và nh thế nào là “ngời có lỗi trong tội phạm”?; 2 Cha điều chỉnh tại Phần chung BLHSmột vấn đề quan trọng khi tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc thực hiện do vô ý – cha
Trang 1khoa học-thực tiễn của sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện
và mụ hỡnh lý luận của cỏc quy định Phần chung
TSKH GS Lờ Văn Cảm
Trởng Bộ môn T pháp hình Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
sự-I Thực trạng của cỏc quy định Phần chung
phỏp luật hỡnh sự (PLHS) Việt Nam hiện hành
1 Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam năm 1999 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2000) đợc
thi hành đến nay gần 15 năm đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng và chốngtội phạm, bảo vệ các quyền và tự do của con ngời và của công dân, cũng nh các lợi íchcủa xã hội và của Nhà nớc Tuy nhiên, từ những luận điểm trong Chiến lợc cải cách tpháp (CCTP) đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005của Bộ Chính trị BCHTW Đảng cho thấy, trong giai đoạn xây dựng Nhà nớc phápquyền (NNPQ) và CCTP ở Việt Nam hiện nay việc nghiên cứu để hoàn thiện pháp luậthình sự (PLHS) hiện hành nói riêng là một trong những nhiệm vụ cần thiết và quantrọng của khoa học luật hình sự nớc nhà Vì vậy, để thực hiện nhiệm vụ này các cán bộthực tiễn đang công tác tại các cơ quan bảo vệ pháp luật (BVPL) và Tòa án, cũng nh cácnhà khoa học-luật gia trong lĩnh vực t pháp hình sự cần phải tiếp tục suy ngẫm và phântích để làm sáng tỏ về mặt lý luận, đồng thời trên cơ sở đó đa ra các kiến giải lập pháp(KGLP) đối với việc sửa đổi, bổ sung các quy phạm và các chế định còn thiếu (hoặckhiếm khuyết) trong BLHS năm 1999 hiện hành
2 Việc nghiên cứu các quy định của Phần chung PLHS Việt Nam hiện hành (mà cụthể là của BLHS năm 1999) và thực tiễn áp dụng các quy định này trong những nămqua cho thấy, cho đến nay các quy định này đã bộc lộ một loạt những nhợc điểm cơ bảntrên các bình diện khác nhau về lôgic pháp lý (1), kỹ thuật lập pháp (2), tính hợp lý về
mặt thực tiễn – tức là tính khả thi (3) và/hoặc tính chính xác về mặt khoa học (4) nh
sau:
2.1 Các Ch ơng I và II của BLHS năm 1999 hiện hành chính là đề cập đến những
vấn đề liên quan và gần với nội dung của chính “Đạo luật hình sự” chứ không phải làcủa một "Điều khoản cơ bản" nào hết nên chúng cần phải đợc gộp vào một chơng vớitên gọi chung thể hiện đúng bản chất pháp lý của cả hai chơng này, đồng thời thiếuquy phạm về nguồn của PLHS
2.2 Đoạn 2 Điều 1 “ Nhiệm vụ của Bộ luật hình sự ” ghi nhận cha đầy đủ và chính
xác nên cũng cần phải đợc sửa đổi và bổ sung, vì thực tế là ngoài “tội phạm và hình
phạt” ra, BLHS năm 1999 cũng còn quy định “các biện pháp t pháp” và “các chế định pháp lý hình sự khác” nữa, mà trong các chế định pháp lý hình sự khác này bao gồm
một loạt các chế định đợc quy định trong Phần chung và không phải là tội phạm (nh: sựkiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, v.v ).
2.3 Trách nhiệm hình sự (TNHS) mặc dù là một chế định trung tâm của luật hình sự
nhng rất tiếc là vẫn cha đợc điều chỉnh trong một chơng riêng biệt của Phần chung BLHSvới các điều luật đề cập đến các định nghĩa pháp lý (ĐNPL) của một loạt khái niệm quan
trọng nh – TNHS, cơ sở của TNHS, những điều kiện của TNHS là gì (?) và, nội dung cơ
bản của từng điều kiện của TNHS, cũng nh khái niệm năng lực TNHS hạn chế là gì (?),v.v
2.4 Thời gian phạm tội mặc dù cũng là một khái niệm pháp lý cơ bản và quan
trọng của chế định về hiệu lực của đạo luật hình sự, nhng tại Điều 7 vẫn còn thiếu
ĐNPL của khái niệm này
2.5 Vấn đề hiệu lực hồi tố của đạo luật hình sự tại các khoản 2-3 Điều 7 quy định
vẫn cha gọn lắm (vì còn liệt kê rất dài một loạt tên gọi của các chế định nhân đạo củaluật hình sự), mà thực ra có thể gộp chúng lại thành một thuật ngữ chung “các chế định
Trang 2pháp lý hình sự” có lợi (tại khoản 2) hoặc không có lợi (tại khoản 3) cho ngời phạm tội
để đảm bảo đợc tính chính xác về mặt khoa học và chặt chẽ về mặt kỹ thuật lập pháp 2.6 C hế định dẫn độ ng ời phạm tội rõ rànglà một chế định luật hình sự vẫn cha đ-
ợc điều chỉnh về mặt lập pháp, khi mà trong xu thế hội nhập với các nớc trong khu vực
và trên thế giới hiện nay chúng ta cần phải ghi nhận nó để đảm bảo sự hợp tác hữu hiệuhơn nữa với các nớc thành viên INTERPOL và ASEANAPOL trong việc đấu tranhchống trình trạng phạm tội quốc tế và tình trạng phạm tội có yếu tố nớc ngoài 2.7 Chế định về các nguyên tắc của luật hình sự mặc dù là một trong các chế định
quan trung tâm và quan trọng nhất của luật hình sự nhng vẫn cha đợc điều chỉnh về mặtlập pháp với tính chất là một chế định độc lập
2.8 Chế định phân loại tội phạm (các khoản 2-3 Điều 8) còn một nhợc điểm nhỏ
về mặt kỹ thuật lập pháp cha khắc phục đợc của BLHS năm 1985 – các quy phạm củachế định phân loại tội phạm vẫn ghi nhận tại cùng một Điều 8 “Khái niệm tội phạm”,
mà lẽ ra có thể quy định thành một điều luật riêng biệt khác (vì rõ ràng phân loại tộiphạm là một chế định độc lập của luật hình sự, chứ không thể hòa lẫn trong khái niệmtội phạm)
2.9 Các giá trị pháp luật truyền thống của dân tộc ta vẫn cha đợc kế thừa hoàn toàn khi
vẫn cha phi hình sự hóa hành vi che giấu tội phạm cho nhau của những ngời ruột thịt và thânthích gần thực hiện, trong khi đó điều này đã đợc làm đối với hành vi không tố giác tội phạm(nh u điểm đã nêu ở Phần II trên đây), cũng nh đã có trong Dự thảo BLHS sửa đổi lần thứ X(tháng 3/1989) và, vì vậy cần phải đợc giữ lại
2.10 Chế định đa ( nhiều ) tội phạm vẫn còn thiếu một loạt ĐNPL có ý nghĩa rất quan trọng đối với thực tiễn áp dụng PLHS nh: thế nào là “phạm tội nhiều lần” (?) hoặc “phạm nhiều tội” (?), trong khi “phạm tội nhiều lần” vẫn đợc BLHS năm 1999 quy định là tình tiết tăng nặng TNHS chung (điểm “g” khoản 1 Điều 46) và “phạm nhiều tội” – đợc nhắc đến khiquy định về quyết định hình phạt (Điều 50), mà lẽ ra nhà làm luật có thể ghi nhận đợc các
ĐNPL của các khái niệm này để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan BVPL và Tòa án Mặtkhác, bên cạnh dạng “phạm nhiều tội” (1), chế định đa (nhiều) tội phạm trong PLHS Việt Namcòn có ba dạng khác nh “phạm tội nhiều lần” (2), “tái phạm” (3) và “phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp” (4); vì vậy để đảm bảo tính toàn diện thì cùng với việc điều chỉnh về mặt lập
pháp chế định này trong một C hơng riêng biệt cũng gần phải ghi nhận cả “tái phạm” với tcách là một dạng của đa tội phạm
2.11 Chế định lỗi cũng vẫn còn một loạt các nhợc điểm của BLHS năm 1985 cha
khắc phục đợc vì cha phản ánh rõ hai nguyên tắc – TNHS trên cơ sở lỗi và phân hóaTNHS tối đa nh: 1) Cha ghi nhận ĐNPL lý của hai khái niệm rất cơ bản: “lỗi” là gì (?)
và nh thế nào là “ngời có lỗi trong tội phạm”(?); 2) Cha điều chỉnh tại Phần chung BLHSmột vấn đề quan trọng khi tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc thực
hiện do vô ý – cha khẳng định dứt khoát và rõ ràng rằng chỉ trong các trờng hợp có các
điều tơng ứng tại Phần các tội phạm BLHS quy định riêng thì những hành vi này mới bị coi
là tội phạm, vì thực ra khác với những hành vi đợc thực hiện do cố ý, tại Phần các tội phạmBLHS chỉ có một số (chứ không phải tất cả) những hành vi đợc thực hiện do vô ý bị tộiphạm hóa mà hình thức lỗi đợc chỉ ra trực tiếp trong tên gọi của tội phạm; 3) Cha ghi
nhận rõ ràng và dứt khoát ĐNPL của khái niệm chung về tội cố ý – là hành vi nguyhiểm cho xã hội do luật hình sự quy định đợc thực hiện do “cố ý trực tiếp hoặc cố ý
gián tiếp” (rồi sau đó mới lần lợt đề cập đến định nghĩa pháp lý của khái niệm từng
dạng cố ý này), cũng nh ĐNPL của khái niệm chung về tội vô ý – là hành vi nguy hiểmcho xã hội do luật hình sự quy định đợc thực hiện do “quá tự tin (chủ quan) hoặc cẩu
thả” (rồi sau đó mới lần lợt đề cập đến các ĐNPL của khái niệm từng dạng vô ý này); 4)
Cha có quy định nào tại Phần chung điều chỉnh vấn đề TNHS trong trờng hợp lỗi phứctạp (hỗn hợp lỗi) – khi trong một cấu thành tội phạm có hai hình thức lỗi (tức là lỗi của
chủ thể đối với việc thực hiện hành vi phạm tội là cố ý, nhng đối với hậu quả nghiêm
trọng xảy ra là vô ý); 5) Tại Phần các tội phạm vẫn cha bổ sung hình thức lỗi với tính chất là
dấu hiệu bắt buộc của một số cấu thành tội phạm tăng nặng mà lẽ ra có thể bổ sung đợc; 6)Khi điều chỉnh các quy phạm về lỗi cố ý vẫn cha làm rõ về mặt thuật ngữ và bổ sungmột số dấu hiệu (cả về mặt lý trí và ý chí) của hai dạng cố ý – trực tip và gián tiếp
2.12 Chế định về các giai đoạn thực hiện tội phạm (các điều 17-18) vẫn cha đạt
lắm vì: a) còn thiếu ĐNPL của hai khái niệm rất quan trọng – “tội phạm hoàn thành”
Trang 3và “tội phạm cha hoàn thành” là nh thế nào?; b) không đa ra nguyên tắc chung để giảiquyết vấn đề TNHS trong hai trờng hợp này
2.13 Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm (Điều 19) vẫn còn nguyên những
khiếm khuyết cha khắc phục đợc của BLHS năm 1985 trớc đây, vì mới chỉ đề cập đến
vấn đề TNHS của ngời thực hành, mà cha giải quyết vấn đề TNHS của ba loại ngời
đồng phạm khác (ngời tổ chức, ngời xúi giục và ngời giúp sức) khi họ tự ý nửa chừngchấm dứt tội phạm vì đã sử dụng thuật ngữ “việc phạm tội” – việc thực hiện tội phạm
trong tên gọi của điều luật và nội dung mà nó quy định, mà lẽ ra nên sử dụng thuật ngữ
“tội phạm” thì mới đảm bảo tính hợp lý về thực tiễn và sự chính xác về mặt khoa học
2.14 Chế định đồng phạm (Điều 20) vẫn còn nguyên những khiếm khuyết cha
khắc phục đợc của BLHS năm 1985 trớc đây, mà cụ thể là: 1) Mới chỉ đề cập đến hành
vi của ngời thực hành, mà cha đề cập đến của ba loại ngời đồng phạm khác (ngời tổ
chức, ngời xúi giục và ngời giúp sức) khi sử dụng thuật ngữ “cùng thực hiện một tội
phạm” trong định nghĩa pháp lý của khái niệm đồng phạm (khoản 1) và “thực hiện tội phạm” trong định nghĩa của khái niệm phạm tội có tổ chức (khoản 3), mà lẽ ra phải là
các thuật ngữ “cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm” thì mới đảm bảo tính hợp lý
về thực tiễn và sự chính xác về mặt khoa học; 2) Các ĐNPL của các khái niệm ngờithực hành, ngời tổ chức và ngời xúi giục vẫn cha đầy đủ (các đoạn 2, 3 và 4 khoản 2),còn ĐNPL của khái niệm ngời giúp sức vẫn còn rất chung chung và trừu tợng (khoản 5
đoạn 3); 3) Vẫn cha đảm bảo đợc nguyên tắc phân hóa và cá thể hóa TNHS tối đa khicha giải quyết ở mức độ lập pháp một loạt các vấn đề nh: cha có các ĐNPL của hai kháiniệm về các hình thức đồng phạm khác (ngoài hình thức phạm tội có tổ chức) và về tổ
chức tội phạm; 4) Còn thiếu các quy phạm về sự thái quá của ngời thực hành và vấn đề
TNHS của những ngời đồng phạm khác trong trờng hợp này
2.15 Các quy định về những tr ờng hợp loại trừ tính chất tội phạm (TCTP) của hành vi (tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể của hành vi, sự kiện bất ngờ,
phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, tình trạng không có năng lực TNHS vẫn nằm tạicùng một Chơng về tội phạm (mặc dù bản chất pháp lý của chúng và tội phạm hoàn
toàn khác xa nhau), mà lẽ ra cần đợc quy định thành một chơng riêng biệt để loại trừ sự thiếu nhất uán về mặt lôgic pháp lý, tức là hình thức mâu thuẫn với nội dung – tên gọi
của chơng không đúng với các quy định của nó; ngooài ra, trong giai đoạn phát triểncuta xã hội Việt Nam hiện nay thì tại Chơng riêng biệt này cũng cần phải điều chỉnhthêm một số trờng hợp khác loại trừ TCTP của hành vi thờng gặp trong thực tiễn và đã
đợc đề xuất từ lâu trong xuất bản phẩm của khoa học
2.16 Các quy định về hình phạt, quyết định hình phạt và các biện pháp tha miễn
là hợp lý và phù hợp với xu thế phát triển chung của PLHS trong giai đoạn xây dựng NNPQnên rõ ràng là hiện nay chúng ta cần hạn chế bớt các CTTP có quy định hình phạt này; 3) Về phạt tiền nếu xét theo thứ tự từ nhẹ đến nặng của các loại hình phạt trong
hệ thống hình phạt của PLHS nớc ta, thì phạt tiền chỉ đứng ở vị trí thứ thứ hai – chỉ nặnghơn cảnh cáo, nhng lại nhẹ hơn cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn, trong khi đó đốivới hai loại hình phạt sau thì BLHS có quy định việc trừ thời gian tạm giam vào thời gianchấp hành hai loại hình phạt này (mặc dù chúng nặng hơn phạt tiền), thế nhng đối với phạttiền thì lại không quy định việc trừ thời gian nh vậy (nhất là khi trong thực tiễn xét xử chothấy: có ngời phạm tội đã bị tạm giam và rồi cuối cùng hình phạt chính duy nhất đợc ápdụng chỉ là phạt tiền thì sao ?); do vậy, để đảm bảo nguyên tắc công minh của PLHS tronggiai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam, cần phải quy định việc khấu trừ thời gian tạm giam(theo tỷ lệ bao nhiêu % là hợp lý thì tùy nhà làm luật quyết định) đối với cả hình phạt tiềnnữa (nhất là khi nó đợc áp dụng với tính chất là hình phạt chính);
4) Để tơng ứng với chế định đa tội phạm (có 4 dạng đã nêu trên đây) trong Phầnthứ nhất “Về tội phạm”, thì trong Phần thứ t “Về quyết định hình phạt”nhà làm luật có thể
Trang 4sửa lại tên gọi của Điều 50 BLHS năm 1999 là “Quyết định hình phạt trong các trờng hợp
nhiều tội phạm”;
5) Nguyên tắc nhân đạo của PLHS trong giai đoạn xây dựng NNPQ cần đợc thểhiện rõ hơn, và do đó nên chăng cần quy định dứt khoát đại xá và đặc xá với tính chất là hai
chế định độc lập của Phần chung luật hình sự, đồng thời xếp chúng vào một Chơng riêng
biệt của BLHS năm 1999 với tên gọi là “Các biện pháp tha miễn” mà trong đó sẽ bao gồmkhông những các BPTM khác nh: miễn TNHS, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt,v.v , mà còn bao gồm cả chế định liên quan đến các biện pháp này nữa (nh chế định thời
hiệu); v.v…
II Những cơ sở khoa học-thực tiễn của sự cần thiết
phải sửa đổi toàn diện BLHS năm 1999 hiện hành
1 BLHS Việt Nam năm 1999 sau hơn 10 năm thi hành trong thực tiễn đến nay đã
bộc lộ một số khiếm khuyết nhất định nên rõ ràng là trong giai đoạn xây dựng nhà nướcphỏp quyền và cải cỏch tư phỏp (NNPQ & CCTP) ở nớc ta hiện nay để góp phần gópphần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ các quyền và tự docủa con ngời và của công dân, cũng nh các lợi ích của xã hội và của Nhà nớc, chúng tacần phải nghiên túc nhìn thẳng vào sự thật với thái độ cầu thị để tiếp tục hoàn thiện cácquy định của nó theo theo tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của BộChính trị BCHTW Đảng “Về chiến lợc cải cách t pháp đến năm 2020”
2 Xuất phát từ việc nghiên cứu thực tiễn lập pháp và áp dụng PLHS trong gaafn 15
năm qua, đồng thời trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận chúng tôi đã công bố nhiềucông trình có liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung các quy phạm và các chế định củaPhần chung BLHS năm 1999 hiện hành mà trong bài viết này đã đợc tổng kết lại(1)
3 Từ sự phân tích trên đây, chúng tôi cho rằng, PLHS Việt Nam trong giai đoạn xây
dựng NNPQ & CCTP hiện nay mặc dù đã trải qua lần pháp điển hóa thứ hai với nhiềulần sửa đổi-bổ sung (lần gần đõy nhất là vào năm 2009 nhưng vầ cơ bản là đề cập đếncỏc quy định của Phần riờng) nờn đến nay rõ ràng là vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu đểkhắc phục các nhợc điểm và sửa đổi toàn diện hơn nữa (nếu như khụng muốn núi là
phỏp điển húa lần thứ ba) dựa trên năm cơ sở khoa học thực tiễn– dới đây
3.1 Một là, việc sửa đổi toàn diện BLHS Việt Nam năm 1999 trong giai đoạn
xây dựng NNPQ & CCTP hiện nay cần đáp ứng đợc các đòi hỏi cấp bách của thực tiễnxã hội nói chung, cũng nh thực tiễn đấu tranh phũng và chống tội phạm, lập pháp và ápdụng PLHS nói riêng của nớc ta
3.2 Hai là, việc sửa đổi toàn diện BLHS Việt Nam năm 1999 trong giai đoạn
xây dựng NNPQ & CCTP hiện nay cần dựa trên các cơ sở lý luận của khoa học luậthình sự đợc làm sáng tỏ một cách xác đáng, khách quan và đảm bảo sức thuyết phụcvới t duy pháp lý lý mới, tiến bộ và dân chủ
3.3 Ba là, việc sửa đổi toàn diện BLHS Việt Nam năm 1999 trong giai đoạn
xây dựng NNPQ & CCTP hiện nay cần đảm bảo sự phù hợp với các nguyên tắc và quyphạm đợc thừa nhận chung của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực t pháp hình sự
3.4 Bốn là, việc sửa đổi toàn diện BLHS Việt Nam năm 1999 trong giai đoạn
xây dựng NNPQ & CCTP hiện nay cần đảm bảo đợc sự kết hợp hài hòa các giá trị phápluật truyền thống của dân tộc với những thành tựu tiên tiến của khoa học pháp lý trênthế giới
3.5 Và cuối cùng, thứ năm , việc sửa đổi toàn diện BLHS Việt Nam năm 1999
trong giai đoạn xây dựng NNPQ & CCTP hiện nay cần đợc tiến hành một cách đồng bộvới việc cải cách hệ thống t pháp hình sự, đổi mới pháp luật TTHS và pháp luật THAHScủa nớc ta
_
Trang 5(1)Vì sự hạn chế của số trang trong một bài viết cho Hội thảo khoa học không cho phép viết dài nên cụ thể hơn về những luận chứng cho sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định này Ph ần chung PLHS
của việc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nớc pháp quyền
Chơng thứ nhất – Trong sách: Hoàn thiện hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai
đoạn xây dựng nhà nớc pháp quyền (Một số vấn đề cơ bản của Phần chung) NXB Công an
nhân dân Hà Nội, 1999, tr.17-37; Lê Cảm những cơ sở khoa học-thực tiễn của việc hoàn
thiện pháp luật hình sự nớc ta trong giai đoạn hiện nay – Tạp chí Khoa học của Đại học Quốcgia Hà Nội (Phần KHXH & nhân văn), t XV, số 2/1999 tr.1-9; Lê Văn Cảm Sách chuyên khảo
Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung) NXB Đại học Quốc gia hà Nội, 2005.
III Những nội dung cần sửa đổi trong Phần chung BLHS năm 1999
1 Từ sự phân tích trên đây, theo quan điểm của chúng tôi các quy phạm và các chế định
cụ thể của Phần chung BLHS năm 1999 hiện hành cần phải đợc sửa đổi toàn diện là: 1)Các quy phạm về nguồn và nhiệm vụ của PLHS; 2) Chế định các nguyên tắc của luật hình
sự (vì mặc dù chế định quan trọng này là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các quy phạm củaPhần chung và Phần các tội phạm BLHS nhng trong lần pháp điển hóa thứ hai luật hình sựViệt Nam vừa qua nó vẫn cha đợc chính thức ghi nhận trong BLHS Việt Nam năm 1999hiện hành); 3) Chế định hiệu lực của đạo luật hình sự; 4) Chế định lỗi; 5) Chế định về các
giai đoạn thực hiện tội phạm (vì trong BLHS Việt Nam năm 1999 còn thiếu hai định nghĩa
pháp lý (ĐNPL) của hai khái niệm quan trọng là “tội phạm hoàn thành” và “tội phạm cha
hoàn thành ”); 6) Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm (vì chế định này phải đợc
quy định đối với cả tất cả những ngời đồng phạm, chứ không phải chỉ đối với riêng mộtloại ngời đồng phạm là ngời thực hành nh trong BLHS Việt Nam năm 1999 khi mà tại
Điều 19 nhà làm luật chỉ đề cập đến hành vi chấm dứt “việc phạm tội” – hành vi thực hiện
tội phạm); 7) Chế định đồng phạm (vì chế định này trong BLHS Việt Nam năm 1999 còn
nhiều điểm hạn chế – ĐNPL của khái niệm đồng phạm “cùng thực hiện một phạm” tạikhoản 1 Điều 20 mới chỉ đề cập đến một loại ngời đồng phạm là ngời thực hành, mà lẽ raphải là “cùng phạm tội” thì mới bao hàm đợc sự đồng phạm của tất cả các loại ngời đồngphạm khác; còn thiếu các quy phạm quan trọng đề cập đến ĐNPL của các khái niệm hai
hình thức đồng phạm khác (đơn giản và phức tạp), tổ chức tội phạm và việc điều chỉnh vấn
đề TNHS của các thành viên cùng một tổ chức; 8) Chế định nhiều (đa) tội phạm (vì chế
định này mới đề cập đến dạng tái phạm, trong khi đó vẫn còn thiếu các quy phạm điềuchỉnh đầy đủ ba dạng khác của nó – phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội và phạm tội có
tính chất chuyên nghiệp, khi ba dạng này hoàn toàn cha đợc chính thức ghi nhận trong
BLHS năm 1999); 9) Chế định các (tình tiết) trờng hợp loại trừ TCTP của hành vi; 10) Chế
định TNHS; 11) Một loạt các BPTM
2 MHLL của các quy định cụ thể liên quan đến từng điều luật tơng ứng trong Phần chung BLHS năm 1999 (sau phỏp điển húa lần thứ ba) theo quan điểm của
chúng tôi sẽ có cơ cấu nh sau:
Mễ HèNH Lí LUẬN CỦA PHẦN CHUNG BỘ LUẬT HèNH SỰ
(Sau phỏp điển húa lần thứ 3 bao gồm 5 Phần với 23 Chương và 139 Điều)
Trang 6nghĩa hẹp, tức là chỉ có và duy nhất là Bộ luật hình sự):
1 Pháp luật hình sự Việt Nam bao gồm Bộ luật này; bất kỳ một Luật mới nào quy
định trách nhiệm hình sự 1 phải được đưa vào Bộ luật này
2 Bộ luật này dựa trên Hiến pháp Việt Nam, cũng như các nguyên tắc và các quy
phạm được thừa nhận chung của pháp luật quốc tế
Ph ương án I I (Coi nguồn trực tiếp để giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự theo
nghĩa rộng, tức là ngoài BLHS ra, còn có những luật chuyên ngành khác có quy
định các chế tài hình sự):
1 Pháp luật hình sự Việt Nam bao gồm Bộ luật này, cũng như những luật chuyên
ngành khác có quy định tội phạm và hình phạt
2 Pháp luật hình sự Việt Nam dựa trên Hiến pháp Việt Nam, cũng như các nguyên
tắc và các quy phạm được thừa nhận chung của pháp luật quốc tế
3 Các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp
dụng thống nhất pháp luật hình sự nếu không mâu thuẫn với các quy định của Bộluật này đều có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các pháp nhân và thể nhân trên lãnhthổ cả nước
Điều 2 Nhiệm vụ của Bộ luật hình sự Việt Nam
1 Bộ luật này có nhiệm vụ bảo vệ những cơ sở của chế độ hiến pháp Việt Nam,
nhân thân 2, các quyền và tự do của con người và của công dân, cũng như hòa bình
và an ninh của nhân loại tránh khỏi sự xâm hại của tội phạm,
2 Để thực hiện nhiệm vụ đó, Bộ luật này quy định những hành vi nào nguy hiểm
cho xã hội là các tội phạm, các hình phạt, cũng như các biện pháp tư pháp và cácchế định pháp lý hình sự khác có thể được áp dụng đối với những người phạm tội
Ch¬ng 2
Đường lối xử lý về hình sự và trách nhiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm
(Gồm hai điều và vẫn giữ nguyên như nội dung
tương ứng của hai Điều 3-4 BLHS năm 1999)
Chương 3
Các nguyên tắc của pháp luật hình sự (míi) Điều 5 Các nguyên tắc của pháp luật hình sự Việt Nam
Bộ luật này được xây dựng trên các nguyên tắc pháp chế, bình đẳng trước luật hình
sự, công minh, nhân đạo, không tránh khỏi trách nhiệm, trách nhiệm do lỗi và tráchnhiệm cá nhân
Điều 6 Nguyên tắc pháp chế
1 Tính chất tội phạm của hành vi, cũng như tính phải chịu hình phạt và các hậu
quả pháp lý hình sự khác của nó phải do Bộ luật này quy định
2 Không được áp dụng luật hình sự theo nguyên tắc tương tự.
Điều 7 Nguyên tắc bình đẳng trước luật hình sự
1 Hoặc là thay thuật ngữ “trách nhiệm hình sự” = “tội phạm, hình phạt và các chế định pháp lý
hình sự khác”.
2 Hoặc là thay thuật ngữ “nhân thân” = “tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”
Trang 7Những người phạm tội đều bình đẳng trước luật hình sự không phân biệt giới tính,dân tộc, tôn giáo, chính kiến, nghề nghiệp, địa vị xã hội và tình trạng tài sản.
Điều 8 Nguyên tắc công minh
1 Hình phạt, các biện pháp tư pháp và các chế định pháp lý hình sự khác được áp
dụng đối với người phạm tội cần đảm bảo sự công minh, tức là phải phù hợp vớitính chất và mức độ nghiêm trọng của hậu quả tội phạm đã xảy ra, động cơ và mụcđích phạm tội, mức độ lỗi, cũng như nhân thân của người đó
2 Không ai có thể phải chịu trách nhiệm hai lần về cùng một tội phạm.
Điều 9 Nguyên tắc nhân đạo
1 Hình phạt, các biện pháp tư pháp và các chế định pháp lý hình sự khác được áp
dụng đối với người phạm tội không nhằm mục đích gây nên những đau đớn về thểxác và hạ thấp nhân phẩm con người
2 Mức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội là người chưa thành niên, phụ
nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ, người mà năng lực trách nhiệm hình sự bị hạn chế,người đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo cần phải được giảm nhẹ hơn so vớimức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội là người bình thường
Điều 10 Nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm
Những người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo các quy định của Bộ luậtnày
Điều 11 Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi
Không ai có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về những hành vi nguy hiểm cho xãhội (bằng hành động hoặc không hành động), cũng như về việc gây nên thiệt hại màkhông phải do lỗi của mình
Điều 12 Nguyên tắc trách nhiệm cá nhân
Chỉ cá nhân người nào có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà
Bộ luật này quy định là tội phạm mới phải chịu trách nhiệm hình sự
Chương 4
Hiệu lực của đạo luật hình sự và dẫn độ người phạm tội
Điều 13 Hiệu lực của đạo luật hình sự đối với những người phạm tội
trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1 Người phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải
chịu trách nhiệm hình sự theo các quy định của Bộ luật này
2 (Về cơ bản nội dung khoản 2 này có thể giữ nguyên như nội dung khoản 2 Điều
5 BLHS năm 1999 hiện hành, chỉ thay bốn từ cuối cùng "con đường ngoại giao" bằng các từ "theo các quy phạm của pháp luật quốc tế").
3 Người nước ngoài nếu không thuộc đối tượng nêu tại khoản 2 Điều này và người
không có quốc tịch thường trú tại Việt Nam phạm tội ở trên lãnh thổ nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng chưa bị kết án ở nước ngoài, thì có thể phải chịu
Trang 8trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này nếu như tội ấy nhằm chống ViệtNam và điều đó được quy định trong các hiệp ước quốc tế về dẫn độ tội phạm vàtương trợ tư pháp hình sự mà Việt Nam đã ký kết Trong trường hợp không có hiệpước tương ứng thì giải quyết theo các quy phạm của pháp luật quốc tế.
Điều 14 Hiệu lực của đạo luật hình sự đối với những người phạm tội
ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1 Công dân Việt Nam và người không có quốc tịch thường trú tại Việt Nam phạm
tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng chưa bị kết án
ở nước ngoài, thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo các quyđịnh của Bộ luật này Trong trường hợp đã bị kết án nhưng chưa chấp hành hìnhphạt thì có thể được miễn hoặc giảm việc chấp hành hình phạt tại Việt Nam theo cácquy định của Bộ luật này
2 Người nước ngoài không thuộc đối tượng nêu tại khoản 2 Điều 13 Bộ luật này
và người không có quốc tịch không thường trú tại Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnhthổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng chưa bị kết án ở nước ngoài,thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này nếu như tội
ấy nhằm chống Việt Nam và điều đó được quy định trong các hiệp ước quốc tế vềdẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp hình sự mà Việt Nam đã ký kết Trong trườnghợp không có hiệp ước tương ứng thì giải quyết theo các quy phạm của pháp luậtquốc tế
Điều 15 Hiệu lực của đạo luật hình sự về thời gian
1 Điều luật quy định tính chất tội phạm và tính phải chịu hình phạt của một hành
vi là điều luật đang có hiệu lực trong thời gian hành vi đó được thực hiện
2 Thời gian phạm tội là thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ
luật này quy định là tội phạm và không phụ thuộc vào thời điểm xảy ra hậu quả củatội phạm đó
3 Điều luật quy định tính chất tội phạm của hành vi hoặc hình phạt mới nặng hơn,
hoặc tình tiết tăng nặng mới hay thu hẹp phạm vi áp dụng các chế định pháp lý hình
sự không có lợi cho người phạm tội, thì không có hiệu lực hồi tố, tức là không được
áp dụng đối với những người đã thực hiện hành vi tương ứng trước khi điều luật đó
có hiệu lực, cũng như những người đang chấp hành hình phạt hoặc đã chấp hànhxong hình phạt nhưng vẫn chưa được xóa án tích
4 Điều luật xoá bỏ tính chất tội phạm của hành vi hoặc tình tiết tăng nặng, hay quy
định hình phạt mới nhẹ hơn hoặc tình tiết giảm nhẹ mới hay mở rộng phạm vi ápdụng các chế định pháp lý hình sự có lợi cho người phạm tội, thì có hiệu lực hồi tố,tức là được áp dụng đối với những người đã thực hiện hành vi tương ứng trước khiđiều luật đó có hiệu lực, cũng như những người đang chấp hành hình phạt hoặc đãchấp hành xong hình phạt nhưng vẫn chưa được xoá án
Điều 16 Dẫn độ người phạm tội (mới)
1 Công dân Việt Nam phạm tội trên lãnh thổ nước ngoài mà nước đó là một bên
trong Hiệp ước quốc tế về dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp hình sự đã ký kếtvới nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì vấn đề dẫn độ người phạm tộiđược giải quyết theo các quy định của hiệp ước ấy và của Bộ luật này Trong trường
Trang 9Hợp hiệp ước tương ứng có quy định khác thì áp dụng quy định của Hiệp ước ấy.
2 Người nước ngoài và người không có quốc tịch phạm tội trên lãnh thổ nước ngoài
nhưng đang ở trên lãnh thổ Việt Nam mà nước đó yêu cầu dẫn độ để truy cứu tráchnhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt, thì vấn đề dẫn độ người phạm tội được giảiquyết theo các quy định của hiệp ước quốc tế về dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháphình sự mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết với nước đó Trongtrường hợp không có Hiệp ước tương ứng thì giải quyết theo các quy phạm được thừanhận chung của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự
1 Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội (hành động hoặc không hành động)
được quy định trong Bộ luật này do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủtuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý), xâm phạmđến các lợi ích được bảo vệ bằng pháp luật hình sự
2 Hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật này là hành vi gây
nên thiệt hại hoặc tạo ra sự đe dọa thực tế gây nên thiệt hại cho các lợi ích được bảo
vệ bằng pháp luật hình sự (mới)
Điều 18 Phân loại tội phạm
1 Các tội phạm trong Bộ luật này căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã
hội và hình thức lỗi của chủ thể khi thực hiện hành vi được phân thành bốn loại: tộiphạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tộiphạm đặc biệt nghiêm trọng
2 Tội phạm ít nghiêm trọng là tội gây nguy hiểm không lớn cho xã hội và bao gồm
tội cố ý mà hình phạt do Bộ luật này quy định là tù không quá 5 năm hoặc hình phạt khác nhẹ hơn, cũng như tội vô ý mà hình phạt do Bộ luật này quy định là tù không
quá 7 năm hoặc hình phạt khác nhẹ hơn
3 Tội phạm nghiêm trọng là tội gây nguy hiểm lớn cho xã hội và bao gồm tội cố ý
mà hình phạt do Bộ luật này quy định là tù trên 5 năm đến 10 năm, cũng như tội vô
ý mà hình phạt do Bộ luật này quy định là tù trên 7 năm đến 15 năm.
4 Tội phạm rất nghiêm trọng là tội gây nguy hiểm rất lớn cho xã hội và chỉ bao
gồm tội cố ý mà hình phạt do Bộ luật này quy định là tù trên10 năm đến 15 năm.
5 Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội gây nguy hiểm đặc biệt lớn cho xã hội và
chỉ bao gồm tội cố ý mà hình phạt do Bộ luật này quy định là tù trên 15 năm hoặc
Trang 10quy định tại cùng một Điều hoặc cùng một khoản của Điều trong Bộ luật này.
2 Đối với những trường hợp thực hiện tội phạm từ hai lần trở lên mà những tội ấy
được quy định tại các điều khác nhau của Bộ luật này, thì chỉ khi nào do các điều
t-ương ứng trong Phần các tội phạm Bộ luật này quy định riêng mới phải bị coi hoặc
có thể bị coi là phạm tội nhiều lần
3 Đối với tội được thực hiện trước đây mà người phạm tội đã được miễn trách
nhiệm hình sự, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt, xóa án tích hoặc đã chấp
hành xong hình phạt theo các quy định của Bộ luật này, thì không đ ược tính để xác
định là phạm tội nhiều lần
Điều 20 Phạm nhiều tội (mới)
1 Phạm nhiều tội là khi tội phạm được thực hiện thuộc một trong ba trường hợp
sau đây và người phạm tội chưa bị xét xử về tội nào trong số những tội đã phạm:
a) Phạm từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại các điều khác
nhau của Bộ luật này;
b) Phạm từ hai tội trở lên mà đối tượng của những tội ấy khác nhau và được quy định tại các khoản khác nhau trong cùng một Điều của Bộ luật này;
c) Trong cùng một hành vi có các dấu hiệu của từ hai tội trở lên mà những tội
ấy được quy định tại các điều khác nhau của Bộ luật này
2 Việc quyết định hình phạt đối với người phạm nhiều tội phải tuân thủ theo các
quy định chung tại các điều tương ứng và quy định riêng tại Điều 50 Bộ luật này
Điều 21 Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp (mới)
Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là phạm tội nhiều lần, có tính chất liên tục vànhằm mục đích vụ lợi hay làm giàu bất chính mà hoạt động phạm tội đã trở thành hệthống và tạo nên nguồn thu nhập cơ bản hoặc nguồn sống chủ yếu của người phạmtội
Điều 22 Tái phạm
1 Tái phạm là phạm tội do cố ý trong khi chưa được xóa án tích về tội do cố ý đã
phạm trước đây
2 Tái phạm nguy hiểm là:
a) Phạm tội do cố ý mà bị xử phạt tù trong khi đã tái phạm và ch ưa được xóa
Tái phạm đặc biệt nguy hiểm là:
a) Phạm tội do cố ý mà bị xử phạt tù trong khi đã tái phạm nguy hiểm vàchưa được xóa án tích về tội nghiêm trọng do cố ý
b) Phạm tội nghiêm trọng do cố ý trong khi đã tái phạm và ch ưa được xóa ántích về tội nghiêm trọng do cố ý hoặc tội rất nghiêm trọng do cố ý
c) Phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý trong khi chưa được xóa án tích về tộinghiêm trọng do cố ý hoặc tội rất nghiêm trọng do cố ý đã phạm trước đây
d) Phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý trong khi chưa được xóa án tích về
Trang 11tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý đã phạm trướcđây.
Ph ương án II (Trên cơ sở phân loại tội phạm như được đưa ra trongMHLL của Dự thảo này):
Tái phạm đặc biệt nguy hiểm là (mới):
a) (Như Phương án I trên đây)
b) Phạm tội nghiêm trọng do cố ý trong khi đã tái phạm và chư a được xóa
án tích về tội nghiêm trọng do cố ý hoặc tội rất nghiêm trọng
c) Phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý trong khi chưa được xóa án về tộirất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng đã phạm trước đây
Chương 7
Lỗi (mới)
Điều 23 Khái niệm lỗi và người có lỗi trong tội phạm (mới)
1 Lỗi trong tội phạm là trạng thái tâm lý của chủ thể được biểu hiện dưới hình
thức cố ý hoặc vô ý đối với hành vi trái pháp luật hình sự do mình thực hiện và đốivới hậu quả do hành vi đó gây nên
2 Người có lỗi trong tội phạm là người đã cố ý hoặc vô ý thực hiện (bằng hành
động hoặc không hành động) hành vi trái pháp luật hình sự được quy định trong Bộluật này
Điều 24 Phạm tội do cố ý
1 Phạm tội do cố ý là phạm tội trong trường hợp chủ thể thực hiện (bằng hành
động hoặc không hành động) hành vi trái pháp luật hình sự với sự cố ý trực tiếphoặc cố ý gián tiếp (mới)
2 Phạm tội do cố ý trực tiếp là phạm tội trong trường hợp chủ thể nhận thức rõ
tính chất trái pháp luật hình sự của hành vi mà mình thực hiện (bằng hành động hoặckhông hành động), thấy trước khả năng gây nên hoặc tính tất yếu gây nên hậu quảcủa hành vi đó và mong muốn cho hậu quả xảy ra
3 Phạm tội do cố ý gián tiếp là phạm tội trong trường hợp chủ thể nhận thức rõ tính
chất trái pháp luật hình sự của hành vi mà mình thực hiện (bằng hành động hoặckhông hành động), thấy trước khả năng gây nên hậu quả của hành vi đó và tuy khôngmong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra hoặc có thái độ thờ ơ đối vớihậu quả
Điều 25 Phạm tội do vô ý
1 Chỉ trong trường hợp có điều tương ứng tại Phần các tội phạm Bộ luật này quy
định riêng thì hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chủ thể thực hiện (bằng hành độnghoặc không hành động) do sự vô ý mới bị coi là tội phạm
2 Phạm tội do vô ý là phạm tội trong trường hợp hành vi trái pháp luật hình sự
được thực hiện (bằng hành động hoặc không hành động) vì sự chủ quan hoặc vì sựcẩu thả của chủ thể
3 Phạm tội do vô ý vì chủ quan là phạm tội trong trường hợp chủ thể thấy trước
khả năng gây nên hậu quả của hành vi trái pháp luật hình sự do mình thực hiện(bằng hành động hoặc không hành động) nhưng thiếu các căn cứ mà chủ quan tinvào việc ngăn ngừa được hậu quả đó
Trang 124 Phạm tội do vô ý vì cẩu thả là phạm tội trong trường hợp chủ thể không thấy
trước khả năng gây nên hậu quả của hành vi trái pháp luật hình sự do mình thực hiện(bằng hành động hoặc không hành động) mặc dù với sự chú ý cần thiết phải thấytrước và có thể thấy trước hậu quả đó
Điều 26 Phạm tội với hai hình thức lỗi (mới)
1 Phạm tội với hai hình thức lỗi là phạm tội trong trường hợp chủ thể có lỗi cố ý
đối với việc thực hiện hành vi trái pháp luật hình sự và lỗi vô ý đối với hậu quảnghiêm trọng xảy ra Về cơ bản, phạm tội với hai hình thức lỗi cũng là phạm tội do
cố ý
2 Nếu do hành vi phạm tội cố ý mà hậu quả nghiêm trọng xảy ra và vì vậy, điều
tương ứng tại Phần các tội phạm Bộ luật này quy định hình phạt tăng nặng, thì vấn
đề trách nhiệm hình sự của chủ thể được giải quyết như sau:
a) Nếu lỗi của chủ thể đối với hậu quả nghiêm trọng xảy ra cũng là cố ý, thì chủthể phải chịu trách nhiệm hình sự trên những cơ sở chung
b) Nếu lỗi của chủ thể đối với hậu quả nghiêm trọng xảy ra là vô ý, thì chủ thểphải chịu hình phạt tăng nặng ấy
Chương 8
Các giai đoạn thực hiện tội phạm (mới)
Điều 27 Tội phạm hoàn thành (mới)
1 Tội phạm được coi là hoàn thành khi trong hành vi do người phạm tội thực hiện
có tất cả các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể được quy định tại điều tươngứng trong Phần các tội phạm Bộ luật này
2 Nếu không có căn cứ để áp dụng quy phạm nào đó trong Phần chung, thì trách
nhiệm hình sự đối với tội phạm hoàn thành được xác định theo điều cụ thể tươngứng tại Phần các tội phạm Bộ luật này
Điều 28 Tội phạm chưa hoàn thành (mới)
1 Tội phạm chưa hoàn thành là hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.
2 Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chưa hoàn thành do hành vi chuẩn bị
phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng được xác định theo điềutương ứng về tội phạm hoàn thành trong Phần các tội phạm đồng thời viện dẫnĐiều _và Điều _ Bộ luật này (tức là Điều 17 và Điều 52 BLHS năm 1999)
3 Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chưa hoàn thành do hành vi phạm tội
chưa đạt được xác định theo điều tương ứng về tội phạm hoàn thành trong Phần cáctội phạm, đồng thời viện dẫn Điều và Điều _ Bộ luật này (tức là Điều 20-
21 BLHS năm 1999)
Điều 29 Chuẩn bị phạm tội
1 Chuẩn bị phạm tội là hành vi tìm kiếm hoặc sửa soạn công cụ hay phương tiện
thực hiện tội phạm, cũng như tìm kiếm những người đồng phạm, cấu kết với nhauhoặc cố ý tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm, nhưng đãkhông thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của ngườiphạm tội
Trang 132 (Giữ nguyên như quy định tại đoạn 2 Điều 17 BLHS năm 1999).
Điều 30 Phạm tội chưa đạt
1 Phạm tội chưa đạt là hành vi cố ý để thực hiện tội phạm nhưng tội phạm đã
không được thực hiện đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của ngườiphạm tội
2 (Giữ nguyên như quy định tại đoạn 2 Điều 18 BLHS năm 1999)
Điều 31 Tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm
1 Tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm là trường hợp mà trong đó mặc dù người
phạm tội có đầy đủ điều kiện khách quan thực hiện được tội phạm đến cùng nhưng
đã tự mình đình chỉ hành vi chuẩn bị phạm tội hoặc hành vi cố ý để thực hiện tộiphạm, tuy không có gì ngăn cản
2 Người tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm không phải chịu TNHS đối với tội
định phạm
3 Người tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm phải chịu TNHS nếu hành vi thực tế
do người dó thực hiện có tất cả các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm khác
4 Người tổ chức và người xúi giục không phải chịu TNHS nếu bằng các biện pháp
mà họ áp dụng đã ngăn chặn được việc thực hiện tội phạm đến cùng của người thựchành (mới)
5 Nếu những hành vi của người tổ chức hoặc người xúi giục được quy định tại
khoản 4 của Điều này đã không ngăn chặn được việc thực tội phạm đến cùng củangười thực hành, thì các biện pháp mà họ đã áp dụng có thể được coi là tình tiết đểmiễn TNHS hoặc giảm nhẹ hình phạt (mới)
6 Người giúp sức không phải chịu TNHS nếu đã tích cực áp dụng tất cả các biện
pháp phụ thuộc vào mình để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm
Chương 9
Đồng phạm (mới)
Điều 32 Khái niệm đồng phạm
Đồng phạm là hình thức phạm tội do cố ý được thực hiện với sự cố ý cùng tham
gia của từ hai người trở lên.
Điều 33 Các hình thức đồng phạm (mới)
1 Căn cứ vào tính chất và mức độ cố ý cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm
do cố ý của những người phạm tội, đồng phạm được phân thành ba hình thức: phạmtội không có thông mưu trước (đồng phạm đơn giản); phạm tội có thông mưu trước(đồng phạm phức tạp) và; phạm tội có tổ chức (đồng phạm đặc biệt)
2 Phạm tội không có thông mưu trước là hình thức đồng phạm đơn giản và có sự
cấu kết không chặt chẽ của những người cùng thực hiện tội phạm.
3 Phạm tội có thông mưu trước là hình thức đồng phạm phức tạp và có sự cấu kết
t ương đối chặt chẽ của những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm
4 Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm đặc biệt và có sự cấu kết chặt chẽ
của những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc của những thành
Trang 14viên thuộc một tổ chức tội phạm
Điều 34 Tổ chức tội phạm (mới)
1 Tổ chức tội phạm là một nhóm người có tổ chức hoặc là một liên minh (hợp
nhất) của các nhóm người có tổ chức đó, được thành lập dựa trên sự nhất trí và cấukết chặt chẽ với nhau nhằm mục đích thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hay tộiphạm đặc biệt nghiêm trọng
2 Người thành lập hay lãnh đạo tổ chức tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự
về việc thành lập hay lãnh đạo tổ chức tội phạm trong những trường hợp do các điềutương ứng tại Phần các tội phạm của Bộ luật này quy định riêng
3 Người thành lập hay lãnh đạo tổ chức tội phạm không phải chịu trách nhiệm
hình sự về các tội phạm do tổ chức đó thực hiện mà không có sự cùng cố ý tham giacủa mình
4 Những thành viên khác tham gia tổ chức tội phạm phải chịu trách nhiệm hình
sự trong những trường hợp do các điều tương ứng tại Phần các tội phạm của Bộ luậtnày quy định riêng
Điều 35 Các loại người đồng phạm
1 (Giữ nguyên như quy phạm tại đoạn 1 khoản 2 Điều 20 BLHS năm
1999)
2 Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm hay trực tiếp tham gia vào
việc thực hiện tội phạm cùng với những người khác hoặc thực hiện tội phạm bằngthủ đoạn sử dụng những người mà theo các quy định của Bộ luật này không phảichịu trách nhiệm hình sự
3 Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu hay chỉ huy việc thực hiện tội phạm,
hoặc thành lập hay lãnh đạo tổ chức tội phạm
4 Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, mua chuộc, đe dọa hoặc bằng các thủ
đoạn khác thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm
5 Người giúp sức là người tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm bằng cách
cung cấp các thông tin, phương tiện hay công cụ thực hiện tội phạm, hoặc hứa hẹntrước về việc che giấu người phạm tội hay các dấu vết của tội phạm hoặc những tàisản hay đồ vật do phạm tội mà có, cũng như hứa hẹn trước về việc mua, bán hoặctiêu thụ những tài sản hay đồ vật đó
Điều 36 Hành vi thái quá của người thực hành (mới)
1 Hành vi thái quá của người thực hành là việc tự thực hiện tội phạm của bản thân
người đó mà không có sự cố ý tham gia của những người đồng phạm khác
2 Những người đồng phạm khác không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi
thái quá của người thực hành
Chương 10
Những trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi (mới)
Điều 37 Khái niệm trường hợp loại trừ
tính chất tội phạm của hành vi (mới)
1 Trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi là tình tiết được quy định
Trang 15trong Bộ luật hình sự mà khi có tình tiết ấy thì việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình
sự không bị coi là tội phạm
2 Những trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi được quy định trong
Phần chung Bộ luật này bao gồm:
a) Sự kiện bất ngờ;
b) Gây thiệt hại nhưng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
c) Gây thiệt hại trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự;
d) Tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể của hành vi;
1 Hành vi tuy về mặt hình thức có những dấu hiệu của hành vi nào đó được quy
định tại Phần các tội phạm Bộ luật này nhưng được thực hiện do sự kiện bất ngờ,
thì không phải là tội phạm (mới)
2 Sự kiện bất ngờ là việc gây thiệt hại không có lỗi, tức là trong trường hợp nếu
người gây thiệt hại đã:
a) Không nhận thức được và do hoàn cảnh khách quan, cũng như các tình tiết
cụ thể của sự vụ mà không thể nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành
vi do mình thực hiện; hoặc
b) Không thấy trước được khả năng xảy ra hậu quả nguy hại cho xã hội củahành vi do mình thực hiện và vì hoàn cảnh khách quan, cũng như các tình tiết cụ thểcủa sự vụ mà không buộc phải thấy trước hoặc không thể thấy trước được khả năngxảy ra hậu quả nguy hại cho xã hội của hành vi đó
Điều 39 Gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự nhưng
chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (mới)
1 Hành vi tuy về mặt hình thức có những dấu hiệu của hành vi nào đó được quy
định tại Phần các tội phạm Bộ luật này nhưng do người chưa đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự thực hiện, thì không phải là tội phạm (mới)
2 Người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự là người chưa đạt đến độ tuổi để có
khả năng nhận thức được tính chất thực tế và sự nguy hiểm cho xã hội của hành vi
do mình thực hiện hoặc điều khiển được hành vi đó, tức là độ tuổi phải chịu tráchnhiệm hình sự được quy định trong Bộ luật này
3 Nếu người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều
này trực tiếp gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự do bị người khác sử dụng, thìngười sử dụng họ phải chịu trách nhiệm hình sự về thiệt hại đã gây nên
Điều 40 Gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự trong tình
trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (mới)
Trang 161 Hành vi tuy về mặt hình thức có những dấu hiệu của hành vi nào đó được quy
định tại Phần các tội phạm Bộ luật này nhưng do người ở trong tình trạng không có
năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, thì không phải là tội phạm
2 Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là trạng thái bệnh lý tâm thần
hoặc một bệnh lý khác của người trong thời gian thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhội mà Bộ luật này quy định là tội phạm hoàn toàn không thể nhận thức được tínhchất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi của mình hoặc không thể điều khiển đ -ược hành vi đó
3 Nếu người ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại
khoản 2 Điều này trực tiếp gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự do bị ng ười khác sửdụng, thì người sử dụng họ phải chịu trách nhiệm hình sự thiệt hại đã gây ra
Điều 41 Tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể của hành vi (mới)
Hành vi tuy về mặt hình thức có những dấu hiệu của hành vi nào đó được quy định tại Phần các tội phạm Bộ luật này nhưng tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể
và chưa đến mức phải áp dụng các biện pháp tác động về mặt pháp lý hình sự thìkhông phải là tội phạm
Điều 42 Phòng vệ chính đáng
1 Hành vi tuy về mặt hình thức có những dấu hiệu của hành vi nào đó được quy
định tại Phần các tội phạm Bộ luật này nhưng được thực hiện do sự phòng vệ chính
đáng, thì không phải là tội phạm (mới)
2 Phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả của người phòng vệ để gây thiệt hại
cho người đang có hành vi xâm hại đến các lợi ích hợp pháp của mình hoặc củanhững người khác, cũng như của xã hội hay của nhà nước, nếu hành vi chống trảtương xứng với hành vi xâm hại
3 Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là khi hành vi chống trả do cố ý rõ ràng
là quá đáng, tức là không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi xâm hại Người cố ý vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịutrách nhiệm hình sự
Điều 43 Tình thế cấp thiết
1 Hành vi tuy về mặt hình thức có những dấu hiệu của hành vi nào đó được quy
định tại Phần các tội phạm Bộ luật này nhưng được thực hiện trong tình thế cấp
thiết, thì không phải là tội phạm (mới)
2 Tình thế cấp thiết là hành vi gây thiệt hại của người để ngăn ngừa sự nguy hiểm
đang đe dọa trực tiếp đến các lợi ích hợp pháp của mình hoặc của những ngườikhác, cũng như của xã hội hay của Nhà nước, nếu sự nguy hiểm đó không thể loạitrừ được bằng cách nào khác và thiệt hại gây ra nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa
3 Vượt quá giới hạn của tình thế cấp thiết là khi hành vi gây thiệt hại rõ ràng là
quá đáng, tức là không tương xứng với tính chất và mức độ của sự nguy hiểm đang
đe doạ trực tiếp, cũng như những hoàn cảnh thực tế làm cho sự nguy hiểm này bịloại trừ, và do đó mà thiệt hại gây ra cho các lợi ích nói trên đã bằng bằng hoặc lớnhơn thiệt hại cần ngăn ngừa Người cố ý vượt quá giới hạn của tình thế cấp thiếtphải chịu trách nhiệm hình sự
Trang 17Điều 44 Chấp hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh (mới)
1 Hành vi tuy về mặt hình thức có những dấu hiệu của hành vi nào đó đ ược quy
định tại Phần các tội phạm Bộ luật này nhưng được thực hiện do sự bắt buộc phải
chấp hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh, thì không phải là tội phạm
2 Người gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự do bắt buộc phải chấp hành chỉ thị,
quyết định hoặc mệnh lệnh, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Trong tr ườnghợp này nếu chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh được ban hành là trái pháp luật thìngười ban hành nó phải chịu trách nhiệm hình sự về thiệt hại đã gây ra
3 Người chấp hành mặc dù nhận thức được tính chất trái pháp luật rõ ràng của chỉ
thị, quyết định hoặc mệnh lệnh được ban hành, nhưng vẫn cố ý gây thiệt hại về mặtpháp lý hình sự để chấp hành nó, thì phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với ngườiban hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh đó trên những cơ sở chung
4 Người không chấp hành chỉ thị, quyết định hoặc mệnh lệnh trái pháp luật, thì
không phải chịu trách nhiệm hình sự
Điều 45 Sự rủi ro (mạo hiểm) có căn cứ
về kinh tế hoặc nghề nghiệp (mới)
1 Hành vi tuy về mặt hình thức có những dấu hiệu của hành vi nào đó được quy
định tại Phần các tội phạm Bộ luật này nhưng là sự rủi ro có căn cứ về kinh tế hoặc
nghề nghiệp nhằm đạt được mục đích có ích cho xã hội, thì không phải là tội phạm
2 Sự rủi ro về kinh tế hoặc nghề nghiệp được coi là có căn cứ nếu hành vi được
thực hiện phù hợp với kinh nghiệm thực tiễn và các kiến thức được thừa nhận chungcủa tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ, nhưng mục đích có ích cho xã hội đ ượcđặt ra đã không thể đạt được bằng chính sự rủi ro ấy, mặc dù người thực hiện nó đãtích cực áp dụng tất cả các biện pháp có thể áp dụng được để ngăn ngừa thiệt hạigây ra cho các lợi ích được bảo vệ bằng pháp luật hình sự
3 Sự rủi ro về kinh tế hoặc nghề nghiệp không được coi là có căn cứ nếu đã rõ
ràng là nó không thể đạt được mục đích có ích cho xã hội, tức là kèm theo mối đedọa cho sức khoẻ hoặc cuộc sống của con người, gây nên thảm họa về môi sinh hoặctai biến xã hội, cũng như thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng khác cho các lợi ích đượcbảo vệ bằng pháp luật hình sự Trong trường hợp này người thực hiện sự rủi ro (mạohiểm) đó phải chịu trách nhiệm hình sự
Điều 46 Tình trạng bất khả kháng (mới)
1 Hành vi tuy về mặt hình thức có những dấu hiệu của hành vi nào đó được quy
định tại Phần các tội phạm Bộ luật này nhưng được thực hiện trong tình trạng bất
khả kháng, thì không phải là tội phạm
2 Tình trạng bất khả kháng là tình trạng của người khi thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội (bằng hành động hoặc không hành động) mặc dù có thể thấy trướchoặc buộc phải thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội của hành vi của mình nhưng
do hoàn cảnh khách quan và các tình tiết cụ thể của tình trạng mà người này đã: a) Không thể điều khiển được hành vi đó nên hậu quả xảy ra; hoặc
b) Không còn biện pháp nào khác để có thể khắc phục được hậu quả xảy ra
Điều 47 Sự bất đắc dĩ phải gây thiệt hại trong khi bắt người