Tin báo của cơ quan, tổ chức.. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng... Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; 5... Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Tố tụng hình sự là trình tự, thủ tục giải quyết vụ án, bao gồm toàn bộ hoạt động của các chủ thể tố tụng hình sự hướng tới việc giải quyết vụ án khách quan, công bằng, góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ quyền con người Trình tự, thủ tục đó được chia thành các giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, điều tra, truy tố, xét xư và thi hành án hình sự Các giai đoạn tố tụng đó nhằm giải quyết vụ án hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Trong quá trình giải quyết vụ án, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của quá trình tố tụng hình sự, trong giai đoạn này, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xác định sự việc có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự nhằm khẳng định về mặt pháp lý có hay không có tội phạm xảy ra, làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giảu quyết vụ án hình sự
Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được bắt đầu từ khi các cơ quan có thẩm quyền nhận được tin báo và tố giác về tội phạm và kết thúc khi các cơ quan đó ra một trong hai quyết định: Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định không khởi tố vụ án hình sự Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003, thời hạn này là 20 ngày, trong trường hợp sự việc phức tạp có thể được gia hạn nhưng không quá hai tháng Trong thời hạn này, cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự có nhiệm vụ áp dụng các biện pháp do luật tố tụng hình sự đưa ra để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm
Khởi tố vụ án hình sự có căn cứ đúng pháp luật là cơ sở cho các hoạt động tiếp theo, ngược lại khởi tố không có căn cứ pháp luật sẽ dẫn đến tình trạng là moan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 về khởi tố vụ án hình sự nói chung và căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự nói riêng là cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền thực thi có hiệu quả quyết định đưa sự việc giải quyết bằng thủ tục tố tụng hình sự Đồng thời đó cũng là những công cụ để bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự, góp phần thực hiện đấu tranh phòng ngừa tội phạm có hiệu quả
Trang 3Tuy nhiên, trong hoạt động tố tụng hình sự vẫn còn tình trạng các cơ quan có thẩm quyền xác định không đúng căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án hình sự nên dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm, bắt, giữ, giam, truy tố oan sai người vô tội Thực trạng này làm ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, mà trước hết là uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với nền tư pháp xã hội chủ nghĩa
Xuất phát từ lý do này, chúng tôi chọn đề tài tìm hiểu về “Căn cứ khởi tố vụ án hình sự và không được khởi tố vụ án hình sự”, qua đó nhằm nâng cao nhận thức bản thân để nắm rõ và hiểu một cách sâu sắc nhất và có hệ thống các quy định của pháp luật về chế định này, trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định về khởi tố vụ án hình sự có cơ sở, đủ căn cứ và đúng pháp luật, góp phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội
1 Căn cứ khởi tố vụ án hình sự
1.1 Lịch sử
Nhìn chung, so với Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì những quy định về căn cứ khởi tố vụ án hình sự trong Bộ luật tố tụng 2015 không có nhiều sự thay đổi Bên cạnh việc giữ nguyên 5 căn cứ khởi tố như bộ luật cũ quy định thì nay có bổ sung thêm một căn cứ mới, đó là: kiến nghị khởi tố của cơ quan Nhà nước Quy định này buộc các cơ quan Nhà nước phải kiểm soát chặt chẽ hoạt động của mình nhằm phát hiện ra những sai phạm và kịp thời có văn bản kiến nghị đến cơ quan điều tra Ngoài ra, tại khoản 1 cũng có sự điều chỉnh thành: “Tố giác của cá nhân” thay vì của “công dân” như trước đây Nếu quy định như cũ, có thể hiểu rằng, chỉ có tố giác của công dân VN mới trở thành căn cứ khởi tố vụ án hình sự Sau khi Bộ luật tố tụng hình sự được sưa đổi, bổ sung thì tất cả những tố giác chỉ cần là của cá nhân, dù là của công dân VN hay của người nước ngoài đều được coi là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự
Có thể thấy rằng, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tuy không có nhiều thay đổi về phần căn cứ khởi tố vụ án hình sự nhưng đã có được sự bổ sung và thay đổi cần thiết, hợp lí Phạm vi các căn cứ khởi tố cũng được mở rộng hơn
Trang 41.2 Định nghĩa
Có nhiều cách khác nhau để tiếp cận khái niệm Khởi tố vụ án hình sự, có thể hiểu Khởi tố vụ án hình sự là một chế định của bộ luật tố tụng hình sự, bao gồm các quy định về trình tự thủ tục khởi tố vụ án hình sự Nhưng thông thường chúng ta thường biết đến Khởi tố vụ án hình sư với vai trò là giai đoạn đầu tiên của hoạt động tố tụng hình sự, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định có hay không dấu hiệu tội phạm để quyêtts định đưa việc giải quyết theo thủ tưcc tố tụng hình sự Giai đoạn này bắt đầu từ việc tiếp nhận và phát hiện các nguồn thông tin về tội phạm và kết thúc bằng việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự Các nguồn thông tin được cho là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự được quy định tại điều 100 bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tương ứng với điều 143 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016 tới đây
2 Quy định về các căn cứ khởi tố vụ án hình sự
2.1 Căn cứ tố giác của cá nhân
Về cơ bản điều 100 trong bộ luật cũ là một điều luật tương đối hoàn thiện, tuy nhiên cùng với sự phát triển của xã hội, một số yêu cầu đổi mới đã được đặt ra, thì điều 143 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không thay đổi nhiều tinh thần của điều 100 bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhưng có phát triển và mở rộng thêm, cụ thể như sau Điểm chung là cả trong hai bộ luật cũ và mới đều nhất quán trong quy định: Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm
Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định căn cứ đầu tiên để Khởi tố vụ án hình sự là “tố giác của công dân” trong khi đó, Bộ luật 2015 mới đây lại quy định căn cứ đầu tiên là
“Tố giác của cá nhân.” Vậy tố giác là gì?
- Tố giác tội phạm, theo giải thích tại Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT- BCA-BQP- BTC- BNN&PTNT- VKSNDTC ngày 02/8/2013 hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì: “Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết”
Trang 5- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cũng đã quy định rõ về Tố giác tội phạm tại khoản 1 điều 144, như sau: “Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.” Có nhiều hình thức tố giác: bằng miệng, bằng văn, qua email, điện thoại (bằng lời hoặc bằng văn bản)
Như chúng ta đều biết, Cá nhân là chủ thể cơ bản, là tiền đề trong các quan hệ pháp luật Trong cuộc sống hàng ngày, không phải các cơ quan chức năng cũng không phải các cơ quan hành pháp, mà chính mỗi cá nhân mới chính là những chủ thể có nhiều cơ hội chứng kiến hoặc được biết về hành vi vi phạm pháp luật của người khác nhất Chính vì lẽ đó, sự tố giác của cá nhân đóng vai trò quan trọng và chiếm phần lớn trong việc giúp cho các cơ quan có thẩm quyển tìm ra được đúng người, đúng tội, góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội Luật cũ hạn chế chủ thế của hành vi tố giác là công dân, nhưng cùng với sự phát triển của xã hội theo xu hướng toàn cầu hóa, có nhiều vụ việc thông tin được cung cấp do cơ quan, cá nhân nước ngoài Quy định cũ lộ ra sự bất cập đónhững tố cáo của cá nhân là người nước ngoài sẽ không có giá trị pháp lý
Tố giác tội phạm là quyền và cũng là nghĩa vụ của công dân, cá nhân phải có trách nhiệm với tính xác thực của lời tố giác Tại khoản 5 điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự
2015 cũng quy định rõ, “Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xư lý kỷ luật, xư phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật” Chế tài nhằm hạn chế việc tùy tiện tố giác gây ảnh hưởng đến danh dự và công việc của người khác
Bộ luật 2003 đã có quy định về việc tố giác tội phạm nhưng lại chưa có quy định cụ thể về cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, báo cáo về bị hại, thì đến bộ luật 2015, đã có quy định cụ thể chi tiết trong khoản 2 và khoản 3 điều 145
2.2 Căn cứ tin báo về tội phạm
Được quy định tại khoản 2, 3 Điều 100 bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
2 Tin báo của cơ quan, tổ chức.
3 Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Trang 6Tuy được quy định thành 2 khoản nhưng nội dung quy định đều là “tin báo về tội phạm” Khái niệm “tin báo về tội phạm” được nêu cụ thể trong Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC: “Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết”
Không giống như “tố giác tội phạm” được cá nhân thường là người bị thiệt hại, người thân thích của người bị thiệt hại trình báo nên hành vi có dấu hiệu tội phạm chắc chắn hơn, trực tiếp, cụ thể hơn; trong khi đó, “tin báo về tội phạm” thường là những thông tin được ghi nhận và báo cáo lại bởi 1 bên thứ 3 (cơ quan, tổ chức hay các phương tiện thông tin đại chúng) không phải là đối tượng trực tiếp hứng chịu hành vi phạm tội
- Nguồn tin này có thể được thu thập bởi cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý một khu vực, một lĩnh vực mà tội phảm xảy ra, hay các tài liệu của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chuyển cho CQĐT, VKS phản ánh những thông tin về tội phạm
- Nguồn tin về tội phạm được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng có thể là kết quả của việc phóng viên, nhà báo điều tra được (ví dụ: các bài báo về hoạt động buôn lậu) hay được nhân dân cung cấp Trên thực tế, nguồn thông tin này ngày càng nhiều và đáng tin cậy, góp phần không nhỏ vào việc phát hiện và đấu tranh phòng chống tội phạm
Hình thức của “tin báo về tội phạm” chuyển tới cơ quan có thẩm quyền có nhiều hình thức như lời nói, văn bản (bài báo, có thể là đơn kiến nghị truy tố trong 1 số trường hợp nhất định)
Bởi “tin báo về tội phạm” được cung cấp từ bên thứ ba nên rất khách quan bởi phòng chống tội phạm là trách nhiệm cũng như nghĩa vụ của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, tuy nhiên cũng cần cân nhắc kỹ trước khi báo tin vì ảnh hưởng rất lớn tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của các cá nhân khác Cũng vì thế mà cơ quan có thẩm quyền giải quyết tin báo về tội phạm phải tiến hành điều tra, xác minh có hay không dấu hiệu tội phạm để làm cơ sở cho việc quyết định khởi tố vụ án hình sự
Trang 7Cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận tin báo về tội phạm không được quy định trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, nhưng được quy định trong TTLT số 06/2003 tại Điều
5 Cơ quan có thẩm quyền giải quyết “tin báo về tội phạm” chỉ gồm: cơ quan điều tra trong CAND, QĐND, VKSNDTC, VKSQSTƯ, và 1 số cơ quan khác tiếp nhận tin báo liên quan đến lĩnh vực của mình như BĐBP, Hải quan, kiểm lâm, … (khoản 1, Điều
6, TTLT 06/1003) Một điều cần lưu ý là ngay từ giai đoạn giải quyết “tin báo về tội phạm” cơ quan điều tra phải thông báo đến VKS cùng cấp để tiến hành kiểm sát việc điều tra giải quyết “tin báo về tội phạm” (Điều 9 của TTLT)
=> Chưa quy định cụ thể về thời hạn giải quyết tin báo về tội phạm
- So sánh với bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Khoản 2, 3 Điều 143 có quy định gần như giữ nguyên so với bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, điểm khác nhất là K2 có quy định thêm “cá nhân” cũng là 1 chủ thể cung cấp “tin báo về TP” Điều này không có ý nghĩa đột phá mà chỉ hoàn thiện thêm quy định tại khoản này Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng, cần phải quy định thêm
“tin báo về TP” có thể được cung cấp bởi cá nhân, tổ chức nước ngoài Thực tế nước
ta có rất nhiều cá nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động, những tội phạm nhằm vào họ là không nhỏ, nên cần quy định thêm 2 đối tượng này vào khoản 2
Về trách nhiệm tiếp nhận tin báo được quy định ngắn gọn, bao quát hơn
Về cơ quan có thầm quyền giải quyết tin báo, khoản 3 Điều 145 quy định ngắn gọn hơn, với tinh thần chính, cơ quan có thẩm quyền điều tra về lĩnh vực nào thì giải quyết tin báo về tội phạm trong lĩnh vực đó Ngoài ra, VKS là cơ quan nắm quyền kiểm sát các hoạt động giải quyết tin báo về tội phạm của các cơ quan điều tra khác, nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra, bỏ lọt tội phạm, VKS sẽ có văn bản yêu cầu khắc phục, nếu không được khắc phục thì VKS sẽ trực tiếp tiếp nhận giải quyết tin báo về tội phạm (khoản 3, Điều 145)
Về thời hạn, trong vòng 20 ngày, cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành 1 số hoạt động điều tra phải xác minh và ra 1 trong các quyết định: Khởi tố; Không khởi tố vụ án hình sự; Tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
Trang 8Thời hạn này có thể kéo dài đến 2 tháng nếu có nhiều tình tiết phức tạp và có thể được gia hạn bởi viện trưởng VKS cùng cấp 1 lần không quá 2 tháng
2.3 Căn cứ liên quan đến cơ quan nhà nước
Đây là những căn cứ mà do sự tác động của các cơ quan nhà nước tạo thành, được quy định tại khoản 4 và 5 Điều 143 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Khoản 4,5 điều 143 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
4 Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
5 Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
- Về khoản 4:
Khái niệm của kiến nghị khởi tố không được quy định trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 mà trong thông tư liên tịch 06/2003/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC, theo khoản 3 điều 3 thông tư này: “Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ của mình phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm và có văn bản kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét khởi tố vụ án hình sự” Qua đó, ta thấy điểm khác biệt lớn nhất giữa tin báo của các cơ quan, tổ chức với kiến nghị khởi tố chính là ở văn bản kiến nghị Vì được thể hiện dưới hình thức văn bản, nên kiến nghị khởi tố đòi hỏi một sự rõ ràng nhất định, cũng như quá trình thu thập hồ
sơ, tài liệu liên quan cũng phải chính xác hơn Cũng chính vì lý do này mà các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận kiến nghị khởi tố thì hạn hẹp và mang tính chuyên nghiệp hơn so với các cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận tin báo, theo điều 5 TTLT 06/2003
- Về khoản 5:
Theo điều 34 bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, và theo đó, chỉ
3 cơ quan này có thể trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm và làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự
- So sánh:
Trang 9Căn cứ khởi tố với nội dung tương tự đã được quy định tại khoản 4 điều 100 bộ luật tố tụng hình sự năm 2003:
4 Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;
Bộ luật cũ quy định rằng Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, bộ đội biên phòng, đều có thể trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm làm căn cứ khởi tố, mà không đề cập đến kiến nghị khởi tố, trong khi thông tư 06/2003 lại có nhắc đến khái niệm này Việc quy định phân thành 2 điều như bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 vừa quy định một cách rõ hơn căn cứ khởi tố đối với các cơ quan cũng như phân tách được khái niệm kiến nghị khởi tố Theo đó, chỉ còn 3 cơ quan như đã nhắc ở trên có thể trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm làm căn cứ khởi tố Còn các cơ quan nhà nước khác, có thể kể đến như bộ đội biên phòng, hải quân, kiểm lâm, thì phải thông qua kiến nghị khởi tố để các cơ quan có thẩm quyền xem xét hồ sơ, điều tra, thu thập thông tin
2.4 Căn cứ người phạm tội tự thú
2.4.1 Định nghĩa về tự thú
Tự thú, theo từ điển Tiếng Việt NXB Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học Hà Nội – Đà Nẵng, trang 1041, được định nghĩa là “tự mình nhận tội và khai ra các hành động phạm pháp của mình”
Theo định nghĩa nêu trên thì tự thú có thể bao gồm cả đầu thú, và sẽ gồm nhiều mức độ khác nhau Tuy nhiên, về mặt pháp lý thì tự thú và đầu thú là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Tự thú được hiểu là việc tự mình nhận tội và khai ra các hành động phạm pháp của mình khi mà việc phạm tội chưa bị phát giác khác với đầu thú là trường hợp người phạm tội, khi đã bị biết về hành vi phạm tội của mình, đến cơ quan có thẩm quyền để nhận tội, khai báo các tình tiết của hành vi phạm tội và đồng phạm của mình
Như vậy, có thể thấy, giữa đầu thú và tự thú chỉ khác nhau ở điểm, tự thú là khi chưa
Trang 10như tự thú, đầu thú cũng được đánh giá ở các mức độ khác nhau tuỳ theo mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và người đó ra đầu thú sớm hay muộn
Quay lại vấn đề về tự thú, việc người phạm tội tự giác khai báo hành vi phạm tội của mình tới nhà chức trách thể hiện sự ăn năn hối cải của mình nên đáng được nhận sự khoan hồng, nhưng khoan hồng đến đâu thì lại phụ thuộc vào nhiều khía cạnh như là: chính sách hình sự của Nhà nước; tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội; thái độ khai báo; sự góp phần của việc khai báo, tự thú vào việc phát hiện, điều tra tội phạm v.v…
2.4.2 Những điều kiện để nó trở thành một căn cứ
Tự thú cũng là một trong những căn cứ để người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, để tự thú trở thành một trong những căn cứ khởi tố vụ án hình sự thì khi người phạm tội đến khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình thì cơ quan này cần phải xác minh tính xác thực của lời nhận tội đó, khẳng định được lời khai báo của người tự thú có dấu hiệu tội phạm
2.4.3 Trình tự thủ tục của các cơ quan có thẩm quyền khi người phạm tội tới tự thú
Theo điều 152, Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
1 Khi người phạm tội đến tự thú, đầu thú, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của người tự thú, đầu thú Cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát.
2 Trường hợp xác định tội phạm do người tự thú, đầu thú thực hiện không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì Cơ quan điều tra tiếp nhận người tự thú, đầu thú phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp nhận, giải quyết.
3 Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận người phạm tội từ thú, đầu thú, Cơ quan điều tra có thầm quyền phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp.”