Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân ngay lập tức làm phát sinh một loạt các vấn đề pháp lý như làm thế nào để xác định trạng thái tinh thần và xác định sự tồn tại của ý đ
Trang 1TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ PHÁP NHÂN TẠI MỸ
Nguyễn Khắc Hải1
Trách nhiệm hình sự của pháp nhân là một trong những vấn đề gây tranh cãi nhất của luật hình sự hiện đại Hội đồng châu Âu và Liên minh châu Âu đã cùng đề xuất với các nước thành viên để đưa trách nhiệm hình sự pháp nhân vào pháp luật hình sự của quốc gia mình Nhiều nước châu Âu đã theo khuyến cáo, nhưng một số nước lại không hỗ trợ sáng kiến này 2 Việc truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với pháp nhân ngay lập tức làm phát sinh một loạt các vấn đề pháp lý như làm thế nào để xác định trạng thái tinh thần và xác định sự tồn tại của ý định trong hành động của một thực thể pháp lý có tư cách pháp nhân, phạm vi mà pháp nhân chịu trách nhiệm về các hành động của nhân viên của họ, những tiêu chuẩn cần hướng dẫn các quyết định đưa đơn kiện đối với pháp nhân, các hình phạt có thể áp dụng đối với pháp nhân Ở Mỹ, chế định trách nhiệm hình sự pháp nhân đã tồn tại hơn 100 năm nên các kinh nghiệm thực tế của Mỹ trong lĩnh vực này có thể là một công cụ hữu ích cho các nước đã áp dụng hoặc đang nghiên cứu khả năng đưa trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân vào pháp luật hình sự quốc gia Nghiên cứu này bàn về các giai đoạn phát triển trong hệ thống pháp lý của các học thuyết của
Mỹ về trách nhiệm hình sự pháp nhân và ứng dụng thực tế của mình để làm sáng tỏ cách tiếp cận của Mỹ trong việc giải quyết các vấn đề trên và có liên quan.
I Lịch sử vấn đề trách nhiệm hình sự pháp nhân tại Mỹ
Ý tưởng của việc buộc các pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các hoạt động của các chi nhánh của chúng còn tương đối mới mẻ, bởi vì “vào đầu thế kỷ mười sáu và mười bảy thì quan điểm chung là pháp nhân không buộc phải chịu trách nhiệm hình sự" V.S Khanna lập luận rằng quan điểm này có thể xuất phát từ ít nhất bốn trở ngại: đầu tiên, vấn đề của "quy kết hoạt động của pháp nhân chỉ là viễn tưởng pháp lý”; thứ hai, cho rằng các pháp nhân không thể "có trạng thái tâm lý đáng bị khiển trách cần thiết để thực hiện tội phạm có chủ định; thứ ba là" học thuyết quyền lực cực đoan, theo đó tòa án sẽ không buộc các pháp nhân phải
Critiques of Corporate Criminal Liability.” 8 Buff Crim L Rev 89, 126-27, 2004 (Бил С.С и Сэфуат А.Джи Что последние события в Западной Европе говорят нам о критикуемой в США уголовной ответственности юридических лиц, 2004 г ).
Trang 2chịu trách nhiệm đối với những hành vi, chẳng hạn như tội phạm, mà không được quy định trong điều lệ của mình; và trở ngại thứ tư là "sự nhận thức theo nghĩa thông thường của các tòa án trong tố tụng hình sự", dẫn đến những khó khăn trong việc áp dụng những quy tắc đối với chủ thể đặc biệt là pháp nhân
Lúc đầu các tòa án ở Mỹ bắt đầu truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân
"trong những trường hợp liên quan đến việc không thực hiện những điều luật buộc phải làm của các công ty tư nhân được ủy quyền của chính phủ, chẳng hạn như chính quyền của thành phố tự trị, dẫn đến thiệt hại cho cộng đồng”, và sau đó, các quy tắc về thiệt hại cho cộng đồng và tính chịu trách nhiệm được mở rộng áp dụng đối với cả các pháp nhân hoạt động thương mại Mặc dù “thời gian giữa năm 1800 trở về trước đã có nhiều nghi vấn là liệu pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự đối với sự lạm quyền (hành vi chủ động), cũng như không làm những điều pháp luật buộc phải làm (chểnh mảng, vô trách nhiệm)”, vào năm 1852 tòa án tối cao ở New Jersey cho rằng "một pháp nhân phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra bởi những nhân viên hoặc các đại lý của nó như một con người tự nhiên; và nó chịu trách nhiệm như một người tự nhiên đối với các hành vi của các đại lý thực hiện theo thẩm quyền, thể hiện hay ngụ ý và áp dụng cả trách nhiệm hình sự cũng như trách nhiệm dân sự đối với pháp nhân" Vì vậy, như Khanna bàn luận, "sự phát triển này (buộc pháp nhân phải chịu trách nhiệm cho cả hai loại hành vi phạm tội có chủ định và chểnh mảng, vô trách nhiệm đối với trách nhiệm được giao) cuối cùng khuyến khích các tòa án mở rộng trách nhiệm hình sự pháp nhân đối với tất cả các tội phạm mà không yêu cầu xác định chủ định"
Tuy nhiên, "các tòa án đã chậm chạp trong việc mở rộng trách nhiệm hình sự pháp nhân đối với các tội phạm có chủ định Không mở rộng cho đến khi một pháp nhân
- tập đoàn Trung tâm Niu Ước và Công ty Đường sắt Hắt sơn Ri vơ của Mỹ (New
York Central & Hudson River Railroad) tại Mỹ vào năm 1909 bị Tòa án tối cao buộc phải chịu trách nhiệm về những tội phạm có chủ định" Trong vụ án này, tập đoàn bị đơn cho rằng các quy định của pháp luật về vấn đề này, cho phép cho buộc các tập đoàn chịu trách nhiệm về những tội phạm thực hiện bởi các đại lý của họ, là
vi hiến vì "Tòa án không có thẩm quyền để quy tội cho một pháp nhân, hoặc truy tố
pháp nhân bởi lý do những nhiệm vụ mà pháp nhân phải đảm nhiệm [và] rằng trừng phạt pháp nhân như vậy thì thực tế để trừng phạt các cổ đông vô tội, và để tước đoạt tài sản của họ mà họ không có cơ hội được xét xử, do đó không theo đúng thủ tục của pháp luật " Tuy nhiên, Tòa án đã bác bỏ lập luận này và cho
rằng:
Trang 3Đúng là có một số tội phạm, theo bản chất tự nhiên của chúng, không thể được thực hiện bởi pháp nhân … có nhiều loại tội phạm … chứa đựng mục đích thực hiện những điều trái với quy chế của pháp nhân Đối với những loại tội phạm
đó chúng ta không thấy những lý do hợp lý để giải thích vì sao các pháp nhân lại không phải chịu trách nhiệm về sự nhận biết và những mục đích của các chi nhánh của họ, thực hiện trong phạm vi thẩm quyền được trao.
Sau đó với lý do trên các tòa án đã mở rộng tới cả các vụ án làm rõ ý định phạm tội, và "trong suốt đầu thế kỷ hai mươi các tòa án đã bắt đầu buộc các pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự … cho hầu hết những thiệt hại trừ những tội phạm hiếp dâm, giết người, vi phạm chế độ một vợ một chồng, và các tội phạm với mục đích hiểm độc”
Theo pháp luật chung của Anh vào thế kỷ XVI-XVII, pháp nhân – doanh nghiệp - không bị truy cứu về hình sự Các luật sư vào thời điểm đó tin rằng các công ty, không phải là con người để có khả năng đưa ra sự lựa chọn thể hiện đạo đức, nên không thể phải chịu trách nhiệm về mặt đạo đức hoặc hình sự đối với các hành động của họ3 Một quan tòa nổi tiếng của Anh - Lord Holt - năm 1701 tuyên bố: "Doanh nghiệp không bị truy tố hình sự"4, và trong hơn một thế kỷ, nguyên tắc pháp lý này đã hướng dẫn các thẩm phán Anh và Mỹ, ngăn chặn nỗ lực để áp đặt trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ XIX, tình hình bắt đầu thay đổi bởi vì các tòa án đã bắt đầu quan tâm đến trách nhiệm hình sự đối với doanh nghiệp cho cái gọi là “vi phạm trật tự công cộng” Luật pháp Hoa Kỳ định nghĩa “vi phạm trật tự công cộng” là "sự vi phạm công cộng vô lý đối với các lĩnh vực rộng lớn của pháp luật về công cộng Danh sách các hành vi “vi phạm trật
tự công cộng” bao gồm một số hành động có hại và có khả năng gây nguy hiểm, chẳng hạn như thải các khí độc hại, gây cản trở trên đường công cộng, lưu giữ các động vật bị bệnh ở nơi công cộng và sở hữu chất nổ ở những vị trí nguy hiểm Trong thế kỷ XIX, do tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong số các tập đoàn ở Mỹ cũng như số lượng các “vi phạm trật tự công cộng” đã tăng lên đáng kể, pháp luật
đã được dự tính để đáp ứng những thay đổi này và việc cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân đã phần nào thể hiện điều này
Ví dụ, năm 1852 Tòa án tối cao bang New Jersey đã đưa ra phán quyết về khả năng truy tố hình sự đối với các công ty đường sắt đã xây một tòa nhà ở giữa
1477, 1479-1480, May 1996 (Хана В.С Уголовная ответственность юридических лиц: для чего она нужна? Май1996 г ).
Trang 4đường của công chúng, làm cản trở giao thông5.Năm 1854, Tòa án tối cao thượng thẩm ở bang Massachusetts đã phán quyết về khả năng truy tố hình sự đối với một tập đoàn, xây dựng một cây cầu qua sông mà tàu bè hay đi lại, tạo ra những trở ngại cho vận tải đường sông6 Quyết định của Toà án Massachusetts đã thúc đẩy bởi một thực tế là học thuyết pháp lý về nghiêm cấm việc truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân đối với việc thực hiện những hành vi tương tự “xảy ra vào thời điểm, khi
mà số lượng các doanh nghiệp chưa nhiều, nhưng cơ hội của họ bị hạn chế, cũng như mục đích mà họ đã tạo ra Kinh nghiệm cho thấy sự cần thiết phải sửa đổi của
nó7 Hơn nữa, tòa án ghi nhận là “không có lý do chính đáng” để tha cho các pháp nhân “bởi các hậu quả của hành động bất hợp pháp của các đại diện của họ ”8 Tòa án đã đưa ra sự tương tự với thực tiễn xét xử án dân sự từ lâu đã thừa nhận trách nhiệm của pháp nhân cho các hành động của người đại diện của họ vì rằng bất
kỳ lệnh cấm truy tố pháp nhân “trong nhiều trường hợp, sẽ loại trừ tất cả các biện pháp pháp lý bảo vệ cần thiết, và làm cho không thể bồi thường thiệt hại gây ra bởi các doanh nghiệp, bởi vì sẽ để lại một phương pháp bảo vệ duy nhất là từ nhân viên
vô trách nhiệm"9 Trong kết luận, tòa án phán quyết: "Không có nguyên tắc pháp lý nào mà có thể bảo đảm cho các tổ chức được quyền miễn trừ Nếu họ xâm phạm vào quyền sở hữu tư nhân hoặc tạo ra chướng ngại vật mà vi phạm các quyền của người khác hoặc gây hại cho anh ta, thì không ai có thể nghi ngờ gì về trách nhiệm của họ Trong cùng một cách thức và lý do tương tự, đối với việc thực hiện những hành vi tương tự, gây ra sự bất tiện cho xung quanh và gây bất bình trong cộng đồng, họ phải chịu trách nhiệm đối với điều này và theo cách đó là có thể chấp nhận để điều tra các vi phạm pháp luật tương tự”10
Năm 1909 trong quyết định về vụ án Trung tâm Niu Ước và Công ty Đường
sắt Hắt sơn Ri vơ của Mỹ, Tòa án tối cao của Mỹ đã chấp nhận luận cứ của tòa án
xét xử vụ này về việc áp dụng chế tài hình sự đối với pháp nhân Vụ án này nhắc đến Đạo luật Elkins, quy định mức cước phí của các công ty vận tải, bao gồm cả các công ty vận tải đường sắt, cấm các công ty vận tải đường sắt giảm giá cho các khách hàng ưu tiên của mình Theo sự buộc tội của nhà nước thì các nhân viên của
công ty đường sắt trong vụ Trung tâm Niu Ước và Công ty Đường sắt Hắt sơn Ri
5 The State v the Morris and Essex Railroad Co., 23 N.J.L 360 (1852).
Trang 5vơ của Mỹ đã vi phạm quy định của Đạo luật, và các tòa án buộc phải quyết định
về khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với công ty này Vì lý do trật tự công cộng và công lý, tòa án phán quyết truy cứu hình sự đối với công ty này Trước tiên, tòa án chỉ ra vai trò quan trọng của các doanh nghiệp trong thế giới hiện đại và
sự cần thiết của việc điều tiết các hoạt động của các doanh nghiệp thông qua pháp luật một cách thích hợp Toà án tiếp tục lưu ý rằng sự thiếu vắng trách nhiệm hình
sự đối với pháp nhân thì những đạo luật, như Elkins luật, sẽ không bao giờ hoạt động, và công chúng sẽ không bao giờ có thể tận hưởng được những lợi ích được cung cấp Quyết định của tòa được lý giải như sau:
"Thực tế của lịch sử xã hội hiện đại là luật cấm cắt giảm thuế quan đã định, chưa được áp dụng một cách có hiệu quả cho đến tận hiện tại, hiện nay hình phạt cho những vi phạm pháp luật chỉ mới áp dụng cho cá nhân Và mặc dù pháp luật phải bảo vệ các quyền của mọi cá nhân, và các quyền của pháp nhân cũng không kém phần quan trọng so với các quyền của công dân, pháp luật không thể nhắm mắt trước thực tế là hiện nay phần lớn các giao dịch kinh doanh được thực hiện bởi
tổ chức, và các hoạt động thương mại quốc tế trên thực tế gần như hoàn toàn nằm trong tay các doanh nghiệp, và giải thoát họ khỏi mọi hình thức trừng phạt trên cơ
sở học thuyết cũ và hoàn toàn lỗi thời là một pháp nhân không thể phạm tội, sẽ làm mất đi phương tiện kiểm soát hiệu quả và thống nhất đối với đối tượng xét xử và lạm dụng sự cải tạo trong lĩnh vực này”11
Hơn nữa, tòa án đã phán quyết rằng do chính các tổ chức nhận được lợi ích kinh tế, thì rõ ràng các tổ chức phải chịu trách nhiệm hình sự:
“Từ góc độ của luật pháp, tòa không thấy bất kỳ sự phản đối đáng kể, nhưng từ góc nhìn về trật tự công cộng, có những lý do rất xác đáng rằng một tổ chức nào đó
mà được hưởng lợi từ một giao dịch cụ thể và hoạt động chỉ thông qua đại diện và nhân viên của họ, sẽ bị phạt tiền vì sự cố tình và cố ý của các đại diện được trao thẩm quyền của họ , và những hoạt động có phương hướng và nhận thức của họ cũng có thể được quy cho tổ chức, thông qua đại diện của mình "12 Trong kết luận, tòa án phán quyết: "không có lý do chính đáng nào để thuyết phục rằng các tổ chức không phải chịu trách nhiệm về các cáo buộc đối với những hoạt động cố tình và cố
ý của các đại diện của họ, thực hiện trong phạm vi thẩm quyền được tổ chức trao”13
11 New York Central & Hudson River Railroad Co v United States , 212 U.S 481, 495 (1909)
12 New York Central & Hudson River Railroad Co v United States , 212 U.S 481, 495 (1909)
13 New York Central & Hudson River Railroad Co v United States , 212 U.S 481, 495 (1909)
Trang 6Là kết quả của một quyết định của tòa án trong vụ án của công ty đường sắt
“Trung tâm Niu Ước và Công ty Đường sắt Hắt sơn Ri vơ của Mỹ ” chế định
trách nhiệm hình sự pháp nhân đã được thiết lập vững chắc trong luật pháp Mỹ, và các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp sau:
- Tội phạm môi trường;
- Cung cấp bất hợp pháp các dịch vụ y tế;
- Vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng;
- Vi phạm pháp luật chống độc quyền;
- Tham ô và lừa đảo;
- Phổ biến hoặc trưng bày các nội dung khiêu dâm;
- Vi phạm pháp luật về an toàn tại nơi làm việc14
Ngoài những hành vi phạm tội này, căn cứ vào tính chất kinh tế, các doanh nghiệp thậm chí còn bị truy tố về những tội xâm phạm nhân thân, kể cả giết người Ví dụ, vụ án của các công ty xây dựng "Granit", trong đó có bảy công nhân xây dựng đã thiệt mạng trên công trường thi công do tai nạn Công ty đang tiến hành công việc xây dựng bị buộc tội giết người vì đã không tuân thủ các quy tắc an toàn kỹ thuật trên công trường xây dựng Công ty xây dựng đã phản đối với lý do là pháp nhân chỉ có thể bị truy tố đối với các tội phạm liên quan đến tài sản, chứ không phải với các tội liên quan đến con người Tòa phúc thẩm bác bỏ lập luận này và giải thích quyết định của mình như sau:
“Nỗ lực để phân biệt giữa các tội phạm xâm phạm tài sản và tội phạm xâm phạm con người quy định bởi bản chất của pháp nhân như là những chủ thể của động cơ kinh tế Phạm tội xâm phạm tài sản, các tổ chức có thể thu nhận lợi nhuận trực tiếp cho mình, còn các tội xâm phạm đến con người không phải luôn luôn trực tiếp liên quan đến động lực của lợi nhuận Đây là sự lập luận không xác đáng Các doanh nghiệp đã không quan tâm đến thực tế là mình có thể gián tiếp nhận được lợi ích về kinh tế bằng cách phạm tội xâm phạm đến con người Để nhận được loại lợi nhuận kinh tế này thì doanh nghiệp phải cắt giảm chi phí áp dụng các phương tiện, biện pháp an toàn, sử dụng vũ lực đối với các công nhân đình công hoặc sử dụng phương pháp phạm tội để chống lại đối thủ Nếu pháp nhân đã chấp nhận những mạo hiểm trên và thực hiện những hành vi tương ứng thì pháp nhân đó cũng phải chịu trách nhiệm hình sự tương tự như các bị cáo khác15
15 Granite Construction Co v Superior Court, 149 Cal App 3d 465, 467 (5 th Dist 1983).
Trang 7Roland Hefendehl nói rằng có "chỉ có hai tình huống mà trách nhiệm hình sự của pháp nhân không thể được áp dụng: khi tội phạm không thể bị trừng phạt bằng cách phạt tiền - mà phạt tiền là những phương tiện mang tính nguyên tắc để trừng phạt một công ty - và khi tội phạm, do bản chất của nó không thể phạm phải bởi một pháp nhân (ví dụ như hiếp dâm) Như vậy, đối với rất nhiều sự cân nhắc chính sách
mà Tòa án đề cập trong các trường hợp trên, trong phần lớn các phán quyết của Mỹ, trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân được xác định trên học thuyết chế độ chịu trách nhiệm thay thế bởi cấp trên Theo học thuyết chế độ chịu trách nhiệm thay thế bởi cấp trên, “ba yêu cầu phải được đáp ứng để áp đặt trách nhiệm đối với một doanh nghiệp:
Thứ nhất, một đại lý của doanh nghiệp phải có hoạt động bất hợp pháp (có hành vi khách quan) với trạng thái tâm lý (thể hiện ý định phạm tội) Thứ hai, đại lý thực hiện những hoạt động đó trong phạm vi thẩm quyền của mình Cuối cùng, đại lý phải có dự định thu lợi cho tập đoàn
Các tòa án liên bang cấp thấp hơn đã theo nguyên tắc chung này, ví dụ vào năm 1943, một công ty vi phạm một quy định về cấm đóng góp chính trị của các thực thể công cộng, vòng kiểm tra thứ tám phục vụ cho xét xử của tòa phúc thẩm cho rằng "không còn bất kỳ sự phân biệt cơ bản nào giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự của các doanh nghiệp, dựa trên những yếu tố của ý định hoặc sai mục đích"
Năm 1972, tại Mỹ, Tòa thượng thẩm liên bang quận chín đã tổ chức “với tư cách một quy tắc chung một công ty phải chịu trách nhiệm cho các hành vi của các đại lý của mình trong phạm vi của việc làm thuộc quyền hạn của họ, mặc dù trái với chính sách chung của doanh nghiệp nói chung và trái với hướng dẫn đối với các đại lý " Mặc dù trường hợp này liên quan đến những vi phạm của luật chống độc quyền, Đạo luật Sherman, điều này mở rộng cơ chế chịu trách nhiệm thay thế bởi cấp trên rất đáng kể ở chỗ nó hạn chế sự bao biện của các doanh nghiệp
Năm 1989, Tòa thượng thẩm của Mỹ trong vòng điều tra thứ hai đã ủng hộ sự tìm kiếm của một tòa cấp dưới về lỗi của tội không chấp hành quyết định của tòa án của công ty phim đang kháng cáo dựa trên những hành động có chủ ý của những nhân viên của công ty, những người được chứng minh là hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của mình trong việc cố tình phủ nhận những những lệnh của tòa án16 Tòa án đã cho rằng "một khi đã xác định được là đại lý của doanh nghiệp rõ ràng
1989), at 660.
Trang 8cố ý phạm tội không chấp hành quyết định của tòa án, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm Đó là quy tắc của trách nhiệm thay thế, nó khuyến khích các công ty để thiết lập những nguyên tắc tuân thủ” Điều thú vị là Tòa án cũng khẳng định việc duy trì của các tòa án khác, ghi nhận rằng trong sự Sửa đổi lần thứ sáu đảm bảo cho những người của doanh nghiệp phạm tội không chấp hành quyết định của tòa án được xét xử bởi phiên tòa bồi thẩm
Theo một hướng khác, Tòa án tối cao cũng đã áp đặt trách nhiệm đối với các doanh nghiệp đối với những tội phạm về “phúc lợi công cộng” Ví dụ, tại Mỹ vào
năm 1971 đối với vụ án về Tập đoàn Khoáng sản và Hóa chất quốc tế, Tòa án Tối
cao áp dụng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc tiêu chuẩn đối với tập đoàn bị đơn về việc đã vận chuyển chất độc hại và nguy hiểm17 Theo đó, Tòa án lý giải rằng nơi
"nguy hiểm hoặc các thiết bị có hại hoặc các sản phẩm hoặc các vật liệu thải độc hại có liên quan, xác suất quy định như vậy tuyệt vời đến mức mà bất cứ ai nhận thức được rằng anh ta đang sở hữu chúng hoặc buôn bán chúng phải được cho rằng nhận thức được quy định này
II Luật pháp Mỹ hiện hành
2.1 Bộ luật hình sự mẫu và vấn đề doanh nghiệp phạm tội
Mặc dù dưới “Hiến pháp Mỹ, quyền lực để áp đặt trách nhiệm hình sự nhìn chung là dành chủ yếu cho các tiểu bang,” và do đó “luật hình sự của Mỹ được pháp điển hóa trong năm mươi hai bộ luật hình sự khác nhau,”24 vẫn còn có những tương đồng giữa các bộ luật, “trong phần lớn do ảnh hưởng từ Bộ luật hình sự mẫu của Viện nghiên cứu Luật Mỹ Ban hành năm 1962, Bộ luật đã thúc đẩy một làn sóng cải cách Bộ luật tiểu bang và do đó, nhiều học giả tranh luận rằng các Bộ luật hình sự mẫu, nhiều hơn bất cứ Bộ luật nào, là luật gần nhất để trở thành một
Bộ luật hình sự Mỹ”25 Đối với trách nhiệm hình sự của doanh nghiệp, cách tiếp cận của Bộ luật là “hạn chế hơn so với đa số các thẩm quyền phán quyết được sử dụng tại Mỹ Xử phạt doanh nghiệp trong các trường hợp vi phạm đáng bị phạt chỉ
áp dụng nếu doanh nghiệp vi phạm một nghĩa vụ nào đó do luật định hoặc nếu việc phạm tội là do bất cẩn của ít nhất một lãnh đạo cấp cao”26
Bộ luật hình sự mẫu phân chia doanh nghiệp phạm tội thành ba nhóm khác biệt với các hệ thống trách nhiệm khác nhau: nhóm đầu tiên bao gồm các hành vi phạm tội phổ biến đòi hỏi phải có ý định phạm tội, và những hành vi phạm tội này được mô tả là các tội phạm mà thiếu một mục đích lập pháp rõ ràng nhằm áp đặt
Trang 9trách nhiệm pháp lý đối với doanh nghiệp, thông thường là do cá nhân vi phạm như gian lận hoặc giết người ở cấp độ hai18 Đối với các hành vi phạm tội này, Bộ luật
“cung cấp các hình phạt đối với các doanh nghiệp chỉ khi tội phạm đã được thực hiện, hoặc ít nhất cũng đã được cho phép, ra lệnh hoặc do sơ xuất bởi ban giám đốc hoặc bởi lãnh đạo chi nhánh hành động thay mặt cho doanh nghiệp trong phạm vi thẩm quyền của mình”19
Nhóm thứ hai bao gồm các tội phạm chứa đựng yêu cầu về ý định phạm tội
mà theo ý định có thể nhận biết được của cơ quan lập pháp, có thể phạm phải bởi doanh nghiệp (ví dụ như sự đồng mưu kinh doanh)" Ở đây, Bộ luật hình sự mẫu theo thuyết trách nhiệm thay thế bởi cấp trên, quy định rằng:
Doanh nghiệp sẽ bị trừng phạt đối với những tội phạm mà không cần quan tâm tới vị trí của người phạm tội trong hệ thống của doanh nghiệp nếu người phạm tội đã hành động trong phạm vi của công việc của mình và với mục đích có lợi cho tập đoàn Ngoài ra, ngược lại với tư pháp, Bộ luật hình sự mẫu tạo ra cơ chế biện
hộ có lợi cho doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có thể chứng minh bằng sự ưu thế của bằng chứng rằng một người giám sát có trách nhiệm cao hơn chủ thể của hành
vi phạm tội đã làm việc rất tận tâm để ngăn sự việc phạm tội, thì doanh nghiệp có thể không bị trừng phạt
Cuối cùng, nhóm thứ ba được dựa trên các tội phạm có trách nhiệm tuyệt đối, và đối với những tội phạm này thì Bộ luật hình sự mẫu “coi rằng các cơ quan lập pháp dự kiến quy trách nhiệm đối với các doanh nghiệp về các loại công việc sai lầm nhất định Theo đó, trên cơ sở nguyên tắc trách nhiệm thay thế bởi cấp trên, các doanh nghiệp có thể phải chịu trách nhiệm hình sự mà không có bằng chứng về
ý định hoặc yếu tố vật chất khác của hành vi phạm tội cũng không cần thiết để chứng minh là có dự định có lợi cho doanh nghiệp”
2.2 Các quy định khác
“Tại Mỹ, pháp nhân được coi là chủ thể có thể bị đưa ra xét xử và bị kết án đối với những tội phạm do cá nhân giám đốc, người quản lý và thậm chí cả nhân viên ở cấp thấp thực hiện”20 Mỹ là quốc gia áp dụng “trách nhiệm hình sự đặc trưng để bổ sung cho những quy định dân sự và hành chính”, điều mà những quốc
American Doctrine Through Comparative Criminal Procedure.” The Yale Law Journal , October
2008, v.118:i1, p.126-176, at p 128
Trang 10gia khác sử dụng với tư cách là công cụ để điều chỉnh những hoạt động của các pháp nhân21
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia và học giả không đồng ý vì cho rằng liệu cách thức mà người Mỹ tiến hành hiện nay có giúp ích hay gây hại nhiều hơn Edward Diskant chỉ ra rằng chỉ riêng quá trình đưa ra bản cáo trạng thôi cũng có thể có "tác động hủy hoại về tài chính và uy tín, và điều này có thể làm hỏng công việc kinh doanh của các công ty Và hệ quả là, nhận thức chung trong cộng đồng kinh doanh đối với việc kết tội pháp nhân chính là cú đánh có khả năng khai tử đối với một công
ty, và như vậy công ty khó có thể phục hồi ngay cả khi nó thực sự là vô tội "
Theo quy định của pháp luật hình sự một người chỉ bị truy cứu trách nhiệm khi thực hiện hành vi rõ ràng là cố ý Đối với pháp nhân, khác với con người, không có khả nhăng nhận thức những lựa chọn đạo đức, hiển nhiên là phát sinh câu hỏi: làm sao có thể truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân? Theo luật Mỹ, câu trả lời cho câu hỏi này nằm trong hành động và quyết định của các nhân viên của tổ chức Tòa án thượng thẩm liên bang của Mỹ đã đưa ra phán quyết “hoạt động của pháp nhân, cuối cùng, là những hành động của các nhân viên của mình trong phạm
vi thẩm quyền được trao”22.Vì vậy, bất kỳ thông tin nào thu được từ nhân viên của
tổ chức, hoạt động trong phạm vi thẩm quyền được trao được tổng hợp và được quy gán cho tổ chức đó23 Nếu có từ ba thành viên riêng biệt của tổ chức có thông tin về một hiện trạng của tình hình nào đó, thì được coi là tổ chức đó đưa ra thông tin về
ba hiện trạng24 Quy luật về những thông tin chung là kết quả quan trọng của cơ cấu của tổ chức của doanh nghiệp hiện đại Quyết định của một tòa án ở Mỹ đã chỉ ra: "Các doanh nghiệp phân tách thông tin, tạo ra từ những yếu tố nghĩa vụ và hoạt động cụ thể của hợp phần nhỏ hơn Khái quát của các hợp phần như vậy của doanh nghiệp phát sinh sự nhận thức về các hoạt động cụ thể Không quan trọng là các nhân viên, chịu trách nhiệm đối với việc thực hiện một hợp phần của hoạt động, có biết các nhân viên chịu trách nhiệm thực hiện những hợp phần khác của hoạt động Doanh nghiệp được cho rằng sắp đặt sự nhận thức tập thể đối với tất
cả các nhân viên và chịu trách nhiệm trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ theo đúng cách đề ra”25
21 Id at 129.
22 United States v Bank of New England , N.A., 821 F 2d 844, 855 (1 st Cir 1987).
23 United States v Bank of New England , N.A., 821 F 2d 844, 855 (1 st Cir 1987).
24 Joel M Androphy, Richard G Paxton & Keith A Byers, General Corporate Criminal Liability, 60 Tex B.J 124 (1997) (Джоел М Андрофи, Ричард Джи Пакстон и Кит А Байерс
Общая уголовная ответственность юридических лиц, 1997 г ).
25 United States v Bank of New England , N.A., 821 F 2d 844, 856 (1 st Cir 1987).