaeta thích nghi tốt với khoảng pH từ 6,0 – 8,0, vì ở pH trung tính vi khuẩn có thể phân hủy các chất hữu cơ đơn giản để làm thức ăn [35] Hàm lượng amoniac (NH3-N) có nguồn gốc từ quá trình phân giải các chất hữu cơ trong các lớp trầm tích của nền đáy Hàm lượng ammoniac liên quan đến giá trị pH và nhiệt độ của môi trường nước [22] Theo nghiên cứu của D.Shafrudin, W Efiyanti dan Widanarni,

ở nồng độ amoniac 0,28 – 1,50 ppm giun ít tơ (Oligochaeta) vẫn sinh trưởng và phát

triển tốt [64] Nghiên cứu của Chumaidi và Suprapto cho thấy L.hoffmeisteri chết ở

nồng độ ammoniac là 3,6 ppm và ở hàm lượng 2,7 ppm sẽ ức chế quá trình sinh trưởng [11]

1.3 Vai trò của trùn chỉ

Limnodrilus hoffmeisteri là một loài giun ít tơ phổ biến và phong phú ở nhiều

nơi trên thế giới [45], được sử dụng rộng rãi như là một chỉ số sinh học nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm hữu cơ trong môi trường nước [41]

L.hoffmeisteri được xem là một nguồn thực phẩm quan trọng cho ấu trùng thủy sản [47] và mức độ tiêu hóa trùn chỉ (Limnodrilus hoffmeisteri) trong cá nhanh hơn so

Trang 19

với thức ăn công nghiệp [14] Trong nghiên cứu của Yan và cộng sự cho rằng hàm lượng protein và chất béo trong trùn chỉ chiếm 90% trọng lượng khô [72] Ngoài ra, nghiên cứu của Sulmartiwi và cộng sự cho thấy hàm lượng dinh dưỡng trong trùn chỉ gồm: protein (57%), chất béo (13,3%), chất xơ thô (2,04%), hàm lượng tro (3,6%), nước (87,7%) và sắc tố carotenoid có khả năng cải thiện màu sắc cho cá cảnh [15] Theo Sumaryam, trùn chỉ có thể thúc đẩy sự tăng trưởng của cá nhanh hơn so với thức

ăn tự nhiên khác như Daphnia sp, hoặc Moina sp [16]

1.4 Những nghiên cứu ứng dụng Trùn chỉ trên thế giới và ở Việt Nam

1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới

Đặc điểm sinh học của L.hoffmeisteri được nghiên cứu rộng rãi Tuy nhiên, kết

quả nghiên cứu của các tác giả lại khác nhau về tốc độ tăng trưởng, số lượng kén, số lượng trứng thu được, sự khác biệt này là do khác nhau trong quá trình bố trí thí nghiệm như mật độ, dinh dưỡng, loại trầm tích nên rất khó để so sánh các kết quả này với nhau [37], [66]

Trong nghiên cứu của Aston số lượng trứng trung bình trong mỗi kén ở thí nghiệm về ảnh hưởng của nhiệt độ và ảnh hưởng của hàm lượng oxy hòa tan có sự khác nhau Ông nêu lên giả thuyết rằng sự khác biệt này đã bị ảnh hưởng bởi khối lượng của mỗi cá thể được sử dụng trong quá trình thí nghiệm [19]

Theo quan sát của Reynoldson và cộng sự, các quần thể L.hoffmeisteri ở vùng

ôn đới và vùng nhiệt đới có đặc tính sinh học khác nhau [62] Müller nghiên cứu

L.hoffmeisteri từ Canada và Tây Ban Nha quan sát thấy sự khác biệt trong quá trình

tạo kén, tốc độ tăng trưởng và khả năng chống chất gây ô nhiễm của 2 nước này [52]

Tại Philippin, Ian đã đánh giá tác động của phân hóa học, thuốc trừ sâu và phân

chuồng lên L.hoffmeisteri ở ngoài ruộng lúa Sự ra đời của phương pháp trồng lúa

năng suất cao có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đã hạn chế hoặc ngăn cản sự sinh

trưởng và phát triển của L.hoffmeisteri tại đây [42]

Nghiên cứu của Chumaidi và Suprapto sử dụng bùn và nước thải để nuôi

L.hoffmeisteri cho thấy số lượng cá thể trong quần thể đạt cao nhất vào ngày thứ 30 và

bắt đầu giảm vào ngày thứ 40, nguyên nhân là do sự cạnh tranh thức ăn khi mật độ các

cá thể trong quần thể gia tăng [11]

Trang 20

1.4.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở việc sử dụng trùn chỉ

(L.hoffmeisteri) để đánh giá mức độ ô nhiễm của các con sông, kênh, rạch như nghiên

cứu của Dương Trí Dũng và cộng sự tại khu vực rạch Cái Khế, Cần Thơ cho thấy loài

L.hoffmeisteri xuất hiện trên 14 điểm khảo sát trong suốt quá trình nghiên cứu biểu thị

tính ô nhiễm hữu cơ của thủy vực [3] Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng động vật đáy để đánh giá sự ô nhiễm nước thải sinh hoạt tại rạch Tầm Bót, Long Xuyên được thực hiện vào mùa mưa và mùa khô trong năm 2007 – 2008 Kết quả cho thấy trong khu vực này thành phần loài sinh vật đáy kém phong phú, với 11 loài thuộc 5 lớp: Oligochaeta, Polychaeta, Insecta, Gastropoda, và Bivalvia Số lượng động vật đáy biến động rất lớn,

từ 450 đến 26.220 cá thể/m2 do sự đóng góp của loài L.hoffmeisteri [4]

Trang 21

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Trùn chỉ (Limnodrilus hoffmeisteri Claparede, 1862)

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 2 năm 2014

+ Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố trùn chỉ: tất cả các mẫu được thu vào buổi sáng từ 7 – 10h, bắt đầu từ tháng 10/2013 đến tháng 12/2013

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ: bắt đầu từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 2 năm 2014

- Địa điểm nghiên cứu:

+ Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố trùn chỉ được thực hiện tại Nha Trang – Khánh Hòa

+ Nghiên cứu về ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ được thực hiện tại phòng thí nghiệm Sinh lý – Sinh thái, Trường Đại học Nha Trang – Khánh Hòa

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Sơ khối nội dung nghiên cứu

Trang 22

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố của quần thể trùn chỉ

- Chai đựng mẫu nước: gồm các loại chai 125 ml nút mài để đựng mẫu

nước xác định các chất khí, chai 500 ml (thủy tinh hoặc nhựa) đế đựng mẫu nước xác định các chỉ tiêu theo yêu cầu nghiên cứu

- Hóa chất:

Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sự sinh trưởng, phát triển trùn chỉ

Khảo sát sự phân bố trùn chỉ

ở thành phố Nha Trang –

Khánh Hòa

Xác định thông số môi trường

(pH, DO, COD, BOD5, OM, TSS

NH4, NO3, PO4) và mật độ trùn chỉ

NT1 (phân gà)

NT2 (phân bò)

NT4 (phân bò + cám gạo)

NT3 (cám gạo) Nội dung nghiên cứu

Mật độ và sinh khối trùn chỉ

Phân tích và xử lý số liệu

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Tiến hành thu mẫu tại các

thủy vực bị ô nhiễm hữu cơ

gồm mẫu đất và mẫu nước

Trang 23

+ Dung dịch MnCl2, KI/NaOH để cố định mẫu nước xác định oxy hòa tan + Axit H2SO4, HNO3, HCl hoặc các dung dịch CHCl3, CCl4 để bảo quản mẫu nước theo yêu cầu của từng chỉ tiêu phân tích

2.2.1.2 Phương pháp thu mẫu

-Tiến hành thu mẫu tại các địa điểm là những thủy vực có hàm lượng hữu cơ cao như: ao, hồ nuôi cá, các rãnh nước thải, cửa sông, vùng đầm lầy, ruộng lúa… Tại các điểm khảo sát, tiến hành thu mẫu ở 4 góc ao và giữa ao đối với ao, hồ Đối với sông, kênh, rạch thu ở 3 vị trí: bờ phải, bờ trái và giữa dòng Tại mỗi vị trí tiến hành thu 3 mẫu bao gồm mẫu nước và mẫu đất nền đáy thủy vực

- Mẫu nước thu được cho vào chai nhựa 500ml, mẫu đất được cho vào túi nilon, những mẫu cần được cố định tại chỗ thì cho vào chai thủy tinh nút mài 125 ml Các mẫu được dán nhãn ghi rõ ngày, giờ, địa chỉ thu mẫu

- Mẫu vật đáy được thu bằng gàu Petersen có kích thước 250 cm2, thu một lớp đất sâu từ 10 – 15 cm tính từ bề mặt đáy Sau đó mẫu vật đáy được cho vào các túi nilon có ghi nhãn để đưa về phòng thí nghiệm kiểm tra số lượng trùn chỉ và phân tích nền đáy

- Mẫu nước được thu bằng Batomet, mẫu nước thu ở tầng giữa của thủy vực được chứa trong chai thủy tinh loại 125 ml để đựng mẫu nước xác định chất khí và chai nhựa 500 ml để đựng mẫu nước xác định các chỉ tiêu theo yêu cầu nghiên cứu 2.2.1.3 Xác định số lượng trùn chỉ có trong mẫu nền đáy

Mẫu đáy sau khi thu được cho qua sàng động vật đáy với kích thước lỗ sàng 0,3

mm để rửa sạch bùn Mẫu sau khi sàng được cho vào khay màu trắng Sử dụng kẹp, ống hút để phân loại và đếm số lượng trùn chỉ có trong mẫu

2.2.1.4 Phương pháp phân tích mẫu

a) Xác định chất đáy bằng phương pháp sa lắng cơ học [9]

Lấy một ít mẫu đất cho vào cốc, hòa đều trong nước, rót toàn bộ vào ống 100

ml Chờ cho đất lắng hết Căn cứ tỷ lệ bùn : cát trong ống đong để định loại chất đáy

Tỷ lệ về khối lượng giữa bùn và cát trong mẫu đất

Trang 24

b) Xác định nhiệt độ, pH và độ sâu của thủy vực

Nhiệt độ nước, pH nước và độ sâu của thủy vực được đo tại điểm khảo sát, thu mẫu Nhiệt độ được đo bằng nhiệt kế thủy ngân, pH được đo bằng test đo pH, độ sâu được đo bằng thước dây

c) Xác định nồng độ oxy hòa tan trong nước theo phương pháp Winkler [9]

d) Xác định nhu cầu oxy sinh hóa – BOD [9]

e) Xác định nhu cầu oxy hóa học (COD) theo phương pháp Permanganat [9] f) Xác định hàm lượng Ammonia (NH4+) theo phương pháp Phenate [9]

g) Xác định hàm lượng Nitrat NO3- [9]

h) Xác định hàm lượng Photphat (PO43-) theo phương pháp so màu với thuốc thử Molipdat [9]

i) Xác định tổng lượng chất rắn lơ lửng trong nước – TSS [9]

h) Xác định hàm lượng chất hữu cơ trong đất (OM) theo TCVN 8726 : 2012

2.2.2 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ

2.2.2.1 Vật liệu nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành nghiên cứu từ tháng 12/2013 - 2/2014, tại phòng thí nghiệm Sinh lý – Sinh thái, Trường Đại học Nha Trang – Khánh Hòa Dụng cụ và trang thiết bị thí nghiệm bao gồm vợt, khay nhựa, cốc đong, hệ thống nước ngọt chảy nhỏ giọt

Trang 25

Trùn chỉ (L.hoffmeisteri) chọn lọc từ rãnh nước thải ở Xã Vĩnh Phương – Tp Nha

Trang – Khánh Hòa, được nuôi giữ giống tại phòng thí nghiệm thuộc Trung tâm Thí nghiệm và Thực hành trường Đại học Nha Trang Trùn chỉ được nhân gống trước khi tiến hành thí nghiệm 2 tháng để có đủ số lượng trùn chỉ như mong muốn

Nền đáy sử dụng là bùn đáy được lấy từ khu vực đã thu trùn chỉ Bùn đáy được rây qua vợt có mắt lưới 2a = 0,5mm để loại bỏ toàn bộ các loài sinh vật không liên quan Bùn mịn lọt qua lưới được đựng vào xô nhựa, sau khi lắng xuống đáy chắt bỏ lớp nước trên, thu lại toàn bộ trầm tích đem phơi khô để loại bỏ toàn bộ kén giun ít tơ còn sót lại

Mục đích của thí nghiệm là xác định loại thức ăn tối ưu cho L.hoffmeisteri Ba

loại thức ăn được sử dụng là phân bò, phân gà và cám gạo Phân bò và phân gà được ủ với chế phẩm sinh học Balasa-N01 trước khi sử dụng từ 5 – 7 ngày Thành phần của chế phầm sinh học bao gồm: các tế bào sống của chủng vi khuẩn, nấm men, nấm sợi, enzymes thủy phân các hợp chất hữu cơ Chế phẩm sinh học có tác dụng phân hủy chất hữu cơ, biến phân tươi thành phân vi sinh hữu cơ, giảm mùi hôi, giảm ô nhiễm môi trường

Các loại thức ăn được lấy mẫu đem đi phân tích giá trị dinh dưỡng trước khi sử dụng Mẫu được phân tích tại phòng phân tích sinh hóa của Viện Công nghệ Sinh học, trường Đại Học Nha Trang

- Định lượng vật chất khô bằng cách sấy mẫu theo TCNV (1986) – 432586)

- Định lượng protein thô bằng phương pháp Micro Kjildahl tiêu chuẩn Việt Nam

- Định lượng khoáng tổng số (tro) bằng phương pháp đốt khô

- Định lượng canxi bằng phương pháp chuẩn độ

- Định lượng photpho theo phương pháp thể tích và khối lượng

2.2.2.2 Bố trí thí nghiệm

a) Điều kiện thí nghiệm

Thí nghiệm để đánh giá khả năng sinh trưởng và gia tăng mật độ của trùn chỉ

L.hoffmeisteri với các loại thức ăn khác nhau Tiến hành nuôi trùn chỉ với mật độ

1con/cm2 (trọng lượng trung bình 1,50 ±0.02mg/con) trong khay nhựa có diện tích 250cm2(10x25cm) Khay nuôi trùn chỉ được cấp 2 - 3 cm bùn đã tiệt trùng làm nền đáy Sau khi thả trùn, khay nuôi được đặt dưới hệ thống nước chảy nhỏ giọt trong phòng thí nghiệm Nước chảy từ vòi cấp vào ống nhựa (PVC Ø 20) với lưu tốc

Trang 26

250ml/phút, sau đó chảy nhỏ giọt xuống 12 khay thí nghiệm qua lỗ trên ống nhựa, mỗi

lỗ có đường kính 2mm Nhiệt độ và ánh sáng tự nhiên

Định kỳ 3 ngày cho trùn chỉ ăn một lần, với liều lượng cho ăn bằng 15% trọng lượng cơ thể/1ngày, trước khi cho ăn thức ăn được ngâm trong nước 1 ngày trong điều kiện nhiệt độ phòng Khi cho ăn tắt hệ thống nước chảy nhỏ giọt, cấp thức ăn vào khay nuôi sau 3- 4 tiếng để toàn bộ thức ăn lắng xuống đáy mới cho nước chảy trở lại

- NT4: thức ăn là 50% phân bò + 50% cám gạo

Các nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Thí nghiệm được tiến hành trong 6 tuần, mỗi tuần thu mẫu một lần bằng cách thu hoàn toàn và được bố trí theo sơ đồ sau:

Trang 27

c) Xác định chỉ tiêu môi trường

Chỉ tiêu Oxy, pH và nhiệt độ được đo khi bắt đầu và cuối mỗi tuần nuôi Nhiệt

độ được đo bằng nhiệt kế thủy ngân, pH được đo bằng test đo pH, Oxy đo bằng test đo Oxy

d) Sinh hóa và sinh trưởng

Khối lượng, mật độ của quần thể trùn chỉ được cân và đếm ở cuối mỗi tuần nuôi Cuối tuần nuôi, thu toàn bộ nền đáy và rây qua vợt có mắt lưới 2a = 0,5mm, sau đó đổ ra khay 600cm2, dùng ống pipet thu và đếm số lượng trùn, tiếp đến loại bỏ toàn bộ chất bẩn bám vào trùn chỉ rồi đem cân trọng lượng bằng cân điện tử với độ chính xác đến 10-4 g Sau đó được bảo quản trong cồn Etylic 70%

2.2.3 Tính toán và xử lý số liệu

Số liệu đã thu thập được xử lý sơ bộ với chương trình Excel và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 18.0, so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức (ANOVA) sau

đó sử dụng phép thử LSD để kiểm chứng

Trang 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm sinh thái phân bố của quần thể trùn chỉ

Tiến hành khảo sát tại 7 vùng thuộc địa phận thành phố Nha Trang gồm: phường Vĩnh Phương, phường Vĩnh Phước, phường Vĩnh Hải, phường Vĩnh Hiệp, phường VĩnhNgọc, phường Ngọc Hiệp và phường Vĩnh Thái

3.1.1 Khảo sát, thu mẫu tại phường Vĩnh Phương

Tiến hành khảo sát, thu mẫu 5 điểm thuộc phường Vĩnh Phương – Nha Trang Kết quả phân tích các yếu tố môi trường, đặc điểm thủy vực, mật độ phân bố trùn chỉ được trình bày ở Bảng 3.1 và Bảng 3.2

Bảng 3.1 Đặc điểm thủy vực tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Phương

04/10/2013

Cống nước thải sinh hoạt

Nước trong, đáy mềm, có nhiều rác

0,2 – 0,3 Bùn cát 0

Cống nước thải công nghiệp

Nước màu đen có váng dầu trên bề mặt

0,3 – 0,4 Cát bùn 0

Ruộng lúa Nước trong, chuẩn

bị gieo mạ, ít xác thực vật

0,15 – 0,2 Bùn cát 1.698 ±

424

11/10/2013

Mương nước thải

Nước đen, có mùi,

ít xác thực vật

0,4 – 0,5 Bùn cát -

xác thực vật

1.471 ±

434

Ruộng rau muống

Nước đen, có mùi, nhiều ốc, nhiều xác thực vật

0,2 – 0,3 Bùn cát -

xác thực vật

1.964 ±

491

Trang 29

Bảng 3.2 Thông số môi trường tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Phương

Cống nước thải công nghiệp

Ruộng lúa Mương nước

thải

Ruộng rau muống

Kết quả từ Bảng 3.1 cho thấy, quần thể trùn chỉ phân bố không đồng đều tại 5 điểm thu mẫu, trùn chỉ xuất hiện trong ruộng lúa, ruộng rau muống và mương nước thải, có nền đáy là bùn cát và xác thực vật Mật độ trùn chỉ cao nhất thu được tại ruộng rau muống là 1.964 ± 491 con/m2, cao gấp 1,3 lần so với khu vực mương nước thải Trong khi đó, tại cống nước thải sinh hoạt và cống nước thải công nghiệp không phát hiện được sự tồn tại của trùn chỉ, quan sát thấy khu vực này bị ô nhiễm nặng vì chứa nhiều chất thải hóa học từ các nhà máy công nghiệp

Trang 30

Nhiệt độ tại các điểm thu mẫu lớn nhất tại ruộng lúa (28,7 ± 0,76 oC) và có sự sai khác có ý nghĩa thống kế với điểm có nhiệt độ thấp nhất là cống nước thải công nghiệp (27,3 ± 0,29 oC) (P<0,05) (Bảng 3.2) Giá trị pH có sự sai khác giữa các điểm thu mẫu, pH giao động trung bình từ 7,1 – 7,8 Hàm lượng oxy hòa tan tại ruộng rau muống (2,35 ± 0,250 mg/L) và cống nước thải công nghiệp (2,07 ± 0,40 mg/L) có sự sai khác về mặt thống kê với các điểm còn lại (P<0,05), hàm lượng DO phụ thuộc đến giá trị COD và BOD của thủy vực Hàm lượng OM, TSS, COD và BOD5 tại các điểm trùn chỉ phân bố so với các điểm trùn chỉ không phân bố có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (P<0,05) Sự sai khác này có thể là do sự phân hủy của xác động thực vật tạo ra các mảnh vụn hữu cơ trong thủy vực và các lớp trầm tích dẫn đến hàm lượng chất hữu cơ trong nước và hàm lượng hữu cơ trong đất cao hơn Hàm lượng TSS, COD, BOD5 cao nhất lần lượt là 3,62 ± 0,55 mg/L, 10,60 ± 0,83 mgO2/L, 8,71 ± 0,48 mgO2/L Ngoài ra, hàm lượng amoniac (NH4+), nitrat (NO3-), photphat (PO43-) tại 5 điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Phương là khá thấp so với khả năng chịu đựng của trùn chỉ [64] (Phụ lục I)

3.1.2 Khảo sát, thu mẫu tại phường Vĩnh Phước và Vĩnh Hải

Tiến hành khảo sát, thu mẫu 7 điểm thuộc phường Vĩnh Phước và phường Vĩnh Hải – Nha Trang Kết quả phân tích các yếu tố môi trường, đặc điểm thủy vực, mật độ

phân bố trùn chỉ được trình bày ở Bảng 3.3 và Bảng 3.4

Trang 31

Bảng 3.3 Đặc điểm thủy vực tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Phước và

Nền đáy

Mật độ trung bình (con/m2)

24/10/2013

Mương nước thải sinh hoạt, Vĩnh Phước

Nước trong đáy mềm,

có nhiều xác thực vật, cây cỏ, có trùn chỉ bám từng mảng

0,2 – 0,3 Bùn

-cát

53.034 ± 3.864

Ao cá nuôi ghép, Vĩnh Phước

Nước trong, nhiều bèo tây ở các góc ven bờ, nhiều cỏ, nhiều xác thực vật

1,4 – 1,6 Bùn 3.631 ±

932

Ao 1 nuôi cá giống, Vĩnh Phước

Nước trong, có nhiều váng tảo xanh vàng trên mặt nước, nhiều xác thực vật

1,4 – 1,6 Bùn 7.161 ±

1.342

Ao 2 nuôi cá giống, Vĩnh Phước

Nước trong, nhiều cỏ, nhiều xác thực vật

Nước đục, có mùi, nhiều cỏ, ít xác thực vật

Nước trong, nhiều váng tảo trên mặt nước, có rác, nhiều cỏ dại, nhiều xác thực vật

Nước đục, có mùi hôi, nhiều đá và cỏ dại, nhiều rác, có những váng bọt trắng ven bờ,

Trang 32

Bảng 3.4: Thông số môi trường tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Phước

Ao nuôi

cá ghép, Vĩnh Phước

Ao 1 nuôi cá giống, Vĩnh Phước

Ao 2 nuôi cá giống, Vĩnh Phước

Ao nuôi

cá trê, Vĩnh Phước

Ao nuôi

cá, Vĩnh Hải

Mương nước thải, Vĩnh Hải Nhiệt độ

(oC)

27,9 ± 0,40a

28,2±

0,76a

28,2 ± 0,29a

0,15ab

7,4 ± 0,12ab

7,9 ± 0,31c

7,6 ± 0,17abc

7,7 ± 0,25bc

7,7 ± 0,17bc

7,3 ± 0,15a

DO (mg/L) 2,41 ±

0,33a

4,22 ± 0,39d

4,17 ± 0,30d

4,11 ± 0,24d

3,45 ± 0,08bc

3,92 ± 0,20cd

2,96 ± 0,52ab

COD

(mgO2/L)

11,26 ± 0,91b

10,02 ± 0,45ab

10,20 ± 1,84ab

9,72 ± 0,75ab

9,80 ± 0,96ab

9,27 ± 0,95ab

8,90 ± 0,68a

BOD5

(mgO2/L)

8,67 ± 0,62c

8,55 ± 0,51c

6,59 ± 0,57a

6,72 ± 0,35a

7,41 ± 0,36ab

7,66 ± 0,43b

6,77 ± 0,40a

TSS

(mg/L)

0,07 ± 0,01a

0,19 ± 0,02a

0,16 ± 0,05a

0,14 ± 0,02a

1,32 ± 0,22b

0,17 ± 0,02a

2,33 ± 0,49c

OM (%) 17,82 ±

1,88d

17,44 ± 1,46d

11,10 ± 0,77c

11,28 ± 1,28c

9,22 ± 0,78bc

7,20 ± 0,64ab

6,41 ± 1,21a

Ghi chú: Số liệu trình bày trên bảng là giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn Số liệu cùng một hàng có các chữ cái khác nhau thể hiện sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Kết quả thu mẫu được trình bày tại Bảng 3.3 cho thấy trùn chỉ phân bố ở tất cả các điểm khảo sát Mật độ phân bố tại các thủy vực nước chảy không đều, cao nhất tại mương nước thải sinh hoạt Vĩnh Phước là 53.034 ± 3.864 con/m2 gấp 47 lần so với

Ngày đăng: 17/07/2016, 16:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bùi Hữu Đoàn (2010), "Sử dụng phân gà công nghiệp đã ủ với chế phẩm E.M.(Effective microorganisms) thay thế một phần thức ăn tinh nuôi cá Điêu hồng (Red Tilapia)", Tạp chí chăn nuôi số 4, Đại học Thái Nguyên, pp. 44-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phân gà công nghiệp đã ủ với chế phẩm E.M.(Effective microorganisms) thay thế một phần thức ăn tinh nuôi cá Điêu hồng (Red Tilapia)
Tác giả: Bùi Hữu Đoàn
Năm: 2010
3. Dương Trí Dũng và Đào Minh Minh (2013), "Đánh giá sự ô nhiễm của rạch cái khế qua sự phân bố của động vật đáy", Khoa học Tự nhiên, Công nghệ và Môi trường. 28, pp. 30-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sự ô nhiễm của rạch cái khế qua sự phân bố của động vật đáy
Tác giả: Dương Trí Dũng và Đào Minh Minh
Năm: 2013
4. Dương Trí Dũng, Nguyễn Văn Công và Lê Công Quyền (2011), "Sử dụng các chỉ số động vật đáy đánh giá sự ô nhiễm nước ở rạch Tầm Bót, Long Xuyên, tỉnh An Giang", Tạp chí Khoa học, pp. 18-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng các chỉ số động vật đáy đánh giá sự ô nhiễm nước ở rạch Tầm Bót, Long Xuyên, tỉnh An Giang
Tác giả: Dương Trí Dũng, Nguyễn Văn Công và Lê Công Quyền
Năm: 2011
5. Trần Ngọc Hải, Lê Quốc Việt và Lý Văn Khánh, Cao Mỹ Án (2011), "Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Ngát giai đoạn giống (Plotosus canius Hamilton, 1882", Tạp chí khoa học Công Nghệ Thủy Sản, pp. 254-261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Ngát giai đoạn giống (Plotosus canius Hamilton, 1882
Tác giả: Trần Ngọc Hải, Lê Quốc Việt và Lý Văn Khánh, Cao Mỹ Án
Năm: 2011
6. Lã Văn Kính (2003), Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn gia súc Việt Nam, Nông nghiệp TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: hành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn gia súc Việt Nam
Tác giả: Lã Văn Kính
Năm: 2003
7. Ngô Văn Ngọc, Trần Thị Thu Hà và., Nguyễn Trọng Sang (2008), "Xác định thời điểm thay thế trùn chỉ bằng thịt cá trong ương cá lăng nha (Mystus wyckioides) giai đoạn từ 3 đến 15 ngày tuổi", Khoa Thủy Sản Trường ĐH Nông Lâm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định thời điểm thay thế trùn chỉ bằng thịt cá trong ương cá lăng nha (Mystus wyckioides) giai đoạn từ 3 đến 15 ngày tuổi
Tác giả: Ngô Văn Ngọc, Trần Thị Thu Hà và., Nguyễn Trọng Sang
Năm: 2008
8. Đặng Ngọc Thanh, Trần Thái Bái và Phạm Văn Miên (1980), Định loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam
Tác giả: Đặng Ngọc Thanh, Trần Thái Bái và Phạm Văn Miên
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1980
9. Nguyễn Đình Trung (2004), Quản lý chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản, Nhà xuất bản Nông nghiệp.Used Indonesia's abstract reference Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản
Tác giả: Nguyễn Đình Trung
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp. Used Indonesia's abstract reference
Năm: 2004
11. Chumaidi. and Suprapto. (1986), Pengaruh Berbagai Takaran Pupuk Kotoran Ay am Terhadap Perkembangan Populasi Tubifex sp. , ed. Tawar, Balai Penelitian Perikanan Air, Depok, Bogor. 8 hal Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pengaruh Berbagai Takaran Pupuk Kotoran Ay am Terhadap Perkembangan Populasi Tubifex sp
Tác giả: Chumaidi. and Suprapto
Năm: 1986
12. Fiastri. (1987), Pengaruh Debit Air dengan Modifikasi Sistem Pembilasan Terhadap Pertumbuhan Tubifex sp, ed. Bogor, Karya Ilmiah. Fakultas Perikanan. Institut Pertanian Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pengaruh Debit Air dengan Modifikasi Sistem Pembilasan Terhadap Pertumbuhan Tubifex sp
Tác giả: Fiastri
Năm: 1987
18. Yuherman. (1987), "Pengaruh Dosis Penambahan Pupuk Pada Hari Kesepuluh setelah Inokulasi Terhadap Pertumbuhan Populasi Tubifex sp. Skripsi Fakultas Perikanan. Institut Pertanian Bogor".Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pengaruh Dosis Penambahan Pupuk Pada Hari Kesepuluh setelah Inokulasi Terhadap Pertumbuhan Populasi Tubifex sp. Skripsi Fakultas Perikanan. Institut Pertanian Bogor
Tác giả: Yuherman
Năm: 1987
19. Aston, R. J. (1973), "Field and experimental studies on the effects of a power station effluent on Tubificidae (Oligochaeata, Annelida)", Hydrobiologia.42(2), pp. 225 -242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Field and experimental studies on the effects of a power station effluent on Tubificidae (Oligochaeata, Annelida)
Tác giả: Aston, R. J
Năm: 1973
20. Aston, R.J. (1968), "The effect of temperature on the life cycle, growth and fecundity of Branchiura sowerbyi (Oligochaeta: Tubificidae)", J. Zool. Lond.154, pp. 29-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of temperature on the life cycle, growth and fecundity of Branchiura sowerbyi (Oligochaeta: Tubificidae)
Tác giả: Aston, R.J
Năm: 1968
21. Aston, R.J. and Milner, A.G.P. (1982), "Conditions required for the culture of Branchiura sowerbyi (Oligochaeta: Tubificidae) in activated sludge", Aquaculture. 26, pp. 155-166 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Conditions required for the culture of Branchiura sowerbyi (Oligochaeta: Tubificidae) in activated sludge
Tác giả: Aston, R.J. and Milner, A.G.P
Năm: 1982
23. Brinkhurst, R.O. (1964), "Observations on the biology of lake dwelling Tubificidae", Arch. Hydrobiol. 60, pp. 385-418 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Observations on the biology of lake dwelling Tubificidae
Tác giả: Brinkhurst, R.O
Năm: 1964
24. Brinkhurst, R.O. (1980), "The production biology of the Tubificidae (Oligochaeta)", Aquatic Oligochaete Biology, pp. 205-209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The production biology of the Tubificidae (Oligochaeta)
Tác giả: Brinkhurst, R.O
Năm: 1980
25. Brinkhurst, R.O. (1996), "On the role of Tubificid Oligochaetes in relation to fish disease with special reference to the Myxozoa", Annual Review of Fish Diseases. 6, pp. 29-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: On the role of Tubificid Oligochaetes in relation to fish disease with special reference to the Myxozoa
Tác giả: Brinkhurst, R.O
Năm: 1996
26. Brinkhurst, R.O. (1967), "The distribution of aquatic Oligochaeta in Saginaw Bay, Lake Huron", Limnol. Oceanogr. 12(1), pp. 137-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The distribution of aquatic Oligochaeta in Saginaw Bay, Lake Huron
Tác giả: Brinkhurst, R.O
Năm: 1967
27. Brinkhurst, R.O. and Adrian, M.P. (2000), "a review of the Tubificidae (Annelida: Oligochaeta) from Australian inland waters", Memoirs of Museum Victoria. 58(1), pp. 39-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: a review of the Tubificidae (Annelida: Oligochaeta) from Australian inland waters
Tác giả: Brinkhurst, R.O. and Adrian, M.P
Năm: 2000
28. Brinkhurst, R.O. and Simmons, M.L. (1968), "The aquatic Oligochaeta of San Francisco Bay", Calif. Fish and Game. 54, pp. 180-194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The aquatic Oligochaeta of San Francisco Bay
Tác giả: Brinkhurst, R.O. and Simmons, M.L
Năm: 1968

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Toàn bộ cơ thể, đoạn trước và tơ cứng của L.hoffmeisteri [69] - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)
Hình 1.1 Toàn bộ cơ thể, đoạn trước và tơ cứng của L.hoffmeisteri [69] (Trang 13)
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (Trang 22)
Bảng 3.1 Đặc điểm thủy vực tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Phương - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)
Bảng 3.1 Đặc điểm thủy vực tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Phương (Trang 28)
Bảng 3.2 Thông số môi trường tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Phương - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)
Bảng 3.2 Thông số môi trường tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Phương (Trang 29)
Bảng 3.4: Thông số môi trường tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Phước - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)
Bảng 3.4 Thông số môi trường tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Phước (Trang 32)
Bảng 3.5 Đặc điểm thủy vực tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Hiệp và - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)
Bảng 3.5 Đặc điểm thủy vực tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Hiệp và (Trang 34)
Bảng 3.7 Đặc điểm thủy vực tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Ngọc - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)
Bảng 3.7 Đặc điểm thủy vực tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Ngọc (Trang 37)
Bảng 3.8: Thông số môi trường tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Ngọc - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)
Bảng 3.8 Thông số môi trường tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Ngọc (Trang 38)
Bảng 3.9 Đặc điểm thủy vực tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Thái - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)
Bảng 3.9 Đặc điểm thủy vực tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Thái (Trang 40)
Bảng 3.10: Thông số môi trường tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Thái - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)
Bảng 3.10 Thông số môi trường tại các điểm thu mẫu thuộc phường Vĩnh Thái (Trang 41)
Hình 3.1: Biến động hàm lƣợng oxy hòa tan - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)
Hình 3.1 Biến động hàm lƣợng oxy hòa tan (Trang 46)
Hình 3.2: Biến động giá trị pH - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)
Hình 3.2 Biến động giá trị pH (Trang 47)
Hình 3.3 Biến động nhiệt độ trong quá trình nuôi - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)
Hình 3.3 Biến động nhiệt độ trong quá trình nuôi (Trang 48)
Hình 3.4: Biến động sinh khối trùn chỉ qua các chu kỳ nuôi - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)
Hình 3.4 Biến động sinh khối trùn chỉ qua các chu kỳ nuôi (Trang 50)
Hình 3.5: Biến động mật độ trùn chỉ theo chu kỳ nuôi - Nghiên cứu đặc điểm sinh thái phân bố và ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng quần thể trùn chỉ limnodrilus hoffmeister (claperade, 1862)
Hình 3.5 Biến động mật độ trùn chỉ theo chu kỳ nuôi (Trang 51)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w