vì thuật ngữ cũng như thuật ngữ luật hình sự đều là bộ phận của ngôn ngữ,“chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, cấu tạo từ và ngữ pháp của ngôn ngữ nói chung”.6 Thuật ngữ “đương nhiê
Trang 1BÀN VỀ KỸ THUẬT LẬP PHÁP HÌNH SỰ
GS TS Nguyễn Ngọc Hoà∗
Trong quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự kể từ khi xây dựng BLHS năm
1985 với 4 lần sửa đổi, bổ sung đến hiện nay, khi đang đặt ra vấn đề phải sửa đổi
cơ bản, toàn diện Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 sau khi Bộ luật này đã được sửa đổi, chúng ta mới chỉ chú trọng đến những vấn đề thuộc về nội dung của Bộ luật mà hầu như chưa có sự quan tâm đúng mức đến các vấn đề về kỹ thuật lập pháp Điều này cũng phù hợp với thực tế, các công trình nghiên cứu dưới dạng sách, bài báo, luận án, luận văn cũng như trong các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp cũng chỉ chủ yếu tập trung đề cập đến những hạn chế về nội dung của Bộ luật
và đề xuất hướng hoàn thiện các hạn chế đó Trong khi đó, kỹ thuật lập pháp có ý nghĩa rất quan trọng quyết định chất lượng của BLHS Do vậy, trong lần sửa đổi,
bổ sung cơ bản, toàn diện BLHS lần này, vấn đề kỹ thuật lập pháp cần phải được đặt ra Theo đó, có những vấn đề sau đây cần được nghiên cứu để có cơ sở cho việc hoàn thiện BLHS về mặt kỹ thuật lập pháp:
- Thứ nhất, kỹ thuật sử dụng các thuật ngữ trong Phần chung BLHS;
- Thứ hai, kỹ thuật giải thích các thuật ngữ trong Phần chung BLHS;
- Thứ ba, kỹ thuật đặt tên các hành vi phạm tội (tội danh) trong Phần các tội
phạm BLHS;
- Thứ tư, kỹ thuật mô tả cấu thành tội phạm (CTTP) và
- Thứ năm, kỹ thuật đặt tên các nhóm tội danh cùng chương, mục của BLHS.
Nghiên cứu 5 vấn đề kỹ thuật trên đây để có cơ sở lý thuyết cho việc đánh giá cũng như hoàn thiện BLHS Việt Nam hiện hành về mặt kỹ thuật lập pháp
Như vậy, bàn về kỹ thuật lập pháp hình sự bao gồm ba nội dung:
- Lý thuyết về kỹ thuật lập pháp hình sự;
- Đánh giá kỹ thuật lập pháp hình sự trong BLHS hiện hành và
- Đề xuất việc hoàn thiện BLHS về mặt kỹ thuật lập pháp
Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2Bài viết này chỉ giới hạn ở nội dung thứ nhất - Lý thuyết về kỹ thuật lập pháp hình sự Tuy nhiên, để minh họa cho lý thuyết được trình bày bài viết cũng có nội dung đánh giá có tính ví dụ về một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp của BLHS hiện hành
1 Kỹ thuật sử dụng các thuật ngữ trong Phần chung BLHS
Thuật ngữ là từ hoặc tập hợp từ được đặt làm tên gọi chính xác cho các khái niệm thuộc lĩnh vực khoa học nhất định.(1) Trong đó, “khái niệm được hiểu là hình
thức tư duy phản ánh những dấu hiệu bản chất đặc trưng của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan”(2); Thuật ngữ là hình thức ngôn ngữ biểu đạt khái niệm của ngành khoa học nhất định hay còn gọi là khái niệm khoa học Giữa thuật ngữ và khái niệm khoa học có quan hệ mật thiết với nhau nhưng cũng có sự độc lập tương đối Trong cùng một ngôn ngữ, thuật ngữ có thể có sự thay đổi khi khái niệm không thay đổi và ngược lại, khái niệm có thể có sự phát triển khi thuật ngữ không thay đổi.(3)
Từ đó có thể hiểu thuật ngữ luật hình sự là từ hoặc tập hợp từ được dùng làm tên gọi chính xác cho các khái niệm thuộc ngành luật hình sự
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của một số nhà ngôn ngữ học đã được công
bố44) cũng như căn cứ vào thực trạng của việc sử dụng thuật ngữ trong BLHS tác giả cho rằng thuật ngữ luật hình sự cần có các đặc điểm sau:
- Có tính chính xác;
- Có tính hệ thống;
- Đúng về ngữ học;
- Ngắn gọn
1().Xem: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, 2011, tr 118; Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 2009, tr 219.
2().Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình logic học, Nxb CAND, 2012, tr 36.
3 () Ví dụ: Khái niệm “đồng phạm” trong luật hình sự Việt Nam trước năm 1985 và hiện nay không có sự thay đổi nhưng thuật ngữ biểu đạt khái niệm này đã có sự thay đổi, trước năm 1985 được gọi tên là “cộng phạm” và sau đó
cho đến nay được gọi tên là “đồng phạm”; khái niệm án treo trong luật hình sự Việt Nam từ năm 1985 đến nay được
hiểu khác với khái niệm án treo được hiểu trước đó nhưng tên của khái niệm (thuật ngữ biểu đạt hai khái niệm này) không có sự thay đổi.
44) Các kết quả nghiên cứu được tác giả tham khảo là: Dẫn luận ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Nxb Giáo dục, 2011; Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Nxb Giáo dục, 2009; Thuật ngữ khoa học, Nguyễn Hỹ Hậu, nguồn: http://tiengvietmenyeu.wordpress.com/2011/06/01/thu
%E1%BA%ADt-ng%E1%BB%AF-khoa-h%E1%BB%8Dc/
Trang 3Thuật ngữ luật hình sự được coi là có tính chính xác khi thuật ngữ đó rõ ràng
về nghĩa, phản ánh đúng khái niệm, tránh hiểu nhầm, không gây nhầm lẫn với các khái niệm khác thuộc luật hình sự cũng như khái niệm của các ngành luật khác; mỗi khái niệm thuộc luật hình sự chỉ có một thuật ngữ là tên gọi và ngược lại mỗi thuật ngữ luật hình sự chỉ có thể là tên gọi của một khái niệm thuộc luật hình sự mà không thể là tên gọi của các khái niệm thuộc các ngành luật khác Khi thuật ngữ cụ thể đã được xác định, việc sử dụng phải đảm bảo giữ nguyên thuật ngữ trong mọi trường hợp
Thuật ngữ “sự kiện bất ngờ” đang được sử dụng làm tên gọi của khái niệm
được phản ánh tại Điều 11 BLHS có thể được xem là ví dụ về trường hợp chưa thật
rõ ràng về nghĩa, dễ dẫn đến hiểu nhầm Thuật ngữ “cảnh cáo”, “phạt tiền” đang
được sử dụng làm tên gọi của các khái niệm được phản ánh tại các điều 29 và 30 BLHS có thể được xem là ví dụ về trường hợp tên gọi trùng với tên gọi của các khái niệm thuộc ngành luật hành chính
Thuật ngữ luật hình sự được coi là có tính hệ thống khi thuật ngữ đó thể hiện được vị trí, mối quan hệ của nó với các thuật ngữ khác trong hệ thống các thuật ngữ luật hình sự cũng như các thuật ngữ luật học nói chung Mối quan hệ có tính hệ thống của các thuật ngữ luật hình sự phản ánh và trên cơ sở tính hệ thống của các khái niệm thuộc ngành luật hình sự Việc sử dụng từ ngữ và cách cấu trúc các thuật ngữ phải có tính thống nhất để đảm bảo tính hệ thống của thuật ngữ
Thuật ngữ “giảm mức hình phạt đã tuyên” và thuật ngữ “giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt” đang được sử dụng làm tên gọi của khái
niệm được phản ánh tại Điều 58 và Điều 59 BLHS có thể được xem là ví dụ về trường hợp không đảm bảo tính hệ thống giữa hai thuật ngữ này Nội dung của hai
điều luật này có quan hệ chặt chẽ với nhau Trong đó, Điều 58 quy định điều kiện,
thời điểm và thời gian được giảm mức hình phạt (hình phạt tù, hình phạt cải tạo không giam giữ) đã tuyên; Điều 59 quy định trường hợp đặc biệt của Điều 58 (đặc biệt về điều kiện, về thời điểm và về thời gian được giảm mức hình phạt đã tuyên) Tuy nhiên, hai thuật ngữ được sử dụng làm tên gọi cho hai khái niệm được phản ánh tại hai điều 58 và 59 BLHS không thể hiện được mối quan hệ và tính hệ thống này.(5)
Thuật ngữ luật hình sự có thể là từ nhưng cũng có thể là tập hợp từ Đối với những thuật ngữ là tập hợp từ, khi xây dựng cần đảm bảo được cấu trúc đúng cách
5 () Nội dung của khoản 2 Điều 58 BLHS cũng nằm ngoài phạm vi tên gọi của điều luật.
Trang 4vì thuật ngữ cũng như thuật ngữ luật hình sự đều là bộ phận của ngôn ngữ,“chịu sự
chi phối của các quy luật ngữ âm, cấu tạo từ và ngữ pháp của ngôn ngữ nói chung”.(6)
Thuật ngữ “đương nhiên được xoá án tích” đang được sử dụng làm tên gọi
của khái niệm được phản ánh tại Điều 64 BLHS có thể được xem là ví dụ về trường hợp xây dựng thuật ngữ không đảm bảo cấu trúc đúng cách và thống nhất trong mối quan hệ với các thuật ngữ đang được sử dụng tại các điều từ 63 đến 67 BLHS
Tại Điều 63, thuật ngữ “xoá án tích” được dùng làm tên gọi cho tất cả các trường
hợp xoá án tích Đó là các trường hợp được quy định tại các điều 64, 65 và 66 Trong khi các thuật ngữ dùng làm tên gọi cho các trường hợp tại điều 65 và 66
được xây dựng bằng cách kết hợp cụm từ “xoá án tích” với đặc điểm riêng (“theo
quyết định của toà án” và “trong trường hợp đặc biệt”) thì thuật ngữ dùng làm tên
gọi cho trường hợp tại Điều 64 lại xây dựng theo cách khác, không dùng cụm từ
“xoá án tích” là thành phần chính Để đảm bảo cấu trúc đúng cách và tính thống
nhất cần phải thay đổi tên gọi cho trường hợp tại Điều 64 từ “đương nhiên được
xoá án tích” thành “xoá án tích đương nhiên” (7)
2 Kỹ thuật giải thích các thuật ngữ trong Phần chung BLHS
Việc định nghĩa các khái niệm được các thuật ngữ luật hình sự biểu đạt trong Phần chung BLHS là nhằm đảm bảo tính minh bạch của luật cũng như đảm bảo điều kiện cho áp dụng luật thống nhất và do vậy là công việc kĩ thuật cần thiết Định nghĩa các khái niệm như vậy cũng có thể được hiểu là giải thích (dưới dạng định nghĩa) các thuật ngữ Điều 5 Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
của Việt Nam cũng đã xác định: “… Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ
nội dung, thì phải được định nghĩa trong văn bản”
Định nghĩa khái niệm là thao tác logic có nhiệm vụ đưa ra các dấu hiệu cơ bản của đối tượng được khái niệm phản ánh, qua đó xác định và phân biệt được đối tượng này với các đối tượng gần nó Với nhiệm vụ này, định nghĩa khái niệm phải
có nội dung mô tả (mô tả dấu hiệu của đối tượng hoặc liệt kê các đối tượng cụ thể thuộc đối tượng được khái niệm phản ánh) mà không được phép có nội dung mang tính chất đánh giá Một định nghĩa khái niệm được coi là đạt yêu cầu khi phần nội dung định nghĩa có sự mô tả các dấu hiệu cơ bản của đối tượng (nội hàm) một cách
6().Xem: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, 2011, tr 122.
(7) Về vấn đề thuật ngữ trong Phần chung BLHS có thể tham khảo: Nguyễn Ngọc Hòa, Chuẩn hóa các thuật ngữ và các định nghĩa khái niệm trong Phần chung BLHS Việt Nam, Tạp chí Luật học số 9/2013
Trang 5rõ ràng, có phạm vi đối tượng (ngoại diên) trùng hợp với phạm vi đối tượng của khái niệm được định nghĩa.(8) Định nghĩa khái niệm không được mở rộng cũng như không được thu hẹp phạm vi các đối tượng thuộc khái niệm
Các định nghĩa khái niệm trong Phần chung BLHS có thể là một nội dung của điều luật mà người áp dụng phải hiểu đúng và chứng minh để có thể áp dụng được điều luật Từ đó đòi hỏi định nghĩa khái niệm phải đặc biệt chú ý đến tính ngắn gọn, rõ ràng Mỗi đối tượng được khái niệm phản ánh có thể có nhiều dấu hiệu cơ bản nhưng các dấu hiệu này không phải hoàn toàn độc lập với nhau mà giữa một số dấu hiệu có thể có mối quan hệ ràng buộc Do vậy, khi định nghĩa khái niệm có thể chọn trong số các dấu hiệu cơ bản của đối tượng một số dấu hiệu vừa đủ cho xác định và phân biệt đối tượng được mô tả với các đối tượng khác để đưa vào định nghĩa Trong khi chọn cần chú ý các dấu hiệu thuận lợi nhất cho người áp dụng
Khi định nghĩa khái niệm luật hình sự cũng cần chú ý “Công thức chung của định
nghĩa khái niệm: A là B ”. 79) Trong trường hợp tên của điều luật là thuật ngữ biểu đạt khái niệm cần định nghĩa thì định nghĩa phải bắt đầu bằng sự nhắc lại tên điều luật và từ tiếp theo thông thường là từ “là” (đối với định nghĩa mô tả dấu hiệu) hoặc
là từ “bao gồm” (đối với định nghĩa liệt kê) Việc tuân theo công thức chung này sẽ đảm bảo sự phù hợp giữa thuật ngữ (tên gọi của khái niệm) và nội dung định nghĩa khái niệm
Trong các yêu cầu của định nghĩa khái niệm, yêu cầu về đặc điểm của các dấu hiệu phải có nội dung mô tả mà không được phép có nội dung mang tính chất đánh giá là yêu cầu cần được đặc biệt chú ý
Định nghĩa khái niệm “tử hình” tại Điều 35 BLHS có thể được xem là ví dụ
về trường hợp định nghĩa không có dấu hiệu mô tả mà chỉ có dấu hiệu mang tính
đánh giá (Tử hình là hình phạt đặc biệt …)
Ngoải các yêu cầu chung trên, kỹ thuật định nghĩa các khái niệm trong BLHS
còn đòi hỏi có sự tách biệt giữa nội dung định nghĩa và nội dung điều chỉnh của điều luật
Các điều luật trong Phần chung BLHS có thể bao gồm:
- Điều luật giải thích từ ngữ (để đảm bảo tính thống nhất trong cách hiểu một
số từ ngữ được sử dụng trong các điều luật khác nhau), (trong BLHS hiện hành
(8) Về các quy tắc định nghĩa khái niệm có thể tham khảo: Giáo trình logic học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb
CAND, 2012, tr 54 và các trang tiếp theo.
79) Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình logic học, Nxb CAND, 2012, tr 56.
Trang 6chưa có điều luật loại này);
- Điều luật chỉ có nội dung định nghĩa khái niệm (như Điều 9 BLHS Việt
Nam - Cố ý phạm tội là phạm tội trong các trường hợp sau đây: … );
- Điều luật vừa có nội dung định nghĩa khái niệm và nội dung điều chỉnh (như
Điều 15 khoản 1 BLHS - Phòng vệ chính đáng là … Phòng vệ chính đáng không
phải là tội phạm.);
- Điều luật chỉ có nội dung điều chỉnh (như Điều 29 BLHS - Cảnh cáo được
áp dụng đối với …)
Trong trường hợp điều luật có cả nội dung định nghĩa khái niệm và nội dung điều chỉnh, cơ quan lập pháp cần phải thiết kế định nghĩa khái niệm trong một khoản hoặc đoạn riêng, tránh trường hợp diễn đạt đan xen cả nội dung định nghĩa
và nội dung điều chỉnh Việc tách riêng nội dung định nghĩa khái niệm sẽ đảm bảo định nghĩa được rõ ràng Sự rõ ràng của định nghĩa khái niệm là cơ sở để có thể thể hiện rõ ràng nội dung điều chỉnh Tất cả sự rõ ràng đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
áp dụng luật trong thực tiễn
Điều 11 BLHS hiện hành là ví dụ về trường hợp không có sự tách biệt giữa nội dung định nghĩa khái niệm và nội dung điều chỉnh - Nội dung định nghĩa nằm
trong nội dung điều chỉnh (Người thực hiện hành vi do sự kiện bất ngờ, tức là
trong trường hợp…,thì không phải chịu trách nhiệm hình sự) (10)
3 Kỹ thuật đặt tên các hành vi phạm tội (tội danh) trong phần Các tội phạm BLHS
Khi xác định hành vi phạm tội cụ thể để qui định là tội phạm trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự (BLHS), nhà làm luật không chỉ có nhiệm vụ mô tả hành
vi phạm tội (xây dựng cấu thành tội phạm) và qui định khung hình phạt có thể áp dụng cho người phạm tội (xây dựng khung chế tài) mà còn có nhiệm vụ đặt tên cho hành vi phạm tội được mô tả (đặt tội danh) trừ trường hợp theo truyền thống lập
pháp không có tội danh Cũng như việc xây dựng CTTP và việc qui định khung chế
tài việc đặt tội danh cho hành vi phạm tội cụ thể cũng đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu nhất định
- Tội danh phải thể hiện rõ loại tội cố ý hay vô ý
Thông thường, nhiều khái niệm được sử dụng đặt tội danh đã thể hiện rõ tính
(10) Về kỹ thuật giải thích các thuật ngữ trong Phần chung BLHS có thể tham khảo: Nguyễn Ngọc Hòa, Chuẩn hóa các thuật ngữ và các định nghĩa khái niệm trong Phần chung BLHS Việt Nam, Tạp chí Luật học số 9/2013
Trang 7chất của hành vi mà khái niệm phản ánh là cố ý như các khái niệm giết người, hiếp dâm, cướp tài sản v.v nhưng cũng có những khái niệm chưa thể hiện được tính chất của hành vi được phản ánh là cố ý hay vô ý như các khái niệm gây thương tích, làm hư hỏng tài sản v.v Trong những trường hợp sử dụng những khái niệm
“lưỡng tính” như vậy để đặt tội danh đòi hỏi phải thêm tính từ cố ý hoặc vô ý
Trong BLHS có nhiều tội danh thuộc trường hợp sử dụng khái niệm “lưỡng tính” nhưng không được bổ sung tính từ cố ý hoặc vô ý để xác định tính chất của loại tội được phản ánh như các tội danh được qui định tại Điều 97 (tội làm chết người trong khi thi hành công vụ), Điều 187 (tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật), v v
- Tội danh phải phù hợp nội dung được mô tả trong CTTP về loại tội cố ý hay
vô ý
Tội danh phải thể hiện được tính chất (cố ý hoặc vô ý) của loại tội được phản ánh trong CTTP nhưng tính chất này phải phù hợp với tính chất của hành vi phạm tội được mô tả trong CTTP, tránh tình trạng tội danh thể hiện là tội cố ý nhưng hành vi phạm tội được mô tả lại thể hiện là tội vô ý
Ví dụ: Tội phá thai trái phép (Điều 243 BLHS), tội hành nghề mê tín, dị đoan
(Điều 247 BLHS là hai tội danh thể hiện là tội cố ý nhưng hành vi phạm tội được
mô tả trong CTTP của cả hai tội này theo cách hiểu hiện nay đều là vô ý
- Tội danh phải có tính khái quát, bao quát hết các dạng hành vi được mô tả trong CTTP Tránh hiện tượng có dạng hành vi vượt ra ngoài tội danh cũng như tránh hiện tượng liệt kê các dạng hành vi khi xây dựng tội danh
Ví dụ: Điều 226 BLHS (trước khi sửa) quy định tội sử dụng trái phép thông
tin trên mạng và trong máy tính Nhưng trong CTTP, hành vi phạm tội được mô tả không chỉ là hành vi sử dụng trái phép thông tin trên mạng, trong máy tính mà còn
là hành vi đưa vào mạng máy tính những thông tin trái với quy định của pháp luật Trong trường hợp này, tội danh không bao quát hết các hành vi được mô tả trong CTTP Hành vi đưa vào mạng máy tính rõ ràng không phải là một dạng của sử dụng trái phép thông tin trên mạng
Theo thống kê của tác giả có khoảng 30 tội danh được xây dựng theo kiểu liệt
kê như tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120 BLHS), tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người (Điều 227 BLHS) v.v
Trang 8Tội danh được xây dựng theo kiểu liệt kê này có thể gây không ít khó khăn cho người áp dụng luật Khi áp dụng cho trường hợp cụ thể mà chủ thể chỉ thực hiện một loại hành vi người áp dụng không khỏi không khó khăn trong việc định tội danh Nếu gọi tội danh đầy đủ như điều luật thì không phù hợp nhưng nếu chỉ gọi một phần tội danh thì cũng không được vì tội danh được quy định là thể thống nhất
- Mỗi tội danh nên được quy định riêng tại một điều luật Tránh việc ghép nhiều tội danh khác nhau trong cùng một điều luật
Ví dụ: Tội tổ chức tảo hôn được quy định chung với tội tảo hôn (Điều 148
BLHS); tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước được quy định chung với tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ tài liệu bí mật nhà nước (Điều 263 BLHS) v.v
Việc ghép nhiều tội danh vào cùng một điều luật sẽ không thuận cho việc mô
tả hành vi phạm tội cũng như cho việc qui định các khung hình phạt với các tình tiết định khung hình phạt khác nhau cho từng tội danh Do vậy, việc tách các tội danh để quy định trong các điều luật riêng biệt là cần thiết và việc tách này hoàn toàn không khó khăn.(11)
4 Kỹ thuật mô tả cấu thành tội phạm
Cấu thành tội phạm là kết quả phản ánh tội phạm trong luật có nội dung là sự
mô tả tội phạm qua các dấu hiệu phản ánh các tình tiết thuộc các yếu tố của tội phạm Sự mô tả này nhằm các mục đích sau:
- Phân biệt tội phạm này với các tội phạm khác cũng như phân biệt giữa trường hợp bị coi là tội phạm với trường hợp chưa bị coi là tội phạm của cùng loại hành vi vi phạm Đây là sự mô tả trong CTTP cơ bản và là sự mô tả chủ yếu, cơ bản, tạo cơ sở cho các sự mô tả khác
- Phân biệt giữa các trường hợp phạm tội chưa hoàn thành với trường hợp tội phạm hoàn thành của cùng một tội danh Đây là sự mô tả tội phạm trong các CTTP của hành vi phạm tội chưa hoàn thành
- Phân biệt giữa các hành vi đồng phạm với hành vi thực hiện tội phạm của cùng một tội danh Đây là sự mô tả tội phạm trong các CTTP của hành vi đồng phạm
(11) Về vấn đề tội danh có thể tham khảo: Nguyễn Ngọc Hòa, Tội danh và việc qui định tội danh trong Bộ luật hình
sự, Tạp chí Luật học số 6/2004
Trang 9- Phân biệt giữa các trường hợp phạm tội có tính chất nguy hiểm cho xã hội tăng hoặc giảm so với trường hợp phạm tội bình thường của cùng một tội danh Đây là sự mô tả tội phạm qua các dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng hoặc giảm nhẹ
Với các mục đích trên đây CTTP có ý nghĩa rất quan trọng Việc xây dựng các CTTP đúng yêu cầu sẽ giúp nhà làm luật thể hiện được nội dung quy định đúng theo ý tưởng của mình và nội dung đó cũng dễ dàng được người áp dụng tiếp nhận đúng Qua xây dựng CTTP theo đúng yêu cầu sẽ giúp phát hiện và khắc phục những mâu thuẫn hoặc hạn chế trong nội dung của những quy định của luật Trái lại, khi xây dựng CTTP không theo các nguyên tắc và yêu cầu chung sẽ dẫn đến tình trạng nội dung của quy định được thể hiện sai, thể hiện không rõ ràng Từ đó dẫn đến hiểu sai, hiểu không thống nhất trong áp dụng luật
* Các yêu cầu đối với CTTP cơ bản
Yêu cầu chung đặt ra cho các CTTP cơ bản là phải có sự mô tả cụ thể hành vi phạm tội, tránh hiện tượng chỉ nhắc lại tội danh Sự mô tả hành vi phạm tội trong CTTP cơ bản đòi hỏi phải có tính khái quát nhưng cũng phải có tính rõ ràng Các dấu hiệu dùng để mô tả phải là những dấu hiệu có tính đặc trưng, điển hình nhưng không được là dấu hiệu trừu tượng có tính đánh giá hoặc có nhiều nghĩa Giữa các CTTP cơ bản phải có sự thống nhất trong cách mô tả tội phạm, tránh hiện tượng mỗi CTTP có cách mô tả riêng
Những dấu hiệu của CTTP cơ bản phải vừa phải đủ cho việc xác định ranh giới giữa tội danh này với tội danh khác, giữa trường hợp bị coi là tội phạm với trường hợp chưa phải là tội phạm và vừa phải phản ánh được một cách đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của loại tội được mô tả
Khi mô tả hành vi phạm tội trong CTTP cơ bản cần đặc biệt chú ý việc mô tả dấu hiệu chủ thể và dấu hiệu lỗi vì hai dấu hiệu này thường bị xem nhẹ do nội dung của hai dấu hiệu này đều đã được mô tả trong Phần chung BLHS
Dấu hiệu chủ thể của tội phạm tuy đã được mô tả trong Phần chung BLHS nhưng đó chỉ là sự mô tả dấu hiệu của chủ thể bình thường Do vậy, ở các tội có chủ thể không bình thường, dấu hiệu không bình thường này của chủ thể phải được
mô tả thêm trong từng CTTP Khi đã xác định chủ thể ở tội danh nhất định là chủ thể không bình thường thì nhất thiết phải mô tả dấu hiệu không bình thường của
Trang 10chủ thể, tránh hiện tượng CTTP không mô tả nhưng lại giải thích theo hướng là chủ thể không bình thường như CTTP tội hiếp dâm trong BLHS hiện nay(12)
Dấu hiệu lỗi tuy cũng được mô tả trong Phần chung BLHS nhưng đó chỉ là sự
mô tả nội dung của các loại lỗi còn trong mỗi CTTP cơ bản (cũng như trong CTTP tăng nặng, giảm nhẹ TNHS) cần có sự xác định rõ ràng lỗi của chủ thể là lỗi cố ý hay lỗi vô ý Trong trường hợp nhất định còn có thể phải xác định cụ thể hơn (là cố
ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp, là vô ý vì quá tự tin hay vô ý do cẩu thả) Trong BLHS hiện hành, hầu như không có việc xác định này Thống kê cho thấy chỉ có 20 CTTP cơ bản xác định dấu hiệu lỗi là cố ý hoặc vô ý Đối với tất cả các CTTP còn lại người đọc buộc phải tự xác định Điều này dẫn đến tình trạng không thống nhất trong việc xác định lỗi trong nhiều CTTP khi áp dụng luật hình sự.(13)
Ngoài yêu cầu về nội dung mô tả như vậy, cũng cần chú ý về hình thức, mỗi tội danh chỉ được phép có một CTTP cơ bản
Trong BLHS hiện hành có nhiều tội danh mà thuộc mỗi tội danh này không phải chỉ có một CTTP cơ bản mà có nhiều CTTP cơ bản khác nhau Có thể phân thành hai nhóm các tội danh có nhiều CTTP cơ bản:
- Nhóm các tội danh có CTTP “dự phòng” cho CTTP cơ bản, trong đó mô tả khả năng gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thay thế cho hậu quả nghiêm trọng
là hậu quả được mô tả trong CTTP cơ bản Về bản chất, CTTP “dự phòng” cũng là CTTP cơ bản và đòi hỏi phải có tội danh riêng Hiện nay, BLHS đều ghép cặp
CTTP này vào cùng một điều luật và thuộc cùng một tội danh Ví dụ: Tại Điều 208,
khoản 1 mô tả CTTP cơ bản và khoản 4 mô tả CTTP ‘dự phòng” Do cùng được qui định trong một điều luật nên về mặt kỹ thuật không có điều kiện để có thể phân hoá trách nhiệm hình sự và có thể dẫn đến hiểu nhầm cho rằng khoản 4 mô tả CTTP giảm nhẹ TNHS
- Nhóm các tội danh có CTTP trong đó mô tả dấu hiệu xấu về nhân thân thay thế cho dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội như tội danh được qui định tại Điều
- Tội đua xe trái phép(14) Những điều luật cho phép có sự thay thế này tuy chỉ xác định một tội danh nhưng lại mô tả hai CTTP cơ bản khác nhau: CTTP có dấu hiệu
(12) Về chủ thể không bình thường có thể tham khảo: Nguyễn Ngọc Hòa, Bộ luật hình sự năm 199 với việc qui định đặc điểm về nhân thân là dấu hiệu định tội, Tạp chí Luật học số 6/2001
(13) Về vấn đề này có thể tham khảo: Nguyễn Ngọc Hòa, Bộ luật hình sự với việc qui định dấu hiệu lỗi trong CTTP, Tạp chí Luật học số 1/2004
(14) Việc qui định đặc điểm xấu về nhân thân là một dấu hiệu định tội là vấn đề cần được xem xét lại Xt: Nguyễn Ngọc Hoà, Tội phạm và CTTP, Nxb CAND, 2010