1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết lý tội phạm hoàng thị kim quế

11 377 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 85 KB
File đính kèm Triết lý tội phạm - Hoàng Thị Kim Quế.rar (19 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bối cảnh vấn đề Mặc dù nhà nước, pháp luật, xã hội và toàn nhân loại đã có nhiều nỗ lực trong cuộc chiến chống, phòng ngừa, xử lý tội phạm nhưng tội phạm cứ ngày một gia tăng, che dấu có

Trang 1

TRIẾT LÝ TỘI PHẠM VÀ HÌNH PHẠT TỪ GÓC NHÌN

LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA

Một số ý tưởng cơ bản

GS TS Hoàng Thị Kim Quế

Dẫn nhập:

Tại sao một người trộm cắp, giết người phải chịu hình phạt, ngồi tù, bồi thường thiệt hại? Nhà luật học tìm câu trả lời ở các cơ sở pháp lý: do có các quy định pháp luật nhà nước về xử lý các hành vi đó, hành vi của họ đã thoả mãn các yếu tố cấu thành tội phạm Nhà triết học đưa ra câu trả lời từ một góc độ chung hơn - đây là vấn đề tự do và tất yếu, tự do và trách nhiệm, triết lý đó có từ chính triết lý ngàn đời của cuộc sống về trách nhiệm xã hội của cá nhân về hành vi của

mình Đó cũng chính là Luật của cuộc sống

Việc một người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, không chỉ được quy định trong pháp luật, đã đành là pháp luật có cách thức, mức độ quy định đặc thù và đổi thay theo thời thế Nhân loại đã biết đến cái triết lý sống này trong

vô vàn các quy tắc xã hội Những quy định chi tiết hay nguyên tắc chung của đời sống dân sự, thực tế đã có từ trong tục lệ dân gian, luật lệ tôn giáo Luật theo nghĩa rộng nhất là những quan hệ tất yếu trong bản chất của sự vật - mọi sự vật đều có luật của nó Ai làm hại một người khác thì phải có ngày nhận hậu quả xấu tương xứng Đó cũng chính là câu chuyện của luật học và triết học, là cái lý ở đời, không ai có thể lẩn tránh được ngay cả trong khâu áp dụng luật của công quyền

1 Bối cảnh vấn đề

Mặc dù nhà nước, pháp luật, xã hội và toàn nhân loại đã có nhiều nỗ lực trong cuộc chiến chống, phòng ngừa, xử lý tội phạm nhưng tội phạm cứ ngày một gia tăng, che dấu có, ngang nhiên có, tinh vi, xảo quyệt, gây hậu quả nặng nề cho con

người, cộng đồng và xã hội … Những vụ án có tính chất dã man, bột phát, không

đi theo quy luật chung của tội phạm thời gian gần đây có lẽ tăng hơn

- Đâu là căn nguyên, nguồn gốc, nguyên nhân, nguyên cớ của TP

1

Trang 2

- Tội ác và trừng phạt – theo nghĩa phổ thông, đời thường, tội phạm và hình phạt – nghĩa pháp lý – vấn đề toàn cầu, mỗi quốc gia, dân tộc, sự quan tâm, trăn trở của mọi người

Từ khi hình thành các cộng đồng, dân tộc, quốc gia, từ khi con người sinh

ra trên trái đất cho đến tận ngày hôm nay, nhân loại luôn trăn trở luận bàn về vấn

đề thiện và ác, tội ác và trừng phạt và “ tội phạm và hình phạt “ Xét về nguyên tắc, các quy định pháp luật luôn đi sau về thời gian so với cuộc sống, đối với các quy định của pháp luật hình sự cũng không là ngoại lệ

Một trong những công cụ hữu hiệu, sắc bén, hiệu quả cao nhất trong cuộc chiến phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật mà xã hội trông đợi, gửi gắm, ủy quyền đó chính là pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng cùng hoạt động thực thi pháp luật của các cơ quan công quyền

Một câu hỏi lớn của mọi thời đại đã và đang được đặt ra đối với toàn nhân loại, mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi người chúng ta đó là đi tìm căn nguyên, nguyên nhân, lý do hay bao quát hơn nữa là “ đi tìm, giải mã nguồn gốc của tội phạm “

Tội ác theo nghĩa đời thường, tội phạm theo nghĩa pháp lý, trừng phạt theo nghĩa đời thường và hình phạt theo nghĩa pháp lý cần được nghiên cứu, khảo sát thực tế từ góc độ của nhiều lĩnh vực khoa học, trong đó tiếp cận triết học pháp luật, triết học văn hóa, lịch sử và nhân chủng học

Nói cách khác, chúng ta cùng quan tâm nghiên cứu, trao đổi vấn đề triết lý tội phạm và hình phạt và từ đó có thể đề xuất một số ý kiến vào việc sửa đổi, bổ sung BLHS Đồng thời tham khảo về triết lý tội phạm và hình phạt, chính sách hình sự của ông cha ta trong lịch sử Lịch sử luôn là đương đại Những kinh nghiệm lịch sử ít nhiều có tính hữu ích cho con người trong xã hội hiện đại

2 Thiện, ác, tội ác, tội phạm

Thiện, ác, tội ác và trừng phạt, tội phạm và hình phạt – từ xã hội đến luật pháp, từ luật pháp trở về xã hội

Quan niệm về cái các, cái thiện, tốt, xấu, phải trái, đúng, sai, chân ,mỹ, ích

2

Trang 3

+ Vừa có sự tương đồng, vừa có sự khác biệt giữa các quốc gia, dân tộc,

tôn giáo…., khu vực, các thời kỳ lịch sử

+ Quan niệm về cái các, cái thiện, tốt, xấu, phải trái, đúng, sai thay đổi theo thời gian, theo sự giao lưu, tiếp biến, kế thừa về văn hóa trong đó có văn hóa chính trị và văn hóa pháp luật

+ Về nguyên tắc, Không có cái đúng, sai tuyệt đối, cũng không có cái

thiện, cái ác, tốt, xấu tuyệt đối

+ Mà chỉ có quan niệm của con người/không gian/thời gian khác nhau

về chúng: về các, cái thiện, tốt, xấu, phải trái, đúng, sai, chân, mỹ, ích

Cái thiện theo nghĩa tổng quát nhất chính là cái tốt, cái có ích và cái đẹp thể hiện lòng nhân ái của con người trong cuộc sống hàng ngày Pháp luật cần có những quy định không những về xử lý, bài trừ cái ác mà còn phải có cơ chế khuyến khích cái thiện, những hành vi tích cực đem lại tự do, lợi ích cho xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của các cá nhân Quan niệm về thiện, ác trong lĩnh vực đạo đức và lĩnh vực pháp luật cũng không nhất thành, bất biến mà thay đổi, chuyển hoá cho nhau cho phù hợp với từng thời kỳ lịch sử

Trong việc xác định cái thiện, cái ác cần xem xét vấn đề động cơ, mục đích, nhất là trong lĩnh vực đạo đức Theo đó, có thể xẩy ra những tình huống sau: động cơ tốt, kết quả tốt, động cơ tốt, kết quả xấu, không coi là cái ác; động cơ xấu, kết quả tốt, không coi đó là cái thiện; động cơ xấu, kết quả xấu, đó là cái ác.1

Để khuyến khích, tôn vinh những cái thiện, lên án, hạn chế, bài trừ những cái ác cần phải xây dựng môi trường thuận lợi cho những hành vi hợp đạo đức và hợp pháp

Giữa cái thiện lý tưởng với thực tại của cái ác có khu vực trung gian của pháp luật. 2 Pháp luật phục vụ cho việc thực hiện cái thiện, hạn chế và cải huấn cái

ác Tính thống nhất của pháp luật và đạo đức cũng được thể hiện trong thái độ của chúng đối với cái Thiện và cái Ác Đạo đức điều chỉnh hành vi của con người trên

cơ sở sự vận động của những mặt đối lập giữa thiện và ác Pháp luật, nhất là pháp

247

3

Trang 4

luật trong xã hội pháp quyền được xây dựng và thực thi trên cơ sở và để bảo vệ cái thiện và bài trừ cái ác

- Con người là ác hay thiện hay cả hai ?

- Tranh luận xuyên thế kỷ/ thời đại/ không gian về Thiện, Ác:

Từ những quan niệm đối lập về bản chất thiện hay ác của con người mà người ta xác định những quy tắc ứng xử giữa con người với nhau

Các nhà tư tưởng của nhân loại từ ngàn xưa đã quan tâm đến bản tính của con người, theo đó có quan điểm cho rằng bản tính con người là thiện, quan điểm khác lại cho là ác Theo quan điểm của các nhà triết học phương tây như Xôcrat (439 – 399) và Platôn (427 – 347) thì cái thiện là một ý niệm chung, phổ biến và bất biến, là ý niệm cao nhất được Chúa dáng thế Quan niệm của Khổng Tử (

551-479 ) và Mạnh Tử ( 372 – 289) thì cho rằng, con người ta sinh ra đã mang bản chất, mầm mống của cái thiện “người ta không ai là không thiện cũng như nước không lúc nào là không chảy xuống chỗ trống” (Nhân vô hữu bất thiện, thuỷ vô hữu bất hạ) Trái với quan điểm của Khổng Tử, Tuân Tử, Hàn Phi Tử cho rằng bản tính con người vốn là ác nên phải dùng đến hình phạt thật sự nghiêm khắc mới có thể kìm chế được cái ác bẩm sinh của con người Tuy vậy, chính Khổng

Tử cũng có bàn về pháp luật khi đạo đức bất lực, bó tay, tức con người, theo ông cũng không hoàn tòan là thiện, không phải lúc nào cũng luôn luôn thiện Hay Hàn Phi Tử cũng có bàn về đạo đức tuy coi đạo đức là hạ sách, nghĩa là ông cũng coi

đạo đức có tác dụng nhất định, xếp hàng sau luật pháp

Cũng có những quan điểm khách quan hơn, coi thiện, ác không phải là thiên mệnh bẩm sinh mà phụ thuộc vào hoàn cảnh và sự tự giáo dục của chính

con người Hêghen nhà triết học vĩ đại của nhân loại đã có quan điểm đại ý là: sự phát hiện ra bản chất của con người là thiện đã là vĩ đại, nhưng còn vĩ đại hơn khi phát hiện ra bản chất của con người là ác 3

Tuy rằng người ta sinh ra vốn có bản chất là thiện như câu châm ngôn của người xưa thường nói “nhân chi sơ tính bản thiện”, nhưng khi phải đối mặt, bị rơi vào những điều kiện, hoàn cảnh khó khăn, con người cũng có thể nẩy sinh và phát triển cả những tính xấu như sự độc ác, lòng vị kỷ, tham lam,

kể cả bất lương Do vậy, trong lý luận, cũng có thuyết cho rằng con người

4

Trang 5

sinh ra bản chất là ác không phải không có cơ sở nhất định Ph Ăngghen cũng đã phân tích về mối quan hệ giữa cái thiện và cái ác: “theo Hêghen, ác

là hình thức, dưới đó động lực của sự phát triển lịch sử tự biểu hiện ra”.4

Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách biện chứng đã khẳng định rằng, mỗi con người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng chứ không phải là bẩm sinh và đề cập đến khả năng cải tạo, cảm hoá được con người

Ngủ thì ai cũng như lương thiện, Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền, Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn, Phần nhiều do giáo dục mà nên

- Cái ác rơi vào số ít, luật pháp của nhà nước hay các loại “ pháp luật “ dân gian của xã hội phản ánh thái độ, cách ứng xử của số đông đối với

số ít là cái ác

- Xu hướng vận động, phát triển của tội ác:

- Bản chất xã hội của tội ác, tội phạm

Những nguyên nhân, nguyên cớ, điều kiện của tội ác, tội phạm

- Đối với nhóm tội phạm truyền thống

- Đối với nhóm tội phạm truyền thống – hiện đại – mới

- Đối với nhóm tội phạm thời hiện đại – mới

- Những chấn thương tâm lý thời hiện đại

- Tội phạm còn phải được nhìn nhận từ Tính con người:

Những bản năng nguyên sơ, tối tăm trong con người luôn luôn chờ cơ hội

để thức giấc Mỗi con người đều có khả năng trở thành những tội phạm trong tương lai và khi cái ác đã bắt rễ sâu trong tâm hồn thì thật khó để nhổ bỏ tận gốc được

Theo quyết định luận biện chứng, những hành vi của con người kể cả những suy nghĩ là do những điều kiện xã hội khách quan quy định nhưng thông

5

Trang 6

qua ý thức, ý chí của con người Trong đó yếu tố tâm lý, yếu tố tính của con người luôn luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng Trong mỗi con người có cả những tính vốn có và những tính do hấp thụ được Con người có tính thiện và tính

ác, ở những mức độ khác nhau Tính thiện thường có nguồn gốc tính người hoặc

do hấp thụ được

Tính ác thường có nguồn gốc tính vốn có, tính ác thường là mầm mống của tội phạm, chẳng hạn, ở những người có tính hung dữ, ghen tỵ mãnh liệt, trong những điều kiện, hoàn cảnh thuận lợi, họ dễ dàng gây tội ác Tính xấu rộng hơn tính ác, bao hàm tính ác Một người ác là người có tính xắu nhưng một người xấu chưa chắc là đã ác Tính tốt cũng rộng hơn tính thiện, ví như tính thương người, tính hay giúp người khác, một người tốt chưa chắc là đã thiện, nhưng một người thiện chắc chắn là người tốt Tính người có cái ẩn, cái hiện: tính thích, tính đam

mê thường dễ bộc lộ ra ngoài, tính lừa đảo, gian dối thường là tính ẩn, được che dấu, chẳng hạn một kẻ đến nơi này lừa gạt rồi sau đó đi nơi khác lại tiếp tục cuộc lừa Tính trung thành thường là tính ẩn, là một trong những tính khó xét đóan nhất của con người Tính vốn có thường khó mất đi, ví dụ tính tham thuộc tính phổ biến chỉ đậm hay nhạt ở những con người cụ thể Tính nóng, dễ tức giận, cũng là tính vốn có của con người Tính nóng nhìn chung được coi là có hại, giận, nóng quá mất khôn, dễ có lời nói và hành động sai lầm, dễ làm tăng thêm mâu thuẫn Tính trung thực, tính khiêm tốn; tính hiền là tính vốn có của con người, đặc biệt là trong môi trường giáo dục tốt Tính cẩn thận không phải là tính phổ biến, nhưng cẩn thận ở mức vừa phải thì nhiều người đạt được Tính độ lượng, dễ thông cảm với người sai lầm và dễ tha thứ là tính hấp thụ được, do rèn luyện, giáo dục công phu

- Người tốt cũng có thể vi phạm PL

- Trách nhiệm chính quyền, xã hội, gia đình, cộng đồng

- Tiểu kết về triết lý tội ác, tội phạm và những vấn đề đặt ra cho việc sửa đổi bộ luật hình sự, nâng cao hiệu quả pháp lý – xã hội của cuộc chiến phòng, chống tội phạm hiện nay

3 Triết lý hình phạt

- Pháp luật nói chung, PL hình sự nói riêng đối với cái Ác và cái Thiện

6

Trang 7

Mặc dù có nhiều quan điểm, trường phái khác nhau về hình phạt nhưng:

Quy luật cuộc đời: Gây ra tội ác, tội phạm thì phải bị trừng phạt, áp dụng hình phạt

Vấn đề là: tính chất, mức độ, cách thức, mục đích của hình phạt, hiệu quả hình phạt, luật hóa hình phạt vv

Đó chính là những vấn đề của triết học pháp luật, triết lý hình phạt mà

chúng ta cùng quan tâm nghiên cứu, trao đổi

Trước khi người ta làm ra luật thì đã có nhữung quan hệ về sự công bằng tất yếu rồi, Nếu như ai đó đã chịu ơn người nào thì phải biết ơn, một vật nọ sinh

ra vật kia thì vật mưói sinh phải tồn tịa nphụ thuộc vào nguồn gốc của nó Ai đã làm hại một người khác thì phải có ngày nhận nhậu quả xấu tương ứng

Mục đích của luật hình sự, của việc phải áp dụng hình phạt, thậm chí là hình phạt nghiêm khắc là hướng thiện, loại trừ cái ác

Luật theo nghĩa rộng nhất là những quan hệ tất yếu trong bản chất của sự vật - mọi sự vật đều có luật của nó Ai làm hại một người khác thì phải có ngày nhận hậu quả xấu tương xứng Đó cũng chính là câu chuyện của luật học và triết học, là cái lý ở đời, không ai có thể lẩn tránh được ngay cả trong khâu áp dụng luật của công quyền

- Từ tội ác đến tội phạm, chính sách hình sự và thái độ ứng xử của cộng đồng, xã hội

- Tội phạm do vậy cần được tiếp cận cả từ phương diện văn hóa, lịch sử, quốc gia, dân tộc và thế giới

- Các quan niệm về hình phạt nói chung, hình phạt tử hình nói riêng – Đâu

là cái lý của vấn đề

- Xu hướng của trừng phạt, hình phạt – phản ánh các Nấc thang tiến bộ, văn minh của xã hội, nhân loại

-+ Quá khứ: Tội phạm ít, đơn giản về mọi phương diện, còn Hình phạt hay

sự trừng phạt của cộng đồng, GĐ: Rất nghiêm khắc, thậm chí quá tàn bạo

7

Trang 8

+ Ngày nay: Tội phạm, tội ác, cái ác ( đủ mọi thể loại ): Gia tăng Nhưng

Sự trừng phạt ( thái độ ứng xử ) và Hình phạt: Nhẹ hơn, nhân văn…

Cần giải mã hiện tượng này và suy ngẫm Nhưng đó đã và đang là xu thế

- Định hướng sửa đổi BLHS về tội phạm, hình phạt

Tác giả đồng ý về quan điểm, chế tài, tập trung vào thu hẹp phạm vi áp dụng

hình phạt tử hình, luận cứ của vấn đề nhìn từ góc độc triết học văn hóa

4 Một vài kinh nghiệm lịch sử , suy ngẫm, liên hệ

Lịch sử luôn luôn là đương đại Tìm hiểu các quy định của Luật Hồng Đức, chính sách pháp luật nhà Lê, đặc biệt là vua Lê Thánh Tông đã cho chúng ta biết

về những Gạch nối giữa: Quá khứ - Hiện tại - và cả Tương lai

Ta vẫn tìm thấy trong lịch sử nói chung, các bộ luật trước đây nói riêng, nhất là trong QTHL một Triết lý sống, triết lý về tội phạm và hình phạt

Trong số bốn bộ luật của thời kỳ phong kiến Việt Nam, Bộ luật Hồng Đức dưới triều Lê Thánh Tông được coi làm tiêu biểu nhất Bộ luật được xây dựng trên cơ sở đạo đức nho giáo là cơ bản, ngoài ra cũng thể hiện các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Việc ghi nhận đó xét đến cùng là xuất phát từ đòi hỏi khách quan và cũng là một nghệ thuật cai trị xã hội của Nhà nước, là điều kiện đảm bảo

sự tồn tại của chính bản thân nhà làm luật 5, là chính sách thông minh, dũng cảm của các nhà làm luật triều Lê.6 Khẳng định vai trò của đạo đức trong việc hỗ trợ,

bổ sung cho pháp luật, Phan Huy Chú đã viết:" pháp luật dù có ban hành nhiều đến đâu cũng không thể nào theo kịp được sự thay đổi khôn cùng của xã hội, không nên câu nệ vào những điều luật có sẵn, phàm những tội mà trong luật không có đều có thể lấy đại nghĩa mà quyết định Đó chính là chỗ mầu nhiệm ở ngoài pháp luật (2)

Sự tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của con người

5 Xem, Ho ng Th à n ị Kim Quế b i vi à n ết trong sách Lê Thánh Tông, con người v s à n ự nghiệp, Nxb Đại học quốc gia

H n à n ội, H n à n ội, 1997, tr

6

8

Trang 9

Quốc triều hình luật có những điều luật bảo vệ quyền làm dân tự do của dân đinh , những hình phạt cụ thể chống lại sự vô lý đối với dân đinh và những thường dân nói chung Các điều luật còn xử phạt rất nghiêm khắc đối với những

kẻ xâm phạm tính mạng , sức khỏe của người khác mà không phân cấp theo địa vị

xã hội với những kẻ phạm tội Điều 467 quy định : “ Đánh nhau mà gây chết người thì phải tội giảo , lấy gươm giáo cố ý giết người thì bị tội chém” Điều 470 ghi rõ : “ Lấy uy quyền thế lực mà bắt trói người thì xử tội như tội đánh nhau, đánh người ; nhân bắt trói mà đánh người ta bị thương hay chết thì dù mình có không hạ thủ cũng bị xử phạt tội nặng nhất , người đánh cũng cùng một tội” Như vậy trong xã hội đương thời , tính mạng con người không phân biệt sang hèn , giai cấp đều được pháp luật bảo vệ

Quốc Triều hình luật có nhiều quy định bảo vệ danh dự , nhân phẩm của con người trong xã hội Điều 294,295 quy định trách nhiệm của nhà nước , đặc biệt

hệ thống quan lại phải đảm bảo cuộc sống tối thiểu của người nghèo khổ trong xã hội Ví dụ như : “ trong kinh thành hay phường ngõ , làng xóm có kẻ đau ốm mà không ai nuôi nấng , nằm đường sá , cầu , điếm , chùa , quán thì xã quan ở đó phải dựng lều lên mà giữ gìn, săn sóc và cho họ cơm cháo thuốc men, cốt sao cứu cho họ sống , không được bỏ mặc cho họ rên rỉ , khốn khổ Nếu không may mà

họ chết thì phải trình lên quan trên và tùy tiện chôn cất , không được để phơi lộ thi hài , nếu trái lệnh thì quan phường xã phải xử tội biếm hay bãi chức” Điều 295: “ Hoặc những người góa vợ , góa chồng, mồ côi mà người tàn tật nặng nghèo khổ không có người thân thích để nương tựa , không thể tự mình mưu sống được thì quan sở tại phải cưu mang họ”

Bộ luật nhà Lê đã thể hiện rất rõ việc bảo vệ quyền sống của con người Quốc triều hình luật quy định những khoản chiếu cố người già khi phạm tội, từ 70 tuổi trở lên trừ khi phạm tội thập ác còn nếu phạm tội từ lưu trở xuống đều cho chuộc tôị bằng tiền Điều 17 qui định khi phạm tội chưa già cả, tàn tật, đến khi già

cả, tàn tật mới bị phát giác, thì xử tội theo luật già cả, tàn tật Khi còn nhỏ phạm tội, đến khi lớn mới phát giác, thì xử tội theo luật khi còn nhỏ Quy định này mang đậm tính nhân văn sâu sắc, đáng để cho người hậu thế suy nghĩ, vận dụng

Bảo vệ quyền lợi của con người thông qua chế định trách nhiệm pháp lý

và trách nhiệm đạo đức của quan lại

9

Trang 10

- Triết lý, chính sách và các bộ phận hợp thành của quan chế dưới triều vua Lê Thánh Tông

Lê Thánh Tông với tinh thần đề cao vai trò của pháp luật và trách nhiệm

tuân thủ pháp luật đã từng yêu cầu các quan rằng: "…pháp luật là phép công của nhà nước, ta cùng các ngươi phải cùng tuân theo…".7

Chủ thuyết nổi bật của nhà Lê là đã gắn trách nhiệm của quan lại đối với đời sống, quyền lợi của người dân, cộng đồng, xã tắc Điều này được minh chứng

rõ nét trong Bộ Luật Hồng đức qua sự ràng buộc trách nhiệm của quan đối với các mặt đời sống hay quyền lợi của người dân Chủ thuyết về quan lại của nhà Lê còn được thể hiện ở chế độ giám sát, kiểm tra đối với hoạt động, hành vi ứng xử của quan lại bằng cả thiết chế nhà nước và thiết chế xã hội, giám sát nhà nước và giám sát xã hội Kết quả giám sát, kiểm tra, sát hạch quan lại là căn cứ pháp lý –

xã hội cho việc đề bạt, thăng, giáng chức, xử phạt và khen thưởng

- Trách nhiệm của các quan trong các hoạt động tố tụng liên quan đến quyền lợi của người dân phạm tội

LHĐ có nhiều quy định về thủ tục, quy trình tố tụng rất chặt chẽ, xác định rõ trách nhiệm của các quan coi ngục đối với sức khỏe, quyền lợi của người phạm tội Tính tiến bộ, nhân văn của Luật Hồng đức được thể hiện qua các quy định về thủ tục tra khảo phạm nhân, người thực thi phải tuyệt đối tuân thủ, không được tuỳ tiện: tra khảo tù phạm không được quá ba lần; đánh bằng trượng không được quá số 100; trái luật này thì quan tra án sẽ bị phạt tiền 100 quan; Khi đã có lệnh thả tù phạm mà còn giam giữ quá hạn thì quan coi tù bị xử phạt: "Gặp ân xá mà tội nhân không phạm tội ác nghịch thì đều được ân xá theo chiếu chỉ lúc ấy…

- Về chế định phòng ngừa, xử lý tội tham nhũng của quan lại

Trong quan chế thời vua Lê Thánh Tông còn bao gồm các quy định, các thiết chế

về phòng, chống, xử lý nghiêm minh hành vi tham nhũng của quan lại Nghiên cứu toàn bộ Bộ luật đã chỉ ra, trong tổng số 722 Điều luật với 13 Chương chia làm 6 quyển thì có 78 Điều luật có quy định hành vi liên quan đến tham nhũng (chiếm 12,3%) Trong tổng số 13 Chương của Bộ luật thì có 7 Chương có các quy định về tham nhũng với các chế tài xử phạt nghiêm khắc

Theo đó, có quy định về các tội phạm liên quan đến nhận hối lộ, nhũng nhiễu để chiếm đoạt tiền của dân, được thể hiện trong 14 điều Việc nhũng nhiễu

ăn hối lộ trên nhiều lĩnh vực khác nhau như nhận hối lộ trong tuyển đinh tráng vào quân đội (Điều 170); nhận hối lộ khi mật tra của quan liêm phóng (Điều 197);

10

Ngày đăng: 17/07/2016, 10:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w