1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định thị trường tiềm năng cho Tôm chứng nhận sinh thái của tỉnh Cà Mau, Việt Nam

36 263 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định thị trường tiềm năng cho Tôm chứng nhận sinh thái của tỉnh Cà Mau, Việt Nam IPCC Ủy ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu ICMP Chương trình Quản lý Tổng hợp vùng Ven biển ICS H

Trang 1

Xác định thị trường tiềm năng cho Tôm chứng nhận sinh thái của tỉnh Cà Mau, Việt Nam

Trang 2

Chương trình Quản lý Tổng hợp Vùng Ven biển (ICMP)

5B đường Tôn Đức Thắng, Tòa nhà Landmark, tầng 9, Quận 1, Tp Hồ Chí Mình, Việt Nam

Golden Sky Co.,ltd

Tầng 5 số 6 Nguyễn Công Trứ, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Lê Bá Cả và Nguyễn Thị Việt Phương

Báo cáo không phản ánh quan điểm của Chính phủ Việt Nam, Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc, Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển CHLB Đức cũng như GIZ

© GIZ 2014

GIZ chịu trách nhiệm nội dung của ấn phẩm này.

Dưới sự ủy quyền của

Bộ ngoại giao và thương mại Úc (DFAT)

Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển CHBL Đức (BMZ)

Trang 3

Xác định thị trường tiềm năng cho Tôm chứng nhận sinh thái của tỉnh Cà Mau, Việt Nam

Trang 5

Là một tổ chức thuộc chính phủ Đức, Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit (GIZ) GmbH hỗ trợ Chính phủ Đức hoàn thành các mục tiêu của mình trong lĩnh vực hợp tác quốc tế hướng tới phát triển bền vững.

GIZ đã hoạt động ở Việt Nam trong hơn 20 năm qua Thay mặt cho chính phủ Đức, GIZ cung cấp các dịch

vụ tư vấn cho Chính phủ Việt Nam và hiện đang tham gia vào ba lĩnh vực ưu tiên: (i) Đào tạo Nghề; (ii) Chính sách Môi trường và Sử dụng bền vững Nguồn Tài nguyên Thiên nhiên; và 3) Năng lượng

Nhà tài trợ vốn và ủy nhiệm chính của GIZ Việt Nam là Bộ Hợp tác và Phát triển Kinh tế Liên bang Đức (BMZ) Ngoài ra còn có các Bộ liên bang về Môi trường, Bảo tồn Thiên nhiên, Xây dựng và An toàn hạt nhân (BMUB), Bộ Liên bang về các vấn đề Kinh tế và Năng lượng (BMWi) và Bộ Tài chính Liên bang (BMF) GIZ Việt Nam cũng tham gia nhiều dự án do Chính phủ Úc (thông qua Bộ Ngoại giao và Thương mại - DFAT) và Liên minh châu Âu đồng tài trợ cũng như hợp tác chặt chẽ với Ngân hàng phát triển Đức KfW

Chương trình Quản lý Tổng hợp Vùng Ven biển (ICMP) do hai chính phủ Đức và Úc tài trợ nhằm hỗ trợ Việt Nam quản lý các hệ sinh thái ven biển giúp tăng khả năng phục hồi và giảm khả năng bị tổn thương nhằm bảo vệ vùng đồng bằng sông Cửu Long đang phải đối mặt với biến đổi khí hậu Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức GIZ cùng phối kết hợp với Bộ Nông nghiệp và PTNT, và các sở, ban ngành của năm tỉnh Chương trình gồm An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Sóc Trăng triển khai thực hiện Chương trình

Để biết thêm thông tin, xin ghé thăm Website của chúng tôi www.giz.de/viet-nam và http://daln.gov.vn/ icmp-cccep.html.

GIZ tại Việt Nam

Trang 6

Danh mục bảng 5

Danh mục đồ thị 5

Từ viết tắt 6

Tóm tắt 7

1 Giới thiệu 10

1.1 Các vấn đề chung 11

1.2 Thực trạng sản xuất tôm ở Việt Nam 12

1.3 Thực trạng sản xuất tôm ở Tỉnh Cà Mau 13

2 Phương pháp tiếp cận 16

3 Kết quả 18

3.1 Các công ty được liên hệ 19

3.2 Tiềm năng mua tôm sinh thái 20

3.3 Loại chứng nhận 21

3.4 Xếp hạng các thuộc tính sản phẩm 22

3.5 Mong muốn thăm trại nuôi hoặc nhà máy chế biến 23

Mục lục

Trang 7

Bảng 1: Doanh số bán tôm sinh thái được chứng nhận ở Cà Mau 15

Bảng 2: Tầm quan trọng của các thuộc tính sản phẩm khác nhau trong tiếp thị .22

Danh mục bảng Đồ thị 1: Số lượng các công ty đã liên hệ từ nhiều nước Châu Âu .19

Đồ thị 2: Phân loại mức độ quan tâm khác nhau trong việc mua tôm sinh thái ở Cà Mau 20

Đồ thị 3: Các tiềm năng mua tôm sinh thái khác .21

Đồ thị 4: Ưa chuộng đối với các loại chứng nhận khác nhau .22

Danh mục đồ thị 4 Kết luận 24

4.1 Các công ty đ liên hệ 25

4.2 Tiềm năng mua và phản hồi của các công ty 25

4.3 Các khía cạnh của tiếp thị 27

4.4 Những đề xuất cuối cùng cho GIZ và các bên liên quan của Cà Mau 28

Phụ lục 30

Trang 8

Xác định thị trường tiềm năng cho Tôm chứng nhận sinh thái của

tỉnh Cà Mau, Việt Nam

IPCC Ủy ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu

ICMP Chương trình Quản lý Tổng hợp vùng Ven biển

ICS Hệ thống kiểm soát nội bộ

IMO Viện nghiên cứu Thị trường

lb Đơn vị cân Anh (1 lb = 453.592 gram)

MKD Đồng Bằng Sông Cửu Long

NL Naturland (Chứng nhận sản phẩm nông nghiệp hữu cơ cá thể)p.a Trên một năm

SNV Tổ chức phát triển Hà Lan

VASEP Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam

Chữ viết tắt

Trang 9

Xác định thị trường tiềm năng cho Tôm chứng nhận sinh thái của

tỉnh Cà Mau, Việt Nam

7

Tóm tắt

Hoạt động đánh giá thị trường thực tế về “Xác định thị trường tiềm năng của tôm chứng nhận sinh thái

ở tỉnh Cà Mau, Việt Nam”, thông qua phỏng vấn điện thoại với những khách hàng tiềm năng ở Châu Âu” được tiến hành trong khuôn khổ của tổ chức GIZ trong “Chương trình quản lý tổng hợp vùng ven biển” (ICMP) Đây là nghiên cứu mới nhất trong một loạt các nghiên cứu với mục đích làm giảm sự suy thoái

và hỗ trợ phục hồi rừng ngập mặn ven biển, nhằm bảo về vùng ven biển ở Cà Mau và Đồng bằng Sông Cửu Long mà không làm giảm hoặc ngừng việc mở rộng nuôi tôm

Trong năm 2013 một nghiên cứu ban đầu “Hiện trạng các mô hình nuôi tôm Quy mô nhỏ thân thiện với môi trường tại tỉnh Cà Mau” đã được tiến hành Tiếp theo sau nghiên cứu ban đầu này là một nghiên cứu đánh giá thị trường về “Nhu cầu các sản phẩm tôm được chứng nhận và không được chứng nhận của Việt Nam, đặc biệt chú trọng cho tỉnh Cà Mau” được thực hiện vào đầu năm 2014 Nghiên cứu sau cho thấy nhu cầu tôm có chứng nhận và không có chứng nhận ở tỉnh Cà Mau và đã phân tích mô hình tiếp thị tiềm năng cho sản phẩm tôm Cà Mau

Theo nghiên cứu thực tế này, các khách hàng tiềm năng Châu Âu đã được liên hệ để xác định (1) bao nhiêu trong số họ quan tâm đến việc mua tôm chất lượng cao, bền vững và có thể đã được cấp chứng nhận (chứng nhận bền vững hoặc chứng nhận sinh thái) tại tỉnh Cà Mau, (2) các khách hàng quan tâm muốn mua tôm ở Cà Mau với chất lượng và số lượng nào, và (3) điều gì là cần thiết hoặc sẽ phải thay đổi

để các công ty Châu Âu mua tôm sinh thái ở Cà Mau hay tăng sản lượng mua

Từ ngày 28/7 đến 21/8/2014 tổng số 74 khách hàng tiềm năng châu Âu của tôm sinh thái Cà Mau đã được liên hệ qua điện thoại hay email

Kết quả chính từ các phỏng vấn qua điện thoại:

l 19% các công ty “rất quan tâm” hoặc “có quan tâm” trong việc mua tôm sinh thái của Cà Mau

l Tổng tiềm năng mua của các công ty này ước lượng khoảng 680 đến 1.110 tấn/năm Điều này mang đến tiềm năng tăng doanh số bán và sản lượng sản xuất của tôm sinh thái ở Cà Mau lên 30%

l Liên quan đến loại tôm được ưa chuộng, thì tôm sú được ưu thích hơn (58%) trong khi đó thì tôm thẻ chân trắng chỉ chiếm 29%

l Toàn bộ các công ty tiếp cận (100%) cho biết họ muốn mua ít nhất vài sản phẩm chứng nhận, trong khi đó 77% các công ty mong muốn sản phẩm có chứng nhận sinh thái (45% Naturland,

và 32% chứng nhận sinh thái EU) và 32% muốn có chứng nhận ASC

l 92% trong tổng số các công ty chia sẽ rằng chứng nhận ASC sẽ không tạo ra bất kỳ giá vượt trội như chứng nhận tôm sinh thái đã làm, so sánh với chứng nhận EU chỉ duy nhất chứng nhận Naturland là tạo ra giá vượt trội đáng kể

l Các phỏng vấn chỉ ra rằng giá là yếu tố quan trọng nhất trong tiếp thị theo sau là thị hiếu, cách trình bày và sự chấp nhận của xã hội Các khía cạnh như bảo vệ rừng hoặc sử dụng kháng sinh thì ít quan trọng hơn

Trang 10

Dựa theo những kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị được đề xuất như sau:

l Các nhà sản xuất địa phương cần nỗ lực tăng cường nhiều hơn nữa số lượng các công ty cần liên hệ

l GIZ nên thiết lập và duy trì mối liên hệ với tất cả các công ty có quan tâm và GIZ nên là cầu nối giữa các nhà sản xuất địa phương và khách hàng Châu Âu

l Việc sản xuất tôm sinh thái nên mang tính cạnh tranh về giá nhiều hơn Điều này có thể có được thông qua việc sử dụng các khả năng mới, chẳng hạn như sản xuất theo nhãn sinh thái

EU hoặc ASC hay kết hợp cả hai

l Thêm vào đó, chi phí sản xuất cần được đánh giá và giá bán phải được xem xét lại để giảm giá bán cho các sản phẩm tôm sinh thái từ Cà Mau nhằm có giá cả cạnh tranh hơn trong thời gian tới

l Việc sản xuất tôm thẻ chân trắng sinh thái ở đai rừng ngập mặn tỉnh Cà Mau nên được xem xét trong tương lai vì nó phù hợp với các quy định sinh thái EU Tuy nhiên tôm thẻ chân trắng chỉ nên được nuôi trong mô hình tôm kết hợp trồng rừng, còn gọi là “mô hình lâm-ngư kết hợp” giống như đã thực hiện đối với tôm sú

l Chất lượng cao của tôm sinh thái Cà Mau cần phải được duy trì và gia tăng

l Tôm sinh thái từ Cà Mau nên được tiếp thị và quảng cáo nhiều hơn Trong bối cảnh này, việc tạo thương hiệu nên chú trọng xem xét

l Các nhà sản xuất địa phương nên tăng cường các nỗ lực quảng bá và phổ biến những nét nổi bật của tôm sinh thái từ Cà Mau

l Nên tránh hoàn toàn các hợp đồng độc quyền chỉ với một hay một vài khách hàng

Trang 12

10

Trang 13

1.1 Các vấn đề chung

Hoạt động đánh giá thị trường thực tế về “Xác định thị trường tiềm năng của tôm chứng nhận sinh thái

ở tỉnh Cà Mau, Việt Nam thông qua phỏng vấn điện thoại với những khách hàng tiềm năng ở Châu Âu” được tiến hành trong khuôn khổ của tổ chức GIZ trong “Chương trình quản lý tổng hợp vùng ven biển” (ICMP) Đây là nghiên cứu mới nhất trong một loạt các nghiên cứu với mục đích làm giảm sự suy thoái

và hỗ trợ phục hồi rừng ngập mặn ven biển, nhằm bảo vệ vùng ven biển ở Cà Mau và Đồng bằng Sông Cửu long mà không làm giảm hoặc ngừng việc mở rộng nuôi tôm

Việt Nam đã được Ủy Ban Liên Chính Phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) xác định là một trong những nước

bị ảnh hưởng nhiều nhất do biến đổi khí hậu (BĐKH) Cụ thể là Đồng bằng sông Cửu long và Đồng bằng sông Hồng đang ở mức độ rủi ro cao

Trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Cà Mau với sự suy thoái dãi rừng phòng hộ ven biển không chỉ làm giảm nghiêm trọng sự đa dạng sinh học, mà còn làm giảm khả năng bảo vệ tự nhiên của các đê biển hiện hữu, điều này sẽ tăng sự tổn thương về đời sống cũng như sinh kế cho người dân địa phương Những tác động của BĐKH đã làm giảm khả năng thích ứng và khả năng phục hồi của các hệ sinh thái ven biển ngày càng rõ ràng hơn

Việc suy thoái rừng phòng hộ ven biển chủ yếu là do các hoạt động nuôi tôm, đó là hoạt động sản xuất

và là nguồn thu nhập chính của người dân địa phương tại tỉnh Cà Mau (bao gồm nông dân nuôi tôm quy mô nhỏ) Việc mở rộng nuôi tôm ở Cà Mau đã góp phần tăng trưởng kinh tế, nhưng đồng thời cũng

là nguyên nhân làm giảm diện tích rừng ngập mặn còn lại của tỉnh

Trang 14

Xác định thị trường tiềm năng cho Tôm chứng nhận sinh thái của

tỉnh Cà Mau, Việt Nam

12

Để giảm sự suy thoái và hỗ trợ việc phục hồi dãi rừng ngập mặn phòng hộ ven biển Cà Mau và toàn bộ Đồng bằng song Cửu long cần phải chuyển hướng các hoạt động nuôi tôm sang hướng sản xuất bền vững Việc này có thể thực hiện mà không làm ảnh hưởng việc mở rộng nuôi tôm cũng như tăng trưởng kinh tế trong khu vực Để đạt được mục tiêu này, cần tạo ra các động lực cho nông dân trong bảo vệ, duy trì và phục hồi diện tích rừng ngập mặn ven biển ở trong và cũng như chung quanh ao nuôi

Nhằm đạt được mục tiêu này, GIZ đã thực hiện vài nghiên cứu và đánh giá thị trường trong khung chương trình của tổ chức GIZ thông qua “Chương trình Biến đổi khí hậu và Hệ sinh thái ven biển” (CCCEP/ICMP) Nghiên cứu khảo sát “Hiện trạng các mô hình nuôi tôm Quy mô nhỏ thân thiện với môi trường tại tỉnh Cà Mau” đã được thực hiện và xuất bản năm 2013 với thực hiện của “Phân viện Nghiên cứu Thủy sản Minh Hải” phối hợp với Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) Nghiên cứu cũng đã phân tích chuổi giá trị của nhiều hệ thống nuôi tôm Sú quảng canh ở tỉnh Cà Mau Kết quả nghiên cứu đã kết luận rằng tôm sinh thái đã được chứng nhận là có hiệu quả nhất về mặt kinh tế, đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra một

số điểm yếu và những thách thức của chuổi giá trị tôm sinh thái

Để phân tích thêm những điểm yếu và các thách thức này, một nghiên cứu đánh giá thị trường “Nhu cầu về các sản phẩm tôm được chứng nhận và không được chứng nhận sinh thái của Việt Nam, tại tỉnh

Cà Mau” đã được thực hiện từ đầu năm 2014 nhằm xác định nhu cầu sản phẩm tôm được chứng nhận

và chưa được chứng nhận từ Cà Mau, qua phân tích các kiểu tiếp thị và làm rõ hơn các yếu tố chiến lược tiếp thị để thúc đẩy sản phẩm tôm tỉnh Cà Mau

Nghiên cứu thị trường thực tế trong báo cáo này nhằm mục đích liên hệ các khách hàng tiềm năng từ Châu Âu để xác định (1) bao nhiêu trong số họ quan tâm đến việc mua tôm chất lượng cao, sản xuất bền vững và có thể đã được cấp chứng nhận (chứng nhận bền vững hoặc chứng nhận sinh thái) tại tỉnh Cà Mau, (2) các khách hàng quan tâm muốn mua tôm ở Cà Mau với chất lượng và số lượng nào, và (3) điều

gì là cần thiết hoặc sẽ phải thay đổi để các công ty Châu Âu tiến hành mua hay tăng sản lượng mua tôm sinh thái ở tỉnh Cà Mau

1.2 Thực trạng sản xuất tôm ở Việt Nam

Năm 2013, sản xuất tôm đạt kỷ lục cao ở Việt Nam Sản lượng sản xuất khoảng 268,000 tấn tôm sú

(Penaeus monodon) trên diện tích 600.000 ha và khoảng 280.000 tấn tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) trên diện tích 66,000 ha Năm 2013, lần đầu tiên trong lịch sử nuôi tôm ở Việt Nam, tôm thẻ

chân trắng được sản xuất số lượng nhiều hơn tôm sú Mức tăng trưởng sản xuất tôm Việt Nam, đặc biệt tôm thẻ chân trắng dự kiến sẽ tiếp tục tăng trong năm 2014

Nguyên nhân chính sản xuất tôm thẻ chân trắng gia tăng ở Việt Nam do sự gia tăng ao nuôi thâm canh nội địa trong khi sản lượng thẻ chân trắng đang giảm ở các nước sản xuất khác như Trung Quốc và Thái Lan Sự suy giảm này dẫn đến việc thiếu hụt nguồn cung trên toàn cầu và đẩy giá thi trường toàn cầu tăng1 Đặc biệt, tôm thẻ chân trắng được trại nuôi ưa chuộng hơn do chi phí sản xuất và rủi ro khá thấp, trong khi năng suất cao hơn Điều này mang lại cơ hội thị trường tốt hơn để phục vụ người tiêu dùng

vì nó kinh tế hơn

1 Các yếu tố khác: „Thuế-bằng không” chính sách cho thị trường Mỹ, các điều kiện thời tiết thuận lợi, sản xuất thường là ba thay

vì hai vụ, cuối cùng nhưng không kém quan trọng là sự cải thiện tình hình kinh tế ở Nhật, Mỹ và vài nước châu Âu năm 2013.

Trang 15

Xác định thị trường tiềm năng cho Tôm chứng nhận sinh thái của

tỉnh Cà Mau, Việt Nam

13

VASEP dự báo cho năm 2014 sẽ tương tự năm 2013 với giá trị xuất khẩu tôm đạt khoảng trên 3 tỉ đô la

Mỹ (chiếm 46% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam), do tình hình kinh tế ở các thị trường lớn như Nhật và Mỹ được dự báo sẽ được tiếp tục cải thiện Tuy nhiên, VASEP cũng lưu ý rằng điều này chỉ có thể xảy ra nếu có đầy đủ con giống chất lượng cao và việc dùng thuốc trị bệnh và các hóa chất khác được kiểm soát hiệu quả

Đặc biệt, đồng bằng Sông Cửu Long nơi có sản lượng tôm nuôi chiếm 80% của cả nước được hưởng lợi ngày càng tăng cao hơn2 Ngành nuôi trồng thủy sản liên quan mật thiết đến sinh kế của người dân vùng đồng bằng Sông Cửu Long, và nền kinh tế của cả nước

Ngày nay, hải sản là ngành xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam Do đó, bất kỳ đề xuất chiến lược nào hạn chế ngành nuôi tôm sẽ khó có thể được chấp nhận ở Việt Nam Hạn chế việc nuôi tôm sẽ không phải là giải pháp cho xung đột giữa giữa nuôi tôm và quản lý rừng bền vững ở Việt Nam Hơn nữa, điều quan trọng là cần chứng minh được các hệ thống nuôi tôm bền vững hoặc sinh thái (được chứng nhận) kết hợp với bảo tồn rừng ngập mặn đang trên đà suy giảm sẽ không dẫn đến sự sụt giảm các con số về giá trị Cần phải thể hiện các hệ thống nuôi trồng này để có thể tạo sự ổn định cho xuất khẩu và mang lại nhiều cơ hội có thu nhập tốt hơn, đó là con đường duy nhất cho ngành tôm Việt Nam phát triển xa hơn Việc quyết định có đi theo hướng bền vững và bảo vệ rừng hay không không thể dựa vào nhu cầu

mà phải là quyết định mang tính chính sách

1.3 Thực trạng sản xuất tôm ở Tỉnh Cà Mau

Theo dữ liệu của nghiên cứu ban đầu, tỉnh Cà Mau có khoảng 296.687 ha nuôi trồng thủy sản, trong

đó 266.638 ha nuôi tôm3 Trong năm 2012, phần lớn diện tích nuôi tôm (199.533 ha) là nuôi tôm quảng canh truyền thống (nuôi mật độ thấp, không cho ăn, không hóa chất, trao đổi nước bằng chế độ triều,

ở các vùng ven biển thường là mô hình lâm ngư kết hợp)

Khoảng 21.791 ha là nuôi tôm quảng canh “cải tiến” (mật độ cao hơn, có cho ăn, xử lý hóa chất, trao đổi nước bằng chế độ triều) và khoảng 5.000 ha là nuôi tôm thâm canh (kích thước ao nuôi nhỏ, mật độ thả rất cao, cho ăn hoàn toàn, xử lý nước và có sục khí), 40.350 ha là mô hình tôm-lúa

Trong diện tích nuôi tôm quảng canh, diện tích tôm – rừng (lâm ngư kết hợp) là 60.000 ha, và trong đó 14.358 ha đã được chứng nhận sinh thái (chiếm 24% diện tích tôm rừng)

Sau thành công năm 2013, xu hướng thâm canh hóa ở tỉnh Cà Mau tiếp tục tăng và được chính quyền tỉnh hỗ trợ Tỉnh đã lập mục tiêu tăng thêm 1.100 ha diện tích nuôi tôm thâm canh năm 2014 (gần như

đã đạt được)4 Ngoài ra, diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến cũng tăng đều đặn Dự kiến nhiều tôm thẻ chân trắng sẽ được sản xuất ở Cà Mau nhờ các ưu điểm về mặt kinh tế của loại tôm này (2.5 đến 3 vụ/năm, khả năng chống chịu dịch bệnh tốt hơn ) Năm 2008, chính phủ đã có quyết định cho phép nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long nhưng chỉ được nuôi ở các khu nuôi

an toàn và được chính quyền cấp tỉnh cho phép5

2 Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 12% diện tích, với khoảng 21% dân số sinh sống, và chiếm 90% sản xuất gạo xuất khẩu cả nước

3 Toàn bộ diện tích tỉnh Cà Mau khoảng 5.331 km².

4 VASEP gần đây báo cáo rằng điện là nút thắt cổ chai trong nuôi tôm thâm canh ở huyện Trần Văn Thời do để chạy hệ thống quạt

và sục khí đáy

5 Chỉ thị của Bộ 228/CT-BNN-NTTS, ngày 25 tháng 01 năm 2008.

Trang 16

Xác định thị trường tiềm năng cho Tôm chứng nhận sinh thái của

tỉnh Cà Mau, Việt Nam

14

Mặt trái của sự phát triển thâm canh hóa trên diện rộng ở tỉnh Cà Mau đã dẫn đến việc gia tăng sự suy giảm diện tích rừng ngập mặn, làm tăng độ mặn và tác động tiêu cực đến diện tích canh tác lúa, và gây mâu thuẩn giữa nuôi quảng canh (lâm ngư kết hợp) và nuôi quảng canh cải tiến6

Từ nhiều năm qua, chính quyền tỉnh Cà Mau đã cố gắng cân bằng tác động của nuôi tôm đối với rừng ngập mặn7 Nhưng đồng thời, các cơ quan chức năng cũng cần phát triển nuôi trồng thủy sản để cải thiện tổng thể tình hình kinh tế xã hội tại địa phương

Từ năm 2000, tỉnh Cà Mau và VASEP đã khởi động một trong các dự án nuôi tôm sinh thái đầu tiên ở Châu Á Mặt khác, nuôi tôm - rừng sinh thái với đầu vào thấp sẽ giúp bảo vệ rừng và thậm chí tăng thêm diện tích rừng Ngoài ra, chứng nhận sinh thái sẽ làm tăng giá trị và thu nhập cho nông dân Trở ngại lớn nhất của việc chứng nhận sinh thái là việc quản lý có hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ (ICS) và nguồn cung tôm sú giống từ các trại giống đã được chứng nhận là giống sinh thái

Thật không may, nuôi tôm sinh thái ở Việt Nam không thể tăng thêm hay mở rộng đến các tỉnh khác trong những năm qua Thực vậy, cho đến nay, mô hình nuôi tôm sinh thái ở Việt Nam hiện chỉ có ở tỉnh

Cà Mau Ở Việt Nam, nhu cầu về sản phẩm tôm sú sinh thái của các thị trường quốc tế vẫn còn thấp chính là nguyên nhân diện tích tôm sinh thái không tăng thêm tại Việt Nam trong nhiều năm qua Tuy nhiên, ngày nay tôm Sú sinh thái được sản xuất ở nhiều nước (Madagascar, Mozambique, Bangladesh,

Ấn Độ, Thái Lan và Indonesia), và Việt Nam đã mất vị trí dẫn đầu trong phân khúc thị trường này trong

mở rộng hơn nữa thị trường tôm sinh thái là do công ty này ký hợp đồng độc quyền8 (lâu dài) với chỉ một hay vài khách hàng Châu Âu và rất thiếu mối quan hệ giao tiếp Một thí dụ là Camimex không tích cực trong quảng bá tôm sú sinh thái, ngay trên trang thông tin (website) của công ty không có bất kỳ thông tin nào về giá trị của dự án tôm sú sinh thái bằng tiếng Anh9

Công ty thứ hai được chứng nhận Naturland là Seanamico10 Cũng giống như Camimex, trong năm 2013 công ty này đã không mua hết và chế biến tôm sinh thái từ trang trại của hộ dân đã được chứng nhận

do tình hình thị trường cực kỳ khó khăn Lý do mà Seanameco không thể mở rộng mạng lưới bán sản phẩm tôm sinh thái cũng vì ký hợp đồng độc quyền với một hay vài nhà tiêu thụ tại Châu Âu và thiếu thông tin quảng bá sản phẩm Tương tựu như công ty Camimex, trang Web của công ty Seanamico chỉ nêu các chứng nhận sinh thái Không có thông tin thêm nào được trình bày và không có chi tiết nào nêu bật giá trị của tôm sú sinh thái được nuôi từ rừng ngập mặn ở tỉnh Cà Mau

6 Các vuông tôm quảng canh đôi khi bị ảnh hưởng từ nguồn nước thải từ sen vét bùn ở các ao nuôi quảng canh cải tiến

7 Ở các vùng đệm, nông dân phải tuân thủ theo các tỉ lệ tối thiểu, phụ thuộc vào diện tích vuông ( theo Quyết định UB; <3 ha: 40% rừng/60 % ao, 3-5 ha: 50% rừng/50% ao, >5 ha: 60% rừng/40% ao) Quy định này làm giảm tàn phá rừng đáng kể.

Số.24/2002QD-8 Về lý thuyết, Camimex có thể có hợp đồng độc quyền với COOP, hạn chế giao dịch với các nhà bán lẻ khác Nhưng được biết là COOP không có các chính sách như thế bên ngoài Thụy Sỹ

9 http://www.camimex.com.vn/index.php?route=common/home

10 http://www.seanamico.com.vn/en/certificates.html

Trang 17

Xác định thị trường tiềm năng cho Tôm chứng nhận sinh thái của

tỉnh Cà Mau, Việt Nam

15

Công ty thứ 3 cung cấp tôm sinh thái là Minh Phú, được chứng nhận sinh thái theo chứng nhận EU và Naturland từ khoảng cuối năm 2014, với tổng diện tích được chứng nhận là 2.800 ha và cho 740 nông dân sản xuất tôm sú sinh thái

Các số liệu mới nhất liên quan đến tình hình sản xuất tôm sinh thái ở Cà Mau được trình bày ở bảng 1

Bảng 1: Sản lượng tôm được chứng nhận sinh thái của Cà Mau 11

Theo các thông tin từ GIZ, trong năm 2012 tổng diện tích nuôi tôm sinh thái được chứng nhận là 11.558

ha (4,3% tổng diện tích nuôi tôm toàn tỉnh Cà Mau) của 2.190 hộ sản xuất qui mô nhỏ Sản lượng tôm sinh thái sản xuất có thể đạt được là 3.467 tấn nhưng chỉ có 2.170 tấn là được dùng để chế biến như là tôm sinh thái Trong 2.170 tấn tôm sinh thái, thì chỉ 1.210 tấn có thể bán ở dạng sinh thái, phần còn lại phải bán ở dạng tôm thành phẩm thông thường

Có nhiều lý do tại sao chỉ có 35% trong tổng tiềm năng có thể được bán ở dạng tôm sinh thái là do các công ty chế biến của Việt Nam Những lý do này một phần đã được đề cập ở trên, và cũng đã được đề cập trong báo cáo khảo sát ban đầu, hoặc đã được xác định trong nghiên cứu nhu cầu thị trường do Censkowsky thực hiện năm 2014

Tóm lại, các lý do là:

l Các vấn đề nội bộ trong mối quan hệ giữa hộ nuôi nhỏ và công ty chế biến

l Vai trò của người nông dân bị bỏ qua do các lý do thị trường

l Thiếu sự tìm kiếm và liên hệ với các thị trường Châu Âu

l Thiếu sự thúc đẩy/quảng bá tôm sinh thái và các chi tiết quá trình sản xuất

l Các hợp đồng độc quyền với chỉ một hay vài khách hàng Châu Âu

Các lý do khác có thể do yếu tố thị trường:

l Thiếu nhu cầu tôm sinh thái

l Giá rất cao đối với tôm sú thông thường

l Sự gia tăng sản lượng tôm thẻ chân trắng

Ngoài việc xác định thêm nhiều khách hàng mới tiềm năng cho tôm Cà Mau, thì báo cáo này cũng có nhiệm vụ trong việc xác định các lý do làm trì trệ việc phát triển tôm sinh thái ở Cà Mau thay vì quan tâm đến nhu cầu cần thiết hay các yêu cầu của khách hàng châu Âu

11 Theo thông tin từ GIZ, Cà Mau

Công ty chế

Camimex 6.329 1.217 1.000 EU organic, Naturland, Bio Suisse, etc.Seanamico 5.229 973 210 EU organic, Naturland, Bio Suisse, etc.Minh Phú 2.800 740 Chưa có số liệu EU organic, Naturland, etc.

Trang 18

tiếp cận

Ngày đăng: 16/07/2016, 18:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Sản lượng tôm được chứng nhận sinh thái của Cà Mau 11 - Xác định thị trường tiềm năng cho Tôm chứng nhận sinh thái của tỉnh Cà Mau, Việt Nam
Bảng 1 Sản lượng tôm được chứng nhận sinh thái của Cà Mau 11 (Trang 17)
Bảng 2: Sự quan trọng của các thuộc tính sản phẩm cho tiếp thị 13 - Xác định thị trường tiềm năng cho Tôm chứng nhận sinh thái của tỉnh Cà Mau, Việt Nam
Bảng 2 Sự quan trọng của các thuộc tính sản phẩm cho tiếp thị 13 (Trang 24)
Bảng thông tin liên hệ được gửi cho ICMP trong bản riêng. - Xác định thị trường tiềm năng cho Tôm chứng nhận sinh thái của tỉnh Cà Mau, Việt Nam
Bảng th ông tin liên hệ được gửi cho ICMP trong bản riêng (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w