LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Tương quan giữa kết quả học tập trung học phổ thông, điểm tuyển sinh với kết quả học tập năm nhất của học viên trung cấp an ninh Nghiên cứu tại t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Tương quan giữa kết quả học tập trung
học phổ thông, điểm tuyển sinh với kết quả học tập năm nhất của học viên trung cấp an ninh (Nghiên cứu tại trường Cao đẳng An ninh nhân dân II”
hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình
Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Lưu Anh Tú
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Thu Hương – Viện đảm bảo chất lượng giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, người đã nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tác giả cũng xin gửi lời trân trọng cảm ơn đến quý Thầy (Cô) của Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục và các giảng viên tham gia giảng dạy khóa học
đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức về chuyên ngành Đo lường - Đánh giá trong giáo dục cũng như cung cấp cách thức tiến hành một nghiên cứu khoa học cho các học viên
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn thành tới đồng nghiệp, bạn bè thân thiết, gia đình và đặc biệt là những người bạn khóa học K8 luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập chương trình Cao học Đo lường và Đánh giá trong giáo dục
Xin trân trọng cảm ơn /
Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2014
Tác giả
Lưu Anh Tú
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, HỘP 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu 8
3 Giới hạn nghiên cứu 9
4 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 9
4.1 Câu hỏi nghiên cứu 9
4.2 Giả thuyết nghiên cứu 9
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 9
5.1 Đối tượng nghiên cứu 9
5.2 Khách thể nghiên cứu 10
6 Phạm vi nghiên cứu 10
7 Phương pháp nghiên cứu 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 12
1.1 Các khái niệm cơ bản 12
1.1.1 Phương pháp phân tích tương quan 12
1.1.2 Giáo dục trung học phổ thông 18
1.1.3 Hoạt động học tập 21
1.1.4 Kết quả học tập 23
1.1.5 Thi tốt nghiệp THPT 26
1.1.6 Tuyển sinh 27
1.2 Tổng quan nghiên cứu 28
1.2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 28
Trang 61.2.2 Những nghiên cứu trong nước 31
CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Bối cảnh nghiên cứu 36
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của Trường Cao đẳng ANND II 36
2.1.2 Ngành nghề, trình độ đào tạo 37
2.1.3 Đội ngũ cán bộ, giảng viên của trường 38
2.1.4 Đặc điểm tuyển sinh của nhà trường 39
2.2 Phương pháp nghiên cứu 40
2.2.1 Mẫu nghiên cứu 40
2.2.2 Khung lí thuyết 43
2.2.3 Quy trình nghiên cứu 43
2.2.4 Phương pháp nghiên cứu 44
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN GIỮA KẾT QUẢ HỌC TẬP THPT, ĐIỂM TUYỂN SINH VỚI KẾT QUẢ HỌC TẬP NĂM NHẤT 46
3.1 Phân tích các biến được sử dụng trong phân tích tương quan giữa kết quả học tập THPT, điểm tuyển sinh, kết quả học tập năm thứ nhất của học viên 46 3.1.1 Điểm thi tốt nghiệp THPT 46
3.1.2 Điểm trung bình chung học tập lớp 12 48
3.1.3 Kết quả học tập 3 năm học THPT 50
3.1.4 Điểm tuyển sinh 51
3.1.5 Kết quả học tập năm nhất 53
3.2 Kiểm định sự khác biệt về kết quả học tập năm nhất giữa các nhóm của biến giới tính và khối thi 55
3.2.1 Kiểm định Independent Samples T- Test giữa kết quả học tập năm nhất với nhóm giới tính nam và nữ 55
3.2.2 Kiểm định One-way ANOVA giữa kết quả học tập năm nhất với các khối thi tuyển sinh 56
Trang 73.3 Phân tích tương quan giữa điểm tuyển sinh với kết quả học tập năm nhất
của học viên trung cấp an ninh 56
3.4 Phân tích tương quan giữa kết quả học tập THPT với điểm tuyển sinh của học viên trung cấp an ninh 61
3.4.1 Phân tích tương quan giữa điểm thi tốt nghiệp THPT với điểm tuyển sinh 62
3.4.2 Phân tích tương quan giữa kết quả học tập lớp 12 của học viên với điểm tuyển sinh của học viên trung cấp an ninh 66
3.4.3 Phân tích tương quan giữa kết quả học tập 3 năm THPT của học viên với điểm tuyển sinh của học viên trung cấp an ninh 70
3.5 Phân tích tương quan giữa kết quả học tập THPT với kết quả học tập năm nhất của học viên trung cấp an ninh 74
3.5.1 Phân tích tương quan giữa điểm thi tốt nghiệp THPT với kết quả học tập năm nhất của học viên trung cấp an ninh 75
3.5.2 Phân tích tương quan giữa kết quả học tập lớp 12 của học viên với kết quả học tập năm nhất của học viên trung cấp an ninh 79
3.5.3 Phân tích tương quan giữa kết quả học tập 3 năm THPT của học viên với kết quả học tập năm nhất của học viên trung cấp an ninh 82
3.6 Phân tích mối tương quan giữa điểm thi tốt nghiệp THPT, điểm tuyển sinh với kết quả học tập năm nhất của học viên trung cấp an ninh 85
KẾT LUẬN 90
1 Kết luận 90
2 Những hạn chế của nghiên cứu 90
3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 95
Trang 8ĐCHT Động cơ học tập TBC Trung bình chung KQHT Kết quả học tập QLGD Quản lí giáo dục
SV Sinh viên TSĐH Tuyển sinh đại học THPT Trung học phổ thông THCS Trung học cơ sở
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.6 Bảng hệ số tương quan giữa các biến (Correlations) 55 Bảng 3.7 Đánh giá sự phù hợp của mô hình (Model Summary) 56
Bảng 3.9 Bảng ước lượng các hệ số hồi qui cho mô hình (Coefficientsa) 57 Bảng 3.10 Bảng hệ số tương quan giữa các biến (Correlations) 60 Bảng 3.11 Đánh giá sự phù hợp của mô hình (Model Summary) 60
Bảng 3.13 Bảng ước lượng các hệ số hồi qui cho mô hình (Coefficientsa) 61 Bảng 3.14 Bảng hệ số tương quan giữa các biến (Correlations) 63 Bảng 3.15 Đánh giá sự phù hợp của mô hình (Model Summary) 64
Bảng 3.17 Bảng ước lượng các hệ số hồi qui cho mô hình (Coefficientsa) 65 Bảng 3.18 Bảng hệ số tương quan giữa các biến (Correlations) 67 Bảng 3.19 Đánh giá sự phù hợp của mô hình (Model Summary) 68
Bảng 3.21 Bảng ước lượng các hệ số hồi qui cho mô hình (Coefficientsa) 69 Bảng 3.22 Bảng hệ số tương quan giữa các biến (Correlations) 71 Bảng 3.23 Đánh giá sự phù hợp của mô hình (Model Summary) 72
Bảng 3.25 Bảng ước lượng các hệ số hồi qui cho mô hình (Coefficientsa) 73 Bảng 3.26 Bảng hệ số tương quan giữa các biến (Correlations) 75 Bảng 3.27 Đánh giá sự phù hợp của mô hình (Model Summary) 76 Bảng 3.28 Bảng ước lượng các hệ số hồi qui cho mô hình (Coefficientsa) 77 Bảng 3.29 Bảng hệ số tương quan giữa các biến (Correlations) 78 Bảng 3.30 Đánh giá sự phù hợp của mô hình (Model Summary) 79 Bảng 3.31 Bảng ước lượng các hệ số hồi qui cho mô hình (Coefficientsa) 80 Bảng 3.32 Bảng hệ số tương quan giữa các biến (Correlations) 80 Bảng 3.33 Đánh giá sự phù hợp của mô hình (Model Summary) 80 Bảng 3.34 Bảng ước lượng các hệ số hồi qui cho mô hình (Coefficientsa) 80
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, HỘP
Trang
Hình 2.2 Biểu đồ mô tả mẫu theo khối thi tuyển sinh 42 Hình 3.1 Biểu đồ thống kê điểm thi tốt nghiệp THPT 47
Hình 3.3 Biểu đồ thống kê điểm học tập 3 năm THPT 51
Hình 3.5 Biểu đồ mô tả kết quả học tập năm nhất 54
Hình 3.7 Biểu đồ liên hệ hồi qui tuyến tính thuận giữa hai biến 62 Hình 3.8 Biểu đồ liên hệ tuyến tính thuận giữa các biến 66 Hình 3.9 Biểu đồ liên hệ hồi quy tuyến tính thuận giữa hai biến 70 Hình 3.10 Biểu đồ liên hệ hồi quy tuyến tính thuận giữa hai biến 74
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với ba chức năng quan trọng là đào tạo nhân lực có trình độ cao cho đất nước, sản sinh những tri thức mới cho khoa học và cung ứng các dịch vụ cho xã hội Giáo dục đại học nước ta đang đứng trước những thách thức mới Với xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa, sự phát triển nhanh và mạnh của khoa học và công nghệ đòi hỏi giáo dục đại học phải vươn lên, phải đi trước, đón đầu để đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo cho đất nước ngày một phát triển ổn định và bền vững
Để thực hiện tốt chức năng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho quá trình hội nhập và phát triển đất nước, các trường đại học Việt Nam cần phát huy một cách mạnh mẽ nhất nội lực, đề ra những giải pháp có tính khoa học cho quá trình cải tiến chất lượng nhằm thực hiện tốt hơn nữa mục tiêu và
sứ mạng của mình
Với những yêu cầu chung của cả xã hội và hệ thống giáo dục nước nhà thì công tác giáo dục và đào tạo trong lực lượng Công an nhân dân cũng chịu tác động không nhỏ, buộc phải có sự thay đổi sao cho phù hợp với xu thế của
xã hội Chính vì vậy, ngày 22 tháng 7 năm 2011 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1229/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Quy hoạch tổng thể, nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong Công an nhân dân đến năm 2020” Trong đó xác định mục tiêu chung là “Đổi mới toàn diện hệ thống các trường Công an nhân dân đáp ứng yêu cầu về quy
mô, chất lượng và cơ cấu; hệ thống tiêu chí về tổ chức đào tạo và kiểm định chất lượng được chuẩn hóa; hệ thống trường và các trung tâm huấn luyện bồi dưỡng nghiệp vụ được đào tạo theo tiêu chuẩn quốc gia và tiếp cận từng bước với thành tựu giáo dục và đào tạo hiện đại của các nước tiên tiến trong khu
Trang 12vực và thế giới, đáp ứng tốt nhất yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại” Để thực hiện được mục tiêu này một trong các công việc được xác định cần tập trung thực hiện là thực hiện tốt công tác tuyển sinh, đào tạo bồi dưỡng, đảm bảo chất lượng tuyển sinh đầu vào
Có thể nhận thấy, đối với hệ thống giáo dục đại học nói chung và hệ thống các trường của lực lượng Công an nhân dân nói riêng, khái niệm chất lượng được hợp thành từ chất lượng của các thành tố: công tác giảng dạy, chương trình đào tạo, đội ngũ cán bộ, giảng viên, người học, các hoạt động học thuật, nghiên cứu khoa học, thư viện, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, Trong đó có thể thấy vai trò quan trọng của người học có ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo của nhà trường
Cùng với những lý do trên, tác giả nhận thấy kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông, tuyển sinh đầu vào và kết quả học tập có mối liên hệ đặc biệt nhưng hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá về mối
quan hệ này Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Tương quan giữa kết quả học tập
trung học phổ thông, điểm tuyển sinh với kết quả học tập năm nhất của học viên trung cấp an ninh (nghiên cứu tại Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II)” nhằm mục đích đi sâu nghiên cứu đánh giá mối tương quan giữa
điểm thi kết quả học tập trung học phổ thông, điểm thi tuyển sinh với kết quả học tập năm nhất của học viên trung cấp an ninh trường Cao đẳng An ninh nhân dân II
2 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá mối tương quan giữa điểm kết quả học tập trung học phổ thông, điểm tuyển sinh với kết quả học tập năm nhất của học viên trung cấp
an ninh Trường Cao đẳng An ninh nhân dân 2 nhằm tìm ra, phân tích mối
Trang 13tương quan và đề ra những khuyến nghị giúp nhà trường nâng cao chất lượng tuyển sinh đầu vào và kết quả học tập của học viên
3 Giới hạn nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung: mối tương quan giữa kết quả học tập trung học phổ thông, điểm tuyển sinh với kết quả học tập năm thứ nhất của học viên Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II
- Giới hạn về không gian: Đề tài nghiên cứu trong khuôn khổ Trường Cao đẳng An ninh nhân II
- Giới hạn về khách thể trong khảo sát nghiên cứu: Nghiên cứu tập
trung vào học viên trung cấp hệ chính quy đang học tập tại Trường Cao đẳng
An ninh nhân dân II
4 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Kết quả học tập trung học phổ thông, điểm thi tuyển sinh và kết quả học tập năm thứ nhất của học viên Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II có mối tương quan như thế nào?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết H1: Điểm thi tuyển sinh càng cao thì kết quả học tập năm thứ nhất của học viên trường Cao đẳng An ninh nhân dân II càng cao
- Giả thuyết H2: Kết quả học tập trung học phổ thông càng cao thì kết quả học tập năm nhất của học viên Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II càng cao
- Giả thuyết H3: Kết quả học tập trung học phổ thông càng cao điểm thi tuyển sinh của học viên càng cao
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 14Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kết quả học tập trung học phổ thông, điểm thi tuyển sinh và kết quả học tập năm nhất của học viên bậc trung cấp an ninh Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II
Với kết quả học tập trung học phổ thông, đề tài sử dụng điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông, điểm học tập lớp 12, điểm học tập 3 năm THPT
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và bằng các phương pháp cụ thể như sau:
- Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng để thu thập thông tin
về kết quả học tập, điểm tuyển sinh, và các yếu tố khác
- Phương pháp thống kê toán học (sử dụng phần mềm SPSS) được sử dụng để phân tích mối tương quan giữa kết quả học tập trung học phổ thông, điểm tuyển sinh với kết quả học tập năm nhất của học viên
Trang 15- Phương pháp nghiên cứu định tính để lấy thêm thông tin phục vụ phân tích kết quả theo hai chiều
- Phương pháp hồi cứu các tài liệu và các công trình nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và khái quát hóa các tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Phương pháp phân tích tương quan
Liên hệ tương quan là mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau giữa các biến, trong đó sự biến động của một biến này là do tác động của nhiều biến khác gọi là liên hệ tương quan (Tăng Văn Khiêm, 2005)
Phân tích tương quan có thể được hiểu là một phương pháp toán học áp dụng vào việc phân tích thống kê nhằm biểu hiện và nghiên cứu mối liên hệ tương quan giữa các biến
Quá trình phân tích tương quan gồm các công việc cụ thể sau:
- Phân tích định tính về bản chất của mối quan hệ, đồng thời dùng phương pháp phân tổ hoặc đồ thị để xác định tính chất và xu thế của mối quan
Với liên hệ tương quan không gian, thường nghiên cứu 3 trường hợp: liên hệ tương quan tuyến tính giữa hai biến, liên hệ tương quan phi tuyến tính giữa 2 biến và liên hệ tương quan tuyến tính giữa nhiều biến
Trang 17a Liên hệ tương quan tuyến tính giữa 2 biến
- Phương trình hồi quy tuyến tính (đường thẳng)
Nếu gọi y và x là các trị số thực tế của biến phụ thuộc và biến độc lập
có thể xây dựng được phương trình hồi quy đường thẳng như sau:
bx a
y
~
x
- Hệ số tương quan tuyến tính giữa hai biến (ký hiệu là r)
Công thức tính hệ số tương quan:
y
x
y x xy r
x n
x x
y n
y y
Hệ số tương quan lấy giá trị trong khoảng từ -1 đến 1 ( 1 r 1):
Khi r càng gần 0 thì quan hệ càng lỏng lẻo, ngược lại khi r càng gần 1 hoặc -1 thì quan hệ càng chặt chẽ (r > 0 có quan hệ thuận và r < 0 có quan hệ nghịch) Trường hợp r=0 thì giữa x và y không có quan hệ
b Liên hệ tương quan phi tuyến tính giữa 2 biến
- Các phương trình hồi quy
Phương trình hồi quy phi tuyến tính thường được sử dụng:
Trang 18Phương trình parabol bậc 2 thường được áp dụng trong trường hợp các trị số của biến độc lập tăng lên thì trị số của biến phụ thuộc tăng (hoặc giảm), việc tăng (hoặc giảm) đạt đến trị số cực đại (hoặc cực tiểu) rồi sau đó lại giảm (hoặc tăng)
* Phương trình hybecbol
x
b a y
~
x Phương trình hybecbol được áp dụng trong trường hợp các trị số của biến độc lập tăng lên thì trị số của biến phụ thuộc giảm nhưng mức độ giảm nhỏ dần và đến một giới hạn nào đó (~y x a) thì hầu như không giảm
- Tỉ số tương quan
Đối với liên hệ tương quan phi tuyến tính giữa 2 biến sẽ dùng tỉ số tương quan (ký hiệu eta) để đánh giá mức độ chặt chẽ của mối liên hệ Công thức tính tỉ số tương quan như sau:
y
y 2
x 2
Trang 19Tỉ số tương quan có một số tính chất sau:
Tỉ số tương quan lấy giá trị trong khoảng [0;1], tức là 0 1
- Nếu = 0 thì giữa x và y không có liên hệ tương quan;
- Nếu =1 thì giữa x và y có liên hệ hàm số;
- Nếu càng gần 1 thì giữa x và y liên hệ tương quan càng chặt chẽ, và càng gần 0 thì liên hệ tương quan càng lỏng lẻo
Tỉ số tương quan lớn hơn hoặc bằng giá trị tuyệt đối của hệ số tương quan, tức là r Nếu = r thì giữa x và y có mối liên hệ tương quan tuyến tính
c Liên hệ tương quan tuyến tính giữa nhiều biến
- Phương trình hồi quy tuyến tính giữa 3 biến
Nếu gọi y là biến kết quả và x1, x2 là các biến độc lập, ta có phương trình hồi quy tuyến tính giữa 3 biến như sau:
2 2 1 1 0 2
số tương quan riêng
* Hệ số tương quan bội (Ký hiệu là R) được dùng để đánh giá độ chặt chẽ giữa biến phụ thuộc với tất cả các biến độc lập được nghiên cứu Công thức tính như sau:
2 x
x yx yx 2 yx 2 yx
2
2 2 1 2 1
r 1
r r r 2 r r
Trang 20Nếu R=0 thì không có quan hệ tương quan và nếu R=1 thì quan hệ tương quan trở thành quan hệ hàm số
1.1.1.2 Phân tích mối liên hệ tương quan giữa hai biến biến động theo thời gian
Mối liên hệ tương quan theo thời gian là mối liên hệ giữa các dãy số biến động theo thời gian Trong đó, có một số dãy số biểu hiện biến động của các biến độc lập (sự biến động của nó sẽ ảnh hưởng đến biến động của biến kia) và một dãy số biểu hiện biến động của biến kết quả (sự biến động của nó phụ thuộc vào biến động của các biến độc lập)
Phân tích mối liên hệ tương quan giữa các dãy số theo thời gian chính
là xác định mức độ chặt chẽ của mối liên hệ giữa các dãy số Do đặc điểm nghiên cứu tương quan theo dãy số thời gian là rất phức tạp nên ở đây chỉ trình bày tương quan tuyến tính giữa hai dãy số
Đặc điểm của dãy số biến động theo thời gian là tồn tại cái gọi là tự tương quan Để kiểm tra các dãy số biến động theo thời gian có đặc điểm này hay không, ta tiến hành tính hệ số liên hệ tương quan tuyến tính giữa các mức
độ của dãy số đã cho (xt hoặc yt) với mức độ của dãy số đó nhưng lệch đi thời gian 1 năm (t=1) Khi nghiên cứu riêng cho từng dãy (đại lượng x hay y) về bản chất đều có công thức tính giống nhau, chỉ khác nhau (hoặc là theo x hoặc
là theo y) Từ đây các trường hợp nghiên cứu riêng của từng dãy thống nhất chỉ ký hiệu chung là x)
Công thức hệ số tính tương quan riêng cho từng dãy số chẳng hạn x như sau:
1 t t
1 t t 1 t t x
,
x
.
x x x x r
Trang 21xt, xt+1 - là mức độ thực tế của dãy thuộc năm t và của năm sau năm t (t+1);
Khi kiểm tra đặc điểm tự tương quan của dãy số:
- Nếu thấy đặc điểm này yếu (r xt, xt1 gần 0) thì hệ số tương quan tuyến tính giữa hai dãy xt và yt (rx,y) vẫn tính trực tiếp theo các mức độ thực tế (xt
và yt) như tương quan tuyến tính giữa hai biến biến động theo không gian
- Nếu thấy đặc điểm tự tương quan của hai dãy số mạnh (rx t , x t 1
y x xy
t t
t t
d d
d d R
độ lý thuyết tương ứng (xˆ t , yˆ t), tức là d xt= xt-xˆ t và d yt= yt- yˆ t
Các mức độ lý thuyết xˆ t và yˆ t có thể xác định được bằng nhiều phương
pháp, nhưng phổ biến và có ý nghĩa nhất là theo phương trình toán học (phương trình hồi quy)
Trong kinh tế thường dùng một số dạng, phương trình toán học chủ yếu sau đây để điều chỉnh các dãy số:
- Phương trình tuyến tính (bậc nhất):
t a a
yˆ 0 1
Trang 22- Phương trình parabol bậc hai:
2 2 1
Để xác định quy luật phát triển của từng dãy số theo loại phương trình này, trước tiên phải đưa số liệu lên đồ thị để chọn một số loại phương trình nào đó tiến hành điều chỉnh dãy số Sau đó ứng với mỗi phương trình đã được điều chỉnh chúng ta tính toán các sai số mô tả:
rồi chọn phương trình nào có hệ số mô tả nhỏ nhất
1.1.2 Giáo dục trung học phổ thông
Theo Điều 26 Luật Giáo dục thì giáo dục phổ thông nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm:
a) Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi;
b) Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một tuổi;
Trang 23c) Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là mười lăm tuổi
Giáo dục THPT nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân của quốc gia, là cấp học quan trọng đánh dấu sự trưởng thành về ý thức và kiến thức của học sinh Trường trung học phổ thông, là một loại hình đào tạo chính quy ở Việt Nam, dành cho lứa tuổi từ 15 tới 18 không kể một số trường hợp đặc biệt, gồm các khối học: lớp 10, lớp 11, lớp 12 Sau khi tốt nghiệp hệ giáo dục này, học sinh được nhận bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, có một tên gọi khác cho loại bằng này là "Bằng tú tài"
Trường phổ thông được lập tại các địa phương trên cả nước Trường được sự quản lý trực tiếp của Sở Giáo dục và Đào tạo (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương), tức là trường trung học phổ thông ngang với Phòng Giáo dục quận, huyện Quy chế hoạt động do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
Cấp học giáo dục phổ thông có mục tiêulà giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn
bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong mục tiêu chung của cấp học này thì trình độ trung học phổ thông có mục tiêu cụ thể là nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Trong chiến lược phát triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, câu hỏi đầu tiên, và đột phá chú trọng đầu tiên bao giờ cũng nói
Trang 24tới giáo dục phổ thông, vì giáo dục phổ thông là nền tảng cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân và chính nó sẽ là cơ sở đem đến chất lượng cho cả hệ thống giáo dục
Tùy theo đặc điểm và hoàn cảnh, mỗi nước trên thế giới có những quan điểm và mô hình giáo dục khác nhau, tuy nhiên về hệ thống giáo dục của từng nước, chúng ta thấy có những điểm tương tự nhau là: giáo dục mầm non (hay còn gọi là giáo dục tiền học đường), giáo dục phổ thông, giáo dục dạy nghề
và đại học…Giáo dục mầm non là giáo dục giành cho trẻ từ lọt lòng đến 5 tuổi, đây là cấp học mở đầu cho quá trình phát triển của mỗi con người với nhiệm vụ chủ yếu mang tính dẫn dắt, giúp trẻ có được những kiến thức ban đầu để có thể làm quen, thích nghi dần với cuộc sống và phát triển tiếp theo Giáo dục phổ thông giành cho lứa tuổi từ 6 đến 18 tuổi, cấp học này cung cấp những kiến thức phổ thông, cơ bản ban đầu giúp tuổi trẻ có thể tiếp tục học nghề hoặc học lên và cũng có thể đi vào cuộc sống tự nuôi sống mình và cống hiến cho xã hội Giáo dục dạy nghề và giáo dục đại học là giáo dục chuyên sâu và nâng cao, tiếp tục vũ trang cho người học những kiến thức và kỹ năng chuyên biệt giúp người học trưởng thành một cách toàn diện, có thể chủ động
đi vào cuộc sống theo nhiều hướng phát triển phong phú, đa dạng để cống hiến cho xã hội… Như vậy có thể nói, các cấp học trong hệ thống giáo dục là một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên một dòng chảy liên tục có chủ đích cho quá trình phát triển của mỗi con người Trong hệ thống này công bằng mà nói chúng ta có thể khẳng định: giáo dục phổ thông có một vị trí hết sức quan trọng, nó là chiếc cầu nối cơ bản, nó là cấp học mang tính nền tảng của cả hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia Chất lượng của giáo dục phổ thông do vậy trước tiên ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng giáo dục dạy nghề và đại học, sâu xa hơn, mở rộng hơn, chính nó là nguồn gốc góp phần quan trọng quyết định chất lượng của nguồn lực lao động
Trang 25từng nước Bởi vậy trong chiến lược phát triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, câu hỏi đầu tiên, trọng tâm đột phá đầu tiên là chú trọng chăm lo cho cấp học phổ thông
1.1.3 Hoạt động học tập
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về họat động học tâp: Theo N V Cudomina (1996), “Học tập được coi là nhận thức cơ bản của sinh viên được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy Trong quá trình đó viêc nắm vững nội dung cơ bản các thông tin mà thiếu nó thì không thể tiến hành
được hoạt động nghề nghiệp tương lai” (Cudomina 1996 in Nguyễn Văn Thạc
+ Hoạt động vào bài
+ Hoạt động giới thiệu bài mới
+ Hoạt động chiếm lĩnh bài mới
Trang 26thực tiễn xã hội đặt ra
Dưới góc độ tâm lý, theo PGS.TS Phạm Viết Vượng (2000), hoạt động học của người học không thể tách rời hoạt động dạy của giáo viên trong quá trình dạy học “HĐHT là quá trình nhận thức tìm tòi, thấu hiểu, nắm vững, ghi nhớ và vận dụng kiến thức vào cuộc sống”
Theo Phạm Minh Hạc at al (1989) các vấn đề cơ bản nói lên bản chất
của hoạt động học tập của con người được thể hiện như sau:
- Bản chất của HĐHT là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở người học Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa là phát hiện lại bằng cách huy động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí, …) Do đó, hoạt động học làm thay đổi chính người học HĐHT hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và cả những tri thức của chính bản thân hoạt động học Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học, phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động học
- Đối tượng của hoạt động học hướng tới, đó là tri thức được cụ thể ở những đơn vị cấu thành như: khái niệm, kĩ năng, thái độ… Đối tượng của hoạt động học có liên quan chặt chẽ với đối tượng của khoa học Tuy vậy, có
sự khác nhau về nguyên tắc giữa hoạt động học và hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động học là hoạt động tái tạo lại những tri thức đã có từ trước ở người học, còn hoạt động nghiên cứu khoa học đó là phát hiện những chân lý khoa học mà loài người chưa biết đến
- Ngoài các phương tiện thông thường như giấy, bút, sách, giáo trình, máy tính,… HĐHT có phương tiện chủ yếu là các hành động học tập: so sánh, phân loại, phân tích, khái quát hoá Tâm lý học đã khẳng định so sánh, phân loại là những hành động học tập là phương tiện đắc lực cho việc hình thành những khái niệm kinh nghiệm, còn phân tích, khái quát hoá là phương tiện để hình thành nên những khái niệm khoa học Cần nhấn mạnh rằng trong
Trang 27hoạt động học, phương tiện chủ yếu là tư duy Trong giáo dục, tất cả các hình thức tư duy đều quan trọng và cần thiết
- Hoạt động học muốn được diễn ra phải có điều kiện của nó Điều kiện đầu tiên đó là có sự tham gia của các yếu tố bên ngoài (ngoại lực) như:
có sự hướng dẫn của thầy, sách, vở, bút, máy tính, giáo trình…Và điều kiện thứ hai đó là có sự vận động của chính bản thân người học hay còn gọi là yếu
tố nội lực Đó là những tri thức mà người học học được, trình độ trí tuệ hiện
có của người học, động cơ, ý chí, hứng thú của người học Trong đó, yếu tố nội lực đóng vai trò quan trọng trong hoạt động học của người học
- Để hình thành HĐHT cần có sự hình thành ĐCHT, MĐHT và hình thành các hành động học tập Theo Tâm lý học, các yếu tố của hoạt động học được hình thành trong chính hoạt động học
Từ các quan điểm nêu trên ta có thể kết luận: HĐHT là sự tích cực, chủ
động, sáng tạo thực hiện các hoạt động trong quá trình học tập để chiếm lĩnh
hệ thống tri thức, kỹ năng, hình thành thái độ đáp ứng các yêu cầu của nghề nghiệp trong tương lai, tạo nền tảng để vươn lên thích ứng với những yêu cầu trước mắt và lâu dài mà thực tiễn xã hội đặt ra
1.1.4 Kết quả học tập
Có nhiều định nghĩa khác nhau về KQHT như “KQHT là bằng chứng
sự thành công của học sinh/sinh viên về kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái độ
đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục” (James adison University, 2003; James O Nichols, 2002) hay “KQHT của SV bao gồm các kiến thức, kĩ năng
và thái độ mà họ có được” Trường Cabrillo quan niệm về KQHT “là kiến thức, kỹ năng, thái độ đạt được và phát triển trong suốt quá trình học” Nhìn một cách khái quát thì các khái niệm về KQHT chủ yếu bao gồm các kiến thức, kỹ năng, thái độ đạt được trong quá trình học tập
Theo lí luận dạy học, bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận
Trang 28thức độc đáo của học sinh được thực hiện trong những điều kiện sư phạm nhất định
Như vậy, trong phạm vi đề tài này KQHT được hiểu là kiến thức, kĩ năng, thái độ học viên đạt được qua học tập và rèn luyện ở từng môn học trong chương trình học tại trường và thể hiện cụ thể nhất là điểm số đánh giá quá trình học tập của học viên đó
Tùy theo mục đích của việc đánh giá mà khái niệm đánh giá KQHT có thể được hiểu theo hai cách sau đây:
Một là, đánh giá KQHT được xem là xác định mức độ thành công trong học tập của học sinh khi xem xét trong mối quan hệ với mục tiêu đã xác định, các chuẩn kiến thức và kỹ năng đạt được so với công sức và thời gian mà người học bỏ ra Theo định nghĩa này thì đánh giá KQHT là xác định mức độ thực hiện theo tiêu chí
Hại là, đánh giá KQHT được xem là xác định mức độ thành tích đạt được của một học sinh so với các bạn cùng học Theo định nghĩa này thì đánh giá KQHT là xác định mức độ đạt chuẩn
Như vậy, đánh giá KQHT là xác định mức độ nắm bắt kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của người học so với yêu cầu của chương trình đề ra; đưa ra những nhận định, nhận xét về mức độ đạt được, về tốc độ và trình độ lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ ở người học, từ đó làm cơ sở cho việc đề ra những biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học nói chung và KQHT nói riêng Kết quả của việc đánh giá được thể hiện chủ yếu bằng số điểm cho theo thang điểm quy đinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Lý thuyết đánh giá kết quả học tập của Benjamin Bloom (1956) đánh giá KQHT của người học trên 3 phương diện (nhận thức, thái độ, kỹ năng) với các cấp độ khác nhau từ thấp đến cao
Về phương diện nhận thức liên quan đến kiến thức và sự phát triển các
Trang 29kỹ năng trí tuệ Có 06 thang bậc đánh giá nhận thức chính được liệt kê dưới đây sắp xếp từ hành vi đơn giản nhất đến phức tạp nhất gồm:
+ Biết: nhớ, thuộc lòng, nhận dạng được nội dung kiến thức
+ Hiểu: giải thích được, mô tả được nội dung kiến thức
+ Áp dụng: sử dụng nội dung kiến thức đã học vào các hoàn cảnh mới + Phân tích: nhận biết cấu trúc của một tổng thể và hiểu rõ từng thành phần trong cấu trúc này
+ Tổng hợp: có khả năng sắp xếp các thành phần khác nhau để hình thành một tổng thể mới
+ Đánh giá: có khả năng xây dựng các tiêu chí đánh giá và biết áp dụng các tiêu chí này để đánh giá nội dung kiến thức, giải pháp, cách giải quyết vấn đề
Việc đánh giá kết quả học tập bao gồm 2 loại đánh giá sau:
+ Đánh giá quá trình: Loại đánh giá này được tiến hành nhiều lần
trong quá trình đào tạo nhằm cung cấp các thông tin ngược để giảng viên và học viên kịp thời điều chỉnh quá trình đào tạo Kiểu đánh giá này được tiến hành sau khi kết thúc một nội dung học tập, sau một bài học hay sau một đơn
vị học trình, thậm chí là một chương để thu thập sự phản hồi nhanh của sinh viên để giảng viên có thể kịp thời bổ sung những phần kiến thức còn thiếu hụt của họ, đồng thời bổ sung thêm phần tài liệu còn thiếu và điều chỉnh nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy cho phù hợp với người học ở các giai đoạn khác nhau Loại đánh giá này cũng giúp sinh viên điều chỉnh hoạt động học tập của mình và cung cấp các số liệu chứng minh sự tiến bộ của sinh viên Bởi vậy, loại đánh giá này nên được sử dụng thường xuyên
+ Đánh giá tổng kết: Được tiến hành khi kết thúc quá trình đào tạo
nhằm cung cấp các thông tin về chất lượng đào tạo Loại đánh giá này nhằm xếp loại sinh viên được học tiếp hay không hoặc còn để cấp các văn bằng hay
Trang 30chứng chỉ Đánh giá tổng kết cho số liệu để thừa nhận hay bác bỏ sự hoàn thành hay chưa hoàn thành một chương trình học, nó chỉ tiến hành sau khi kết thúc một giai đoạn học tập nhất định như kết thúc môn học, kết thúc khóa học Do vậy, loại đánh giá này không được tiến hành thường xuyên Mỗi một học phần cụ thể thì đánh giá tổng kết chỉ ra mức độ mà sinh viên đạt được như thế nào trong các mục tiêu cụ thể trong môn học đó
Như vậy, KQHT là những kiến thức, kỹ năng, thái độ mà sinh viên đạt được trong quá trình học tập, rèn luyện và được biểu hiện thành điểm số của từng học phần, từng học kỳ và năm học thông qua quá trình đánh giá bằng những hình thức và phương pháp nhất định
Trang 31phù hợp thực tế với mục đích cuối cùng là đưa chất lượng dạy và học đạt kết quả tốt hơn
1.1.6 Tuyển sinh
Tuyển sinh là một quá trình tuyển chọn người học đáp ứng được những điều kiện nhất định của cơ sở đào tạo và được cơ sở đào tạo lựa chọn, bao gồm: công tác chuẩn bị, thi tuyển, xét tuyển, nhập học Trong sự quan tâm của luận văn, tác giả hướng đến 2 vấn đề chủ yếu là thi tuyển sinh và điểm thi tuyển sinh
Thi tuyển sinh là việc tuyển chọn thí sinh (người dự thi, dự tuyển) đạt tiêu chuẩn yêu cầu của một đơn vị tổ chức tuyển chọn trong một kì thi Thi TSĐH, CĐ chính quy ở nước ta, hàng năm do Bộ GD&ĐT chủ trì và phối hợp với các trường ĐH, CĐ trong cả nước tổ chức để chọn những thí sinh có
đủ trình độ, năng lực vào đào tạo tại các trường ĐH, CĐ
Điểm TSĐH là kết quả thí sinh đạt được trong một kì thi tuyển sinh Điểm TSĐH, nhìn chung có thể được hiểu là tổng điểm các môn thi vào ĐH cùng một khối thi, tùy theo khối thi, ngành thi mà điểm từng môn thi có nhân
hệ số hay không
Từ năm 2001 trở về trước, mỗi trường tự tổ chức kì thi cho riêng mình dưới sự giám sát của Bộ GD&ĐT Ở các kì thi này, thí sinh đăng kí dự thi bao nhiêu trường thì trải qua bấy nhiêu kì thi (mỗi trường tự chọn ngày thi trong khoảng thời gian Bộ GD&ĐT quy định) gây nên tốn kém tài chính, công sức của gia đình và xã hội Các trường tự tổ chức thi (tự chủ) dễ phát sinh các lò luyện thi tủ do trường tự ra đề, việc xét tuyển giữa các trường khó khăn do mức độ đánh giá của đề thi giữa các trường không giống nhau, không tương đồng giữa các khu vực Ngoài ra, nhiều trường ĐH không đủ khả năng về nhân lực và tài chính để soạn thảo đề thi thật sự có chất lượng
Vì vậy, từ năm 2002, Bộ GD&ĐT đã tổ chức một kì thi duy nhất
Trang 32chung cho các trường ĐH (3 chung: tổ chức chung một kỳ thi, dùng chung
đề thi và sử dụng chung kết quả thi để xét tuyển), dùng chung kết quả để xét tuyển nguyện vọng vào các trường ĐH, CĐ
Các môn thi tuyển sinh theo hình thức tự luận gồm các môn Toán học, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Văn học, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ (thời gian làm bài 180 phút); các môn đặc thù, năng khiếu mỗi trường tự ra đề Trong những năm đầu, đề thi chủ yếu tự luận nên không bao phủ được chương trình học THPT dẫn đến thí sinh chỉ tập trung vào một số vấn đề trọng tâm có khả năng
ra đề, vì vậy khả năng may rủi cao Việc chấm thi cũng mất nhiều thời gian,
có sự chênh lệch cao, dễ xảy ra tình trạng tiêu cực, thiếu khách quan Đến năm tuyển sinh 2007, Bộ GD&ĐT áp dụng hình thức thi trắc nghiệm đối với các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học (thời gian làm bài 90 phút cho 50 câu hỏi)
và Ngoại ngữ (thời gian làm bài 90 phút cho 80 câu hỏi); các môn Toán học, Văn học, Lịch sử và Địa lí vẫn thi theo hình thức tự luận (thời gian làm bài
180 phút)
1.2 Tổng quan nghiên cứu
Nghiên cứu về mối tương quan giữa các yếu tố trong giáo dục nói chung và mối tương quan giữa điểm tuyển sinh với kết quả học tập nói riêng
có rất nhiều học giả là giáo sư, tiến sĩ đầu ngành trong và ngoài nước đã nghiên cứu và đưa ra quan điểm của mình về vấn đề này Tác giả xin đề cập đến một số nghiên cứu và bài viết được công bố và đăng trên các tạp chí sau:
1.2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Trong cuốn sách nghiên cứu về việc áp dụng phân tích mối tương quan điểm thi của học sinh của nhóm tác giả LuDai, Jie Chen, Sanding Lix, Shixun Dai (2011) thì nhóm tác giả này đã cho rằng việc sử dụng các phương pháp đa biến trong phân tích điểm là điều cần thiết cho giáo viên hoặc quản trị viên có
ý định tìm hiểu thêm thông tin từ dữ liệu điểm có sẵn Phân tích tương quan
Trang 33kinh điển là kỹ thuật tốt nhất để sử dụng khi các vấn đề nghiên cứu có nhiều biến Đồng thời trong cuốn sách này nhóm tác giả cũng đưa ra các thảo luận
về các nguyên tắc và ứng dụng phân tích mối tương quan kinh điển trong bối cảnh phân tích điểm số của sinh viên và cách thức áp dụng phương pháp này
để dữ liệu điểm thu thập và đưa ra kết quả phân tích đó sẽ là hữu ích cho giáo viên và các quản trị viên
Trong nghiên cứu về mối tương quan giữa sự hài lòng của giảng viên với sự hài lòng của sinh viên trong giáo dục đại học (2006) được tiến hành tại trường The Ohio State University của Kristin Ann Kroncke, tác giả đã nghiên cứu cách để kiểm tra các mối tương quan giữa một số khía cạnh sự hài lòng của giảng viên và sự hài lòng của sinh viên trong một môi trường đại học Trong môi trường này, giảng viên là nhân viên của các tổ chức và sinh viên
có thể được xem như là khách hàng của nó Ví dụ, một giảng viên, người hài lòng với các đồng nghiệp của mình có thể có động lực để làm hài lòng nhiều hơn nữa đội ngũ giảng dạy và nâng cao kinh nghiệm giảng dạy Từ đó, làm sự hài lòng của học sinh tăng lên
Cũng nghiên cứu về mối tương quan thì nhóm tác giả Jing LIN, Chen GAO, Ruth ZHUANG, Nichole CHEN đã thực hiện một nghiên cứu mối tương quan trình độ học vấn với mức thu nhập và mức độ hài lòng công việc (2011) nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng sự tương quan tích cực tồn tại giữa trình độ học vấn và mức thu nhập cho cả ngành nông nghiệp, khu vực kinh doanh nông nghiệp Tuy nhiên, tương quan của 3% trong lĩnh vực kinh doanh nông nghiệp là tương đối yếu so với 36% của lĩnh vực công nghiệp Sự hài lòng công việc tổng thể là rất cao bất kể đối tượng được phỏng vấn ở trình độ học vấn, tuổi tác và kinh nghiệm làm việc nào
Đầu năm 2013, Paul Takahashi đã công bố một nghiên cứu về mối tương quan giữa chi tiêu giáo dục cao với tỷ lệ tốt nghiệp Trong nghiên cứu
Trang 34này tác giả đã phân tích dữ liệu giáo dục liên bang chi tiêu học với tỷ lệ tốt nghiệp cao học và nhận thấy phần lớn các quốc gia đều nhìn thấy một mối tương quan giữa chi tiêu giáo dục cao và học lực cao Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng với một nửa số bang có chi tiêu cao nhất thì chiếm 60% điểm thi tốt nghiệp cao
Một nghiên cứu khóa học tại Khoa Y, Đại học Charles Praha năm 2003 của hai tác giả Cestmir Stuka Charles và Daniel Smutek nghiên cứu về mối tương quan giữa điểm tuyển sinh với sự thành công của sinh viên, đã đưa ra kết luận rằng những sinh viên có kết quả tuyển sinh đầu vào càng cao thì có sự thành công càng cao
Nghiên cứu về điểm tuyển sinh đầu vào với kết quả học tập, các tác giả Oliver G Daitol, Rosalie E Cataquis (2012) đã phân tích mối tương quan giữa điểm thi tuyển sinh đầu vào với kết quả học tập năm thứ nhất của học viên kỹ thuật tại Lyceum Phi-líp-Laguna Nghiên cứu trên 109 học sinh trong bốn chương trình Kỹ thuật: điện tử và kỹ thuật truyền thông, kỹ thuật điện, kỹ thuật máy tính và kỹ thuật công nghiệp Phần lớn các học sinh học trong các chương trình kỹ thuật là nam giới và các sinh viên thích điện tử và chương trình kỹ thuật truyền thông Những sinh viên này có hiệu suất cao nhất trong
kỳ thi tuyển sinh và trong các lớp cuối cùng trong khóa học năm đầu tiên được lựa chọn Nghiên cứu cho thấy rằng các kết quả kỳ thi tuyển sinh của tân sinh viên học sinh có liên quan đến hiệu suất trong các môn học đại số, lượng giác, tiếng Anh Có sự khác biệt đáng kể giữa nam và nữ trong các điểm số trong các loại bằng lời OLSAT và lớp cuối cùng trong đại số, tiếng Anh, và Phi Luật Tân Có sự khác biệt đáng kể giữa các chương trình trong OLSAT tổng số điểm, điểm bằng lời, điểm số không bằng lời nói và lớp cuối cùng trong lượng giác và Phi Luật Tân Nghiên cứu đã chỉ ra rằng kết quả
Trang 35trong kỳ thi tuyển sinh có thể được sử dụng để dự đoán kết quả của các sinh viên trong khóa học năm đầu tiên của họ
Với nhóm tác giả KUBANOVÁ, JANA, LINDA (2012) khi nghiên cứu
về mối quan hệ giữa kết quả kiểm tra khả năng học tập và kết quả học tập nghiên cứu tại Bohdan University of Pardubice trong hai năm 2010 và 2011
đã chỉ ra rằng mối tương quan không đáng kể được phát hiện giữa các kết quả trong học tập, kiểm tra khả năng và kết quả nghiên cứu Tương tự như vậy, hệ
số hồi quy có giá trị gần bằng không Sự phụ thuộc có liên quan giữa các bài kiểm tra khả năng học tập và kết quả nghiên cứu chưa được chứng minh và các giả thuyết
1.2.2 Những nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, có một số tác giả đã tiếp nối các nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên nhưng đây vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ
Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Quang Minh (2010) cho thấy mức độ tham khảo tài liệu, thời gian học ở lớp, thời gian tự học, điểm bình quân giai đoạn đầu, số lần uống rượu trong một tháng, điểm thi tuyển sinh có tác động đến kết quả học tập của sinh viên Còn nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Đình Thọ (2008) cho thấy động cơ của sinh viên tác động mạnh vào kiến thức thu nhận của họ, năng lực giảng viên tác động rất cao vào động cơ học tập và kiến thức thu nhận của sinh viên Võ Thị Tâm (2010) nghiên cứu sâu bốn biến tác động là động cơ học tập, phương pháp học tập, tính kiên định học tập, ấn tượng trường học và cạnh tranh trong học tập ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên Các nghiên cứu trên đóng góp đáng kể về lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở nước ta
Trang 36Với công trình nghiên cứu Nguyễn Thị Thùy Trang (2010) “Khảo sát mối quan hệ giữa thói quen học tập và quan niệm học tập với kết quả học tập của sinh viên đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh” đã khảo sát và phân tích mối quan hệ tác động của thói quen học tập và quan niệm học tập đến kết quả học tập của sinh viên Kết quả chính của nghiên cứu đã đạt được các mục đích mà đề tài nghiên cứu đã đưa ra, đó là chứng minh được có mối tương quan giữa quan niệm và thói quen học tập với kết quả học tập ở bậc đại học của sinh viên, đã khảo sát được sự khác biệt, mức độ ảnh hưởng của quan niệm và thói quen học tập đến kết quả học tập của sinh viên
Tác giả Mai Thị Quỳnh Lan và Nguyễn Quý Thanh trong nghiên cứu
“Tiếp cận lý thuyết về mối quan hệ giữa học vị giảng viên và kết quả học tập của sinh viên” đã chứng minh và đưa ra những kết luận có ý nghĩa khoa học Theo tác giả, các phẩm chất năng lực của thầy có ảnh hưởng tới kết quả học tập của trò Từ việc phân tích chi tiết các yếu tố từ giảng viên, thực nghiệm qua điều tra phân tích thống kê bằng bảng hỏi đối với mẫu là sinh viên tại Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả khẳng định các yếu tố thuộc về giảng viên như: Khả năng dạy học nói chung và trí thông minh; kiến thức chuyên ngành; kiến thức về dạy và học; kinh nghiệm của giảng viên; bằng cấp; các hành vi và thực hành của giảng viên có mối tương quan cao với kết quả học tập của sinh viên Công trình sẽ là tài liệu hữu ích trong định hướng nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu về tác động của một số yếu tố đến điểm tuyển sinh đại học, tác giả Đỗ Đình Thái (2011) khảo sát 1000 sinh viên ở các khối thi khác nhau
đã trúng tuyển vào đại học Sài Gòn các năm 2009, 2010 Trong nghiên cứu này tác giả đã tìm ra mối liên hệ giữa các yếu tố như thành tích học tập ở bậc phổ thông và điểm trung bình các môn; động cơ thi vào trường Đại học Sài
Trang 37Gòn; sự đầu tư cố gắng của cá nhân; môi trường gia đình… và tác giả đã đưa
ra những kết luận: kết quả học tập lớp 12 cao thì tổng điểm tuyển sinh đầu vào cao
Với tác giả Hoàng Thu Huyền (2012) đã tiến hành nghiên cứu mối tương quan giữa tự đánh giá bản thân và kết quả học tập của học sinh lớp 5 tại
Hà Nội Trong nghiên cứu tác giả đã điều tra thực trạng mối tương quan giữa
tự đánh giá bản thân và kết quả học tập của học sinh lớp 5 Đưa ra những kết luận và kiến nghị nhằm giúp các em học sinh có thể tự đánh giá bản thân phù hợp hơn, kết quả học tập tốt hơn Kết quả thu được sau 3 tháng nghiên cứu, tác giả nhận thấy có sự thay đổi yếu về mức độ tự đánh giá bản thân tổng thể
và sự thay đổi đáng kể về tự đánh giá bản thân khía cạnh thể chất của học sinh Tự đánh giá bản thân về gia đình và học đường - xã hội không thay đổi Mức độ tự đánh giá bản thân về mặt thể chất và tự đánh giá bản thân tổng thể
đã giảm đi sau 3 tháng từ đầu năm học đến cuối học kỳ 1 Kết quả này phần nào tương đồng với giả thuyết ban đầu của tác giả cho rằng có sự thay đổi về
tự đánh giá bản thân qua hai thời gian nghiên cứu cách nhau 3 tháng Bên cạnh đó, kết quả của đề tài còn chỉ ra rằng không có mối tương quan giữa tự đánh giá bản thân tổng thể, tự đánh giá bản thân về thể chất và học đường - xã hội ở cả hai lần nghiên cứu với kết quả học tập của học sinh lớp 5 tại Hà Nội Giữa tự đánh giá bản thân về gia đình lần 2 và kết quả học tập có tương quan yếu Điều này trái ngược với giả thuyết tác giả đặt ra ban đầu là có mối tương quan giữa tự đánh giá bản thân và kết quả học tập của học sinh lớp 5 Khi kiểm tra khả năng dự báo tự đánh giá bản thân của kết quả học tập, tác giả nhận thấy kết quả học tập không có khả năng dự báo tự đánh giá bản thân tổng thể, tự đánh giá bản thân về học đường - xã hội và thể chất của học sinh lớp 5 Tuy vậy, kết quả học tập có khả năng dự báo tự đánh giá bản thân về gia đình của các em với mức độ dự đoán yếu Qua phân tích mô hình tuyến
Trang 38tính chung, tác giả nhận thấy sự tương tác giữa một số yếu tố với kết quả học tập có thể dự báo ở mức độ yếu tự đánh giá bản thân của học sinh Cụ thể như sau: sự tương tác giữa giới tính và kết quả học tập có thể dự báo mức độ yếu
tự đánh giá bản thân tổng thể lần 2 của học sinh: với cùng một mức độ điểm
số nhưng ở hai giới khác nhau thì tự đánh giá bản thân lại trái ngược hoàn toàn với nhau; sự kết hợp giữa việc tham gia các hoạt động khác và điểm số
có thể dự báo ở mức độ yếu tự đánh giá tổng thể và tự đánh giá về học đường
- xã hội lần 2 của học sinh: khi kết quả học tập không được như mong đợi, học sinh đầu tư thời gian và năng lực cho những hoạt động khác để đảm bảo
tự đánh giá của mình không bị giảm sút khi kiểm tra ảnh hưởng
Tóm lại, qua những nghiên cứu trên ta thấy được những mối quan hệ và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của người học nói chung, được nhiều tác giả đề cập đến dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, cùng với các yếu tố tác động trên thì điểm thi tuyển sinh đầu vào cũng có những tác động lớn đến kết quả học tập của học sinh nhưng hiện này vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Vì vậy, tác giả đã chọn hướng nghiên cứu đi sâu về đánh giá mối tương quan giữa điểm thi tuyển sinh đầu vào với kết quả học tập của học viên Đề tài nghiên cứu này góp phần cung cấp cho nhà trường có thêm nguồn thông tin phục vụ việc nâng cao chất lượng đào tạo nói chung Mặt khác, đề tài còn cung cấp cơ sở để nhà trường triển khai công tác phát triển và nâng cao chất lượng các chương trình đào tạo bồi dưỡng của nhà trường theo Đề án “Quy hoạch tổng thể, nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong Công an nhân dân đến năm 2020” của Chính phủ
Kết luận chương 1: Trong chương này, tác giả đã tìm hiểu về các khái niệm cơ bản như: phân tích tương quan, giáo dục trung học phổ thông, hoạt động học tập, kết quả học tập, thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh Các khái niệm
Trang 39này là cơ sở lý luận để tác giả triển khai nghiên cứu Đồng thời, trong chương này tác giả đã tổng quan các nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước về phân tích tương quan trong giáo dục, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến điểm tuyển sinh, kết quả học tập của học sinh, sinh viên các nghiên cứu này giúp phần giúp tác giả định hướng nghiên cứu của mình
Trang 40CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Bối cảnh nghiên cứu
Trường Cao đẳng ANND II trực thuộc Bộ Công an, là cơ sở đào tạo Cao đẳng thuộc hệ thống giáo dục cao đẳng chuyên nghiệp của Nhà nước, chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chịu sự quản lý toàn diện của Bộ Công an và sự quản lý, chỉ đạo của Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân
Trường Cao đẳng ANND II đóng tại xã Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai có nhiệm vụ đào tạo cán bộ có trình độ Cao đẳng, trung cấp an ninh cho các tỉnh phía Nam từ Quảng Trị trở vào Đồng thời, được giao nhiệm vụ tiếp nhận đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng Công an Vương quốc Campuchia
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của Trường Cao đẳng ANND II
Đào tạo cán bộ có trình độ Cao đẳng và trình độ Trung cấp An ninh nhân dân về lĩnh vực phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia theo quy chế văn bằng của Nhà nước và quy định của Bộ trưởng Bộ Công an
Tổ chức nghiên cứu khoa học, biên soạn chương trình, giáo trình và tư liệu dạy học, cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy nhằm gắn nhà trường với thực tiễn công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng An ninh nhân dân
Thực hiện chỉ tiêu, kế hoạch đào tạo và tổ chức công tác tuyển sinh, chiêu sinh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ Giáo dục- đào tạo
Tổ chức thi tốt nghiệp, công nhận và cấp bằng cho những học viên tốt nghiệp theo quy chế; quyết định điều động học viên ra trường theo chỉ tiêu, kế hoạch của Bộ trưởng Bộ Công an