Đề tài cấp đại học. Tên đề tài: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng. Dành được số điểm xuất sắc là 96. Đề tài khẳng định thêm những thành tựu và đóng góp của Ma Văn Kháng trong nền Văn xuôi Việt Nam đương đại.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA VĂN – XÃ HỘI - -
PHẠM TRUNG TÌNH
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT
MỘT MÌNH MỘT NGỰA CỦA MA VĂN KHÁNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên, 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA VĂN – XÃ HỘI
- -
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT
MỘT MÌNH MỘT NGỰA CỦA MA VĂN KHÁNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Phạm Trung Tình Lớp: Cử nhân Văn học K9B Khóa: 2011 - 2015 Người hướng dẫn khoa học : TS Nguyễn Diệu Linh
Thái Nguyên, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng” là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
không sao chép của ai Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực
và chƣa đƣợc công bố trong công trình khác Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin đƣợc đăng tải trong các tác phẩm, tạp chí và các trang web đều đƣợc liệt kê theo danh mục tài liệu tham khảo Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả
Phạm Trung Tình
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp mới của đề tài 7
6 Bố cục của đề tài 7
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 9
1.1 Ma Văn Kháng- từ nhà giáo đến nhà văn 9
1.1.1 Vài nét về cuộc đời 9
1.1.2 Ma Văn Kháng: “Tôi viết như văng hòn đá ra khỏi tay” 10
1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 14
1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người ở đề tài miền núi 15
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người ở đề tài thành thị 18
1.3 Một mình một ngựa - cuốn tiểu thuyết mang dấu ấn tự truyện 21
1.3.1 Khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại 21
1.3.2 Một mình một ngựa - “đoạn đời mà bây giờ tôi mới viết” 23
Tiểu kết chương 1 26
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRONGTIỂU THUYẾT MỘT MÌNH MỘT NGỰA 27
2.1 Những cán bộ quả cảm, hết lòng vì cách mạng 27
2.1.1 Dũng cảm trước mọi thử thách 27
2.1.2 Sống nhiệt tình, hết lòng vì sự nghiệp chung 33
2.2 Những cán bộ có trình độ hạn chế, tha hóa 39
2.2.1 Sự hạn chế trong trình độ, nhận thức 39
2.2.2 Những cán bộ tha hóa, biến chất 44
2.3 Những người phụ nữ sống có đam mê 47
2.3.1 Đảm đang và giàu lòng yêu thương 47
2.3.2 Có khát vọng tình yêu và giàu bản năng tính dục 51
Tiểu kết chương 2 55
CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT 56
Trang 53.1 Miêu tả nhân vật qua ngoại hình 56
3.1.1 Bút pháp tượng trưng 56
3.1.2 Bút pháp tả thực 59
3.2 Nghệ thuật miêu tả nhân vật qua cử chỉ, hành động 64
3.2.1 Những hành động kiêu hùng 65
3.2.2 Những hành động đời thường 68
3.3 Miêu tả nội tâm nhân vật qua ngôn ngữ 71
3.3.1 Ngôn ngữ độc thoại 71
3.3.2 Ngôn ngữ đối thoại 75
Tiểu kết chương 3 77
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong lớp đại biểu tinh anh của nền văn học Việt Nam hiện đại sau
1975, Ma Văn Kháng là người đến muộn (so với Nguyễn Khải, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Minh Châu, ) Song với sức sáng tạo phi thường, lao động nghiêm túc, nhãn quan tinh tế để chắt chiu hương vị của đời Ma Văn Kháng
đã sớm tạo nên thương hiệu riêng, phong cách riêng cho mình bằng thể loại
truyện ngắn và định vị bản thân trong nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Đúng như GS Phong Lê nhận xét: “Có thể nói đến một thương hiệu Ma Văn
Kháng từ tiểu thuyết Mưa mùa hạ trở về sau, làm nên một dấu ấn riêng, khu
biệt với nhiều người Một chất liệu hiện thực kiểu Ma Văn Kháng Một cách khai thác kiểu Ma Văn Kháng Một giọng điệu riêng và ngôn ngữ riêng của
Ma Văn Kháng” [15] Và trên dưới 50 năm độc thiện kỳ thân, truân chuyên chìm nổi, Ma Văn Kháng đã trình làng một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ
với trên 200 truyện ngắn, 16 tiểu thuyết và mang về những thành công đáng khâm phục: Giải B Hội nhà văn Việt Nam năm 1986; giải thưởng Văn học ASEAN năm 1998; giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật đợt I năm
2001 Mới đây là giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội năm 2009 cho tiểu
thuyết Một mình một ngựa và đặc biệt là giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn
học - Nghệ thuật năm 2012 khi ở tuổi xưa nay hiếm
1.2 Nhân vật là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất của thể loại
tự sự Nó là “hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách
hình tượng” [21, 277], là trung tâm cho những đổi mới, cách tân về nghệ
thuật của nhà văn, là yếu tố giữ vai trò đặc biệt quan trọng được nhà văn dụng công xây dựng Một tác phẩm được đánh giá là thành công bởi những ám ảnh cuối cùng để lại trong lòng độc giả chính là thế giới nhân vật Và theo nhiều nhà nghiên cứu đánh giá: một trong những phương diện làm nên thành công cho những tác phẩm của Ma Văn Kháng chính là ở thế giới nhân vật phong
phú và đa dạng Vì lẽ đó, việc tìm hiểu thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Một
Trang 7mình một ngựa của Ma Văn Kháng là một thao tác có ý nghĩa rất thực tiễn để
từ đó khẳng định thêm thành công trong xây dựng nhân vật của nhà văn
1.3 Nghiên cứu thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Một mình một ngựa
là một việc làm cần thiết Tuy nhiên, cho đến nay hầu như chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ và sâu sắc về thế giới nhân vật trong tác phẩm này Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi
mạnh dạn đi tìm hiểu đề tài “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng” Thông qua đề tài này, chúng tôi mong muốn
làm rõ những trăn trở về cuộc sống và con người, đặc biệt là lớp cán bộ chính trị vùng cao trong những năm đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa Đồng thời góp một tiếng nói trong việc chỉ ra những thành công về nghệ thuật xây dựng nhân
vật trong tác phẩm Một mình một ngựa nói riêng và trong tiểu thuyết của nhà
văn Ma Văn Kháng nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu
Ma Văn Kháng là một trong những cây bút có nhiều đổi mới, cách tân mạnh mẽ cả về nội dung và nghệ thuật, phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi của nền văn học Việt Nam đương đại trong thời kỳ đổi mới và hội nhập Tác
phẩm của ông là “một nhát cắt ngang sắc gọn làm nổi rõ hình hài đời sống
trong những hình thái phong phú, phức tạp của nó” [11, 5]
Từ những tác phẩm đầu tiên: Đồng bạc trắng hoa xòe, Mưa mùa hạ,…
Ma Văn Kháng đã tạo được sự chú ý của đông đảo độc giả cũng như giới nghiên cứu, phê bình văn học trong và ngoài nước, làm cho đời sống văn học thêm sôi động Hàng loạt các bài nghiên cứu, tiểu luận - phê bình, phỏng vấn giới thiệu về tác phẩm của Ma Văn Kháng đã được đăng trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng Nhưng trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung, chú ý đến đến những bài, nghiên cứu viết xoay quanh hai vấn đề cơ bản sau:
2.1 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Ngay từ khi mới ra đời, tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe (1979) đã
tạo ra được các luồng tranh luận sôi nổi Đánh giá cách xây dựng nhân vật
Trang 8trong tác phẩm của Ma Văn Kháng GS Trần Đăng Suyền có những nhận xét
như sau: Bên cạnh “những nhân vật được Ma Văn Kháng xây dựng khá công
phu” thì còn vấp phải một vài hạn chế nhất định như“nhiều nhân vật trong
Đồng bạc trắng hoa xòe có hiện tượng hành động át tâm lý Cái mà ai đó gọi
là khám phá con người, là phép biện chứng tâm hồn, anh chưa làm được bao nhiêu” [29, 13]
Đến những tác phẩm sau này, Ma Văn Kháng đã tạo được những bước nhảy rất đáng ghi nhận Đó là sự cố gắng nhằm khắc phục những thiếu sót, hạn chế mà ông chưa làm được trong giai đoạn trước Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Huệ đã nhanh chóng có những bài viết để ghi nhận những thành công của Ma Văn Kháng trong việc cách tân thế giới nhân vật Theo bà: Nhân
vật của Ma Văn Kháng đã “phong phú đa dạng hơn, phức tạp hơn, không chỉ
có công nông binh mà còn có tầng lớp thị dân, đặc biệt là nhân vật trí thức đã như một ám ảnh khôn nguôi một trăn trở day dứt một ma lực có sức hút lớn đối với ngòi bút của Ma Văn Kháng” [23, 13]
Chúng tôi đặc biệt quan tâm, chú ý tới bài viết: Khi nhà văn đào bới bản
thể ở chiều sâu tâm hồn của PGS.TS La Khắc Hòa được đăng trên trang Phê bình văn học số tháng 10.2010 Ông đã đưa ra những đánh giá mang tính tổng
quan về cách xây dựng nhân vật nói chung trong văn xuôi Ma Văn Kháng, và
đặc biệt nhấn mạnh:“Nhân vật của Ma Văn Kháng dù phức tạp đến đâu, có
những biểu hiện phong phú như thế nào, sau khi tiếp xúc, ta có thể nhận diện được ngay nhân vật ấy thuộc hạng người nào, cao thượng hay đê tiện, độc ác hay nhân từ, ích kỷ hay hảo tâm” [45]
Ngoài ra không thể không điểm đến những công trình nghiên cứu có tính
hệ thống, bài bản về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng Trong
đó, phải kể đến luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Mai (2008), Những
chuyển biến trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới Ở luận văn này,
nhà nghiên cứu đã chỉ ra những chuyển biến về nội dung và hình thức nghệ thuật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới với những dấu hiệu và nguyên nhân dẫn tới sự chuyển biến ấy Đặc biệt là trong phần nội dung nhà
Trang 9nghiên cứu đã làm sáng tỏ những chuyển biến trong thế giới nhân vật của Ma Văn Kháng, từ hình tượng thế giới nhân vật trữ tình sử thi đến hình tượng thế giới nhân vật đa dạng trong xã hội thành thị
Tiếp đó là luận án Tiến sĩ của Dương Thị Thanh Hương (2014), Phong
cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng Luận án này là công trình khoa học đầu tiên
nghiên cứu chuyên sâu và đánh tổng quát về phong cách nghệ thuật của Ma Văn Kháng từ tác phẩm đầu tay cho đến những tác phẩm gần đây nhất Qua việc nghiên cứu phong cách tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nhà nghiên cứu đã làm rõ những vấn đề trong quan niệm nghệ thuật, kiểu nhân vật, bút pháp xây dựng nhân vật đến ngôn ngữ, giọng điệu trong các sáng tác của ông
Trong số những công trình bàn về thế giới nhân vật trong truyện ngắn
Ma Văn Kháng, đáng chú ý là luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Nga
(2007), Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng Đây là một công
trình nghiên cứu có cái nhìn tổng quan và sâu sắc về thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng Nguyễn Thị Phi Nga chỉ ra được cái thế giới nhân vật của Ma Văn Kháng ở nhiều góc độ, trong nhiều mối quan hệ: con người trước những giá trị tinh thần, vật chất; con người trước thời thế và hoàn cảnh; con người với cội nguồn, gốc rễ; con người của bản năng, của cõi đời trần tục và con người của thế giới tâm linh Từ đó nhà nghiên cứu đã cho người đọc thấy được quan niệm mới mẻ về con người và cái nhìn mang tính nhân sinh sâu sắc của nhà văn
Tóm lại, tất cả những nhận xét, đánh giá sâu sắc và khách quan về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng dưới những góc nhìn khác nhau, đều nhằm khẳng định những đóng góp và thành công của ông trong tiến trình phát triển của Văn học Việt Nam giai đoạn đương đại Trên tinh thần kế thừa những thành tựu của những người đi trước để lại, các công trình khoa học của các học giả, các nhà nghiên cứu trên đây sẽ là những gợi ý vô cùng quan trọng trong quá trình chúng tôi kiến giải đề tài
2.2 Tác phẩm Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng
Trang 10Thành công nối tiếp thành công khi vào tháng 10.2009 Ma Văn Kháng bất ngờ giành được giải nhất của Hội nhà văn Hà Nội cho tiểu thuyết thứ 14
Một mình một ngựa khi ở cái tuổi đã ngoại thất tuần Trước sự kiện này,
nhiều báo chí đã nhanh chóng giới thiệu tác phẩm một cách rộng rãi đến đông đảo học giả, song mới chỉ dừng lại ở tầm khái quát Phải đến nhà nghiên cứu
Đỗ Hải Ninh với bài viết: Khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng là bài viết đầu tiên có tính chất nghiên
cứu chuyên sâu về tiểu thuyết được đăng trên tapchisonghuong.com, số
250.2009
Đỗ Hải Ninh đã nhận xét rằng: Cuốn tiểu thuyết “không có nhiều đột
phá, cách tân trong nghệ thuật tự sự nhưng Một mình một ngựa với cách kể
chuyện hóm hỉnh, tạo được những điểm nhấn ấn tượng Đi từ cái cá thể đến tính phổ quát, với ý thức tạo dựng thế giới hình ảnh, Ma Văn Kháng đã đem lại cho câu chuyện kể về đời những màu sắc của tiểu thuyết trong sự kết hợp hài hòa với tự truyện” [43] Và Đỗ Hải Ninh cũng không ngần ngại khi chỉ ra
mặt hạn chế còn vấp phải trong tác phẩm:“Tuy nhiên, tác phẩm sẽ thành công
hơn nếu khai tác thác hết chiều sâu của nhân vật, chẳng hạn nhân vật Yên…đôi chỗ còn sa đà vào dẫn giải dài dòng khiến cho tác phẩm nghiêng về tính luận đề, lộ ý tưởng” [43]
Tiếp đó là bài viết: Một mình một ngựa đối mặt với sự tha hóa của học
giả Nguyễn Long Khánh được đăng trên chungta.com số tháng 12.2010
Nguyễn Long Khánh đã thấy được cái nhìn khách quan của Ma Văn Kháng trong tác phẩm, nhà văn tỏ ra như một viên công tố trong phiên tòa phán xử:
“Ngòi bút Ma Văn Kháng thể hiện cái nhìn nghiêm khắc, thấu lý đạt tình như viên công tố trong phiên tòa: anh mổ xẻ, phân tích đúng sai, cân đo giữa công
và tội bằng lý lẽ của cái đầu lạnh duy ý chí và trái tim nhân văn đậm tình người của mình” [42]
Qua khảo sát, chúng tôi ghi nhận được hai đề tài Khóa luận tốt nghiệp
đại học: Châu Thị Lu (2010), Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng và Nguyễn Thị Thúy Hà (2010), Ám ảnh về nỗi
Trang 11cô đơn trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng Ở đề tài
của Châu Thị Lu, chị đã phân tích các đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong tiểu
thuyết Một mình một ngựa ở các phương diện từ ngữ, câu văn, các biện pháp
tu từ nổi trội Còn ở đề tài của Nguyễn Thị Thúy Hà, chị đã chỉ ra một cách có
hệ thống về nỗi cô đơn trong tác phẩm qua hai phương diện chính: nhân vật
và ngôn ngữ, giọng điệu
Tựu chung lại, Một mình một ngựa là tiểu thuyết còn khá mới, các bài
viết liên quan đều mới chỉ mới dừng lại ở việc sơ lược, giới thiệu về tác phẩm Một vài bài mang tính chất nghiên cứu song cũng chỉ mới đi vào một khía cạnh của tác phẩm chứ chưa có một công trình nào tập trung, bao quát nghiên cứu về thế giới nhân vật trong tác phẩm này của Ma Văn Kháng Bởi
vậy lựa chọn đề tài “Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng” chúng tôi nhằm đưa ra cái nhìn thấu đáo và toàn
diện hơn về hệ thống nhân vật trong tác phẩm
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu những quan niệm nghệ thuật về con người của Ma Văn Kháng, bởi nó chi phối đến cách lựa chọn và xây dựng nhân vật trong tác phẩm của ông
- Khám phá hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết Một mình một ngựa
nhằm thấy được chiều kích tư tưởng, giá trị nhân văn, tư tưởng của Ma Văn Kháng
- Tìm hiểu những thủ pháp nghệ thuật được Ma Văn Kháng sử dụng trong việc việc xây dựng nhân vật trong tác phẩm
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn
Kháng
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Tiểu thuyết Một mình một ngựa (2010) của Ma Văn Kháng, 376 trang,
in lần thứ 3 do Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi có sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp: đây là phương pháp được chúng
tôi sử dụng một cách triệt để trong việc phân tích ngoại hình, hoàn cảnh, tính cách, tâm lý nhân vật Từ đó chỉ ra những đặc điểm nổi bật của nhân vật trong
tiểu thuyết Một mình một ngựa
4.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu: đây là phương pháp được sử dụng
để khu biệt những đặc điểm của các nhân vật trong tiểu thuyết Một mình một ngựa và những cách tân đổi mới của Ma Văn Kháng trong xây dựng nhân vật
so với những tiểu thuyết thuộc giai đoạn đầu Cũng trong phương pháp này chúng tôi còn đối chiếu cách xây dựng nhân vật của ông so với các nhà văn
cũng thời để thấy được các phong cách riêng của nhà văn
4.3 Phương pháp thống kê, phân loại: chúng tôi sử dụng phương pháp
này trong việc phân loại các loại hình nhân vật và các tài liệu liên quan
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp nghiên cứu hệ thống, phương pháp nghiên cứu loại hình,
phương pháp nghiên cứu đa ngành
5 Đóng góp mới của đề tài
- Khám phá hệ thống nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong
tiểu thuyết Một mình một ngựa
- Khẳng định thêm những thành tựu và đóng góp to lớn của Ma Văn Kháng trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại
- Góp thêm một tài liệu tham khảo cho những ai yêu thích những sáng
tác của Ma Văn Kháng nói chung và tiểu thuyết Một mình một ngựa nói riêng
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung của
đề tài được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề chung
Chương 2 Hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết Một mình một ngựa
Trang 13Chương 3 Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Ma Văn Kháng- từ nhà giáo đến nhà văn
1.1.1 Vài nét về cuộc đời
Ma Văn Kháng tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn, ông sinh ngày 01 tháng 12 năm 1936 tại một làng quê nghèo của phường Kim Liên, quận Đống
Đa, ngoại thành Hà Nội (nay là phường Phương Liên, quận Ba Đình, Hà Nội) Ông sinh ra trong một gia đình hiếu học, cùng với tư chất thông minh, ham tìm tòi học hỏi nên ngay từ thuở thiếu niên, Ma Văn Kháng đã tham gia quân đội và được cử đi học ở khu học xá Nam Ninh, Trung Quốc
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta giành thắng lợi vang dội, hòa bình lập lại trên miền Bắc, theo tiếng gọi của Đảng, của Tổ Quốc, người thanh niên Đinh Trọng Đoàn tạm biệt quê hương và gia đình xung phong lên vùng Tây Bắc rồi được cử về dạy học ở trường trung học
cơ sở Lào Cai Đây là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động
của Ma Văn Kháng mà như ông tâm sự:“Tôi ra đi theo biến cố của mốc lịch
sử hào hùng năm 1954, mở đầu thời kỳ hòa bình lập lại, thế hệ thanh niên miền Bắc theo tiếng gọi của những Đan cô, Paven Cooxaghin mang sứ mệnh cao đẹp đi đến những vùng khó khăn nhất của đất nước Sống nhiệt thành, lửa dân tộc bùng lên, đi như viên đạn thẳng đầu” [24, 19]
Năm 1960, Ma Văn Kháng “xuống núi” chuyên tu tại trường Đại học
Sư phạm Hà Nội Sau khi tốt nghiệp, ông tiếp tục trở về dạy học ở Lào Cai và lần lượt kinh qua nhiều cương vị công tác như: Hiệu trưởng trường trung học
cơ sở, trung học phổ thông Lào Cai Một thời gian sau ông được điều về làm thư ký cho Bí thư tỉnh ủy Trường Minh, rồi làm phóng viên, Phó Tổng biên tập báo Đảng bộ tỉnh
Lào Cai - miền xứ lạnh tình nồng, là nơi dừng chân của nhiều bộ tộc trong các cuộc thiên di bi tráng từ nhiều thiên niên kỷ trước đây Hai mươi năm gắn bó với con người và thiên nhiên miền sơn cước đã giúp Ma Văn
Trang 15Kháng am hiểu lối sống, phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu
số Bút danh họ Ma đã phần nào nói lên lòng biết ơn, sự gắn bó, tình yêu thương của nhà văn đối với miền biên giới xa xôi nhưng ấm áp tình người này Tình yêu, sự gắn bó ấy đã khơi nguồn cảm hứng đưa Ma Văn Kháng từ nghề giáo đến với nghề báo, nghề văn
Tháng 4/1976, Ma Văn Kháng rời Lào Cai về Hà Nội công tác với tư cách là một nhà văn chuyên nghiệp Ông lần lượt nắm giữ những cương vị quan trọng như: Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao động Từ tháng 03/1995 Ma Văn Kháng là Ủy viên ban chấp hành, Ủy viên Đảng đoàn Hội nhà văn khóa V, Tổng Biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài và Trưởng ban sáng tác của Hội Trải qua nhiều bước thăng trầm cùng lịch sử, dù ở bất
kỳ cương vị công tác nào Ma Văn Kháng cũng đều hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao và luôn gần gũi, hòa đồng với mọi người, điều đó làm ông luôn hiện lên thật đẹp trong suy nghĩ của bạn đọc cũng như đồng nghiệp
Trong cuộc hành trình vạn dặm của cuộc đời, Ma Văn Kháng đã luôn cần
cù, bền bỉ, chắt chiu những “tài liệu sống” để làm giàu vốn hiểu biết và làm nên
những tác phẩm sống với đời của mình Đồng bạc trắng hoa xòe, Đám cưới không có giấy giá thú, Vùng biên ải,…là những trang văn mang được hơi thở
đậm đà của cuộc sống, đặc biệt là qua thế giới nhân vật, Ma Văn Kháng đã dựng lên được nhiều hạng người, mang những phẩm chất và tính cách khác nhau
1.1.2 Ma Văn Kháng: “Tôi viết như văng hòn đá ra khỏi tay”
Trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, Ma Văn Kháng luôn quan
niệm: “Công việc văn chương không đơn giản chỉ là tài năng mà còn là sự
vật lộn, trăn trở, nghiền ngẫm, từng trải, luôn canh cánh trong lòng như mắc
nợ với đời Văn chương phải tự nhiên như đời sống, phải tác động đến đời sống tâm tư tình cảm của mỗi cá nhân con người, cái viết ra phải làm cho con người hoặc sung sướng đến phát điên hoặc đau đớn quặn thắt đến từng khúc ruột, hoặc ngẩn ngơ như một kẻ mắc bệnh trầm cảm” [23, 25] Thế mới đủ
thấy công sức, tâm huyết của nhà văn thật không nhỏ trên hành trình sáng tạo nghệ thuật Đúng như nhà văn Nga vĩ đại Mác-xim Gooc-ki đã nói: Nghề viết
Trang 16văn là một nghề cực nhọc nhất trên thế gian này, và những ai dấn thân vào nghề cầm bút vì cho rằng đó là nghề nhàn nhã nắng không đến đầu, mưa không đến mặt thì thật là một nhầm lẫn to lớn Nghề viết văn chính xác là một nghề nặng nhọc nhất thế gian, chỉ sau nghề phu mỏ
Không giống như nhiều nhà văn cùng thời, Ma Văn Kháng chạm tay đến thành công bằng con đường sáng tác văn chương khá muộn Thế nhưng, nếu lần theo những trang hồi ký của Ma Văn Kháng, có thể thấy tác giả biểu lộ tình yêu đối với văn chương từ rất sớm (từ thời trung học) Tác phẩm đầu tay
mang tên Phố cụt (1961) ra đời chưa để lại nhiều dấu ấn trong lòng người đọc Chỉ khi Xa Phủ (1969) ra đời và giành được giải Nhì (không có giải
Nhất) trong cuộc thi truyện ngắn của Tuần báo Văn nghệ được coi là đánh dấu bước khởi đầu cho sự nghiệp văn chương của Ma Văn Kháng Kể từ đó đến nay, ông lần lượt cho ra đời hàng loạt tập truyện ngắn viết về đề tài miền biên ải, ca ngợi những con người thuần hậu, chất phác, giàu lòng nhân ái, yêu
tự do chính nghĩa, góp phần không nhỏ trong công cuộc giải phóng quê
hương: Mùa mận hậu (1972), Người con trai họ Hạng (1972), Cái móng ngựa (1974), Vệ sĩ của quan Châu (1988),
Tiểu thuyết Gió rừng (1976) là “đứa con tinh thần đầu lòng” của Ma Văn Kháng, nhưng chỉ đến Đồng bạc trắng hoa xòe (1979) được viết “với
nỗi đam mê tưởng đến điên rồ của cả thể xác lẫn tinh thần” ông mới cho rằng
mình thực sự đứng trong làng văn, đã phần nào trả được món nợ cho nơi nặng
tình, nặng nghĩa và che chở, đùm bọc cho ông suốt một thời gian dài Đồng bạc trắng hoa xòe là bức tranh bi tráng, lung linh màu sắc của thiên nhiên và
con người miền sơn cước trong công cuộc đấu tranh giải phóng quê hương
dưới sự lãnh đạo của các cán bộ cách mạng Vùng biên ải (1983) là sự tiếp
nối chặng đường đấu tranh để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của các đồng bào dân tộc miền núi nhưng chuyển sang một giai đoạn mới với nhiều khó khăn
và phức tạp hơn Trăng non (1984) miêu tả công cuộc xây dựng kinh tế mới
trên mảnh đất nghèo nàn, lạc hậu của đồng bào miền núi tuy chiến tranh đã lùi
xa Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001) viết về bản lĩnh kiên cường của thầy giáo
Trang 17Khiêm, người đã bỏ bao công sức, tâm huyết, quyết tâm cải tạo và xây dựng
“lâu đài văn hóa” ở một nơi còn nghèo nàn, xa xôi, hẻo lánh
Trong số những cuốn tiểu thuyết trên thì Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải và Gặp ở La Pan Tẩn được coi là bộ ba tiểu thuyết (Chữ của
PGS Nguyễn Ngọc Thiện) rất có giá trị tạo thành một bức tranh hoàn chỉnh trong sáng tác về đề tài miền núi của Ma Văn Kháng
Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, Ma Văn Kháng chuyển hẳn về Hà Nội công tác Ông đã hòa nhập rất nhanh với cuộc sống nơi đô thị Nhà văn vẫn tiếp tục theo đuổi sự nghiệp văn chương của mình và gặt hái được rất nhiều thành công với những tác phẩm mang đậm hơi thở của cuộc
sống thành thị thời kỳ đổi mới Tiểu thuyết Mưa mùa hạ (1982) xuất hiện đã
đánh dấu bước chuyển biến đầu tiên trong sáng tác của Ma Văn Kháng ở đề tài thành thị Tác phẩm ngay lập tức đã gây được sự ngỡ ngàng, xôn xao trong
dư luận về cả đề tài lẫn những vấn đề được đề cập trong tác phẩm Trong tác phẩm này, Ma Văn Kháng đã để cho hai nhân vật chính của ông một người chết vì bạo bệnh, một người thì hy sinh thân mình che chắn cho con đê Họ đều là những người tốt và mang trong mình những khát vọng của tuổi trẻ thế
nhưng lại có một kết cục thật buồn, bi thảm Bởi vậy, tiểu thuyết Mưa mùa
hạ ra đời đã mang trong mình những dấu hiệu của sự bất thường và gây được
chú ý bởi những nguyên nhân: Thứ nhất, Ma Văn Kháng là một nhà văn chuyên sáng tác những đề tài thuộc về cuộc sống và con người miền biên ải nay bỗng nhiên chuyển sang đề tài thành thị với bút pháp rất tự nhiên, cuốn hút; Thứ hai, những con người tốt, lương thiện trong tác phẩm lại có cái kết cục buồn và bi thảm Điều này đã phá vỡ những quan niệm truyền thống trước kia, khi cho rằng: ở hiền thì sẽ gặp lành và những người tốt sẽ có một kết cục rất hậu
Những tiểu thuyết kế tiếp Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Ngược dòng nước lũ (1999) đã khẳng định
thời kỳ chín muồi của tài năng và đỉnh cao của bút lực sung mãn trong sáng tác của Ma Văn Kháng Những tác phẩm này vẫn tiếp tục mạch cảm xúc về
Trang 18đề tài thành thị song những con người tha hóa với số phận bi kịch đã được Văn Kháng nâng lên ở mức độ cao hơn bằng bút pháp tinh tế, sáng tạo và càng khẳng định ngòi bút thẳng thắn vạch trần vấn đề đạo đức tha hóa trong
xã hội buổi giao thời
Gần đây, Ma Văn Kháng tiếp tục khuấy động đời sống văn học đương
đại bằng việc cho ra đời hàng loạt những tập truyện ngắn: Trăng soi sân nhỏ (1994), Cuộc đấu của gà chọi (2005), Mùa thu đảo chiều (2012) và các tiểu thuyết: Trốn nợ (2008), Một mình một ngựa (2009), Bến bờ (2011), Bóng đêm (2011), Chuyện của Lý (2014) Đây là những tác phẩm có giá trị,
mang tính thời sự và có ý nghĩa lớn đối với người đọc, cuộc sống hôm nay Văn học là nhân học và sứ mệnh của văn học là phải làm cho con người trở nên người hơn Muốn làm được như vậy, nhà văn sẽ không cầm bút chỉ vì mục đích kiếm kế sinh nhai mà còn bằng cái lòng yêu nghề, đồng thời phải tự thấy có trách nhiệm với cuộc sống và con người Đặc biệt, bằng ngòi bút của mình, nhà văn còn phải làm cho văn chương trở nên gần gũi, giản dị, thân thuộc như cuộc sống vốn có của nó Ma Văn Kháng là một nhà văn cầm bút như thế Khi đã ở cái tuổi 75, với 3 cái stent trong ngực, sống chung với thuốc
và những cơn đau trong căn nhà nhỏ trên phố Nguyễn Chí Thanh, song ông vẫn sung sức, dẻo dai và cho ra đời những tác phẩm thật tự nhiên và thân thiết
trước bạn đọc mà như Ma Văn Kháng chia sẻ: Tôi viết như văng hòn đá ra
khỏi tay Đó là cách viết rất tự nhiên và rất bản năng, đưa văn chương trở về
thật gần gũi, thật giản dị, thật dễ tiếp cận Theo chúng tôi, có nhiều lý do để lý giải lời chia sẻ về cách viết văn rất tự nhiên này của nhà văn, song về cơ bản
có thể hiểu:
Thứ nhất, Ma Văn Kháng là nhà văn có một vốn sống dầy dặn của sự từng trải, thực tế tuổi đời từ những năm xê dịch đã bồi đắp cho ông vốn tư
liệu sống vô cùng quý báu, một kho chữ thật rủng rỉnh để tiêu dùng (Chữ của
GS Phong Lê) cho suốt cuộc đời cầm bút
Thứ hai, bản lĩnh và tài năng của nhà văn đã giúp ông hòa nhập với thời cuộc, nắm bắt được mạch nguồn của sự chuyển động vô cùng mạnh mẽ, đa
Trang 19dạng đang diễn ra từng ngày và quan trọng hơn là từ sự đa dạng, phức tạp đó lại đưa nó về gần gũi và thân thiết trước bạn đọc
Ma Văn Kháng - lão nhà văn có sức viết dồi dào, sung mãn và dẻo dai của làng văn tự sự Việt Nam Sự nghiệp văn chương của ông kinh qua hai giai đoạn và gắn liền với hai mảng đề tài chính: đề tài miền núi với cảm hứng sử thi và đề tài thành thị với cảm hứng thế sự đời tư Và ở đề tài nào Ma Văn Kháng cũng gây được những điểm nhấn ấn tượng bằng những tác phẩm đánh rất trúng và đúng những vấn đề bóng nỏng của thời đại Bởi vậy, dễ hiểu tại sao Ma Văn Kháng luôn là một hiện tượng văn học độc đáo được dư luận bạn đọc quan tâm, một đối tượng thu hút được nhiều ý kiến đánh giá, tranh luận của giới phê bình văn học
1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng
Quan niệm nghệ thuật về con người được xem là “toàn bộ cái nhìn và
sự miêu tả về con người bằng các biện pháp nghệ thuật” [54] Ở các nhà văn,
sự hình thành quan niệm nghệ thuật có một vai trò đặc biệt quan trọng trong
cá tính sáng tạo, thế giới quan, tư tưởng nghệ thuật của nhà văn và nhất là chi phối cách xây dựng thế giới nhân vật của nhà văn
GS Trần Đình Sử khi bàn về quan niệm nghệ thuật về con người cho
rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm
hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình” [56]
Nhưng mọi cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ đến cách cắt nghĩa lý giải
về con người của nhà văn đều bị chi phối bởi điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội của thời đại mà nhà văn sinh sống Không chỉ vậy, quan niệm nghệ thuật
về con người còn mang những dấu ấn sáng tạo riêng trong tư duy nghệ thuật,
lý tưởng thẩm mỹ, và cá tính sáng tạo nên mỗi nhà văn lại có một quan niệm
về con người khác nhau
Với mỗi nhà văn mà quá trình sáng tác trải dài qua các giai đoạn thì quan niệm nghệ thuật về con người cũng có nhiều biến đổi Qúa trình này diễn ra từ từ, thấm dần, ngấm dần trong tư tưởng và suy nghĩ của mỗi nhà văn
Trang 20và được thể hiện trên trang viết Ma Văn Kháng cũng không nằm ngoài trường hợp này Quá trình sáng tác của Ma Văn Kháng được chia thành hai giai đoạn, nó ứng với những biến đổi trong đề tài và cảm hứng sáng tác của ông, từ đề tài miền núi với cảm hứng sử thi sang đề tài thành thị với cảm hứng thế sự và đời tư Bởi vậy quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết
Ma Văn Kháng có sự thống nhất trong đề tài và cảm hứng sáng tác của nhà văn
1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người ở đề tài miền núi
Ma Văn Kháng không phải là người đầu tiên khai thác đề tài về con người và cuộc sống miền núi Trước Ma Văn Kháng đã có Tô Hoài, Thế Lữ, Lan Khai,…với những truyện ngắn rất xuất sắc về mảng đề tài này Song bản chất của văn chương là: khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có Thế nên, một nhà văn có ý thức, trách nhiệm với ngòi bút của mình như Ma Văn Kháng sẽ không thể chấp nhận hành trình sáng tạo văn chương lại dẫm trên dấu chân của những người đi trước Và Ma Văn Kháng nhận thấy: nếu các nhà văn tiên phong, họ viết về đề tài miền núi bằng thể loại truyện ngắn, thì ông sẽ là một trong những nhà văn tiên phong đến với đề tài này bằng thể loại tiểu thuyết, một thể tài có tầm vóc để khái quát một hiện thực rộng lớn và có ý nghĩa lịch sử như vùng đất Lào Cai Chọn được mảnh đất đắc địa để đặt bút, với sự quan sát tinh tế Ma Văn Kháng đã đưa ra những quan niệm riêng để xây dựng nên những hình tượng nhân vật độc đáo, trong
đó có quan niệm con người với số phận bị kịch, con người bản năng, con
người tha hóa tiêu cực và con người lương thiện
Ở con người với số phận bi kịch, Ma Văn Kháng đã đặt con người trong mối quan hệ với hoàn cảnh, chính trị xã hội vùng Tây Bắc trong những năm chiến tranh và xây dựng xã hội mới Trong hoàn cảnh chiến tranh, nhiều thế hệ người miền núi yêu nước nhưng vẫn không tìm ra được con đường đi đúng đắn Họ hoài nghi tất cả và rơi vào cô đơn, đau đớn, bế tắc Bi kịch này thường rơi vào những người thuộc vào thế hệ cũ, như hố pẩu Giàng Lầu, cha
của Pao trong Đồng bạc trắng hoa xòe
Trang 21Bi kịch hôn nhân và tình yêu là kiểu bi kịch thường gặp trong các tiểu thuyết viết về đề tài miền núi của Ma Văn Kháng Nhà văn đã tô đậm số phận của những người phụ nữ, làm nổi bật lên nỗi đau cả về thể xác lẫn tinh thần
của họ: Seo Mùa trong Đám cưới không có giấy giá thú; Pàng trong Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải,…
Số phận của những con người miền núi nói chung là khốn khổ Thế giới của họ từ sơ khai đến hiện tại là nơi ngự trị của những hoang sơ rừng rú
Họ không chỉ thiếu thốn về vật chất mà còn gắn với trình độ văn hóa và giới hạn văn minh thấp kém, kiềm chế sự phát triển Ma Văn Kháng đã cắt nghĩa
và lý giải nguyên nhân dẫn đến tình trạng bi kịch trên, chủ yếu là do sự thống trị của thế lực phong kiến với nhiều luật lệ hà khắc, nhiều hủ tục lạc hậu, là sản phẩm đặc thù do trình độ sinh ra, cản trở bước đi tự giải phóng mình của
họ và khiến họ chìm đắm trong những bi kịch
Thứ hai là quan niệm về con người bản năng Con người bản năng là con người được tự nhiên hóa, sống thiên về vô thức và ít nhiều có tính chất dị thường, là sản phẩm của lối sống hoang dã và mê muội: Châu Quán Lồ trong
Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải; Giàng A Lử trong Vùng biên ải…
Ma Văn Kháng đã từng viết: “Con người là sự tổng hòa lý trí với bản
năng” Tức là Ma Văn Kháng thừa nhận mặt bản năng bên trong mỗi con
người Nó là sự thống nhất giữa phần “con” và phần “người” Khám phá đời
sống con người bản năng, Ma Văn Kháng đặc biệt chú trọng tới bản năng tính dục trong họ Tính dục trở thành một bản năng luôn trỗi dậy trong đời sống và xuất hiện trong nhiều tác phẩm của nhà văn Khi viết về những con người bản năng, Ma Văn Kháng muốn thức tỉnh họ, đưa họ về với cuộc sống theo đúng nghĩa của khuôn mẫu đạo đức xã hội
Trong hầu hết các tiểu thuyết viết về đề tài miền núi của Ma Văn Kháng, nhân vật của ông đều có sự phân tuyến đối lập rất rõ rệt: thiện, ác hoặc tốt, xấu
Và ở miền núi, nhân cách con người phát triển, giao lưu về cơ bản là trong một những hoàn cảnh đầy hỗn tạp và những con người nơi đây thì luôn phải gồng mình để chống đỡ với những thế lực đen tối Những thế lực đen tối đó chính là
Trang 22các thổ ty, trùm phỉ với bản chất tha hóa, tiêu cực đã luôn tìm cách chiếm lĩnh và phủ đầu lên những con người ở cái vùng đất tội nghiệp này Đó là thổ ty Hoàng
Văn Chao, La Văn Đờ, Nông Vĩnh Yêng trong Đồng bạc trắng hoa xòe
Khi viết về những con người tha hóa ở đề tài miền núi, Ma Văn Kháng còn đặc biệt đi sâu phản ánh sự xuống cấp về mặt đạo đức của bộ phận trí thức trong xã hội lúc bấy giờ Nhiều người trí thức ngang nhiên thực hiện những hành động thấp hèn, vi phạm đạo đức xã hội mà không hề do dự, day
dứt Quốc Thanh trong Gặp gỡ ở La Pan Tẩn, là đặc phái viên huyện ủy Xin
Ma Chải song lại là một kẻ ti tiện trong cả lối sống, sinh hoạt và ăn ở Những
ám ảnh về sự tha hóa của một bộ phận quan chức, trí thức vẫn còn day dứt người đọc cho đến ngày hôm nay và sẽ được Ma Văn Kháng tiếp tục giải quyết ở đề tài thành thị với cảm hứng thế sự đời tư
Cuộc sống bao giờ cũng có hai mặt, bên cạnh những con người tha hóa, tiêu cực, với sắc màu đen tối, bi kịch thì còn có những con người lương thiện
với tình cảm xúc động, cao đẹp như một dòng suối mát lạnh, như một “mùa
thu đảo chiều” xua tan đi những oi bức ngột ngạt của mùa hè nắng cháy và
khơi dậy niềm tin, ước mơ của vào một xã hội mới với những con người tốt đẹp hơn Đó cùng là mục đích cao cả mà văn học luôn hướng tới
Viết về những con người lương thiện với giọng điệu ca ngợi, Ma Văn Kháng đã làm ánh lên những con người miền núi lương thiện với những phẩm chất đôn hậu, chất phác và một lòng một dạ đi theo cách mạng, tạo thành một sức mạnh to lớn để đánh đuổi Quốc dân đảng, diệt trừ bọn thổ phỉ Đó là Pao
trong Đồng bạc trắng hoa xòe, Thiêm trong Gặp gỡ ở La Pan Tẩn…
Trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, bên cạnh những nhân vật đê tiện,
bỉ ổi, thú tính mang những lối sống bản năng, tầm thường, vô thức thì nhà văn còn khám phá ra tình người ở nhiều nhân vật Họ là điểm sáng, là điểm tựa tinh thần, là ngôi sao dẫn đường chỉ lối để đồng bào thoát khỏi những u mê tăm tối của hoàn cảnh Họ tồn tại giữa cuộc đời đầy cạm bẫy bon chen mà không bị ô uế, vấy bẩn Họ là minh chứng cho sự tồn tại vững bền của cái đẹp, cái thiện
Trang 231.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người ở đề tài thành thị
Từ sau năm 1986, văn xuôi Việt Nam vận động và phát triển với một tinh thần hoàn toàn mới Dưới ánh sáng của nghị quyết Đảng cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới và kiện toàn công tác văn học – nghệ thuật đã diễn
ra với một tinh thần dân chủ Cùng với sự chuyển biến chung của văn học nước nhà, Ma Văn Kháng cũng có những thay đổi lớn trong sự nghiệp cầm bút của mình Bên cạnh sự chuyển biến trong đề tài, cảm hứng sáng tác thì
Ma Văn Kháng đã có những cái nhìn hoàn toàn mới mẻ trong quan niệm nghệ
thuật về con người: Con người với số phận bi kịch, con người tha hóa, con
người vị tha
Ở những trang tiểu thuyết viết về đề tài thành thị, Ma Văn Kháng đặc biệt quan tâm tới số phận bi kịch của lớp người tri thức trong thời kỳ mới Nhà văn coi nó như một ám ảnh khôn nguôi, trăn trở day dứt, như một ma lực thu hút nhà văn phải quan tâm, đi vào tìm hiểu, khám phá Nhân vật trí thức trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng giai đoạn này được chia làm hai tuyến rõ rệt
Nhà nghiên cứu Trần Thị Phi Nga gọi họ là những nhân vật trí thức chân
chính và nhân vật đội lốt trí thức
Nhìn chung, trong tất cả các tác phẩm, ngòi bút của Ma Văn Kháng
thường nghiêng về phía các nhân vật trí thức chân chính: Tự trong Đám cưới không có giấy giá thú; Khiêm trong Ngược dòng nước lũ Họ đều cố gắng
sống chân thành với những người xung quanh, đề cao chuẩn mực đạo đức truyền thống, nhưng lại không có được phút giây thanh thản Họ sống hướng nội và vì thế mà họ trở thành những con người cô đơn ngay trong chính ngôi
nhà của mình và bi kịch đến với họ Tự mang một bi kịch của “một cuốn sách
hay để nhầm chỗ, một bữa tiệc dang dở, một đám cưới không thành” Còn với
Khiêm, trước sự phản bội của vợ, sự trở mặt của đồng nghiệp, anh phải trở về quê tìm đến sự yên tĩnh, hạnh phúc… Tất cả họ đều phải chịu những nỗi đau
cả về thể xác lẫn tinh thần
Bên cạnh những nhân vật trí thức chân chính như đã tìm hiểu ở trên, tiểu thuyết Ma Văn Kháng còn có những chân dung nhân vật đội lốt trí thức
Trang 24Loại nhân vật này rất đa dạng về nghề nghiệp và chức danh Đó là những con
người bất tài, vô dụng, độc ác như ông Chánh, Hưng, Tiến…trong Mưa mùa hạ; những con người dốt nát, cậy quyền, mưu mô như Lại, Cẩm, Dương,…trong Đám cưới không có giấy giá thú; những con người dung tục, thô bỉ như Phô, Khoái, Liều Phù,…trong Ngược dòng nước lũ… Dường như
Ma Văn Kháng quan niệm, đã là cái xấu thì không thể chạm đến cái đẹp Bấy nhiêu con người ấy đã xấu là xấu từ trong ra ngoài, từ trong lịch sử bản thân đến hành vì biểu hiện Chỉ cần qua một nét ngoại hình, lời nói, hành động là
có thể nhận ra bản chất thật trong họ Hơn thế, khi miêu tả, khám phá những con người này, Ma Văn Kháng thường đặt họ trong mối tương quan với những nhân vật trí thức chân chính Đặt cái xấu bên cạnh cái đẹp để cho chúng tự soi chiếu cho nhau
Đời sống xã hội những năm 80 có nhiều biến đổi, vì thế con người cũng phải thay đổi để phù hợp với cuộc sống mưu sinh Nhưng đáng buồn thay là
có không ít những con người đã không giữ được mình, không còn làm chủ được nhân cách và phẩm giá của mình, họ bất chấp dư luận, sống thoát ly đạo đức truyền thống, nên bị sa ngã, tha hóa theo vòng xoáy của nền kinh tế thị trường Con người tha hóa đã từng xuất hiện trong những trang tiểu thuyết xuất sắc viết về đề tài miền núi của Ma Văn Kháng, và đến đề tài thành thị nó tiếp tục được ông đào sâu, giải quyết tiếp
Vô số những con người có bản tính lương thiện đã bị bào mòn bởi hoàn cảnh Sự hấp dẫn của cuộc sống vật chất, cái cảm giác thoải mái tức thời nó
đem lại đã khiến cho con người thay đổi ghê gớm: Loan trong Mưa mùa hạ; Xuyến trong Đám cưới không có giấy giá thú…
Những người phụ nữ sa ngã trong tiểu thuyết thế sự của Ma Văn Kháng hầu hết đều ngoại tình và phản bội chồng, hay phản bội người yêu Nghĩa là sự
sa ngã của họ không chỉ vì ham muốn vật chất đơn thuần mà còn nghiêng về tình dục, cảm xúc bản năng của con người Nhiều người đã sẵn sàng bỏ chồng,
bỏ con để đi theo tiếng gọi của tình yêu Trong con người họ chỉ có khát vọng sống cho chính mình, cho chính những khát vọng của bản thân mà thôi
Trang 25Mỗi người một dáng vẻ, mỗi người sa ngã vì một lí do riêng: Loan sa ngã bởi sức hấp dẫn của cuộc sống vật chất; Xuyến, sa ngã bởi hoàn cảnh cuộc sống quá khó khăn Họ đã từng là những con người với những tính cách nổi bật như khôn ngoan, sắc sảo, cực kỳ nhạy cảm với đời sống nhưng sức đề kháng của họ lại quá yếu ớt để có thể kháng cự trước những ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường
Trong tiểu thuyết thế sự của Ma Văn Kháng, người đọc không khỏi băn khoăn khi tiếp cận với những con người tha hóa, bởi đó là hiện thân của sự sa sút, băng hoại đạo đức, phẩm giá con người Dẫu thực tại đã xảy ra bao điều chua xót, nhưng Ma Văn Kháng đã không bi quan, không mất niềm tin ở con người và ông đã lấy lại được trạng thái cân bằng bởi sự xuất hiện của những con người có tấm lòng nhân ái Trước lối sống thực dụng, nhiều người bị phụ thuộc bởi vật chất, quyền lực thì chính những con người này vẫn mang trong mình một tấm lòng vị tha, nhân hậu, lối sống trọng tình, trọng nghĩa và giàu đức hy sinh Cuộc sống hôm nay là những giằng co thầm lặng về nhiều giá trị,
là sự định hình trong thử thách những khuôn phép con người, những con người
ấy đã giữ gìn mình, ít bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh xô bồ, ồn ã bên ngoài: Đối
lập với Lý trong Mùa lá rụng trong vườn chỉ biết khao khát cái tầm thường,
tham lam quá quắt, Phượng hiện lên đằm thắm dịu dàng, giàu lòng yêu thương, biết hy sinh, nhường nhịn và chia sẻ
Cuộc sống chất đầy những lừa lọc, dối trá đè nặng lên vai mỗi con người Với sự hiện diện của những con người có tấm lòng nhân ái tác giả muốn khẳng định rằng trên cuộc đời vẫn còn nhiều lắm những tấm lòng yêu thương mà không một thế lực nào có thể dập tắt được Dù xã hội thế nào thì trong lòng mỗi con người chúng ta luôn tồn tại một phần tốt đẹp Tác giả đã xây dựng những người này bằng một tình cảm yêu thương sâu lắng với con người, với cuộc đời nên đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc tốt đẹp bởi họ là những con người góp phần nâng đỡ tâm hồn cũng như nhân cách của mỗi con người Hướng con người về với cái thiện, cái đức độ, với những
Trang 26giá trị đạo đức truyền thống, văn hóa cội nguồn chính là thành công của Ma Văn Kháng
1.3 Một mình một ngựa - cuốn tiểu thuyết mang dấu ấn tự truyện
1.3.1 Khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Những nỗ lực cách tân nghệ thuật và quy luật giao thoa thể loại trong văn học đương đại cùng với sự trỗi dậy mạnh mẽ của ý thức cá nhân đã làm xuất hiện khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Theo quan niệm truyền
thống: “Tiểu thuyết tự truyện là thể loại tự kể chuyện đời mình một cách chân
thực khách quan và không được phép hư cấu” [44] Thế nhưng, về nội hàm tự truyện đã khó có thể đạt được sự khách quan và chân thực, nói chi là tiểu thuyết tự truyện, một thể loại luôn hàm chứa nhu cầu hư cấu Bởi vậy quan
niệm về tiểu thuyết tự truyện đã được bổ sung và nới rộng thêm: “Tiểu thuyết
tự truyện là dạng tiểu thuyết sử dụng kỹ thuật tự hư cấu hay sự kết hợp của tự thuật và những yếu tố hư cấu” [44] Như vậy, yêu cầu không được phép hư cấu không còn là quy tắc bất biến đối với tiểu thuyết tự truyện ngày nay
Trên thế giới, dòng tiểu thuyết tự truyện đã xuất hiện từ rất sớm, ngay
từ cuối thế kỉ XVIII, các nhà văn lãng mạn Tây Âu đã sử dụng những yếu tố đời tư của bản thân như một chất liệu để sáng tác, sau đó nó tiếp tục được phát triển ở thế kỷ XIX, XX qua các ngòi bút hiện thực Trong đó, bộ ba tác
phẩm của Mác-xim Gooc-ki (Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi) đã trở thành một trong những tác phẩm kinh điển, đại diện cho
dòng tiểu thuyết tự truyện
Ở Việt Nam, do đặc điểm riêng trong quan niệm, truyền thống văn hóa
mà cái tôi của nhà văn được thể hiện khá kín đáo, cho nên dòng tiểu thuyết tự truyện không phát triển như nhiều nước trên thế giới Chỉ sau 1975, trước những thay đổi mạnh mẽ trong quan niệm về hiện thực và con người, quan niệm của nhà văn trong mối quan hệ với tác phẩm, với công chúng và hơn hết
là với chính mình đã tạo cơ sở để tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện có cơ hội phát triển mạnh mẽ
Trang 27Tuy nhiên, khi nghiên cứu về văn học Việt Nam, các nhà nghiên cứu lại
tỏ ra khá “ngượng ngịu” với thể loại này Thuật ngữ tiểu thuyết tự truyện chỉ xuất hiện nhiều trong các công trình nghiên cứu về văn học nước ngoài, chẳng hạn như trong văn học Pháp của Đặng Thị Hạnh, Lê Hồng Sâm, Phùng Văn Tửu…bởi về cơ bản là do tính chất của văn học ngước ngoài quy định, đó là dám tiếp thu và chấp nhận những cái mới Ở nước ta, mặc dù có sự xuất hiện
những tác phẩm mang khuân mặt của tiểu thuyết tự truyện như Miền thơ ấu (Vũ Thư Hiên), Chuyện kể năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn), Thượng đế thì cười
(Nguyễn Khải) song không thể phủ nhận một sự thực: tiểu thuyết tự truyện chưa có chỗ đứng thật danh chính ngôn thuận trong đời sống thể loại, đường viền còn có phần mờ nhạt
Trong tiểu thuyết tự truyện, có sự pha trộn giữa sự thật và hư cấu, nhưng sự thật và tính chân thực của tác phẩm luôn được đặc biệt chú trọng và trong đó tỷ lệ cái thật luôn trội hơn so với hư cấu, thâm chí là bộ khung chắc chắn để kiến tạo cốt truyện Trong văn học đương đại có thể nhận thấy khá nhiều tác phẩm lấy chất liệu từ bản thân cuộc đời riêng tư của tác giả, với những chi tiết mang tính tiểu sử của chính nhà văn, qua đó để bộc lộ cái tôi cá
nhân rõ nét như Thời xa vắng (Lê Lựu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Chuyện kể năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân),… Các tác phẩm theo khuynh hướng này cho
thấy cái tôi giàu trải nghiệm với những biến cố đặc biệt của đời tư cá nhân đặt trong không gian xã hội rộng lớn và trải dài theo dòng chảy thời gian đời
người Chẳng hạn trong tác phẩm Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải,
chúng ta sẽ nhận ra được những được những điểm trùng khít giữa nhân vật với tiểu sử của nhà văn: năm tháng, tuổi tác, sự kiện, số lượng và thời điểm xuất bản sách, các nhân vật động nghiệp… Đây là một đoạn mà sự chính xác
của nó ngang một cuốn nhật ký: “Năm mới về tạp chí hắn mới nhăm nhăm
tuổi, anh Thanh Tịnh khoảng ngoài bốn mươi, anh Văn Phác, chủ nhiệm tạp chí cũng mới ba mươi, anh Chính Hữu trẻ hơn một tuổi mới hai mươi chín”[45]
Trang 28Theo nhà nghiên cứu Đỗ Hải Ninh, khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại có hai phương thức cơ bản:
- Tiểu thuyết hóa câu chuyện đời mình, ở đó cốt truyện liên quan tới tiểu
sử cuộc đời một cách chặt chẽ: Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Chuyện kể năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn)… Trong những
tác phẩm này, người đọc có thể nhận ra bức chân dung hoàn chỉnh của nhân vật (tác giả) trong cấu trúc tổng thể của cốt truyện
- Tiểu thuyết hóa những chi tiết tiểu sử và những trải nghiệm cá nhân
Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Thời xa vắng (Lê Lựu), Một mình một ngựa (Ma Văn Kháng)…là những trường hợp điển hình Trong những tác
phẩm này người đọc tinh ý sẽ nhận thấy bóng dáng tác giả qua những chi tiết,
sự trải nghiệm của nhân vật được đan cài với những hư cấu, tưởng tượng Cuối cùng, chúng tôi mượn quan điểm của nhà nghiên cứu Đỗ Hải Ninh
để thay cho lời kết về khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam
đương đại: “Tiểu thuyết có màu sắc tự truyện là những cuốn tiểu thuyết viết
về đề tài bất kỳ, thậm chí không có gì đặc biệt, không tự thuật bằng ngôi kể thứ nhất, tên nhân vật không trùng với tên tác giả, và có thể trên bề mặt văn bản không có dấu hiệu nhận biết nào, nhưng từ những trải nghiệm, chiêm nghiệm, giọng kể tự thú, nhất là khuynh hướng xoáy sâu vào lý giải quá trình hình thành nhân cách nhân vật chính, độc giả cảm nhận được màu sắc tự truyện rõ rệt” [46]
1.3.2 Một mình một ngựa - “đoạn đời mà bây giờ tôi mới viết”
Trong ngày vui ra mắt cuốn tiểu thuyết Một mình một ngựa, qua một
bài phỏng vấn, nhà văn Ma Văn Kháng đã trả lời: “Thôi thì tôi cũng có tuổi
rồi, tôi cũng muốn tổng kết đời mình Còn đoạn nào mà tôi chưa viết trong
cuộc đời cầm bút, thì tôi viết nốt Một mình một ngựa là đoạn đời mà bây giờ
tôi mới viết nó ra để mọi người có thể hình dung đầy đủ về bản thân tôi” [38]
Và Một mình một ngựa “tôi viết dễ dàng và cũng thật lắm đấy, toàn là
những chuyện tôi đã trải qua Vì đó cũng là thời gian tôi đi làm cán bộ, làm người được phân công, có cơ hội gặp gỡ, lăn lóc trong hiện thực” [46] Như
Trang 29vậy, có thể khẳng định Một mình một ngựa là cuốn tiểu thuyết có tính tự
truyện rõ nét bởi từ chính những lời tâm sự của nhà văn
Trong cuốn hồi ký dày dặn Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương được xuất bản cùng năm, nhưng sau cuốn tiểu thuyết Một mình một ngựa, Ma Văn Kháng có kể lại những kỷ niệm về vùng đất Lào Cai và những
con người nơi đây với vai trò là một giáo viên từ năm 1955 đến năm 1965 bị điều về làm thư ký cho đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Trường Minh Những lời chia
sẻ đó khiến cho người đọc dễ liên tưởng nhà văn với nhân vật Toàn, nhân vật
chính trong tiểu thuyết Một mình một ngựa Toàn có lý lịch trích ngang gần
giống với tiểu sử của nhà văn: là giáo viên dạy văn công tác ở một tỉnh miền ngược, sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, có năng khiếu văn chương, vợ con đã chuyển về sống ở thủ đô để tiếp tục sự nghiệp, Việc sử dụng yếu tố tiểu sử của tác giả để đan cài một cách khéo léo vào trong tác phẩm chính là một thủ pháp nhằm kích thích trí tò mò đối với thị hiếu độc giả, đặc biệt là những ai muốn tìm hiểu về con người và đời tư của nhà văn Ma Văn Kháng
Những sự kiện trong tiểu thuyết Một mình một ngựa được kể theo kết
cấu truyền thống tức là theo trục thời gian tuyến tính Đó là cách kể truyện theo trình tự thời gian, không tạo sự phá cách, không gây sự cuốn hút bằng cách tạo ra bố cục lạ, thế nhưng tác phẩm vẫn tạo được sự say mê, hứng thú cho người đọc từ những dẫn dụ của nhà văn
Câu chuyện bắt đầu từ khi thầy giáo Toàn chia tay với nghề dạy học về làm thư ký cho Bí thư tỉnh ủy Quyết Định, đến khi kết thúc câu chuyện là một cuộc ra đi thầm lặng như là một sự giải thoát Nhân vật Toàn được đẩy vào trong một môi trường làm việc hoàn toàn mới mẻ, lạ lẫm như kiểu nhân vật được thử thách Và trong cái nhìn của Toàn, không gian ấy được mở ra dần dần từng lớp, các nhân vật lần lượt xuất hiện và bộc lộ chân tướng Đó là khoảng thời gian trong những năm kháng chiến chống Mỹ và không gian là một tỉnh miền núi phía Bắc rồi dần thu hẹp về văn phòng tỉnh ủy với năm ông thường vụ, mấy ông trợ lý, và hàng loạt câu chuyện bi hài, dở khóc dở cười xảy ra xung quanh những con người này Đó là những cuộc họp tổng kết, các
Trang 30báo cáo điển hình dài lê thê, lủng củng số liệu, giống nhau như cùng một
khuôn đúc, đến nỗi “chả cần nghe vì biết tỏng là nó viết theo mẫu có sẵn, nó
toàn nói dối cho vừa lòng cấp trên mà thôi”; những kế hoạch to tát, khẩu hiệu
ầm ĩ nhưng chỉ là ảo tưởng, thiếu thực tế như chủ trương trồng lúa mì và đưa máy cày lên xới đất ở Na Ảng; các vụ tụ tập bài bạc, chè chén thâu đêm của mấy ông thường vụ; các cuộc tình vụng trộm của Yên, Văn Hiến, giáo Cầu; Đặc biệt là hình ảnh ông Quyết Định thân cô thế cô oai phong, lẫm liệt lao vào sào huyệt của các thổ phỉ chúa đất để thuyết phục họ không chống phá cách mạng trở thành một hình ảnh vừa hào hùng vừa lãng mạn song cũng đầy lạnh lẽo, cô đơn…tất cả là những ký ức được nhà văn Ma Văn Kháng lưu giữ
về một thời kỳ đã qua từ những trải nghiệm một quãng đời Nếu không phải là người trong cuộc, tác giả sẽ không thể biết và kể lại một cách hoạt kê và lý thú đến thế Những quan sát và chiêm nghiệm của Toàn mang dấu ấn của bản thân nhà văn, một giáo viên dạy văn miền ngược, một con người luôn tự nghiền ngẫm, tự vấn về cuộc sống và có sự độc lập trong tư duy
Trong Một mình một ngựa, ý thức viết tiểu thuyết là rõ ràng nhưng vẫn
bị níu giữ bởi tinh thần tự truyện Cái tôi tác giả không lộ diện mà được đại diện bởi nhân vật Toàn Ở Toàn, sự khẳng định cái tôi cá nhân giúp anh có thể đứng riêng để nhận thức thế giới, nhận thức chính mình và đưa ra những nhận
xét, đánh giá mang tính khách quan: “Mấy tháng qua, sống với mọi người ở
môi trường mới, Toàn đã nhận ra chân dung của lớp người này Chính trị là
cả một công cuộc mò mẫm gian nan và luôn quá sức với họ Họ có nhiều nhược điểm Họ chẳng tốt hơn những người ở các lĩnh vực khác nhưng cũng chẳng xấu đâu Và đặt toàn vào vị trí của họ chắc gì Toàn đã làm nổi được như họ”[13, 251] Thật đúng như đánh giá của nhà nghiên cứu Đỗ Hải Ninh:
“Phải là người sống sâu sắc với chính mình, trải qua những tự nghiệm chân
thực mới có thể đạt đến cái nhìn nhân tình như thế” [45]
Tiểu thuyết tự truyện dễ tạo nên ở bạn đọc một sự đồng cảm, gần gũi và tin cậy, một sự xúc động sâu lắng Với những ấn tượng mạnh mẽ, thắm thiết, cái tôi tự truyện, cái tôi “tự thú”, cái tôi tâm sự thầm kín với bạn đọc như
Trang 31những người thân thiết nhất của mình, đã tạo ra một mối quan hệ dân chủ, tin
yêu và thông cảm lẫn nhau giữa nhà văn với công chúng Một mình một ngựa là những ký ức, trải nghiệm được lưu giữ về một quãng đời đã qua của nhà văn Ma Văn Kháng Đọc Một mình một ngựa, từ một lịch sử của các
nhân vật chúng ta có thể cảm nhận được chân dung của một thế hệ, một lớp người được hình thành từ trong cách mạng: họ nhiệt thành, năng nổ, tuy thiếu tầm nhìn và tri thức cũng như còn nhiều hạn chế nhưng chính họ đã làm nên lịch sử Đó là thứ vàng mười mà cách mạng đã hun đúc nên
Tiểu kết chương 1
Ma Văn Kháng là một những nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại Hành trình sáng tạo nghệ thuật của ông gắn liền với những chuyển biến trong đề tài và cảm hứng sáng tác Từ đề tài miền núi với cảm hứng sử thi Ma Văn Kháng đã dựng lên được những bức tranh sắc nét về cuộc sống của đồng bào các dân tộc anh em ở vùng núi cao phía bắc Sang đề tài thành thị với cảm hứng thế sự đời tư, ngòi bút của ông đã “đánh” trúng vào những vấn đề nhức nhối trong xã hội buổi giao thời Nói chung, dù ở bất kỳ
đề tài nào Ma Văn Kháng cũng xây dựng cho mình một hệ thống quan niệm nghệ thuật về con người độc đáo, hướng ngòi bút của mình tới khám phá con người ở nhiều bình diện khác nhau, từ đó thể hiện quan niệm về con người phong phú, sâu sắc, giàu tính nhân văn
Một mình một ngựa là cuốn tiểu thuyết thứ 13 của Ma Văn Kháng
được ra mắt bạn đọc Bên cạnh thế giới nhân vật sinh động, hấp dẫn tác phẩm còn thu hút người đọc ở yếu tố tự truyện độc đáo Tuy không thể so sánh tầm
ảnh hưởng của nó như “bộ ba tiểu thuyết” (Chữ của PGS Nguyễn Ngọc
Thiện) Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải, Gặp gỡ ở La Pa Tẩn song
cũng đã chứng minh được sức bền của ngòi bút và sức hút của nhà văn trong đời sống văn học đương đại
Trang 32CHƯƠNG 2
HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRONG
TIỂU THUYẾT MỘT MÌNH MỘT NGỰA
Trong 150 thuật ngữ văn học, GS Lại Nguyên Ân có định nghĩa: “Nhân
vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu
về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con người” [1, 396]
Còn thế giới nhân vật theo chúng tôi có thể hiểu là tổng thể những hệ thống nhân vật được xây dựng trên quan niệm và chịu sự chi phối của tư tưởng nhà văn Là mô hình nghệ thuật, có cấu trúc riêng, có quy luật riêng thể hiện ở đặc điểm con người, tâm lý, không gian, thời gian, xã hội… Thế giới nhân vật được cảm nhận một cách trọn vẹn, toàn diện và sâu sắc của chủ thể
sáng tạo về những con người trong xã hội vào tác phẩm
Trong thế giới nhân vật, dựa trên những tiêu chí khác nhau người ta lại
có thể chia, tách ra thành các kiểu, loại nhân vật nhỏ hơn Và trước một tác phẩm văn học nhiệm vụ của người tiếp nhận là phải tìm ra chìa khóa để bước qua cánh cửa và từng bước giải mã thế giới nhân vật đó Qua khảo sát tác
phẩm Một mình một ngựa, dựa trên tính cách, phẩm chất của nhân vật chúng
tôi chia hệ thống nhân vật như sau:
2.1 Những cán bộ quả cảm, hết lòng vì cách mạng
2.1.1 Dũng cảm trước mọi thử thách
Một mình một ngựa lấy bối cảnh trong những năm miền Bắc bắt đầu
công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, còn miền Nam tiếp tục cuộc chiến đấu
“thần thánh” trường kỳ, gian khổ để thống nhất nước nhà Đó là thời kỳ mà mỗi con người là một thành viên của một cơ cấu khổng lồ để phục vụ cho sự nghiệp chung Nó đòi hỏi mỗi con người cần phải có đầy đủ những chất tốt đẹp, ưu tú như đam mê, nhiệt tình, dũng cảm… trong đó lòng dũng cảm, dám nhận nhiệm vụ để đương đầu mọi khó khăn thử thách là điều tiên quyết Nhân
Trang 33vật thầy giáo Toàn, Bí thư Tỉnh ủy Quyết Định và ông Đồng – trợ lý thường
vụ là những nhân vật mang được đầy đủ phẩm chất tốt đẹp đó
Toàn là một giáo viên dạy văn miền ngược đang say sưa với nghề thì bị điều sang làm thư ký cho Bí thư Tỉnh ủy Quyết Định Đảm nhiệm một công việc trái với sở thích, phải từ bỏ một nghề nghiệp mà anh được học hành, đào tạo bài bản, đã thành thạo đến từng thao tác để dấn thân vào một lĩnh vực mà anh chưa từng có một chút khái niệm, thế nhưng anh vẫn chấp hành một cách nghiêm chỉnh, vẫn sẵn sàng nhận nhiệm vụ để đương đầu với mọi khó khăn thử thách
Khi biết mình sắp bị điều chuyển sang một công việc khác, thầy giáo
Toàn đã chần chừ rất nhiều ngày Anh không muốn “chia tay với những gì đã
gắn bó máu thịt, tâm cảm anh trong hơn chục năm qua […] Chia tay với mái trường, với phấn trắng bảng đen, với tiếng trống trường rung vang một nhịp điệu cổ điển quen thân Chia tay với các bài giảng […] Chia tay với các bạn
bè, đồng nghiệp Với các gương mặt học trò tin yêu và nghịch ngợm Chia tay với cuộc sống của một ông giáo” [13, 10] Toàn đã xin cấp trên để được tiếp
tục hoàn thành nốt chương trình giảng dạy, bởi anh biết các em sắp thi tốt nghiệp, rồi anh lại lo việc chuyển trường cho các em đến nơi sơ tán an toàn Ở Toàn, đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là tình yêu thương, sự cần mẫn và niềm say mê với nghề giáo Tình yêu, niềm say mê và những kỷ niệm sâu đậm với nghề đó đã khiến thầy giáo Toàn luôn mang những cảm xúc nhớ
thương, day dứt: “Nhói lên trong anh một nỗi hẫng sụt và nao dậy trong lòng
anh một niềm nhớ tiếc thăm thẳm cùng một nỗi buồn man mác, một nỗi buồn thoáng chút ủy mị, nhưng vô cùng sâu xa Một nỗi buồn ứa lệ Nỗi buồn thân phận Nỗi buồn của một cuộc chia tay” [13, 10]
Trước khi làm một nhà văn Ma Văn Kháng đã từng là một nhà giáo
Khoảng thời gian của những “năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương”
đã để lại trong ông một tình yêu với nghề rất sâu đậm Đó cũng chính là lí do
mà hình ảnh của những người thầy tâm huyết, nhiệt tình đi vào trong nhiều trang tiểu thuyết của ông nhiều đến thế
Trang 34Về đảm nhận công việc tại văn phòng tỉnh ủy O tròn, Toàn đã thể hiện được bản thân, bản lĩnh của mình Anh đã thể hiện cho mọi người thấy trái
ngược với cái dáng vẻ thư sinh, “thọm thẹm như con gái” đó là một con người
có vốn kiến thức uyên bác, tài năng, thông minh, biết vươn lên trong hoàn cảnh và khéo léo trong xử lý công việc Khi nghe tin bị điều sang làm thư ký riêng cho Bí thư Tỉnh ủy, Toàn đã lập tức lo ngay việc sưu tầm tài liệu Bởi vậy, nhận công việc mới, anh đã tỏ ra là người thành thạo, biết việc và được các ông Thường vụ không ngớt lời khen ngợi Ngay đến ông Đồng – trợ lý văn phòng, người xưa nay vốn chẳng phục ai cũng phải khen Toàn hiểu biết
và thông minh Tuy vậy, Toàn không lấy đó mà tỏ ra tự phụ, cao ngạo, khoe khoang mà anh tỏ ra rất khiêm tốn, biết mình, biết ta Khi được Yên, vợ của
ông Quyết Định khen ngợi, Toàn đã đáp: “Trí khôn của tôi nằm vẻn vẹn ở
trong mấy cuốn sách đã đọc thôi mà” [13, 188]
Trong Toàn, người đọc còn thấy được cốt cách của “kẻ sĩ”, anh không
tự phụ, không cao ngạo nhưng anh kiêu hãnh ngầm và ý thức mạnh mẽ về giá trị của bản thân, bởi vậy mà anh không thể chịu nổi cái sự khinh thường của
người khác Song, ở môi trường chính trị mới, nơi mà người ta “sẵn sàng dày
xéo lên nhân cách con người” Toàn sao tránh được Đó là khi bị điều về làm
cho thư ký cho Bí thư Quyết Định mà anh không có sự lựa chọn; lúc bị hai tay
sĩ quan cảnh vệ gạt ra ngoài với con mắt khinh thường không cho tham dự cuộc họp do Ban bí thư Trung Ương triệu tập; hay khi bị hai tên cảnh sát điều tra, hỏi cung bằng những câu hỏi bới móc, nghi ngờ, đầy thoái mạ trong
những ngày ông Quyết Định ốm…Toàn đã rất đau đớn và tủi nhục Cái “cảm
giác về thân phận bọt bèo của mình xuất hiện từ buổi bị điều động về O tròn lúc này dâng lên nghèn nghẹn lồng ngực, khiến Toàn tức thở và ứa nước mắt”
[13, 252] Thế nhưng Toàn đã vượt qua tất cả Bởi Toàn hiểu, “chính trị là cả
một công cuộc mò mẫm gian nan và luôn quá sức với họ” [13, 251] “Chính trị bao giờ mà chẳng là quyền lực, là tàn bạo, là sẵn sàng dày xéo lên nhân cách con người” [13, 355] Sự thông minh, cộng lòng vị tha đã cho anh có cái
nhìn thấu đáo và sâu sắc về bộ máy chính trị nơi đây Vì vậy, Toàn thấy lòng
Trang 35mình thanh thản dần, và cũng không còn giận những con người này nữa Anh hiểu rằng chức trách của họ là như vậy, họ chỉ là đao búa có hồn, là công cụ chỉ đâu đánh đấy
Trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, ông đặc biệt chú ý đến hoàn cảnh Hoàn cảnh được xem như là một phép thử để kiểm nghiệm, thử thách tài năng và nhân cách của nhân vật Và trong tác phẩm, Toàn được đẩy vào một môi trường hoàn toàn mới lạ, một hoàn cảnh đầy rẫy những khó khăn, thế nhưng từ chính hoàn cảnh đó, người đọc thấy được phẩm chất, bản lĩnh dám đương đầu với khó khăn thử thách để vươn lên của Toàn
Xây dựng nhân vật Toàn, Ma Văn Kháng đã khám phá ra những nét đẹp trong bản chất của người trí thức Nhà nghiên cứu Đỗ Hải Ninh đã nhận
xét: “Đúng như bản chất giới của mình, nhân vật người trí thức trong tiểu
thuyết của Ma Văn Kháng luôn ý thức sâu sắc về bản thân, nghề nghiệp…Ý thức đó gắn với nhu cầu khám phá nhận thức thế giới, khiến cho nhân vật trí thức trở thành nơi hội tụ, đúc kết tư tưởng và chân lý” [27, 9] Họ chính là
Trọng trong Mưa mùa hạ; là Luận trong Mùa lá rụng trong vườn; là Tự, Kha trong Đám cưới không có giấy giá thú…họ đều là những con người có
hoài bão và lý tưởng cao đẹp Những người trí thức này đều sống có lý tưởng, đam mê và nguyện hiến dâng tất cả cho sự nghiệp cho đời mà không tính toán, đòi hỏi Bởi với người trí thức, được thực hiện đam mê khát vọng, được khẳng định năng lực của bản thân là một niềm hạnh phúc vô bờ bến, không gì
sánh nổi Đặc biệt là trong tác phẩm Gặp gỡ ở La Pan Tẩn, hình ảnh thầy
giáo Thiêm không quản ngại khó khăn gian khổ, xung phong lên vùng cao với công cuộc khai sáng cho bản Mèo với bao vất vả gian nan đã để lại một ấn tượng đẹp trong lòng người đọc
Dù ở cương vị của một người thầy hay một công việc không tên không tuổi, có vẻ hèn mọn và bị nhiều người nhìn bằng con mắt coi thường song thầy giáo Toàn vẫn hoàn thành tốt công việc Anh là người trí thức mang được những phẩm chất và đức tính tốt đẹp của chính nhà văn Ma Văn Kháng muốn gửi gắn Và hơn thế nữa, với tính tự truyện khá rõ Ma Văn Kháng đã
Trang 36lấy được cảm tỉnh, lòng yêu mến, sự kính trọng của bạn đọc với nhà văn qua nhân vật Toàn
Bên cạnh nhân vật thầy giáo Toàn, ông Quyết Định - Bí thư tỉnh ủy, nhân vật chính trong tác phẩm đã được Ma Văn Kháng tập trung xây dựng để
làm ánh lên “hình ảnh người cộng sản anh hùng lẫm liệt với nhân cách đạo
đức, tác phong điển hình của người lãnh đạo đứng đầu tỉnh” [13, 29] Một
con người mà thời đại đã rèn rũa và hun đúc đầy đủ những giá trị và phẩm chất của người cán bộ mẫu mực, dũng cảm, dám đương đầu với mọi khó khăn
và thử thách
Ông Quyết Định là người có một quá khứ thật oanh liệt Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, với khí thế hừng hực của tuổi trẻ và lòng nhiệt huyết, ông đã không quản ngại khó khăn, gian khổ dũng cảm nhận nhiệm vụ lên tỉnh Hoàng Liên thuyết phục các thổ ty họ La, họ Hoàng, họ Nông tuân theo mệnh lệnh của chính phủ trung ương để giải phóng tỉnh nhà Khi Tổng
bộ Việt Minh trao nhiệm vụ, lúc được hỏi:“Đồng chí có thắc mắc gì
không?”, ông Quyết Định đã dõng dạc trả lời:“Không!” và “thế là đi! Đi, chả băn khoăn lo lắng gì” [13, 52] Đó chính là ý chí thép của người cán bộ cộng
sản không gì có thể lay chuyển
Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ đó ông Quyết Định là thủ
lĩnh, là linh hồn cuộc chiến đấu với một tư thế anh hùng: “một mình một ngựa
trong vai nhà chính khách Một mình một ngựa giữa vùng đất lạ Một mình một ngựa, một bước đi là một dấn thân vào cạm bẫy hiểm nguy của bọn lục lâm thảo khấu Một mình một ngựa mà uy vũ, oai hùng giữa rừng gươm giáo thù địch của đối phương Một mình một ngựa! Một tuổi trẻ! Một chiến mã! Một tâm hồn lãng mạn” [13, 129]
Và khi đã dấn thân được vào dương cơ của các thổ ty, chúa đất, đối đầu
với những kẻ “dữ tợn, xảo quyệt, ranh ma, với các thủ túc vây quanh mặt mày
hung ác, gươm súng đầy mình” [13, 52], vậy mà ông chẳng thấy “ngại
ngùng” chút nào Bằng sức mạnh chính nghĩa, lòng căm thù kết hợp với nghĩa khí và tình đoàn kết ông đã cam đảm, thân cô thế cô tiến thẳng vào hang ổ của
Trang 37các thổ ty phong kiến dù chúng trong tư thế binh hùng tướng mạnh song cũng phải rạp mình, tuân phục Người chiến sĩ cộng sản mới chỉ có hai mươi tuổi đầu nhưng đã mang trong mình một sức mạnh ghê gớm và ý chí thật sắt đá
Đó là một hình ảnh đẹp đầy thi vị, đượm vẻ anh hùng, lòng dũng cảm của người cán bộ dám vượt mọi khó khăn gian khổ, hết lòng vì dân vì nước
Trong số mấy ông trợ lý của ban Thường vụ, Ông Đồng là một nhân vật có nghĩa tình, có đời sống tâm lý phức tạp và được Ma Văn Kháng đặc
biệt yêu thích Ông được Ma Văn Kháng giới thiệu là “trai làng Xuân Lũng,
đất khoa bảng Phú Thọ Xuất thân học sinh, sớm gia nhập trường đời, tự lập bằng con đường lao động Giác ngộ cách mạng từ sớm… Có hiểu biết thâm sâu Có ý tưởng táo bạo Thẳng thắn, bộc trực, có khí tiết Trông vẻ ngoài thì tưởng là dân dã, phàm phu mà bên trong hóa ra lại là người hào hoa, tài tử”
[13, 283] Và ông có một quá khứ, một tuổi trẻ đẹp, oai hùng, lãng tử chẳng khác gì các trang anh hùng, hiệp sĩ thời trung cổ Đó là lúc ông Quyết Định thân cô thế cô tìm đường vào dương cơ của thổ ty họ La thì bất tình lình gặp hai tên cướp đẩy vào thế bí, thế nhưng ông Đồng đã xuất hiện rất kịp thời với
phong thái phong trần, tài tử, nghĩa hiệp: “Nhảy tới trước mặt hai tên cướp,
tay giật mã tấu một tên và co chân đi một đường cước trúng bụng tên giữ hàm thiếc ngựa! Và khi hai tên cướp bỏ chạy tháo thân thì ông Đồng dẫn ông Quyết Định vào một tửu quán bên đường Rồi thoáng cái trên bàn đã là tứ thái nhất thang, bốn món mặn, một món canh cùng hũ rượu ngô thơm phức”
[13, 130] Cung cách, phong thái ứng xử của ông Đồng làm người ta liên tưởng đến các trang anh hùng, hảo hán tiếp đãi nhau hơn là những người đồng chí Và ông trở thành biểu tượng cho những trang nam nhi giữa đường gặp chuyện bất bình chẳng tha
Ngày Phỉ nổi loạn, ông Đồng đã dũng cảm, hiên ngang lên đường dẹp phỉ mà chẳng quản khó khăn gian khổ Ông hiện lên như một trang anh hùng
hảo hán thời loạn trong Tam quốc: “đầu đội mũ nam rộng vành, mặc áo lanh
chàm, chân đi hải xào giang, mắt quoắc sáng đứng trước cửa trụ sở Ban Cán
sự khu, rõ mặt anh hùng vô úy tử, úy tử bất anh hùng, giơ khẩu poọc hoọc lên
Trang 38cao, nổ ba phát liền, tiếng rang rảng như chuông đồng: “Đứa nào muốn vào trụ sở chính quyền cách mạng, hãy bước qua xác tao đây” [13, 131]
Cuộc đời cách mạng của ông Đồng thật phong trần và lãng tử Thế nhưng, cùng chính vì cái hiên ngang, quả cảm đó mà ông bị những kẻ “mưu hèn kế bẩn” quy kết là tác phong anh hùng cá nhân rồi bị kỷ luật treo Đảng một năm Điều đó làm cho ông Đồng luôn mang trong lòng sự ấm ức và biến ông trở thành một người sống như trả thù đời Thế nhưng, khi điều hành công việc ông lại trở nên anh hùng, tỉnh táo một cách lạ thường Khi Mỹ ném quả bom ở Cầu Nhò làm cắt đứt tuyến đường huyết mạch giao thông quan trọng của tỉnh nhà, ông Đồng đã chẳng quản nguy hiểm, quên đi ấm ức sự đời, sẵn sàng nhận
nhiệm vụ để đi vào nơi nguy hiểm rà phá quả bom: “ông Đồng hiện lên ở cái
hành vi hăm hở, cái khí phách khác thường lồ lộ trong ánh mắt rạo rực của ông Hưng từ khi mới tới” [13, 295] Theo như tính toán của ông Hưng: quả
bom nằm ngay dưới chân ông Đồng “Theo giờ hẹn, nó nổ lúc nào ông nào có
hay Có thể là vài ngày nữa nó mới nổ Nhưng cũng có thể chỉ chốc lát nữa nó
sẽ nổ Và cũng rất có thể nó sẽ nổ ngay bây giờ chỉ vì kích ứng của cái mũi thuốn ông ông đang dồn sức thọc xuống Nghĩa là cái chết bây giờ chỉ cách ông Đồng có gang tấc thôi” [13, 305] Vậy mà ông Đồng vẫn sắt đá không mảy
may run sợ, ông dũng cảm, sẵn sàng đối mặt với cái chết để giành giật lấy sự sống, lấy hòa bình cho đồng bào, cho cách mạng nơi đây
Đam mê, dũng cảm và dám nhận nhiệm vụ để đối đầu với mọi khó khăn thử thách là những phẩm chất vàng của những cán bộ cộng sản Họ hiện lên như những hạt nhân, ngôi sao sáng chỉ đường dẫn lối cho bà con vùng cao khi mà lịch sử còn đầy biến động và mảnh đất còn hàm chứa đầy những khó khăn, thử thách Song, từ chính những khó khăn, thử thách đó gương mặt họ, nhân cách họ như được đánh sáng và trở thành những tượng đài kiêu hãnh, hiên ngang của lịch sử
2.1.2 Sống nhiệt tình, hết lòng vì sự nghiệp chung
Ở văn phòng Tỉnh ủy O tròn, năm ông thường vụ, mỗi người phụ trách một công việc, mỗi người lại có một cách lãnh đạo, xử lý công việc khôn
Trang 39khéo theo cách riêng của mình Đặc biệt, họ phải lãnh đạo ở một nơi còn chứa đựng nhiều khó khăn, hạn chế thì công việc, nhiệm vụ của họ như tăng lên gấp đôi Và họ nổi lên với nhiều phẩm chất tốt đẹp mà trong đó tận tâm, tận tụy và mẫn cán công việc là điều đầu tiên rất đáng ghi nhận
Nếu ở quá khứ, ông Quyết Định có những khoảnh khoắc chói lọi, hào hùng và lãng mạn thì thời kỳ mới, khi nắm giữ cương vị lãnh đạo đứng đầu của một tỉnh, trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới, ông là người có thái
độ làm việc thật đáng nể, đáng kính trọng Ông “hòa tan, hòa đồng, đồng nhất
với công việc” [13, 198] Ông tiêu pha, sử dụng gần hết thời gian của ông cho
công việc: “Trưa không nghỉ, tối nào cũng làm việc tới một hai giờ sáng Bận
lu tù, bận tối tăm mặt mũ [ ] Mặt ông qua thời trai trẻ, giờ nằng nặng vẻ nhẫn nhịn, mệt nhọc và bơ thờ vì ngập lút vào công việc chỉ đạo hàng ngày với cả trăm đầu mối công việc” [13, 231]
Ông Văn Hiến “xuất thân cố nông, chuyên cày thuê cuốc mướn […],
chỉ là gã thanh niên nông dân lên khai hoang ở huyện Mường Thông, rồi lân
la xin xỏ mãi mới được giữ chân giám mã, trông coi mấy con ngựa ở cơ quan huyện ủy” [13, 79] mà nay ngoi lên đến tận Thường vụ phụ trách nông nghiệp
và đang nuôi hội để thay quyền Bí thư tỉnh ủy của ông Quyết Định Song nói cho công bằng, ông Văn Hiến lại là người năng nổ nhất, có năng lực nhất
trong ban Thường vụ, đặc biệt là ở lĩnh vực sản xuất nông nghiệp “Gốc gác
là anh cố nông, thế nên cầy bừa gặt hái nhất nhất việc gì ông cũng đã trải qua Các khâu đoạn làm ra hạt lúa, củ khoai ông đều tận thường” [13, 363]
Bởi vậy, ông là người lao động rất sát sao, tận tụy với công việc, đặc biệt trời còn phú cho ông lòng ham mê với cái mới và tính cả quyết khi xử lý công việc Đó là đức tính, bản lĩnh rất cơ bản của người lãnh đạo
Ông Văn Hiến bước chân vào đường quan lộ khi quê hương nổi lên phong trào phát động quần chúng giảm tô giảm tức và trở thành một nhân tố
ưu tú Thế rồi, trong phong trào vận động cán bộ xã lên miền núi công tác, ông đã xung phong đi đầu Nhưng vì thấy ông hình dáng xấu xí, thấp bé nhẹ cân nên người ta đã tuyển ông vào cơ quan huyện ủy Mường Thông và giao
Trang 40cho công việc giám mã, thuần một việc trông coi mấy con ngựa Đảm nhiệm một công việc không xứng đáng với năng lực thật, nhưng ông Văn Hiến vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, bởi vậy mà ông đã nổi dần lên từ công việc mình đảm nhiệm, từ phong trào mà mình tham gia Nhưng nói như ông
Đồng thì ông Văn Hiến “là anh cố nông láu tôm láu cá, cơ hội” cũng không
phải là sai Ông tranh thủ mọi thời cơ và nắm giữ mọi cơ hội để có thể vượt lên số phận đâu có gì là sai Nhưng là do ông quá thèm muốn cái địa vị, chạy theo thành tích quá mạnh mẽ mà nhiều khi trở thành lộ liễu Vì vậy mà chẳng nên phủ nhận hoàn toàn ông Văn Hiến như ông Đồng Không chỉ ở quá khứ,
ở tuổi trẻ mà ngay hiện tại, khi cả nước xây dựng cuộc sống mới, những người cán bộ như ông trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Đảm nhiệm công việc phụ trách nông nghiệp của một tỉnh miền núi còn nghèo khó, ông tận tâm, tận
tụy với công việc tăng gia sản xuất Ông “bận tối mắt tối mũi Họp hành chỉ
đạo từng khâu công việc Hội ý đầu bờ mỗi ngày mỗi tuần Ruộng đồng bờ tiếp bờ trải ra mênh mông, phải lội tới từng thuở để xem xét, định giá, dự kiến năng xuất sản lượng Thấy sai sót phải lập tức bổ khuyết ngay!” [13, 363]
Và để điều hành một bộ máy chính trị của một tỉnh miền núi với đầy khó khăn, thử thách họ đã chứng mình được bản lĩnh chính trị vững vàng và năng lực điều hành của mình
Trong các cuộc họp, ông Quyết Định tỏ ra là một người điềm tĩnh, tĩnh tại, biết lắng nghe để tiếp thu những luồng ý kiến để có thể đưa ra hướng giải quyết nhanh gọn và hiệu quả nhất Trong Hội nghị tổng kết nông nghiệp tại Mường Thông trước những cơn phẫn khích đang dâng trào tới đỉnh điểm phản đối việc đặt ra hợp tác xã Trong đoàn chủ tịch lúc đó, bốn ông Thường vụ thì hai ông “chuồn” về đi họp, chỉ còn lại ông Quyết Định với ông Ké Lanh, song ông Ké Lanh thì chốc chốc lại bỏ chỗ đi tìm ống thuốc lào hay kề cà vãn chuyện Một không khí thật nhốn nháo, hỗn loạn và căng thẳng Chỉ còn một
mình ông Quyết Định ở nơi đầu sóng ngọn gió khác chi “một mình một ngựa”
năm nào Thế nhưng, với bản lĩnh chính trị vững vàng và một giọng nói từ tốn, pha chút đùa nghịch từ trong câu chuyện về những bài học lịch sử của