Tuy nhiên, trong quá trình thi hành Bộ Luật này đã bộc lộ một số hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội mà Cương lĩnh của Đảng đã chỉ ra, còn gây khó khăn cho các
Trang 1CƠ SỞ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆC SỬA ĐỔI BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999
PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí – Khoa Luật, ĐHQGHN
Bộ luật hình sự năm 1999 (BLHS 1999) được Quốc hội thông qua và có hiệu lực ngày 1-7-2000 đã phản ánh qui luật vận động của tình hình tội phạm trong nền kinh tế thị trường, đồng thời thể hiện quan điểm và chính sách hình sự của Đảng ta trong công cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm Tuy nhiên, trong quá trình thi hành Bộ Luật này đã bộc lộ một số hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội mà Cương lĩnh của Đảng đã chỉ ra, còn gây khó khăn cho các cơ quan áp dụng pháp luật trong quá trình xử lý tội phạm, chưa bảo vệ đúng mức quyền con người, quyền công dân… và do đó cũng chưa làm tốt chức năng bảo vệ của Luật hình sự trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bảo vệ được coi là chức năng đặc trưng của Luật hình sự, mà chỉ riêng nó
có trong mối tương quan với các ngành luật khác của hệ thống pháp luật Luật dân sự, Luật kinh tế… hướng tới xây dựng, thúc đẩy các quan hệ xã hội theo yêu cầu phát triển của đất nước và ý muốn chủ quan của nhà cầm quyền, còn Luật hình sự có trách nhiệm bảo vệ cho sự phát triển của các quan hệ đó, thông qua việc qui định tội phạm và hình phạt Do đó, vấn đề được đặt ra là chính sách hình
sự có phản ánh được tính chất và nội dung của những quan hệ xã hội cần được bảo vệ bảo đảm cho sự phát triển hay không Nói cách khác, chính sách hình sự
có đưa ra được những biện pháp trực tiếp đấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa tội phạm bảo đảm cho sự phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) hay không Bài viết này, tập trung làm rõ cơ sở kinh tế - xã hội của chính sách hình sự, của việc sửa đổi Bộ luật hình sự đang đặt ra hiện nay
1 Cơ sở kinh tế
Trong Lý luận về pháp luật các nghiên cứu đều cho rằng, pháp luật là một
bộ phận của kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ biện chứng với cơ sở hạ tầng, trong đó vai trò quyết định thuộc về cơ sở hạ tầng Khi xem xét cơ sở kinh tế cho việc sửa đổi BLHS chính là xác định vị trí nền tảng của các quan hệ kinh tế đối với việc xây dựng chính sách hình sự và sửa đổi BLHS Pháp luật nói chung
và Luật hình sự nói riêng luôn luôn được sinh ra từ những tiền đề, điều kiện kinh
tế và bị lệ thuộc vào nó trong suốt quá trình tồn tại và phát triển Sự lệ thuộc đó, của Luật hình sự, trước hết ở chỗ mô hình, cơ cấu, tính chất, thành phần và sự
Trang 2vận hành của nền kinh tế quyết định các nội dung của chính sách hình sự và nhiệm vụ bảo vệ của Luật hình sự đối với kinh tế thông qua việc qui định tội phạm và hình phạt GS.TSKH Đào Trí Úc đã khẳng định “Tính chất của các quan hệ kinh tế quyết định tính chất của các quan hệ pháp luật, của mức độ và phương pháp điều chỉnh pháp luật”1 Như vậy, những điều chỉnh của pháp Luật hình sự phải dựa trên cơ sở kinh tế và phải phù hợp với tính chất nền kinh tế, có như vậy mới tạo điều kiện, thúc đẩy cho kinh tế phát triển Không những thế, Luật hình sự, bằng khả năng sáng tạo của mình còn có vai trò đón bắt và điều chỉnh những quan hệ kinh tế sẽ xuất hiện trong nền kinh tế, khuyến khích yếu tố tích cực và hạn chế hoặc loại trừ những yếu tố tiêu cực trong quá trình vận hành của nền kinh tế Ngược lại, Luật hình sự có thể kìm hãm hoặc làm rối loạn nền kinh tế nếu nó không phù mô hình, cơ cấu, tính chất, thành phần và sự vận hành của nền kinh tế làm cho hoạt động kinh tế và sự phát triển kinh tế đi ra ngoài sự mong đợi của mình
Bộ luật hình sự 1999 ra đời trong hoàn cảnh chúng ta vừa ra khỏi nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp bước vào cơ chế thị trường định hướng XHCN nên những qui luật kinh tế thị trường chưa được định hình đầy đủ, còn mang nhiều dấu ấn của cơ chế kinh tế cũ Vì vậy, BLHS 1999 đã phản ánh “sự giao thời” của nền kinh nước ta với những qui luật của kinh tế thị trường đang hình thành, đồng thời những dấu ấn của kinh tế tập trung, kế hoặc hóa vẫn chưa
bị triệt tiêu hoàn toàn Mặc dù vậy, mười ba năm qua, kể từ khi BLHS 1999 ra đời, nền kinh tế nước ta đã có những phát triển mạng mẽ về phạm vi, tính chất,
cơ cấu, thành phần và sự vận hành đòi hỏi phải có sự thay đổi của điều chỉnh pháp luật hình sự
Sự phát triển của nền kinh tế thể hiện trên các bình diện sau:
a) Nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN ngày càng phát triển sâu,
rộng mang lại hiệu quả tích cực
Chuyển đổi từ cơ chế tập trung, bao cấp, kế hoặc hóa sang nền kinh tế thì trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu, nền kinh tế được vận hành theo các qui luật của kinh tế thị trường, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng của các chủ thể kinh tế… đã tạo ra bước ngoặt trong phát triển kinh tế Nhờ Đổi mới, Việt Nam đã vượt qua được cuộc khủng hoảng kéo dài gần suốt thập kỷ 1980 một cách đầy ấn tượng Kinh tế vĩ mô nhanh chóng được ổn định Lạm phát từ mức gần 775% lúc quá trình Đổi mới bắt đầu ngay sau một năm đã hạ xuống còn 35% và được kéo xuống nhanh chóng ở mức
Trang 35,2% chỉ sau 4 năm sau đó Mức lạm phát một con số về căn bản được duy trì suốt một thời kỳ dài và chỉ bùng trở lại ở mức hai con số (song với mức độ thấp hơn nhiều so với giai đoạn cận kề Đổi mới) từ năm 2007 đến nay Nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao trong suốt những năm Đổi mới vừa qua (trong giai đoạn 1991 - 2009, GDP tăng với tốc độ trung bình khoảng 7,4 %/năm Trong 3 năm 2005-2007, tốc độ tăng trưởng GDP đạt trung bình khoảng 8,38% Do những bất ổn vĩ mô, tăng trưởng chững lại vào năm
2008 với tốc độ 6,31% Trong bối cảnh khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng của năm 2009 tiếp tục suy giảm song vẫn đạt mức 5,32%) Những thành tựu mà đất nước giành được trong thực tiễn Đổi mới đã xác nhận tính đúng đắn của việc từ bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung và chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường, hội nhập và mở cửa Quá trình Đổi mới đã dần làm thay đổi cấu trúc của nền kinh tế Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được hình thành và chuyển biến theo hướng tích cực, phù hợp với các nguyên tắc của nền kinh tế thị trường
Như vậy, xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước ta, đã phát huy hiệu quả trong đời sống kinh tế với những thành tựu đầy ấn tượng Vì vậy, chính sách hình sự cần phải thể hiện rõ nhiệm vụ bảo vệ sự phát triển của kinh tế thị trường với đầy đủ các qui luật của nó ở chiều rộng cũng như bề sâu
b) Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của thành phần kinh tế tư nhân ngày càng được khẳng định và chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế
Với đường lối Đổi mới, chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa dựa trên sự thừa nhận tính đa dạng của các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu, trong đó điều cốt yếu là thừa nhận sức sống mãnh liệt và tầm quan trọng của kinh tế tư nhân, cho phép các loại hình kinh tế tư nhân phát triển, xem chúng là các bộ phận cấu thành hữu cơ của nền kinh tế,
đồng thời chủ động, tích cực mở cửa nền kinh tế để nó ngày càng hội nhập sâu
vào nền kinh tế thế giới đã tạo ra động lực to lớn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
mở ra một thời kỳ phát triển hoàn toàn khác trong suốt 25 năm qua
Thực tiễn cho thấy, tỷ trọng kinh tế nhà nước trong GDP có xu hướng giảm xuống (Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tỷ trọng kinh tế nhà nước trong GDP đã giảm từ 38,5% năm 2000 xuống còn 35,13% vào năm 2009) Kinh tế ngoài nhà nước trong nước (gồm kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân) đã
có sự phát triển mạnh mẽ, ngày càng có đóng góp quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm (Tỷ trọng của khu vực kinh tế này trong GDP năm 2009 là 46,54%, có giảm đôi chút so với năm 2000 song gia tăng nhiều so với thời kỳ
Trang 4đầu Đổi mới) Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng dần được mở rộng và đóng góp tích cực vào thành quả tăng trưởng chung (tỷ trọng trong GDP của khu vực này tăng từ 13% năm 2000 lên 18,33% vào năm 2009)
Như vậy, sự thu hẹp của khu vực kinh tế nhà nước (vốn quá lớn trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây) và mở rộng của khu vực kinh tế tư nhân là những bước đi hợp quy luật song song với tiến trình chuyển sang kinh tế thị trường Kinh tế nhà nước được đổi mới và sắp xếp lại theo hướng tập trung hơn vào những ngành then chốt, trọng yếu của nền kinh tế, nhờ đó tình trạng thua lỗ tràn lan ở khu vực này giảm đi, hiệu quả hoạt động chung của khu vực này được cải thiện Kinh tế tư nhân trong nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò trọng yếu trong việc huy động nguồn lực và thúc
đẩy tăng trưởng Cho nên, bảo vệ mô hình kinh tế Việt Nam là “nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế”, thể hiện tính nhất quán trong việc vận dụng qui luật kinh tế vào
thời kỳ quá độ xây dựng CNXH với những đặc điểm kinh tế - xã hội của nước
ta, cần phải là nội dung quan trọng của chính sách hình sự trong giai hiện nay và phải được thể hiện khi sửa đổi Bộ luật hình sự
c) Sự phát triển kinh tế thị trường đòi hỏi sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải ưu tiên cho việc thực hiện các mục tiêu của CNXH: nâng cao thu nhập, mức sống, phúc lợi của toàn dân, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội Điều đó có nghĩa là lấy sự phát triển một cách có hiệu quả nền kinh tế thị trường làm cơ sở cho việc thực hiện các mục tiêu của CNXH chứ không phải là ưu tiên mở rộng phát triển sở hữu công, khu vực công Hiến pháp 2013 đã khẳng định: “Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật (Khoản 2 Điều 51) Đây được xem như là tuyên ngôn về sự quan trọng và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân Không những thế
còn khẳng định “cùng phát triển lâu dài” và “cạnh tranh theo pháp luật” của các thành phần kinh tế Vì vậy, với chức năng của mình Luật hình sự có trách
nhiệm trách bảo vệ sự phát triển của nền kinh tế thị trường, bảo đảm sự bình đẳng của các thành phần kinh tế nên không thể có những qui định ngược lại qui định qui luật phát triển kinh tế này trong Luật hình sự Có những cách hiểu
và nhận thức không đúng về qui định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” (khoản 2 Điều 51 Hiến pháp 2013), đã đánh đồng giữa “ kinh tế nhà nước” với “ doanh nghiệp nhà nước”, mặc dù, đây là hai phạm trù với những nội hàm khác
Trang 5nhau Tuy có vai trò chủ đạo nhưng có địa vị pháp lý bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, trong hoạt động vẫn phải tuân thủ pháp luật, trong môi trường cạnh tranh lành mạnh và phải hướng tới lĩnh vực mà khu vực kinh tế tư nhân không thể làm được hoặc những lĩnh vực đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng
d) Sự bình đẳng giữa các hình thức sở hữu là qui luật tất yếu của kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, có 3 chế độ sở hữu: sở hữu nhà nước (theo
ngôn ngữ pháp luật, cũng thường được hiểu là sở hữu công cộng), sở hữu cộng đồng, sở hữu tư nhân Sự bình đẳng của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế
thị trường tất yếu dẫn đến đòi hỏi thái độ đối xử bình đẳng của nhà nước, xã hội
giữa các hình thức sở hữu Vì vậy, khi hành vi phạm tội xâm phạm đến bất kỳ
hình thức sở hữu nào thì cũng đều bị xử lý như nhau, không thể xâm phạm đến
sở hữu nhà nước phải chịu trách nhiệm hình sự năng hơn so với các hình thức
sơ hữu khác trong khi các dấu hiệu cấu thành tội phạm giống nhau Đây là hạn
chế trong BLHS 1999 cần khắc phục
e) Cạnh tranh lành mạnh là động lực thúc đẩy của nền kinh tế thị trường
Sức sống của nền kinh tế thị trường được đảm bảo bằng cơ chế cạnh tranh
tự do, lành mạnh Khi độc quyền xuất hiện, nền kinh tế nói chung phải gánh chịu
sự mất mát, tổn thất làm triệt tiêu động lực phát triển của nền kinh tế Hiến pháp
đã đưa tự do cạnh tranh vào Điều 51 với tư cách là một bộ phận, một thành tố của kinh tế thị trường không những làm cho việc kinh doanh bình đẳng mà còn tạo ra động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Với qui định này của Hiến pháp, một mặt, đã tạo lập nền tảng cho việc ban hành luật chống độc quyền, luật cạnh
tranh để cạnh tranh hiện thân vào đời sống kinh tế, đồng thời Luật hình sự cũng
phải tội phạm hóa những hành vi cạnh trạnh không lành mạnh, hành vi độc quyền trong hoạt động kinh tế.
g) Vai trò quan lý nhà nước đối với nền kinh tế ngày càng được đề cao
Hiến pháp 2013 (Điều 52) qui định rõ các nội dung có tính nguyên tắc về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường Hoạt động của một nhà nước
vì dân, do dân, của dân phải thể hiện và nhằm phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội Do đó, nó phải đứng trên và không bị chi phối bởi các lợi ích nhóm hay lợi ích riêng của một khu vực, ngành nào đó Một mặt, bằng sức mạnh cưỡng chế của mình, nó phải đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo ra môi trường thuận lợi
Trang 6cho các giao dịch thị trường lành mạnh được thực hiện, kiềm chế các mặt tiêu cực do việc theo đuổi lợi ích cá nhân gây ra Mặt khác, nó phải đứng ra cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cộng, điều tiết kinh tế, thực hiện chính sách phân phối lại nhằm cải thiện công bằng xã hội Thực tế quản lý, điều hành nền kinh tế những năm qua bên cạnh thành công còn quá nhiều bất cập ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, gây bức súc trong xã hội Trong số những nguyên nhân, có nguyên nhân do chính sách hình sự chưa theo kịp yêu cầu quản lý, điều hành của nhà nước đối với nền kinh tế, chưa tội phạm hóa những hành vi xâm hại đến quản lý, điều hành kinh tế Một số lĩnh vực có thể nêu ra sau đây:
- Những quyết định đầu tư không hiệu quả, gây lãng phí nguồn lực, làm cạn kiệt tài nguyên, hay ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh – quốc phòng… đang diễn ra khá phổ biến hiện nay gây bức xúc trong xã hội nhưng chưa bị xử
lý bằng biện pháp hình sự So với những hành vi phạm tội khác thì hậu quả do hành vi quyết định đầu tư không chính xác, không phủ hợp, không phù hợp vô cùng lớn lao, thiệt hại của nó ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực trong đời sống xã
hội Vì vậy, những hành vi vi phạm liên quan đến quyết định đầu tư không hiệu
quả gây thất thoát lớn cho tài sản, ảnh hưởng tính mạng nhân dân, kìm hãm phát triển kinh tế xã hội… cần được tội phạm hỏi là đòi hỏi tất yếu, cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
- Hiệu quả chi tiêu và đầu tư công thấp, bất chấp tỷ lệ đầu tư công trong GDP cao được coi như một là một phương cách kìm hãm đà suy giảm của tốc độ tăng trưởng Điều này chẳng những hạn chế sự phát triển trong lĩnh vực kết cấu
hạ tầng, đào tạo nhân lực mà còn là nguyên nhân gây ra thâm hụt ngân sách và tình trạng gia tăng nhanh nợ công Ở Việt Nam, hiệu quả đầu tư công thấp có nhiều nguyên nhân, trong đó có việc xác định sai lĩnh vực đầu tư mà nhà nước phải thực hiện (như việc xây dựng các nhà máy sản xuất ra các hàng hóa tư nhân thông thường như xi măng, sắt thép, đường ăn, đóng tàu, sản phẩm hóa dầu…, những hàng hóa mà thị trường dễ dàng cung cấp) hay tình trạng triển khai quá nhiều các dự án về cảng biển, hoặc một số dự án đường giao thông khổng lồ trong khi các dự án tăng cường năng lực sản xuất điện lại thiếu hoặc được triển khai quá chậm Cơ chế xin - cho, tình trạng thiếu minh bạch trong quy trình xét duyệt, thẩm định các dự án đầu tư, chủ nghĩa cục bộ địa phương, đặc biệt nạn
tham nhũng… là môi trường nuôi dưỡng hiện trạng trên phi hiệu quả trên Tất
cả những hạn chế này cần phải được xem xét khi xác định chính sách hình sự trong giai đoạn hiện nay.
Trang 7- Khu vực kinh tế nhà nước đang nắm giữ một khối lượng lớn các nguồn lực (đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động) của xã hội (theo một ước tính, các DNNN chiếm giữ gần 50% giá trị đầu tư doanh nghiệp) nhưng lại hoạt động kém hiệu quả, do đó đóng góp không tương xứng vào thành tựu tăng trưởng (năm 2009, khu vực này chỉ tạo ra 35,13% GDP) và ít tạo ra việc làm (cũng năm 2009, khu vực kinh tế nhà nước chỉ sử dụng 10% số lượng lao động) Vấn đề kém hiệu quả khu vực DNNN còn nghiêm trọng hơn khi doanh nghiệp nắm trong tay nguồn tài nguyên và vốn liếng to lớn, có sức mạnh độc quyền để chi phối thị trường Lý luận và thực tiễn đều chứng minh tính phi hiêu quả của độc quyền, dù đó là độc quyền tư nhân hay độc quyền của doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên độc quyền của doanh nghiệp nhà nước đáng quan ngại hơn nếu sức mạnh lũng đoạn của doanh nghiệp lại đi liền với tệ tham nhũng và khả năng chi phối chính sách Đó là lý do cho thấy việc nhà nước tăng cường và hỗ trợ sức mạnh các tập đoàn kinh tế (vốn được hình thành không theo những quy tắc thông thường của thị trường), đặc biệt là trong những ngành thâm dụng vốn, hướng chủ yếu vào thị trường nội địa, dưới các hình thức khác nhau (giao đất, tài nguyên, giao dự án đầu tư, bảo lãnh tín dụng…) chính lại tạo ra hiệu ứng xấu, rất có hại cho nền kinh tế về mặt dài hạn Lợi dụng chính sách ưu tiên đầu
tư công thông qua kênh các DNNN nên các đã có tình trạng đầu tư ngoài ngành,
sở hữu chéo giữa các DNNN… gây thất thoát tài sản, không hiệu quả, phát sinh nhiều tiêu cực, làm giảm hiệu quả của đầu tư công và kéo tụt hiệu quả chung Vì vậy, chính sách hình sự cần nhấn mạnh việc trừng trị đối với hiện tượng lợi dụng chính sách đầu tư, chi tiêu công để trục lợi, để tham nhũng; làm thất thoát tài sản trong đầu tư, chi tiêu công; làm giảm hiệu quả đầu tư, chi tiêu công Trên
cơ sở định hướng này, khi sửa đổi BLHS ngoài những tội danh đã có trong BLHS hiện hành nên tội phạm hóa một số hành vi trong lĩnh vực đầu tư, chi tiêu công thuộc những hiện tượng tiêu như vừa kể ở trên Chỉ có như vậy, mới có thể làm tăng hiệu quả đầu tư, chi tiêu công; hạn chế được tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm, tiết kiệm được tài nguyên, nguồn lực của đất nước góp phần thức đẩy cho sự phát triển của đất nước
2 Cơ sở xã hội
Hoạt động điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực hình sự đòi hỏi phải nghiên cứu sâu sắc, toàn diện các qui luật và hiện tượng xã hội để từ đó rút ra những giá trị, những chuẩn mực điển hình của nhu cầu xã hội Khi hình thành chính sách hình sự cũng như xây dựng, sửa đổi Luật hình sự thì việc xác định nhu cầu xã hội cần phải được xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện các quan hệ xã hội đang tồn tại và sẽ hình thành trong tương lai Trên cơ sở đó lựa chọn những quan hệ
Trang 8xã hội cần và phải điều chỉnh bằng biện pháp hình sự nhằm bảo vệ, thúc đẩy cho các quan hệ xã hội phát triển theo hướng tích cực, đồng thời, bảo đảm cho việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm một cách có hiệu quả
Trong những năm qua, các qui luật, hiện tượng xã hội đã có nhiều biến đổi so với thời điểm ban hành BLHS năm 1999, nên cần phải xem xét, đánh giá trong quá trình hình thành chính sách hình sự, cũng như khi xây dựng, sửa đổi
bổ sung Luật hình sự Cụ thể như sau:
a) Trong xã hội đã xuất hiện những tầng lớp mới làm thay đổi kết cấu xã hội
Xã hội bao gồm các thành phần và mối liên hệ vững chắc giữa các thành
đó trong hệ thống xã hội và tạo ra cơ cấu xã hội Một số nhà lý thuyết xã hội còn đưa ra định nghĩa: "Cơ cấu xã hội là mô hình của các mối liên hệ giữa các thành phần cơ bản trong một hệ thống xã hội Những thành phần này tạo nên bộ khung cho tất cả các xã hội loài người, mặc dầu tính chất của các thành phần và các mối quan hệ giữa chúng biến đổi từ xã hội này đến xã hội khác Những thành
phần quan trọng nhất của cơ cấu xã hội là vị trí, vai trò, nhóm và các thiết
chế, " Như vậy, thành phần và cơ cấu xã hội luôn biến đổi phản ánh địa vị, lợi
ích của các nhóm, các giai tầng trong xã hội và nó tác động lên mọi mặt đời sống xã hội, đồng thời nó cũng quyết định đến phạm vi, tính chất điều chỉnh của pháp luật
Những năm qua, dưới sự tác động của kinh tế thị trường đã xuất hiện những nhóm người mà lợi ích của họ không phải lúc nào cũng đồng nhất trong
sự vận hành của nền kinh tế Kinh tế thị trường hình thành hai nhóm người: Người lao động, chiếm số đông và người sử dụng lao động với những ưu thế trong quá trình sản xuất kinh doanh Pháp luật đã có những qui định để bảo vệ quyền của người lao động, như: chế độ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, chế độ bảo hiểm, đình công… nhưng những quyền này của người lao động thường bị người
sử dụng lao động vi phạm gây thiệt hại cho người lao động đang gây bức súc trong xã hội Hoặc do chính sách thu hút đầu tư nước ngoài đã hình thành đông đảo các doanh nhân, lao động là người nước ngoài ở đất nước ta, thì bên cạnh việc tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho việc đầu tư kinh doanh còn đòi hỏi cần có pháp luật phải để bảo vệ tài sản, lợi nhuận và cá nhân họ trên đất nước
ta Sự xuất hiện người nước ngoài sinh sống, học tập làm việc đã hình thành một nhóm người với vị trí nhất định trong cơ cấu xã hội Đặc biệt, trong xã hội ta khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng lớn, làm gia tăng
Trang 9những vấn đề xã hội của hai nhóm người này Hiện tượng thất nghiệp, bần cùng hóa nếu không có giải pháp hữu hiệu để giảm thiểu sẽ làm bùng phát mâu thuẫn, xung đột xã hội dẫn đến bất ổn về chính trị Như vậy, thành phần, kết cấu
xã hội thay đổi đòi hỏi pháp luật, trong đó có Luật hình sự phải có điều chỉnh phù hợp
b) Quyền con người, quyền công dân ngày càng được mở rộng phù hợp với các tiêu chí quốc tế về nhân quyền đòi hỏi chính sách hình sự và pháp luật hình sự phải thay đổi điều chỉnh cho phù hợp
Trong thế giới hiện đại, quyền con người không còn bó hẹp ở một quốc gia mà
nó mang tính quốc tế sâu sắc, những tiêu chí về quyền con người được quốc tế hóa bởi các Điều ước quốc tế hình thành từ sự tham gia của các quốc gia thành viên Trên cơ sở này các quốc gia phải “nội luật hóa” các tiêu chí về quyền con người bảo đảm luật quốc gia không trái với các qui định của điều ước quốc tế
mà mình đã tham gia Quyền con người là giá trị cao quý, là thành quả đấu tranh chung, là kết tinh của nền văn minh nhân loại song cũng là một vấn đề được Việt Nam đặc biệt quan tâm Hiến pháp 2013, lần đầu tiên dành vị trí quan trọng để qui định quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân (chương 2 Hiến pháp 2013) Với qui định này của Hiến pháp, tư tưởng nhân quyền, dân chủ, tư tưởng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà cốt lõi
là đề cao quyền con người, quyền cơ bản của công dân, bảo đảm cho người dân được sống trong môi trường an toàn, bình an và lành mạnh ngày càng được phổ biến rộng rãi và được nhận thức rõ ràng hơn trong xã hội Bên cạnh việc qui định mở rộng quyền công dân, còn cần hình thành cơ chế bảo đảm thực thi quyền con người, quyền công dân hữu hiệu, có như vậy, quyền con người mới được thực thi trên thực tế Trong khoa học pháp lý khái niệm “Bảo đảm quyền con người” được hiểu là các điều kiện khách quan và phương tiện (công cụ) tổ chức và các công cụ khác không chỉ nhằm mục đích công bố, ghi nhận về mặt pháp lý các quyền con người mà còn nhằm mục đích bảo vệ và thực thi các quyền đó trong đời sống Việc bảo đảm quyền con người là chức năng của nhà nước với cơ chế phù hợp trong điều kiện của mình Bảo đảm quyền con người là
sự kết hợp địa vị pháp lý và địa vị thực tế của con người trong xã hội, là một trong những biểu hiện tự do xã hội, trách nhiệm và tính tích cực công dân Tự thân các tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội chưa phải là cơ sở để thực hiện quyền
và tự do của con người Chúng chỉ trở thành những bảo đảm quyền con người qua hình thức pháp lý và những nỗ lực tổ chức của Nhà nước Trong số những bảo đảm quyền con người, quyền công dân thì bảo đảm quyền con người bằng
Trang 10pháp luật hình sự được coi là biện pháp hữu hiệu Luật hình sự bảo đảm quyền con người, quyền công dân trên hai khía cạnh: 1 Luật hình sự qui định tội phạm, hình phạt để trừng trị hành vi xâm phạm quyền con người, quyền công dân Ở khía cạnh này, ngoài những tội phạm đã được qui định trong BLHS 1999 cần tội phạm hóa những hành vi xâm hại tới các quyền con người, quyền công dân mới được qui định trong Hiến pháp 2013 Đối chiếu những qui định của BLHS 1999 với yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong giai đoạn hiện nay đã được ghi nhận trong Hiến pháp cần tội phạm hóa một số hành
vi sau: hành vi xâm hại, cản trở quyền biểu tình; Quyền tự do ngôn luận, báo chí và thông tin; Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân
và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình Những quyền này của Hiến pháp phù hợp với những qui định của công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên và nó không những có ý nghĩa bảo đảm tự
do cho mỗi con người mà còn góp phân quan trọng vào sự phát triển của đất nước Việc không coi những hành vi xâm hại đến các quyền này của con người
là tội phạm đã làm giảm đi tính hiện thực của các quyền này trong đời sống xã hội, đồng thời không đáp ứng được đòi hỏi nâng cao việc bảo vệ quyền con người trong giai đoạn hiện nay; 2 Khi tổ chức đấu tranh tội phạm, giải quyết vụ
án, các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền con người của người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo Các cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng không được lợi dụng quyền tiến hành giải quyết
vụ án xâm phạm đến quyền của những người nêu trên.2 Trên thực tế, có lúc có nơi việc tôn trọng và bảo vệ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ và toàn diện do cơ chế bảo đảm quyền con người chưa được hoàn thiện
c) Chính sách về đất đai đang tạo ra những vấn đề xã hội cần quan tâm
khi sửa đổi Bộ luật hình sự
Hiến pháp 2013 vẫn tiếp tục qui định đất đai thuộc về sở hữu toàn dân và quyền tư hữu đất đai vẫn không được thừa nhận Đây là vấn đề được nhiều người quan tâm và đôi khi được đẩy lên thành vấn đề nhạy cảm để có những nhận xét đánh giá thiếu khách quan Thực tế cho thấy, ở Việt Nam đất đai không chỉ một bộ phận cấu thành làm nên quốc gia có chủ quyền, là tài nguyên của đất nước mà còn tư liệu sản xuất của hơn 70% dân số của một đất nước nông nghiệp nên bất kỳ chính sách đất đai nào cũng tác động sâu, rộng đến đời sống xã hội
hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Đề tài cấp Đại học quốc gia, mã số QL 04.03, năm 2006