1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoan thien phap luat ve quyen chinh tri cua phu nuo viet nam hien nay

129 511 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 640 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh ngôn Trung Quốc có câu: Phụ nữ đỡ nửa bầu trời. Sự đúc kết đó đã nói lên vai trò đặc biệt quan trọng, không thể thiếu của người phụ nữ trong xã hội. Lẽ tất yếu, vai trò xã hội đòi hỏi vị trí xã hội tương ứng. Tuy nhiên, hàng ngàn năm nay, ở khắp nơi trên thế giới, phụ nữ vẫn phải chịu những thiệt thòi về mặt vị trí xã hội so với nam giới. Điều đó đặc biệt thể hiện ở sự bất bình đẳng với phụ nữ trong việc hưởng thụ các quyền chính trị.Cuộc đấu tranh cho vị thế bình đẳng của phụ nữ so với nam giới xuất phát từ nghịch lý kể trên, bắt đầu từ buổi bình minh của chế độ phụ quyền. Phát triển từ thấp đến cao, từ tự phát đến tự giác, cho đến ngày nay, đấu tranh cho vị thế bình đẳng của phụ nữ với nam giới, trong đó đặc biệt là quyền chính trị của phụ nữ, đã không còn là vấn đề riêng biệt của mỗi quốc gia, mà đã trở thành mối quan tâm chung của toàn nhân loại và được thể chế hóa trong nhiều công ước quốc tế về quyền con người. Ở Việt Nam hiện nay, phụ nữ chiếm 50,8% dân số và 48% lực lượng lao động xã hội. Phụ nữ nước ta trước đây đã có những đóng góp hết sức to lớn vào công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm giành và giữ gìn độc lập, xây dựng Tổ quốc. Trong sự nghiệp Đổi mới hiện nay, phụ nữ Việt Nam vẫn luôn sát cánh cùng nam giới phấn đấu vì mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và có những đóng góp đáng kể trong các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, ổn định xã hội cũng như những cống hiến xuất sắc trong việc chăm lo xây dựng gia đình, nuôi dưỡng các thế hệ công dân tương lai của đất nước. Không những vậy, nhiều phụ nữ còn mang lại những vinh quang lớn cho đất nước trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học, nghệ thuật, thể thao.Nhận thức rõ vị trí và vai trò quan trọng của người phụ nữ trong xã hội nên ngay từ khi nước nhà mới giành được độc lập, các quyền của công dân nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận và khẳng định, trong đó có các quyền bình đẳng về chính trị của phụ nữ... Điều đó đã tạo điều kiện căn bản cho phụ nữ tham gia tích cực và hiệu quả vào các hoạt động kinh tế, xã hội và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ khi đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều và hiệu quả hơn vào lĩnh vực chính trị; nhờ vậy, phụ nữ Việt Nam ngày càng có nhiều cơ hội và nhiều đại diện tham gia vào hệ thống chính trị, cũng như vào việc đề xuất, hoạch định, thực hiện và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước. Xét chung trên toàn thế giới và khu vực, Việt Nam là quốc gia được đánh giá cao về mức độ bảo đảm quyền bình đẳng về chính trị của phụ nữ, thể hiện ở tỷ lệ đại biểu nữ trong Quốc hội ở mức tương đối cao.Mặc dù vậy, trên thực tế ở Việt Nam, quyền bình đẳng về chính trị của phụ nữ vẫn chưa được bảo đảm một cách tương xứng so với vai trò và khả năng của phụ nữ trong xã hội. Điều đó thể hiện ở chỗ vẫn còn khoảng cách lớn giữa tỷ lệ đại biểu nữ và nam trong các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) và số lượng hạn chế phụ nữ nắm giữ các vị trí then chốt có quyền ra quyết định trong các cơ quan của hệ thống chính trị (xem phụ lục 1 đến phụ lục 7). Đơn cử, mặc dù ở mức cao trên thế giới, song tỷ lệ đại biểu Quốc hội nữ khóa XI mới chỉ đạt 27,3%, tỷ lệ đại biểu nữ ở Hội đồng nhân dân cấp xã nhiệm kỳ (20042007) là 20,1% 17, tr. 35. Rõ ràng, tỷ lệ đại biểu nữ hiện nay chưa thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu là đại diện giới mình trong việc xây dựng và hoạch định chính sách, pháp luật liên quan đến việc giải quyết các quyền lợi chính đáng cho phụ nữ. Thực tế kể trên đặt ra nhu cầu cấp thiết phải nghiên cứu tìm ra các giải pháp tiếp tục thúc đẩy việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trên lĩnh vực chính trị, qua đó giúp phụ nữ tham gia và đóng góp ngày càng hiệu quả hơn vào sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước, cũng như bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế có liên quan của Nhà nước ta, mà một trong những hướng tiếp cận cơ bản là hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật trên lĩnh vực này. Vì vậy, tác giả chọn đề tài: Hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Danh ngôn Trung Quốc có câu: "Phụ nữ đỡ nửa bầu trời" Sự đúc kết

đó đã nói lên vai trò đặc biệt quan trọng, không thể thiếu của người phụ nữ trong xã hội Lẽ tất yếu, vai trò xã hội đòi hỏi vị trí xã hội tương ứng Tuy nhiên, hàng ngàn năm nay, ở khắp nơi trên thế giới, phụ nữ vẫn phải chịu những thiệt thòi về mặt vị trí xã hội so với nam giới Điều đó đặc biệt thể hiện

ở sự bất bình đẳng với phụ nữ trong việc hưởng thụ các quyền chính trị

Cuộc đấu tranh cho vị thế bình đẳng của phụ nữ so với nam giới xuất phát từ nghịch lý kể trên, bắt đầu từ buổi bình minh của chế độ phụ quyền Phát triển từ thấp đến cao, từ tự phát đến tự giác, cho đến ngày nay, đấu tranh cho vị thế bình đẳng của phụ nữ với nam giới, trong đó đặc biệt là quyền chính trị của phụ nữ, đã không còn là vấn đề riêng biệt của mỗi quốc gia, mà

đã trở thành mối quan tâm chung của toàn nhân loại và được thể chế hóa trong nhiều công ước quốc tế về quyền con người

Ở Việt Nam hiện nay, phụ nữ chiếm 50,8% dân số và 48% lực lượng lao động xã hội Phụ nữ nước ta trước đây đã có những đóng góp hết sức to lớn vào công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm giành và giữ gìn độc lập, xây dựng Tổ quốc Trong sự nghiệp Đổi mới hiện nay, phụ nữ Việt Nam vẫn luôn

sát cánh cùng nam giới phấn đấu vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" và có những đóng góp đáng kể trong các lĩnh

vực xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, ổn định xã hội cũng như những cống hiến xuất sắc trong việc chăm lo xây dựng gia đình, nuôi dưỡng các thế

hệ công dân tương lai của đất nước Không những vậy, nhiều phụ nữ còn mang lại những vinh quang lớn cho đất nước trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học, nghệ thuật, thể thao

Trang 2

Nhận thức rõ vị trí và vai trò quan trọng của người phụ nữ trong xã hội nên ngay từ khi nước nhà mới giành được độc lập, các quyền của công dân nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận và khẳng định, trong đó có các quyền bình đẳng về chính trị của phụ nữ Điều đó đã tạo điều kiện căn bản cho phụ nữ tham gia tích cực và hiệu quả vào các hoạt động kinh tế, xã hội và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Từ khi đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều và hiệu quả hơn vào lĩnh vực chính trị; nhờ vậy, phụ nữ Việt Nam ngày càng có nhiều cơ hội và nhiều đại diện tham gia vào hệ thống chính trị, cũng như vào việc đề xuất, hoạch định, thực hiện và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước Xét chung trên toàn thế giới và khu vực, Việt Nam là quốc gia được đánh giá cao về mức độ bảo đảm quyền bình đẳng về chính trị của phụ

nữ, thể hiện ở tỷ lệ đại biểu nữ trong Quốc hội ở mức tương đối cao

Mặc dù vậy, trên thực tế ở Việt Nam, quyền bình đẳng về chính trị của phụ nữ vẫn chưa được bảo đảm một cách tương xứng so với vai trò và khả năng của phụ nữ trong xã hội Điều đó thể hiện ở chỗ vẫn còn khoảng cách lớn giữa tỷ lệ đại biểu nữ và nam trong các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) và số lượng hạn chế phụ nữ nắm giữ các vị trí then chốt có quyền ra quyết định trong các cơ quan của hệ thống chính trị (xem phụ lục 1 đến phụ lục 7) Đơn cử, mặc dù ở mức cao trên thế giới, song tỷ lệ đại biểu Quốc hội nữ khóa XI mới chỉ đạt 27,3%, tỷ lệ đại biểu nữ ở Hội đồng nhân dân cấp xã nhiệm kỳ (2004-2007) là 20,1% [17, tr 3-5] Rõ ràng, tỷ lệ đại biểu nữ hiện nay chưa thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu là đại diện giới mình trong việc xây dựng và hoạch định chính sách, pháp luật liên quan đến việc giải quyết các quyền lợi chính đáng cho phụ nữ

Thực tế kể trên đặt ra nhu cầu cấp thiết phải nghiên cứu tìm ra các giải pháp tiếp tục thúc đẩy việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trên

Trang 3

lĩnh vực chính trị, qua đó giúp phụ nữ tham gia và đóng góp ngày càng hiệu quả hơn vào sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước, cũng như bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế có liên quan của Nhà nước ta, mà một trong những hướng tiếp cận cơ bản là hoàn thiện hệ thống các quy định pháp

luật trên lĩnh vực này Vì vậy, tác giả chọn đề tài: "Hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài luận văn thạc sĩ

chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong những năm gần đây, đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam, tiếp cận từ nhiều khía cạnh như quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia vào quản lý nhà nước và

các tổ chức xã hội của phụ nữ Tiêu biểu trong đó có thể kể như:"Quyền bầu

cử và ứng cử của công dân trong chế độ ta" của Đàm Văn Hiếu (Tạp chí Luật học, số 3, 1975; "Công ước về việc loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ" của TS Ngô Bá Thành (Tạp chí Luật học, số 2, 1982); "Phụ nữ: những ưu ái và thiệt thòi- nhìn từ góc độ xã hội, pháp lý" của TS Hoàng Thị Kim Quế (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9, 2003); "Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới (Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII)" của Hà Thị Khiết (Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 3, 2004); "Quyền chính trị của phụ nữ trong Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và trong pháp luật Việt Nam" của TS Nguyễn Văn Mạnh; "Công ước của Liên hợp quốc và pháp luật Việt Nam về xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ" của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp Riêng cuốn sách: "Vai trò của nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của TS Võ

Thị Mai đề cập kỹ hơn, sâu hơn về một phần nội dung của đề tài đó là phụ nữ tham gia vào quản lý nhà nước

Trang 4

Tuy các bài viết, công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến một số nội dung liên quan đến đề tài luận văn, nhưng đều chưa nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở lý luận cũng như các quy phạm pháp luật và những giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ Đề tài:

"Hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay" là

công trình khoa học độc lập, không trùng lắp với các công trình nêu trên, nghiên cứu có hệ thống cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay Trong quá trình nghiên cứu những nội dung của đề tài, tác giả có kế thừa, tham khảo kết quả nghiên cứu ở các công trình khoa học nêu trên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Mục đích của luận văn là đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của nước ta và các chuẩn mực quốc tế có liên quan mà Nhà nước ta

(2)Tập hợp và phân tích hệ thống các quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến việc bảo đảm quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam;

(3) Trên cơ sở những nhiệm vụ (1) và (2), chỉ ra những thành tựu và hạn chế của pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam và đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật

về quyền chính trị của phụ nữ trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền cũng như xu thế toàn cầu hóa hiện nay

Trang 5

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của luận văn

Hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam là một vấn đề có phạm vi rộng, không chỉ liên quan đến pháp luật, mà còn gắn liền với nhiều lĩnh vực khác như kinh tế, xã hội và văn hóa Tuy nhiên, với khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu về hệ thống các quy phạm pháp luật liên quan đến việc bảo đảm các quyền chính trị cơ bản của phụ nữ ở Việt Nam, trong đó tập trung vào các quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội và quyền tham gia các tổ chức chính trị - xã hội

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

về Nhà nước và pháp luật trong sự nghiệp đổi mới, đặc biệt là đường lối, chủ trương đổi mới của Đảng về nhận thức chính trị, về quyền chính trị của phụ

nữ trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

- Các phương pháp cụ thể mà tác giả sử dụng để nghiên cứu đề tài bao gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, so sánh, thống kê

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

So sánh với các công trình khoa học khác trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến vấn đề về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam, luận văn có một

số đóng góp mới về khoa học như sau:

- Về cách tiếp cận: Luận văn lần đầu tiên tiếp cận nghiên cứu về quyền

chính trị của phụ nữ ở Việt Nam thông qua việc gắn các quy định pháp luật có liên quan với vấn đề bình đẳng giới và quyền của phụ nữ trong pháp luật quốc tế

- Về nội dung: Trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các tiêu chuẩn pháp

lý có liên quan và các điều kiện tác động về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa

ở Việt Nam, luận văn lần đầu tiên khái quát hóa, phân tích và đánh giá một

Trang 6

cách có hệ thống các quy phạm pháp luật hiện hành về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam cũng như việc thực hiện những quy định này trong thực tế Luận văn cũng đề xuất các phương hướng và luận chứng những giải pháp

cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay, nhất là sự cần thiết phải ban hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam, trong đó có những quy định về sự bình đẳng trong lĩnh vực chính trị của phụ nữ

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Với kết quả luận văn đạt được, tác giả hy vọng sẽ góp phần làm sáng

tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam trong thời gian tới

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về vấn đề liên quan đến quyền chính trị của phụ nữ trong các trường đào tạo cán bộ nói chung và cán bộ nữ nói riêng của Đảng và Nhà nước

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VỀ QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA PHỤ NỮ

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA PHỤ NỮ

VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA PHỤ NỮ

Ngày nay quyền của phụ nữ tham gia hoạt động chính trị đã được tôn trọng và thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới Sự tham gia của họ vào đời sống chính trị xuất phát từ giá trị phổ quát của quyền con người Cũng như nam giới, phụ nữ, với tư cách là con người, có quyền được hưởng tất cả các

quyền mà "tạo hóa đã ban cho họ" và quyền tham gia đời sống chính trị - xã

hội Nhưng tất cả những quyền đó chỉ thực sự có ý nghĩa và trở thành hiện thực khi chúng được bảo đảm bằng pháp luật Nói cách khác, quyền chính trị của phụ nữ sẽ được hiện thực hóa khi chúng được thể chế hóa trong pháp luật

và bảo đảm cho các quy định của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ được thực hiện trong thực tế Như vậy, để nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ trước hết phải nghiên cứu cơ sở lý luận về quyền chính trị và pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền chính trị của phụ nữ

1.1.1.1 Khái niệm quyền chính trị và quyền chính trị của phụ nữ

Để làm rõ khái niệm về quyền chính trị của phụ nữ, trước hết cần phải làm rõ các khái niệm chính trị, quyền chính trị

Chính trị là một khái niệm vừa phản ánh quy luật phát triển của lịch

sử, vừa mang tính triết học sâu sắc Xét từ góc độ khoa học lịch sử, chính trị

Trang 8

luôn là nội dung bao hàm trong mọi cuộc đấu tranh giai cấp, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của nhà nước và xã hội Cả C.Mác và Ph.Ăngghen đều cho rằng lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp [21, tr 596-597] Do vậy, chính trị không tách rời khỏi lịch

sử phát triển của mọi xã hội và đấu tranh giai cấp Xét từ góc độ triết học, chính trị được cho là sự tham gia vào các công việc của Nhà nước, việc quy định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước Lĩnh vực chính trị bao hàm các vấn đề chế độ nhà nước, quản lý đất nước, lãnh đạo các giai cấp, vấn đề đấu tranh đảng phái, v.v [35, tr 161] Nói cách khác, nói đến chính trị là nói đến quyền lực nhà nước Từ phân tích trên, xét ở góc độ chung nhất, có thể thấy chính trị thực chất là quan hệ giữa các giai cấp, trong đó chủ yếu là quan hệ giữa giai cấp cầm quyền với các giai cấp khác trong xã hội mà nội dung của quan hệ đó là vấn đề chính quyền thuộc về ai, của ai và vì ai Xét ở góc độ riêng, chính trị chỉ thực sự có nghĩa khi nó được hiện thực hóa gắn với chủ thể là con người, là giai cấp cụ thể Và khi nói đến con người thì không thể không gắn đến quyền Quyền ở đây không mang nghĩa là vương quyền hay thần quyền, mà là quyền vốn có và tự nhiên của mỗi con người, không phải do bất kỳ ai hoặc thế lực nào ban phát Sự kết hợp giữa nội dung của chính trị với bản chất của quyền con người chính là cơ sở dẫn đến sự thừa nhận về quyền chính trị

Có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền chính trị Trong giáo trình đại cương phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy của trường Waynesboro ở bang Pennsylvania (Mỹ), quyền chính trị được định nghĩa một cách đơn giản: là những yêu cầu pháp lý của công dân được tham gia trong chính quyền và được

đối xử công bằng [53] Giáo trình này cũng chỉ rõ, quyền chính trị bao gồm quyền được bỏ phiếu, khởi kiện, họp và tham gia cơ quan nhà nước

Trang 9

Từ định nghĩa trên, có thể thấy quyền chính trị trước hết là một quyền pháp lý, được thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật Bên cạnh đó, theo định nghĩa này, quyền chính trị gắn và chỉ gắn với những cá nhân có tư cách công dân; những người không có quốc tịch, nhập cư bất hợp pháp, người nước ngoài cư trú và làm việc trên lãnh thổ nước khác, người tỵ nạn sẽ không có hoặc chỉ được hưởng một cách hạn chế các quyền chính trị, đặc biệt là không

được hưởng "quyền được bỏ phiếu, khởi kiện, họp và tham gia cơ quan nhà nước"

Từ điển Luật học Mỹ (Black Law Dictionary) định nghĩa, quyền chính trị: "Là những quyền có thể được thực hiện trong quá trình thành lập hay quản lý chính quyền Các quyền của công dân được xác lập hoặc công nhận bởi Hiến pháp dành cho họ quyền tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc thành lập hoặc trong quản lý chính quyền" [51, tr 1159] Định nghĩa này

khẳng định chắc chắn thêm về mặt pháp lý đối với quyền chính trị, vì trước

tiên, nó là "quyền của công dân" và sau đó là, "được xác lập hoặc công nhận bởi Hiến pháp" Tuy nhiên, phạm vi quyền chính trị ở đây lại tương đối hẹp,

vì nó chỉ bao gồm "quyền tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc thành lập hoặc trong quản lý chính quyền"

Một định nghĩa khác trong Từ điển Luật học do Nhà xuất bản Từ điển

Bách khoa của Việt Nam ấn hành năm 1999 cho rằng, quyền chính trị là quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân Đó là quyền quan trọng nhất của công dân, bảo đảm cho công dân thực hiện quyền làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như công dân có quyền bầu

cử, quyền ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước Nhân dân có quyền đóng góp ý kiến vào việc xác định các chính sách để xây dựng và phát triển mọi mặt kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, đối nội, đối ngoại của đất nước Nhân dân có quyền tham gia xây dựng pháp luật, tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, kiến nghị với cơ

Trang 10

quan nhà nước biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý [40, tr 415]

So với hai định nghĩa trên, định nghĩa này khá sâu sắc và toàn diện, thể hiện được vị trí quan trọng và nội dung cụ thể của quyền chính trị trong số các quyền con người Tuy nhiên, nó lại "bỏ quên" một vấn đề có ý nghĩa then chốt mà có thể bảo đảm cho quyền chính trị được thực hiện trong thực tiễn,

đó là vấn đề quyền chính trị phải được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật Bất

kỳ quyền con người nào muốn được thực hiện phải được quy định trong pháp luật và bảo đảm cho các quy định đó được thực hiện trên thực tế

Từ những định nghĩa trên đây, có thể rút ra một khái niệm chung về quyền chính trị như sau:

Quyền chính trị là một trong những quyền quan trọng nhất của công dân, được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ; nó xác lập năng lực pháp lý của công dân trong việc tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội

Như vậy, khái niệm này cho thấy, thực hiện quyền chính trị là phải bảo đảm được hai nội dung sau:

Thứ nhất, công dân tham gia trực tiếp vào quản lý nhà nước và quản

xử nào Trực tiếp tham gia quản lý nhà nước và xã hội là việc người dân trực tiếp đảm nhận các cương vị trong bộ máy chính quyền nhà nước, các tổ chức

xã hội, đồng thời cũng là người trực tiếp thực hiện các chính sách và pháp luật của nhà nước Còn gián tiếp tham gia quản lý nhà nước và xã hội là việc

Trang 11

người dân thông qua các cơ quan đại diện của Nhà nước, tổ chức xã hội để bày tỏ ý kiến, quan điểm vào việc xây dựng và hoạch định chính sách, pháp luật.

Bảo đảm thực hiện quyền chính trị của công dân qua hai nội dung trên

cũng chính là thực hiện tốt phương thức: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" Dân ở đây bao gồm cả nam và nữ Vì thế phụ nữ cũng là chủ thể

của phương thức trên và cũng có quyền chính trị

Vậy quyền chính trị của phụ nữ là gì? Thực tế, theo khái niệm quyền

chính trị nêu trên, đối tượng hưởng thụ quyền là công dân, tức bao gồm tất cả

những người có quốc tịch của một quốc gia, không phân biệt giới tính và tuổi tác, thì nội hàm của quyền chính trị của phụ nữ cũng chính là nội hàm của khái niệm quyền chính trị nói chung Tuy nhiên, xuất phát từ góc độ bình đẳng giới và quyền con người của phụ nữ, có thể rút ra một khái niệm về quyền chính trị của phụ nữ như sau:

Quyền chính trị của phụ nữ là một trong những quyền con người quan trọng nhất của phụ nữ, được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ; nó xác lập năng lực pháp lý bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong việc tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội

1.1.1.2 Đặc điểm của quyền chính trị của phụ nữ

Xem xét quyền chính trị của phụ nữ trong mối tương quan với các quyền khác trong hệ thống các quyền con người, cũng như trong sự phát triển chung của mọi xã hội, có thể rút ra ba đặc điểm của quyền chính trị của phụ

nữ như sau:

- Quyền chính trị của phụ nữ là yếu tố xác lập vị thế pháp lý bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong đời sống chính trị - xã hội.

Trang 12

Khi xem xét quyền chính trị của phụ nữ, không thể không nhìn từ góc độ bình đẳng giới và pháp luật Việc bảo đảm quyền chính trị là cơ sở để xác lập địa vị pháp lý bình đẳng của người phụ nữ với nam giới, bởi chỉ thông qua đó, phụ nữ mới được tham gia vào quá trình ra những quyết định gắn liền với các quyền, lợi ích của họ trên mọi lĩnh vực, từ đó hạn chế và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn những phân biệt đối xử về giới mà họ thường là nạn nhân Tuy nhiên, bình đẳng ở đây phải là bình đẳng về thực chất; và chỉ

có bình đẳng về thực chất mới là cơ sở để bảo đảm bền vững địa vị pháp lý bình đẳng của phụ nữ Đây là mối quan hệ biện chứng giữa bình đẳng và pháp luật Biểu hiện của bình đẳng về thực chất là phụ nữ thực hiện được quyền chính trị và xác lập được địa vị pháp lý của mình, được tham gia một cách dân chủ vào mọi hoạt động của đời sống chính trị và đời sống công cộng Ngược lại, pháp luật là công cụ để bảo đảm và bảo vệ quyền tham gia bình đẳng của phụ nữ Trong mối quan hệ biện chứng này, phụ nữ vừa là người hưởng thụ quyền, nhưng đồng thời cũng là chủ thể trực tiếp đấu tranh xóa bỏ định kiến, tham gia xây dựng pháp luật về quyền bình đẳng của mình Trong khi quyền chính trị của nam giới hầu như mặc nhiên được thừa nhận thì quyền chính trị của phụ nữ phải trải qua quá trình đấu tranh mới được ghi nhận trong pháp luật, được thực hiện trong thực tế Xác lập và thực hiện được quyền chính trị của phụ nữ là yếu tố quyết định để xác lập và bảo đảm thực hiện sự bình đẳng nam nữ

- Quyền chính trị của phụ nữ là hình thức pháp lý thể hiện bản chất dân chủ, bình đẳng của xã hội

Bảo đảm quyền chính trị của phụ nữ được thực thi trên cơ sở không phân biệt đối xử và bình đẳng thực chất chính là bảo đảm cho phụ nữ tham gia vào xây dựng và quản lý nhà nước và xã hội Sự tham gia của phụ nữ vào các cấp ra quyết định chắc chắn sẽ giúp cho những chính sách của nhà nước, đặc biệt là những chính sách liên quan đến phúc lợi xã hội, mang tính cân

Trang 13

bằng về giới hơn Bên cạnh đó, nó còn là biểu hiện của việc tăng cường dân chủ trong xã hội

Quyền chính trị của phụ nữ bao gồm quyền bầu cử và ứng cử, quyền tham gia quản lý nhà nước và một số quyền khác Theo Công ước Liên hợp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, việc bảo đảm thực thi quyền chính trị của phụ nữ phải dựa trên ba nguyên tắc, đó là: bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm quốc gia Bình đẳng và không phân biệt đối xử là yêu cầu khách quan; trong khi trách nhiệm quốc gia bao hàm cả việc bảo đảm dân chủ xã hội Xét về mặt lịch sử, dân chủ và bình đẳng không chỉ là nhu cầu của con người mà còn là yêu cầu khách quan Hai phạm trù này không tách biệt, mà ngược lại, chúng hỗ trợ và bổ sung cho nhau Dân chủ ở đây bao gồm dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp, trong

đó biểu hiện của dân chủ trực tiếp chính là sự tham gia của cả hai giới trong quản lý nhà nước, còn dân chủ gián tiếp là bầu cử và ứng cử vào các cơ quan đại diện quyền lực nhân dân Như vậy, thực thi dân chủ bao hàm cả yêu cầu thực thi một phần quyền chính trị của phụ nữ; và ngược lại, bảo đảm thực thi quyền chính trị của phụ nữ mới thực hiện được dân chủ, bình đẳng một cách đầy đủ trong đời sống xã hội Nói cách khác, xã hội nào xác lập và thực hiện được quyền chính trị của phụ nữ mới là xã hội dân chủ, bình đẳng thực sự

- Quyền chính trị của phụ nữ là cơ sở và nền tảng để bảo đảm thực hiện các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của phụ nữ.

Bảo đảm thực hiện quyền chính trị, hay quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của phụ nữ là bảo đảm thực hiện các quyền con người của phụ nữ đã được pháp luật quy định và bảo vệ Quyền con người là một hệ thống các quyền thống nhất với nhau Vì vậy, có thể khẳng định cả hai nhóm quyền này đều quan trọng như nhau và có quan hệ mật thiết với nhau

Trong hệ thống quyền con người, quyền chính trị thường là những quyền được đề cập đầu tiên trong số những quyền mà phụ nữ có Chính vì

Trang 14

vậy, để xác lập vị thế bình đẳng của phụ nữ trong xã hội, trước hết phải xét đến quyền chính trị.

Về cơ bản, phụ nữ cũng được hưởng các cơ hội bình đẳng như nam giới nhưng để có sự bình đẳng thực chất, phụ nữ phải được bảo đảm thực hiện các quyền chính trị của họ Nói cách khác, họ phải được tham gia trực tiếp và gián tiếp vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội; tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Do đó, quyền chính trị của phụ nữ đóng vai trò là nền tảng, có tính quyết định tới việc thực hiện các quyền kinh tế, xã hội

và văn hóa

1.1.2 Khái niệm, nội dung và đặc điểm của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

1.1.2.1 Khái niệm pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

Phụ nữ với tư cách là công dân cũng có đầy đủ những quyền như một công dân, trong đó có quyền chính trị Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân lịch

sử, xã hội và văn hóa, trên thực tế, những định kiến coi thường phụ nữ vẫn còn ảnh hưởng nặng nề trong đời sống chính trị - xã hội Hiến pháp và pháp luật có thể ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ và phụ nữ cũng có những quyền như nam giới, nhưng do những định kiến về phụ nữ nên phụ nữ còn gặp nhiều trở ngại, khó khăn khi tham gia vào đời sống chính trị, tham gia quản lý nhà nước và hoạt động xã hội Chính vì vậy, ngoài những quy định chung về quyền con người, quyền công dân, pháp luật còn có những quy định riêng dành cho phụ nữ, bảo đảm quyền chính trị của phụ nữ

Như vậy, phụ nữ hoàn toàn có quyền tự do thực hiện quyền chính trị của mình như bản chất của các quyền con người Nhưng việc thực hiện quyền

đó chỉ có hiệu lực và hiệu quả khi nó được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật

và phù hợp với pháp luật Do định kiến coi thường phụ nữ còn nặng nề nên để bảo đảm cho phụ nữ thực hiện được những quyền chính trị của họ trong thực

Trang 15

tế, nhà nước phải ban hành nhiều quy định trong pháp luật, trong đó có cả những chế tài nghiêm khắc xử lý các hành vi vi phạm quyền chính trị của phụ

nữ Như vậy, pháp luật không chỉ ghi nhận, cụ thể hóa quyền chính trị của phụ nữ mà còn quy định những thiết chế bảo đảm thực hiện những quyền đó trên thực tế

Từ những phân tích trên, có thể nêu khái niệm pháp luật về quyền

chính trị của phụ nữ như sau: Pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là tổng thể các quy định trong hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm việc thực hiện và bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ trên cơ sở bình đẳng và không phân biệt đối xử.

1.1.2.2 Nội dung của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

Nói đến nội dung của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là đề

cập tới các quy phạm pháp luật cụ thể hướng đến mục tiêu xác lập và bảo vệ

năng lực và tư cách pháp lý bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị

Dưới góc độ pháp luật quốc tế, những quy định liên quan trực tiếp và gián tiếp đến quyền chính trị của phụ nữ có thể được tìm thấy trong nhiều văn kiện quốc tế về quyền con người, tiêu biểu như Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) năm 1948, Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ năm 1952, Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm

1966 và Công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) năm 1979

Công ước CEDAW không phải là văn kiện pháp lý chuyên biệt quy định về các quyền con người của phụ nữ, vì các quyền như vậy đã được thừa nhận trong các điều ước quốc tế khác về nhân quyền đã được ban hành trước

đó, cụ thể như các điều ước kể trên Tuy nhiên, Công ước CEDAW có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc hiện thực hóa các quyền con người của phụ

nữ, trong đó có quyền chính trị, bởi lẽ công ước này xác định các cách thức,

Trang 16

biện pháp nhằm loại trừ những sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong việc hưởng thụ các quyền con người Nói cách khác, mục đích của Công ước

CEDAW là trao cho phụ nữ những quyền con người đã được thừa nhận nhưng trên thực tế họ chưa được hưởng, bởi có những sự phân biệt đối xử với phụ nữ [49, tr 64]

Trong số các điều khoản quan trong nhất của Công ước CEDAW,

Điều 7 xác lập phạm vi quyền chính trị của phụ nữ, bao gồm: quyền tham gia

bỏ phiếu trong mọi cuộc bầu cử, trưng cầu dân ý; quyền ứng cử; quyền tham gia xây dựng và thực hiện các chính sách của Chính phủ, tham gia các chức

vụ nhà nước; quyền tham gia các tổ chức và hiệp hội phi chính phủ liên quan đến đời sống công cộng và chính trị của đất nước Điều này cũng yêu cầu các

quốc gia thành viên phải tiến hành tất cả các biện pháp thích hợp để xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong đời sống chính trị, công cộng của đất nước, đặc biệt là trong việc hưởng thụ các quyền chính trị cụ thể nêu trên

Điều 8 Công ước CEDAW mở rộng phạm vi quyền chính trị của phụ

nữ ra ngoài biên giới quốc gia, bằng việc yêu cầu các quốc gia thành viên phải tiến hành tất cả các biện pháp thích hợp nhằm bảo đảm cho phụ nữ có cơ hội đại diện cho Chính phủ họ ở cấp độ quốc tế và tham gia vào công việc của các

tổ chức quốc tế trên cơ sở bình đẳng với nam giới và không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào

Theo tinh thần của Công ước CEDAW, có ba nguyên tắc pháp lý cần tuân thủ để bảo đảm việc thực thi các quyền con người của phụ nữ, trong đó

có quyền chính trị, đó là: nguyên tắc về trách nhiệm quốc gia; nguyên tắc không phân biệt đối xử; và nguyên tắc bình đẳng về giới Cả ba nguyên tắc này đều quan trọng, tuy nhiên, từ góc độ thực tiễn, hai nguyên tắc bình đẳng

và không phân biệt đối xử giữ vai trò chủ đạo và có tính xuyên suốt, bởi lẽ,

đây là những nguyên tắc được coi như là chuẩn mực khi xem xét việc bảo

Trang 17

đảm thực hiện bất cứ quyền nào của phụ nữ, trong bất cứ mối quan hệ nào (gia đình, cộng đồng, xã hội, quốc gia và quốc tế.)

Trên nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử, thực hiện quyền chính trị của phụ nữ là bảo đảm quyền dân chủ trong xã hội Dân chủ

về lý thuyết gồm dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp Biểu hiện của dân chủ trực tiếp là phụ nữ cũng như nam giới được trực tiếp tham gia vào toàn bộ quá trình quản lý nhà nước, từ khâu xây dựng, hoạch định chính sách đến triển khai công việc cụ thể, hoặc trực tiếp tham gia giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ quan công quyền thực hiện quyền lực được giao Đặc biệt, dân chủ ở cơ sở thể hiện ở chỗ phụ nữ được tham gia góp ý kiến bằng nhiều hình thức vào các vấn đề liên quan đến đời sống cộng đồng trong đó có những vấn đề liên quan đến lợi ích của họ Hình thức điển hình của dân chủ gián tiếp

là phụ nữ tham gia bầu cử người đại diện và ứng cử vào các cơ quan dân cử,

cơ quan đại diện quyền lực nhà nước

Ở Việt Nam, quyền chính trị của phụ nữ với tính cách là quyền công

dân sớm được xác lập bằng pháp luật cùng với sự ra đời của Hiến pháp đầu

tiên năm 1946 Ngay từ thời điểm này, phụ nữ đã được công nhận có địa vị

công dân bình đẳng so với đàn ông: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" (Điều 9) Quyền bình đẳng nam nữ trong bầu cử và ứng cử trở thành quy tắc xuyên suốt trong các Hiến pháp từ 1946 đến nay: Công dân, không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, thời hạn cư trú, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ

21 tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, trừ những người bị pháp luật hoặc tòa án nhân dân tước các quyền đó.

Phù hợp với tinh thần của Công ước CEDAW, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam cũng có những quy định xác lập quyền bình đẳng của phụ nữ tham gia xây dựng và thực hiện các chính sách của Chính phủ, tham gia các chức

Trang 18

vụ nhà nước và thực hiện chức năng công cộng ở mọi cấp Cụ thể, Điều 53

Hiến pháp năm 1992 (đã sửa đổi) quy định rõ: "Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước " Để hiện thực hóa

quy định có tính định hướng này, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới luật nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng của họ tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý kinh tế và xã hội Nhờ chính sách pháp luật như vậy mà trong những năm qua, nhất là trong thời

kỳ đổi mới đất nước, phụ nữ đã được giải phóng sức lao động và sáng tạo của

họ, phát huy hết tiềm năng, có những đóng góp nhất định vào những thành tựu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Ngoài những quy định xác lập ngày càng rõ ràng và cụ thể hơn về

quyền chính trị của phụ nữ trong Hiến pháp, quyền chính trị của phụ nữ cũng được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật khác Đặc biệt, phù hợp với tinh thần của Công ước CEDAW, trong số những văn bản pháp luật như vậy

có những văn bản chứa đựng những quy định với những thiết chế nghiêm

minh nhằm bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ, bao gồm việc bảo đảm thực

hiện, chống các hành vi xâm phạm quyền chính trị của phụ nữ đã được xác lập trong pháp luật và biện pháp xử lý tương ứng, như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính Chẳng hạn, để bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong bầu cử và ứng cử, Bộ luật Hình sự hiện hành của Việt Nam quy định những chế tài đối với tội xâm phạm quyền bầu cử và ứng cử của công dân, và tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ (Điều 126 và 130) Những quy định này của Bộ luật Hình sự hay các quy định tại Luật Bầu cử sửa đổi năm 2001 là cơ sở bảo vệ về mặt pháp lý nói chung đối với quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ, kể cả việc ngăn ngừa sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong đời sống chính trị và công cộng của đất nước

Trang 19

Như vậy, quyền chính trị của phụ nữ đã có một cơ sở pháp lý khá đầy

đủ và toàn diện, từ việc xác lập đến bảo vệ bằng pháp luật Pháp luật của Việt Nam đã có những quy định riêng, nhưng đồng thời cũng rất hài hòa với pháp luật quốc tế trong việc khẳng định quyền chính trị của phụ nữ - một trong những quyền quan trọng nhất của phụ nữ cần được bảo vệ, trên cơ sở bình đẳng, không phân biệt đối xử cùng với trách nhiệm quốc gia và cả cộng đồng quốc tế, vì dân chủ và sự tiến bộ của phụ nữ

1.1.2.3 Đặc điểm của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

Từ phân tích về nội dung của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

ở trên, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ như sau:

- Thứ nhất, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ bao gồm các quy định của pháp luật về quyền chính trị của công dân nói chung và các quy định trực tiếp về quyền chính trị của phụ nữ nói riêng.

Quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam được thể hiện và được pháp luật bảo vệ với tư cách là các quyền công dân, Phụ nữ cũng là công dân và phụ nữ có các quyền chính trị của một công dân, được tham gia vào mọi hoạt động trong đời sống chính trị và đời sống công cộng của đất nước Tuy vậy,

để khẳng định quyền chính trị và quyền bình đẳng của phụ nữ, Hiến pháp và những văn bản pháp luật liên quan cũng có những quy định riêng về nội dung quyền chính trị và quyền bình đẳng của phụ nữ Ví dụ, ngoài những quy định chung về quyền công dân được quy định trong chương về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân trong Hiến pháp, còn có những quy định riêng về quyền của

phụ nữ Điều 7 Hiến pháp 1946 xác định: "Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình" Đồng thời, Điều 9 của Hiến pháp này nhấn mạnh thêm: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" Đồng thời, các chế tài nhằm bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công

Trang 20

dân Chẳng hạn, ngoài những quy định về quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở Chương III Hiến pháp 1959 khẳng định:

Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình Cùng làm việc như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương

Những quy định như vậy đã hình thành nên một hệ thống các quy phạm pháp luật quy định trực tiếp đến quyền chính trị và các quyền khác của phụ nữ

- Thứ hai, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là tổng hợp nhiều quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau.

Nhiệm vụ của pháp luật là xác lập cơ sở pháp lý và tạo cơ sở để bảo

vệ quyền chính trị của phụ nữ Với nội dung rộng như đã đề cập ở trên, việc xác lập và bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ không chỉ được quy định tại Hiến pháp, mà còn được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác như: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Khiếu nại, tố cáo,

Bộ luật Lao động… Đặc biệt, trong những văn bản pháp luật này đều có những quy định riêng về quyền của phụ nữ nhằm mục đích bảo vệ và bảo đảm việc thực hiện quyền chính trị của phụ nữ Ngoài ra, hệ thống các quyền con người là thống nhất, việc thực hiện quyền này là cơ sở và tiền đề cho việc bảo đảm thực hiện các quyền khác Do đó, tuy không trực tiếp quy định về quyền chính trị của công dân nói chung hay của phụ nữ nói riêng, song cũng không

vì thế mà bỏ qua những văn bản pháp luật quy định một cách gián tiếp về quyền chính trị của phụ nữ hoặc các quyền liên quan, như Luật Giáo dục

Trang 21

Chính vì vậy, việc bảo đảm thực hiện quyền chính trị của phụ nữ không chỉ căn cứ vào những quy phạm pháp luật riêng quy định về quyền chính trị của phụ nữ, mà còn liên quan đến nhiều quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau Nói cách khác, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là sự tổng hợp của nhiều quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau nhằm bảo vệ

và bảo đảm quyền chính trị của phụ nữ được thực hiện trên thực tế và hiệu quả

- Thứ ba, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là sự kết hợp hài hòa giữa các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, là biểu hiện của sự tiếp thu tư tưởng tiến bộ của pháp luật quốc tế về quyền chính trị của phụ nữ kết hợp với bản sắc văn hóa của Việt Nam.

Thúc đẩy và bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ không chỉ là mối quan tâm và trách nhiệm của riêng một quốc gia nào, mà nó đã trở thành nghĩa vụ và trách nhiệm chung của cả cộng đồng quốc tế Như trên đã đề cập, cộng đồng quốc tế đã thông qua nhiều văn kiện pháp lý quy định về quyền chính trị của phụ

nữ Những văn kiện pháp lý như vậy đều thể hiện tư tưởng tiến bộ của nhân loại

về giải phóng phụ nữ, bảo đảm sự bình đẳng và nâng cao địa vị của phụ nữ

Trong số những văn kiện pháp lý quốc tế quy định trực tiếp hoặc gián tiếp về quyền chính trị của phụ nữ, Việt Nam đã gia nhập và phê chuẩn hai công ước quan trọng nhất có liên quan là: Công ước ICCPR và Công ước CEDAW Trong quá trình xây dựng pháp luật, Nhà nước Việt Nam luôn xem xét khả năng thể chế hóa những quy định tiến bộ của pháp luật quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia Đây cũng là một phần trong trách nhiệm quốc gia (trách nhiệm lập pháp) khi Việt Nam gia nhập và phê chuẩn những công ước này Bên cạnh đó, khi xây dựng pháp luật, chúng ta cũng dựa trên truyền thống văn hóa và hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam để có điều chỉnh và thông qua những quy phạm pháp luật phù hợp Chính vì thế, pháp luật Việt Nam thể hiện tư tưởng tiến bộ, có tính thuyết phục, phù hợp với hoàn cảnh của Việt

Trang 22

Nam và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Các quy phạm pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ trong hệ thống pháp luật Việt Nam thể hiện rõ tư tưởng trên, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử.

1.1.3 Vai trò của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

Vai trò của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

- Một là, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ thể chế hóa đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng về quyền chính trị của phụ nữ

Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào kể từ khi xuất hiện Nhà nước và giai cấp, pháp luật luôn luôn là công cụ để thể chế hóa đường lối, chủ trương

và chính sách của giai cấp cầm quyền Ở nước ta, Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội

Đối với phụ nữ, từ khi ra đời cho đến nay, Đảng luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho phụ nữ, bảo vệ lợi ích chính đáng của phụ nữ trên mọi mặt của đời sống chính trị - xã hội Trong Luận cương Chính trị năm 1930 của Đảng, tư tưởng giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ đã được ghi nhận, trở thành tuyên ngôn đầu tiên về quyền bình đẳng nam nữ, phụ nữ được công nhận ngang hàng với nam giới về mặt chính trị Tiếp đó, Đảng còn ban hành nhiều chỉ thị và nghị quyết có tính chất định hướng và chỉ đạo nhằm bảo đảm quyền chính trị của phụ nữ, ví dụ Nghị quyết số 153-NQ/TW, ngày 10 tháng 01 năm 1967 về "Công tác cán bộ nữ", Chỉ thị số 44-CT/TW, ngày 07 tháng 6 năm 1984, "Về một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ", v.v

Tư tưởng chỉ đạo nhất quán và xuyên suốt trong tất cả các văn bản trên của Đảng

là bảo đảm quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử với phụ nữ Tư tưởng này cũng trở thành nguyên tắc chung và được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, biến nó trở thành chuẩn mực, quy tắc xử sự bắt buộc

Trang 23

chung đối với toàn xã hội Tuy nhiên, một thực tế cho đến nay là pháp luật của chúng ta chưa thể chế hóa đầy đủ, cụ thể và thiếu những thiết chế bảo đảm thực hiện trên thực tế đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng về phụ

nữ nói chung và quyền chính trị của phụ nữ nói riêng Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực hiện quyền chính trị của phụ nữ trên thực tế

- Hai là, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ tạo cơ sở pháp lý vững chắc nhằm thực hiện và bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ

Với chức năng là công cụ để Nhà nước quản lý, bảo vệ các giá trị và bảo đảm công bằng xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc không chỉ xác lập, mà còn bảo vệ (bao gồm bảo đảm thực hiện, chống các vi phạm liên quan) quyền chính trị của phụ nữ Pháp luật là tập hợp những quy định trong đó nêu các quy tắc xử sự chung cho phép hoặc bắt buộc các chủ thể pháp luật phải xử sự theo Nói cách khác, các chủ thể của pháp luật, từ các

cơ quan của Đảng, Nhà nước đến các đoàn thể và tổ chức xã hội, mọi cá nhân công dân có trách nhiệm thực hiện các quy định của pháp luật Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam luôn nhất quán bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ Hiến pháp 1992 sửa đổi của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy

định rõ: "Công dân nam, nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội"

Bên cạnh đó, pháp luật còn có những quy định về hình thức, biện pháp

xử lý hành vi vi phạm quyền chính trị của phụ nữ Ví dụ, Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về các biện pháp chế tài đối với tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân nói chung, trong đó có quyền bầu

cử, ứng cử của phụ nữ nói riêng: "Người nào lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở việc thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm" Như vậy, pháp luật đã có những quy định

Trang 24

xác lập và bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ Nhờ đó, từ khi khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, phụ nữ Việt Nam đã được giải phóng, đã có quyền tham gia đời sống chính trị của xã hội

- Ba là, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ đã động viên, khuyến khích và tạo cơ sở pháp lý để phụ nữ đấu tranh thực hiện quyền chính trị của mình.

Pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ không chỉ xác lập địa vị bình đẳng của phụ nữ trong đời sống chính trị mà là những quy tắc xử sự được sử dụng như thước đo chuẩn mực chung, đồng thời có tính chất bắt buộc đối với mọi thành phần trong xã hội nhằm thực hiện bảo vệ quyền chính trị của phụ

nữ Chính vì vậy, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ được sử dụng như

cơ sở tham chiếu đối với những hành vi trái pháp luật vi phạm quyền chính trị của phụ nữ, đồng thời, những quy định của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ còn có vai trò rất quan trọng trong việc động viên, khuyến khích phụ

nữ thực hiện quyền chính đáng mà đã được pháp luật ghi nhận Hơn nữa, những quy định đó còn là cơ sở pháp lý để phụ nữ đấu tranh với những hành

vi sai trái, những định kiến lạc hậu cản trở phụ nữ thực hiện quyền chính trị của mình Nếu không có những quy định của pháp luật về quyền bình đẳng nam nữ, về quyền chính trị của phụ nữ thì với quan điểm định kiến, hẹp hòi, trọng nam khinh nữ đang còn ảnh hưởng nặng nề trong xã hội, phụ nữ sẽ gặp nhiều trở ngại, khó khăn trong việc tham gia ứng cử hoặc được bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý cũng như tham gia quản lý nhà nước, quản lý

xã hội Vì vậy, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm và thực hiện quyền chính trị của phụ nữ

1.2 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THIỆN CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA PHỤ NỮ

Trang 25

Trong gần 20 đổi mới, cải cách và mở cửa, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các mặt của đời sống chính trị và xã hội Sự phát triển của đất nước cũng đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện hệ thống pháp luật

để một mặt, có đầy đủ khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động của đời sống chính trị và đời sống công cộng; mặt khác, để hài hòa với pháp luật quốc tế trong bối cảnh hội nhập

Quyền chính trị của phụ nữ là một vấn đề phức tạp và nhạy cảm Hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ cũng có nghĩa là tăng cường tính dân chủ trong xã hội, bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ, không phân biệt đối xử với phụ nữ trong đời sống chính trị và đời sống công cộng Theo Công ước CEDAW, điều này cũng chính là một phần trong trách nhiệm quốc gia nhằm bảo đảm thực thi quyền chính trị của phụ nữ

Cần thấy rằng, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ chỉ là một bộ phận rất cụ thể và đặc thù trong toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam Về lý thuyết, để đánh giá mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật, cần phải căn cứ trên những tiêu chí xác định chung Đó là: tính toàn diện, tính đồng bộ, tính thống nhất; ngoài ra, do đặc thù của đối tượng hưởng thụ quyền, có thể

áp dụng một số tiêu chí khác như tính phù hợp, tính kế thừa và tính hiệu lực

- Ở cấp độ cụ thể hơn, ở từng lĩnh vực mà pháp luật điều chỉnh đòi hỏi mỗi ngành luật phải có đủ các chế định pháp luật và các quy phạm pháp luật [33, tr 61]

Trang 26

- Ở mức độ cụ thể, quan hệ xã hội cụ thể hoặc chủ thể quan hệ pháp luật cụ thể (chế định pháp luật) đòi hỏi các chế định pháp luật phải có đầy đủ các quy phạm pháp luật cần thiết Quyền chính trị của phụ nữ là một vấn đề đặc thù, chuyên biệt về đối tượng điều chỉnh, chủ thể quan hệ pháp luật và liên quan đến nhiều văn bản pháp luật vì thế có thể xác định pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là một chế định pháp luật để đánh giá mức độ hoàn thiện của nó.

Quyền chính trị của phụ nữ là quyền bình đẳng của phụ nữ được tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống chính trị và đời sống công cộng trên

cơ sở không phân biệt đối xử Do vậy, tính toàn diện của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ phải bảo đảm hai yêu cầu: Pháp luật về quyền chính trị

của phụ nữ phải có đầy đủ các quy phạm pháp luật nhằm xác lập quyền bình

đẳng nam nữ, vị trí và ý nghĩa quyền chính trị của phụ nữ; và đồng thời phải nhằm thực hiện và bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ

Về yêu cầu thứ nhất, đối với phụ nữ quyền chính trị là một trong

những quyền quan trọng nhất, thường được đề cập đầu tiên trong hệ thống các quyền con người mà họ có Ở nước ta, quyền chính trị của phụ nữ trước tiên được khẳng định trong các văn kiện của Đảng, coi đó là một quyền bình đẳng của nam nữ, một tiêu chí để xác định tính dân chủ trong xã hội Pháp luật có nhiệm vụ thể chế hóa đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng về quyền chính trị của phụ nữ bằng những quy phạm pháp luật cụ thể, biến nó trở thành quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc với toàn xã hội Hơn nữa, từ nghĩa vụ quốc tế khi Việt Nam gia nhập và phê chuẩn Công ước CEDAW, pháp luật của chúng ta cũng tiếp thu và thể chế hóa toàn bộ phạm vi các quyền chính trị của phụ nữ được quy định trong công ước này

Về yêu cầu thứ hai, việc thực hiện và bảo vệ quyền chính trị của phụ

nữ, theo tinh thần của Công ước CEDAW, dựa trên ba nguyên tắc có tính chất bắt buộc: bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm quốc gia Do vậy,

Trang 27

để xác định tính toàn diện của pháp luật trong việc thực hiện và bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ, cần phải xem xét liệu pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ có đầy đủ những quy phạm pháp luật thể hiện được ba nguyên tắc trên không Về lý thuyết, pháp luật của Việt Nam đã có khá đầy đủ những quy phạm pháp luật bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ, thể hiện trong Hiến pháp, luật bầu cử, Không những thế, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ còn

có những quy phạm pháp luật chứa đựng các chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với những hành vi xâm phạm quyền chính trị của phụ nữ vì bất kỳ lý do gì và dưới bất kỳ hình thức nào, thể hiện trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Khiếu nại và tố cáo, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính

Như vậy, cơ sở pháp lý về quyền chính trị của phụ nữ là toàn diện, thể hiện được trách nhiệm quốc gia của Việt Nam trong vấn đề lập pháp, phù hợp với những yêu cầu của các điều ước quốc tế và Công ước CEDAW

Tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật thể hiện trên những điểm sau đây:

- Một là, tính đồng bộ thể hiện ở sự đồng bộ giữa Hiến pháp với các

ngành luật và giữa các ngành luật với nhau Để đạt tới mục tiêu này, cần xác định rõ ranh giới giữa các ngành luật và phải xây dựng được một hệ thống quy phạm pháp luật căn bản trong Hiến pháp, hoàn thiện Hiến pháp nhằm tạo

cơ sở để củng cố tính thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật

Trang 28

- Hai là, tính đồng bộ, thống nhất thể hiện sự thống nhất, không mâu

thuẫn, không xung đột, không trùng lặp, chồng chéo trong mỗi ngành luật, mỗi chế định pháp luật và giữa các quy phạm pháp luật trong ngành luật đó với nhau

- Ba là, tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật thể hiện ở sự

đồng bộ, thống nhất giữa văn bản luật với các văn bản dưới luật

- Bốn là, trong điều kiện Đảng cầm quyền, còn phải bảo đảm tính

đồng bộ, thống nhất giữa các quy định của pháp luật với đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng

Pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ tuy có đặc thù về đối tượng điều chỉnh và chủ thể quan hệ pháp luật, nhưng đó là quyền Hiến định căn cứ vào quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng đối với phụ nữ Vì vậy, tính đồng bộ, thống nhất của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ cũng được xem xét theo bốn yêu cầu nêu trên Điều đó có nghĩa là pháp luật về quyền

chính trị của phụ nữ cần phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: thứ nhất, phải bảo

đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa Hiến pháp với các ngành luật và giữa các

ngành luật với nhau; thứ hai, phải bảo đảm được tính đồng bộ, thống nhất

trong mỗi ngành luật, mỗi chế định pháp luật và giữa các quy phạm pháp luật

trong ngành luật đó; và thứ ba, phải bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa văn bản luật với các văn bản dưới luật; thứ tư, phải bảo đảm tính đồng bộ,

thống nhất giữa các quy định của pháp luật với chủ trương, chính sách của Đảng về quyền chính trị của phụ nữ

Trước hết, mức độ hoàn thiện của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ phải thể hiện tính đồng bộ, thống nhất giữa Hiến pháp và luật, giữa Hiến pháp, luật với các văn bản dưới luật Hiến pháp là văn bản có tính pháp

lý cao nhất, là cơ sở để tạo khung xây dựng các luật nhằm cụ thể hóa từng nội dung, vấn đề được quy định trong Hiến pháp Hiến pháp 1992 sửa đổi khẳng

Trang 29

định nguyên tắc bình đẳng nam nữ về các quyền, không phân biệt đối xử trong thực thi quyền chính trị của phụ nữ Theo đó, việc xây dựng các luật nhằm cụ thể hóa nội dung các quyền đó cũng phải bảo đảm nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với phụ nữ khi tham gia vào đời sống chính trị và đời sống công cộng

Hơn nữa, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là sự tổng hợp các quy phạm pháp luật của nhiều ngành luật khác nhau trong hệ thống pháp luật của Việt Nam Quyền chính trị của phụ nữ có phạm vi rộng, có những nội dung thuộc sự điều chỉnh của Luật Hành chính, Luật Bầu cử, Bộ luật Hình sự Chính vì vậy, mức độ hoàn thiện của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ phải được thể hiện qua tính đồng bộ và thống nhất giữa các quy phạm của các ngành luật này với ngành luật khác trong một tổng thể hệ thống pháp luật quốc gia Trong mối quan hệ phức tạp như vậy giữa các ngành luật với nhau,

tư tưởng xuyên suốt có tính nguyên tắc chi phối nội dung quy phạm pháp luật của các ngành luật phải là: bình đẳng và không phân biệt đối xử Sở dĩ lấy các nguyên tắc này làm tiêu chuẩn để xét tính đồng bộ giữa các quy phạm luật trong các ngành luật là vì đồng bộ không có nghĩa là một quy phạm pháp luật trong ngành luật này phải được lặp lại, hoặc nhắc lại trong ngành luật kia, mà cái chính là làm thế nào nội dung của quy phạm pháp luật này không xung đột với nội dung quy định trong các quy phạm pháp luật của ngành luật kia Do vậy, giữa các quy phạm pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ vừa có cái riêng - thuộc ngành luật khác nhau, song cũng vừa có cái chung - đó là thể hiện cho được tinh thần của các nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối

xử, sự nhất quán về chủ trương và thống nhất về nội dung

Quyền chính trị của phụ nữ phải là quyền bình đẳng của phụ nữ tham gia trong tất cả các hoạt động của đời sống chính trị và đời sống công cộng Quyền bình đẳng phải là tiêu chí đối với từng quy phạm pháp luật bảo đảm quyền chính trị của phụ nữ Chẳng hạn, Luật bầu cử khẳng định quyền bình

Trang 30

đẳng, không phân biệt đối xử với phụ nữ trong việc bầu cử và ứng cử Và như vậy, pháp luật hình sự phải khẳng định việc bảo vệ quyền bình đẳng của phụ

nữ bằng những chế tài nghiêm minh, nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối

xử, gây tổn hại đến quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển cũng nảy sinh nhiều mối quan hệ, pháp luật vì thế cũng phải điều chỉnh theo Vì vậy, lẽ đương nhiên trong quá trình đó cũng sẽ khó tránh khỏi tình trạng có những quy định này trái với quy định kia, và điều này vô hình chung đã tạo ra tình trạng quy phạm pháp luật này làm giảm hiệu lực hoặc thậm chí là triệt tiêu quy phạm pháp luật kia

Đồng thời, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ không có đạo luật riêng quy định về các nội dung liên quan đến quyền chính trị của phụ nữ, mà chỉ là tập hợp những quy phạm pháp luật thuộc các ngành luật khác nhau Ở cấp độ chung nhất, giữa các quy phạm pháp luật trong các văn bản luật có thể đồng bộ và thống nhất về nội dung quy định Song, ở cấp độ cụ thể, nghĩa là khi cụ thể hóa các quy phạm trên bằng những văn bản hướng dẫn, giải thích-văn bản dưới luật-thì vấn đề hoàn toàn có thể khác, dễ xảy ra tình trạng quy định cụ thể xung đột với quy định chung, văn bản dưới luật trái với văn bản luật và thậm chí là vi hiến Chẳng hạn, trong vấn đề bầu cử và ứng cử Hiến pháp 1992 sửa đổi quy định: Công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, thời hạn cư trú, từ

18 tuổi trở lên, đều có quyền bầu cử và từ 21 tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp Như vậy, Hiến pháp đã mở rộng đến mức tối đa đối tượng hưởng và thực hiện quyền bầu cử và ứng cử, nam và

nữ đều có quyền ngang nhau Theo quy định này, với tỷ lệ chiếm hơn nửa dân

số, nữ giới có điều kiện khả năng chiếm tỷ lệ đại diện cao trong các cơ quan dân cử từ trung ương đến địa phương Tuy nhiên, việc đặt ra hạn định, mức phấn đấu về tỷ lệ đại biểu là nữ trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân, một mặt, là tích cực nhằm nâng tỷ lệ nữ đại biểu vẫn còn rất thấp so với yêu cầu

Trang 31

giới và chưa tương xứng với tiềm năng và khả năng thực tế của phụ nữ; song mặt khác, nó đã vô hình chung trái với tinh thần quy định tại Hiến pháp và luật bầu cử Rõ ràng, những quy định này xét trên một khía cạnh nhất định là không đồng bộ với nhau Tình trạng thiếu đồng bộ như vậy trong pháp luật của nước ta chưa được khắc phục triệt để Thực trạng này trước mắt có thể chấp nhận được, nhưng về lâu dài cần được tháo gỡ, đây cũng là một phần trách nhiệm quốc gia của Việt Nam theo tinh thần Công ước CEDAW

Ngoài ra, mức độ hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ phải thể hiện tính đồng bộ, thống nhất giữa pháp luật với chủ trương, chính sách của Đảng về quyền chính trị của phụ nữ Như đã đề cập ở trên, quyền bình đẳng của phụ nữ tham gia trong đời sống chính trị và đời sống công cộng trước hết là xuất phát từ đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng về phụ

nữ Pháp luật với tính cách là công cụ của Nhà nước xác lập và bảo vệ quyền chính trị của phụ nữ thì không được trái với đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng Phù hợp với quan điểm của Đảng thì nhiệm vụ cao nhất của pháp luật là bảo đảm được quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử với phụ

nữ tham gia vào đời sống chính trị và đời sống công cộng

Sự đồng bộ, thống nhất giữa pháp luật với đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng về quyền chính trị của phụ nữ phải trải qua một bước đệm là nhận thức, và từ nhận thức sâu sắc về nghĩa vụ và trách nhiệm phải bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ tham gia vào đời sống chính trị và đời sống công cộng mới có thể xây dựng và thông qua những quy phạm pháp luật phù hợp Nhận thức đó phải dựa trên kinh nghiệm thực tiễn và yêu cầu phải thực hiện trách nhiệm quốc gia theo quy định của Công ước CEDAW Như vậy, phải nhận thức sâu sắc quan điểm, đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng về quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử với phụ nữ về quyền của phụ nữ tham gia vào đời sống chính trị và đời sống công cộng, trên cơ sở

đó thể chế hóa thành nội dung cụ thể của các quy định trong văn bản pháp

Trang 32

luật và thường xuyên tổng kết xem xét việc thực hiện trong thực tế như thế nào để điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện quyền chính trị của phụ nữ trên thực tế.

Về lý thuyết, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ được hình thành

để điều chỉnh các quan hệ của phụ nữ trong đời sống chính trị và đời sống công cộng, trên cơ sở bình đẳng và không phân biệt đối xử Tuy nhiên, trong quá trình điều chỉnh này, pháp luật chịu sự tác động và phụ thuộc vào trình

độ phát triển kinh tế - xã hội, điều kiện chính trị của đất nước Chính vì vậy, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ phải luôn gắn liền và bám sát với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và điều kiện chính trị Nếu trình độ phát triển kinh tế - xã hội đi quá nhanh, đẩy nhanh sự phát triển về nhu cầu dân chủ và quyền bình đẳng, nhưng pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ lại không bắt kịp thì sẽ càng dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới, nhất là trong quản lý nhà nước và kinh tế Ngược lại, pháp luật về quyền chính trị của phụ

nữ không thể phát triển nhanh hơn trình độ phát triển kinh tế - xã hội, bởi chỉ

có thể là trình độ phát triển kinh tế - xã hội, điều kiện và hoàn cảnh yêu cầu khách quan cần có sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong đời sống chính trị và đời sống công cộng quy định và là cơ sở để phát triển pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

Trang 33

Hiện nay, phụ nữ có điều kiện để phát triển toàn diện về mọi mặt, kể

cả vấn đề học thức Cùng với xu thế phát triển đó, Đảng và Nhà nước ta không chỉ quan tâm mà còn đặt yêu cầu đối với sự tham gia của phụ nữ vào công việc xã hội và quản lý xã hội ở mức độ sâu hơn Chủ trương và chính sách của Đảng để phụ nữ được hưởng đầy đủ quyền chính trị của họ là có, song điều đáng tiếc là pháp luật để bảo đảm cho họ được hưởng quyền này lại chưa theo kịp cả về chủ trương lẫn yêu cầu khách quan đặt ra từ sự phát triển của xã hội và của chính bản thân phụ nữ Bên cạnh đó, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ phải phù hợp với thực tế lịch sử của đất nước; đồng thời khi chúng ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu, đòi hỏi chúng ta phải tiếp cận và tuân thủ các quy định của pháp luật quốc tế Tính phù hợp của hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ cũng thể hiện mối quan hệ không thể tách rời với nhiệm vụ xây dựng pháp chế dân chủ của đất nước, phù hợp với

chủ trương xây dựng nước ta theo định hướng "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"

1.2.4 Tính hiệu lực

Hiệu lực của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ có nghĩa là phải

có các thiết chế bảo đảm thực hiện quyền chính trị của phụ nữ trên thực tế Muốn vậy, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ phải bao gồm những quy

phạm pháp luật: thứ nhất, có tính giáo dục và thuyết phục cao nhằm nâng cao

nhận thức về quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử với phụ nữ tham gia

vào đời sống chính trị và đời sống công cộng; thứ hai, quy định rõ ràng về

chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, bộ máy thực thi và giám sát việc thực hiện

quyền chính trị của phụ nữ; và thứ ba, có những chế tài xử lý nghiêm minh

mọi hành vi vi phạm quyền chính trị của phụ nữ

Mặc dù pháp luật đã có nhiều quy định khá chặt chẽ và cụ thể về quyền chính trị của phụ nữ nhưng hiệu lực của những quy phạm pháp luật về

Trang 34

quyền chính trị của phụ nữ lại tương đối thấp, trên thực tế có nơi này, nơi kia

tỉ lệ phụ nữ tham gia làm công tác quản lý còn thấp và phụ nữ vẫn còn bị coi nhẹ trong khi có rất nhiều chị em đã khẳng định được năng lực, trình độ và phẩm chất của mình Để xảy ra tình trạng này, không thể không xét đến tính nghiêm minh của các quy phạm pháp luật Sự hoàn thiện của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ chỉ có thể được xác định khi các quy phạm pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ có được đời sống thực tế, được xây dựng theo đúng trình tự pháp luật Vì đã được coi là một tiêu chí để xác định sự hoàn thiện của pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ, nên yêu cầu về tính hiệu lực đòi hỏi phải được kết hợp hài hòa giữa các quy định mang tính nguyên tắc, khuôn mẫu chung với các quy phạm nhằm bảo đảm thực hiện; sự đồng bộ từ quá trình xây dựng đến khi ban hành luật và các văn bản dưới luật

để hướng dẫn thực hiện; đồng thời xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm quy định pháp luật về việc bảo đảm thực hiện quyền chính trị của phụ

nữ Tính hiệu lực còn thể hiện trong việc thiết lập cơ chế áp dụng luật, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan thi hành luật và giám sát thực thi pháp luật

1.2.5 Tính tương thích với các văn bản pháp luật quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, ký kết và phê chuẩn

Trong một thời gian dài, trình độ xây dựng pháp luật và chất lượng pháp luật của chúng ta chưa theo kịp trình độ phát triển của đất nước và của thời đại Điều này, một mặt, là do chúng ta chịu hậu quả của chính sách bao vây và cấm vận, không có điều kiện tiếp xúc với bên ngoài, hạn chế sự tiếp thu những tinh hoa và phát triển mới trong hệ thống pháp luật quốc tế; mặt khác, về chủ quan, chúng ta cũng chưa quan tâm đúng mức đến công tác lập pháp, phát triển và xây dựng pháp luật nói chung và chuyển hóa pháp luật quốc tế vào nội dung pháp luật trong nước nói riêng

Trang 35

Để hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ rất cần phải tham khảo quá trình xây dựng và phát triển pháp luật về phụ nữ của các nước, các điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam đã tham gia Xét về tổng quan pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ ở nước ta, nhiều quy định đã được luật hóa trong Hiến pháp, trong nhiều luật và bộ luật Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập, chúng ta còn cần phải thực hiện các nghĩa vụ quốc tế Nghĩa

là, có nhiều quy phạm pháp luật trong các điều ước quốc tế về quyền chính trị của phụ nữ thể hiện những mặt tiến bộ cần phải nội luật hóa hoặc làm cơ sở

để tham khảo Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể tham khảo các văn bản pháp luật tiến bộ về quyền chính trị của phụ nữ của các nước Việc tham khảo, và nếu trong trường hợp áp dụng, không chỉ là sự kế thừa các thành tựu và sự tiến bộ của hệ thống pháp lý văn minh nhân loại, mà còn thể hiện sự giao lưu và tiếp cận có kế thừa giữa các quy định pháp luật trong nước với pháp luật quốc tế Như vậy, pháp luật của chúng ta sẽ hoàn thiện hơn cả trong bối cảnh quốc gia

và trong mối tương quan với pháp luật quốc tế về quyền chính trị của phụ nữ

1.3 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM LÀ YÊU CẦU KHÁCH QUAN, CẤP BÁCH HIỆN NAY

1.3.1 Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm địa vị bình đẳng và phát huy vai trò, năng lực của phụ nữ

Phụ nữ luôn chiếm một vị trí quan trọng trong chủ trương và chính sách phát triển vì con người của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta so với chế độ tư bản chủ nghĩa là mọi chủ trương, chính sách và pháp luật đều vì con người, trong

đó có phụ nữ, đồng thời bảo đảm điều kiện thuận lợi cho mọi người dân và phụ nữ phát huy hết khả năng của mình trong xây dựng và bảo vệ đất nước

Có thể nói, trong chế độ mới và nhất là 20 năm đổi mới vừa qua, phụ nữ Việt

Trang 36

Nam đã có nhiều cơ hội, điều kiện thực hiện quyền bình đẳng, phát huy vai trò, năng lực của mình.

Tuy nhiên, đi liền với cơ hội là những thách thức Một trong những thách thức lớn đối với phụ nữ Việt Nam là phải vượt qua những định kiến phân biệt đối xử từ ngàn xưa để lại Vì vậy, bảo đảm địa vị bình đẳng và phát huy vai trò, năng lực của phụ nữ luôn luôn là vấn đề bức xúc nhất là trong quá trình đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế hiện nay Trong quá trình đó, mỗi người phải tham gia ý kiến nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của quốc gia và của chính mình và phụ nữ không thể đứng ngoài yêu cầu đó Họ phải vào cuộc, phải tự mình nâng cao năng lực chuyên môn của mình, tự mình đề xuất những tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu của mình, tự mình khẳng định năng lực và vị trí của mình ở quốc gia cũng như trên trường quốc tế Để làm được điều này, phụ

nữ phải nỗ lực rất nhiều, phải vượt qua chính mình, vượt qua những định kiến giới; đồng thời, để phụ nữ thực sự vượt qua những định kiến giới góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và phát triển con người, Đảng và Nhà nước ta cần có những chính sách khuyến khích sự tham gia của họ, tăng vị trí

và vai trò của phụ nữ vào hệ thống quyền lực nhà nước hay nói cách khác là trao quyền lực thực sự cho phụ nữ

1.3.2 Xuất phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thực thi dân chủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, chính quyền từ

xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra" [25, tr 299] Quán triệt tư

tưởng của Người, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã dành sự chú ý thích đáng cho nhiệm vụ đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, trong đó có nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trang 37

Giải phóng phụ nữ và bảo đảm quyền bình đẳng, quyền chính trị của phụ nữ cũng là những yêu cầu về nội dung cơ bản trong xây dựng Nhà nước pháp quyền và thực thi dân chủ ở nước ta Chừng nào phụ nữ chưa thực sự bình đẳng, chưa được giải phóng, chưa được tham gia đầy đủ các lĩnh vực của đời sống chính trị cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp khác thì chưa thể nói là có Nhà nước pháp quyền, có dân chủ được Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khái quát cao hơn bằng cách coi việc giải phóng phụ nữ là bảo đảm quyền của

phụ nữ, là tiêu chuẩn của chế độ Xã hội chủ nghĩa: "Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ Hiến pháp và pháp luật của nước

ta đã quy định rõ điều đó" [28, tr 225].

Theo V.I Lênin, Nhà nước là hình thức cơ bản của dân chủ Vì vậy, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước là cách cơ bản nhất của việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân [41, tr 3] Phát huy dân chủ, như vậy, có nghĩa

là nâng cao quyền lực cho nhân dân Để phát huy được dân chủ hay nâng cao quyền lực cho nhân dân, cần phải có sự tham gia tích cực của tất cả mọi người, kể cả phụ nữ Nói cách khác, không thể có dân chủ thực sự khi không

có sự tham gia đầy đủ của cả hai giới

Để thực hiện dân chủ cũng như xây dựng Nhà nước pháp quyền, cần phải xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo có uy tín, có trình độ chuyên môn cao ở cả hai giới Khi nói về công tác cán bộ, đặc biệt là cán bộ nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thực sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của họ

1.3.3 Xuất phát từ yêu cầu khắc phục những hạn chế, tồn tại trong pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến các quyền của phụ nữ nói chung và quyền chính trị của phụ nữ nói riêng bằng cách ban hành rất nhiều nghị quyết, chính sách, pháp luật về lĩnh vực này

Trang 38

Việt Nam đã trở thành một trong số ít các quốc gia ở châu Á sớm công nhận quyền bình đẳng nam nữ trên tất cả các lĩnh vực bằng cách phê chuẩn Công ước CEDAW Sự quan tâm của Đảng còn được thể hiện ở việc Việt Nam luôn coi công tác cán bộ nữ là nhiệm vụ có tính chiến lược trong công tác cán bộ Việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý kinh tế - xã hội là thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ Vì vậy, đã có nhiều phụ nữ giữ các vị trí lãnh đạo cao trong các cơ quan Đảng, Nhà nước như Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận rằng,

tỷ lệ nữ làm công tác lãnh đạo quản lý ở các bộ, ngành Trung ương và địa phương còn rất thấp Những hạn chế này do rất nhiều nguyên nhân, trong đó

có nguyên nhân là do pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ còn nhiều hạn chế, tồn tại Điều này dẫn đến việc khó thực thi các quyền của phụ nữ nói chung và quyền chính trị của phụ nữ nói riêng trong thực tế

Do đó, hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ và bảo đảm thực hiện trên thực tế sẽ góp phần khắc phục những hạn chế và bổ sung thêm quy định trong pháp luật hiện hành khắc phục những tồn tại trong việc thực hiện các quy định về quyền chính trị của phụ nữ, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ

1.3.4 Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm sự tương thích với pháp luật quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, ký kết và phê chuẩn

Trong quá trình hội nhập, Việt Nam không thể đứng biệt lập khỏi cộng đồng quốc tế Muốn hòa nhập được với cộng đồng quốc tế thì Việt Nam phải sẵn sàng là bạn với tất cả các nước, sẵn sàng thích nghi với môi trường quốc tế Môi trường quốc tế ở đây không chỉ là môi trường xã hội mà còn là môi trường pháp luật

Trang 39

Nhận thấy rõ tầm quan trọng của quá trình hội nhập, Nhà nước ta đã phê chuẩn rất nhiều công ước quốc tế trên tất cả các lĩnh vực, kể cả lĩnh vực chính trị Như đã đề cập ở trên, một trong những công ước liên quan trực tiếp đến quyền chính trị của phụ nữ mà Việt Nam phê chuẩn là Công ước CEDAW năm 1981 Trong những năm qua, hệ thống pháp luật Việt Nam đã không ngừng được bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện theo hướng thể hiện ngày càng đầy đủ các nguyên tắc và nội dung của Công ước CEDAW trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa trong từng giai đoạn phát triển của đất nước

Mặc dù vậy, để theo kịp dòng chảy hội nhập quốc tế, để phụ nữ Việt Nam ngày càng tự tin hơn trên trường quốc tế, cần có những quy định cụ thể,

rõ ràng hơn nữa về quyền của phụ nữ nói chung và quyền chính trị của phụ nữ nói riêng dựa trên những nội dung và nguyên tắc của Công ước CEDAW

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chính trị luôn luôn gắn với quyền lực và đấu tranh giai cấp Hai yếu

tố đó kết hợp và hòa quyện với nhau, không tách rời nhau tạo thành một phạm trù-quyền chính trị-phản ánh quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, cũng như nhu cầu tự nhiên của con người Quyền chính trị thuộc hệ thống các quyền con người và là một trong những quyền quan trọng nhất của con người

Phụ nữ vốn sinh ra đã bị thành kiến là những người chỉ biết sinh đẻ, làm công việc nội trợ và là công dân hạng hai Nhưng, phụ nữ với tư cách là công dân có quyền được hưởng các quyền con người - quyền công dân mà pháp luật cho phép và bảo vệ, trong đó có quyền chính trị, trên cơ sở bình đẳng và không phân biệt đối xử Quyền chính trị là một trong những quyền quan trọng nhất của phụ nữ và có những đặc điểm sau:

Trang 40

- Quyền chính trị của phụ nữ là yếu tố xác lập vị thế pháp lý của phụ

nữ trong đời sống chính trị - xã hội

- Quyền chính trị của phụ nữ là hình thức pháp lý thể hiện bản chất dân chủ, bình đẳng của xã hội

- Quyền chính trị của phụ nữ là cơ sở và nền tảng để bảo đảm thực hiện các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của phụ nữ

Quyền đi đôi với pháp luật, quyền tự do và tự nhiên của con người chỉ thực sự có nghĩa khi được pháp luật bảo vệ Quyền chính trị của phụ nữ ở Việt Nam được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ Hơn thế, nó được xác lập và bảo đảm được thực thi từ trong đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng

- lực lượng duy nhất cầm quyền và lãnh đạo Nhà nước và xã hội ở Việt Nam:

Pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ bao gồm các quy định của pháp luật về quyền chính trị của công dân nói chung và các quy định trực tiếp

về quyền chính trị của phụ nữ và là tổng hợp nhiều quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau, đồng thời, pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ là

sự kết hợp hài hòa giữa các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia,

là biểu hiện của sự tiếp thu tư tưởng tiến bộ của pháp luật quốc tế về quyền chính trị của phụ nữ kết hợp với bản sắc văn hóa của Việt Nam Chính vì vậy, hoàn thiện pháp luật về quyền chính trị của phụ nữ phải bảo đảm tính toàn diện, đồng bộ, phù hợp, khả thi và tương thích với các công ước quốc tế đã tham gia, ký kết của các quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật

Phát triển là quá trình vận động không ngừng của xã hội Quá trình đổi mới của nước ta trong gần hai thập kỷ qua đã nâng trình độ phát triển kinh

tế - xã hội của nước ta lên một bước, đời sống và dân trí được nâng cao Theo quy luật, sự phát triển như vậy lẽ đương nhiên sẽ làm nảy sinh những mối quan hệ xã hội mới, yêu cầu về dân chủ, bảo đảm các quyền con người trở nên cấp thiết hơn Trong quá trình đó, pháp luật với tư cách là công cụ quản lý và

Ngày đăng: 16/07/2016, 17:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Hồng Anh (1997), Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới
Tác giả: Vũ Hồng Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
2. Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (1996), Phụ nữ, Giới và phát triển, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ, Giới và phát triển
Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
3. Bộ Ngoại giao và Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam (2005), Báo cáo quốc gia lần thứ 5 và 6 về tình hình thực hiện Công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), (Dự thảo năm 2005), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốc gia lần thứ 5 và 6 về tình hình thực hiện Công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)
Tác giả: Bộ Ngoại giao và Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
Năm: 2005
4. Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) (1999), Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)
Tác giả: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1999
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
7. Vũ Công Giao (2004), “Bình đẳng giới - cuộc đấu tranh lâu dài của nhân loại”, Tạp chí Cộng sản, (5), tr. 74-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng giới - cuộc đấu tranh lâu dài của nhân loại”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Vũ Công Giao
Năm: 2004
8. Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2001 (2001), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2001
Tác giả: Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2001
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
9. Học viện Hành chính Quốc gia (2001), Tài liệu Hội thảo Bác Hồ với phụ nữ và tăng cường năng lực quản lý của phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội thảo Bác Hồ với phụ nữ và tăng cường năng lực quản lý của phụ nữ
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Năm: 2001
10. Học viện Hành chính Quốc gia (2002), Tăng cường năng lực quản lý và vai trò của phụ nữ Việt Nam trong công vụ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực quản lý và vai trò của phụ nữ Việt Nam trong công vụ
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Năm: 2002
11. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (1997), Tăng cường sự tham gia của phụ nữ ASEAN vào các vị trí ra quyết định, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ ASEAN vào các vị trí ra quyết định
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Năm: 1997
12. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2001), Quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật Việt Nam
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2001
13. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2002), Văn kiện Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ IX, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2002
14. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2004), Báo cáo tham luận Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác cán bộ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tham luận Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác cán bộ nữ
Tác giả: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Năm: 2004
15. Nguyễn Thị Kim Huệ (2003), Địa vị pháp lý của phụ nữ trong pháp luật phong kiến và pháp luật hiện nay ở Việt Nam, Luận văn cử nhân Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa vị pháp lý của phụ nữ trong pháp luật phong kiến và pháp luật hiện nay ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Huệ
Năm: 2003
16. Phạm Khiêm Ích và Hoàng Văn Hảo (1995), Quyền con người trong thế giới hiện đại, Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người trong thế giới hiện đại
Tác giả: Phạm Khiêm Ích và Hoàng Văn Hảo
Năm: 1995
17. Hà Thị Khiết (2004), ”Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới (Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII)”, Khoa học về phụ nữ, (3), tr. 3- 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học về phụ nữ
Tác giả: Hà Thị Khiết
Năm: 2004
18. Nguyễn Linh Khiếu (2003), Nghiên cứu phụ nữ giới và gia đình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phụ nữ giới và gia đình
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
19. Dương Thị Ngọc Lan (2001), Hoàn thiện pháp luật về quyền lao động nữ ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về quyền lao động nữ ở Việt Nam hiện na
Tác giả: Dương Thị Ngọc Lan
Năm: 2001
20. Võ Thị Hồng Loan và Đặng Ánh Tuyết (2005), “Bình đẳng nam nữ và thực hiện quyền bình đẳng nam nữ ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản, (5), tr. 39-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng nam nữ và thực hiện quyền bình đẳng nam nữ ở nước ta”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Võ Thị Hồng Loan và Đặng Ánh Tuyết
Năm: 2005

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w