1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUAN VAN HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BẢO HIỂM VÀ PHÚC LỢI NÔNG DÂN TẠI HÀ NỘI

103 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 695,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

An sinh xã hội là một hệ thống quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. An sinh xã hội thể hiện trách nhiệm của nhà nước trước những nhóm dân cư, cộng đồng người bị rủi ro, thiệt thòi trong việc tiếp cận các thành quả của sự phát triển xã hội. Khởi đầu là mô hình của nhà nước Phổ cách đây 200 năm nhằm khắc phục những bất bình đẳng trong thu nhập, điều hòa rủi ro, tạo điều kiện cho nhóm dân cư nghèo được thụ hưởng những điều kiện tối thiểu, ngày nay an sinh xã hội đã trở thành một thành phần không thể thiếu trong hệ thống chính sách phát triển của mỗi quốc gia. An sinh xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế hòa nhập và đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội.Tại Việt Nam, an sinh xã hội có vai trò ngày càng quan trọng và ngày càng được Đảng, Nhà nước quan tâm. Văn kiện Đại hội X của Đảng xác định: “…xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng, phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân” 2, tr.11; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 Khóa X cũng đề cập đến việc từng bước mở rộng và cải thiện hệ thống an sinh xã hội để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhất là nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo.Trong hệ thống an sinh của mỗi quốc gia, bảo hiểm xã hội đóng vai trò quan trọng, là hệ thống xương sống của toàn thể hệ thống an sinh. Nghị quyết số 21NQTW ngày 22112012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020 ghi rõ: “Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị xã hội và phát triển kinh tế xã hội” 3, tr.2Là một nước nông nghiệp, với nông dân chiểm trên 70% dân số và 50% lực lượng lao động, muốn đạt được an sinh cho toàn dân thì cần chú trọng đặc biệt đến an sinh xã hội cho nông dân. Tuy nhiên, ở Việt Nam, hệ thống chính sách an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng chưa chú ý đúng mức đến người nông dân. Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2006, trong đó đã bước đầu đề cập đến hệ thống Bảo hiểm xã hội tự nguyện dành cho nông dân (có hiệu lực năm 2008). Đó là một dấu hiệu quan trọng, tạo ra hành lang pháp lý để phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội dành cho nông dân nói riêng và đảm bảo an sinh cho người nông dân nói chung. Tuy nhiên, qua nhiều năm thực hiện, bảo hiểm xã hội tự nguyên chưa thu hút được sự tham gia của người dân, nhất là nông dân. Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đến tháng 10 năm 2012, mới có 135 nghìn người tham gia trong số 30 triệu đối tượng của loại hình bảo hiểm này trong đó chủ yếu là những người thiếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc các cán bộ cấp xã. Bảo hiểm xã hội tự nguyện không thu hút được người dân là do mức đóng cao so với thu nhập của người nông dân và các chế độ hưởng kém hấp dẫn…Trong khi chính sách của nhà nước tỏ ra kém hiệu quả do thiếu tính sát thực thì các cơ chế cộng đồng trong việc đảm bảo an sinh lại được phát huy. Căn cứ trên nhu cầu của người dân về lương hưu để đảm bảo cuộc sống khi về già, nhiều địa phương đã hình thành các loại hình quỹ lương, quỹ bảo hiểm, quỹ phúc lợi. Có thể kể đến các Quỹ lương hưu tự nguyện ở tỉnh Nghệ An, Quỹ Phúc lợi tại nhiều xã ở tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh hay Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi ở xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội…Đây là một trong những loại hình quỹ cộng đồng tự phát, hoạt động trên cơ sở quản lý của cộng dồng để chi trả lương hưu cho người nông dân khi hết tuổi lao động. Nhiều mô hình bộc lộ tính thiếu bền vững và đã chuyển đổi, tuy nhiên có những mô hình hoạt động rất hiệu quả, thu hút sự tham gia và đồng tình của người dân. Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội là một ví dụ điển hình. Việc đa dạng hóa các loại hình bảo hiểm, thu hút nông dân và lao động ở khu vực phi chính thức cũng là một chủ trương lớn của Chính phủ nhằm đảm bảo an sinh xã hội tốt hơn cho người dân. Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 15NQTW ngày 162012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 cũng khẳng định chủ trương này: “Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật bảo hiểm xã hội theo hướng đa dạng hóa các hình thức bảo hiểm xã hội, mở rộng đối tượng tham gia các loại hình bảo hiểm xã hội, khuyến khích nông dân và người lao động trong khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội”5, tr.3. Do đó, việc tồn tại và phát triển của các loại hình quỹ cộng đồng nói riêng và việc xã hội hóa công tác đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trong giai đoạn hiện nay là vô cùng cần thiết.Nghiên cứu này sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm của loại hình quỹ này trên cơ sở lý thuyết của An sinh xã hội và Công tác xã hội, tìm hiểu các cơ chế về tổ chức, tài chính và chính sách, các tác động của quỹ đến đời sống người dân, từ đó xác định các ưu và nhược điểm, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động của loại hình quỹ nói riêng và hoạt động bảo hiểm xã hội hướng đến nông dân nói chung. Nghiên cứu cũng hướng đến việc tìm ra những nhân tố cần thiết để có thể xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống các loại hình quỹ cộng đồng nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động ở khu vực phi chính thức nói chung và nông dân nói riêng.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3

2.1 Nghiên cứu nước ngoài 3

2.2 Các nghiên cứu trong nước 6

3 Ý nghĩa của nghiên cứu 14

3.1 Ý nghĩa khoa học 14

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 14

4 Câu hỏi nghiên cứu 15

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 15

5.1 Đối tượng nghiên cứu: 15

5.2 Khách thể nghiên cứu 16

6 Phạm vi nghiên cứu 16

7 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu 16

7.1 Mục đích 16

7.2 Nhiệm vụ 16

8 Giả thuyết nghiên cứu 17

9 Phương pháp nghiên cứu 17

9.1 Phương pháp luận 17

9.2 Phương pháp thu thập thông tin 18

NỘI DUNG CHÍNH 20

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 20

1.1 Khái niệm công cụ 20

1.2 Các lý thuyết ứng dụng 23

1.3 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 28

1.4 Đặc điểm và hoạt động của một số quỹ lương hưu dành cho nông dân 29

Trang 2

Chương 2: Lịch sử hình thành và các thể chế của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi

nông dân tại xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội 32

2.1 Sơ lược lịch sử hình thành Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội 32

2.2 Đặc điểm các đối tượng tham gia 34

2.3 Đặc điểm về tổ chức, nhân sự 39

2.4 Đặc điểm tài chính 46

2.5 Đặc điểm về chính sách bảo hiểm và phúc lợi 58

Chương 3: Tác động đối với đời sống của người dân địa phương và tính bền vững của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn 65

3.1.Tác động của quỹ đối với đời sống người dân địa phương 65

3.2 Tính bền vững trong hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội 73

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91

1 Kết luận 91

2 Khuyến nghị 92

2.1 Đới với Ban điều hành quỹ 92

2.2 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 93

2.3 Đối với người dân địa phương 94

2.4 Đối với những địa phương có dự định thành lập quỹ 95

Danh mục tài liệu tham khảo 96

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BHXH: Bảo hiểm xã hội

UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Danh mục các bảng

Bảng 1.1: Cơ cấu mẫu được lựa chọn

Bảng 2.1: Cơ cấu nghề nghiệp của thành viên tham gia quỹ được khảo sát

Bảng 2.2 Trình độ chuyên môn của thành viên điều hành, giám sát quỹ

Bảng 2.3 So sánh nguồn quỹ của các quỹ cộng đồng

Bảng 2.4 Chế độ đóng – hưởng tại một số quỹ lương hưu nông dân

Bảng 3.1: Các nhu cầu của người dân được đáp ứng khi tham gia quỹ

Bảng 3.2: Đánh giá tính ổn định về nguồn thu của quỹ

Bảng 3.3: Các khoản thu của quỹ

Bảng 3.4: Các khoản chi của quỹ

Bảng 3.5: So sánh mức đóng – hưởng của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xãThanh Văn và Bảo hiểm xã hội tự nguyện Việt Nam

Danh mục các hình

Hình 1.1: Các hệ thống có ảnh hưởng đến hoạt động của Quỹ

Hình 1.2: Thang nhu cầu Maslow

Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện cơ cấu thu nhập trung bình của người dân/tháng

Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức của Quỹ bảo hiểm và Phúc lợi nông dân

xã Thanh Văn

Hình 2.3: Mô hình tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Hình 2.3: Sơ đồ thể hiện các khoản chi của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xãThanh Văn

Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện lý do người dân tham gia quỹ

Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện đánh giá của người dân về khó khăn khi tham gia và nhậnchế độ từ quỹ

Trang 5

An sinh xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộngđồng yếu thế hòa nhập và đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội.

Tại Việt Nam, an sinh xã hội có vai trò ngày càng quan trọng và ngày càng được

Đảng, Nhà nước quan tâm Văn kiện Đại hội X của Đảng xác định: “…xây dựng hệ

thống an sinh xã hội đa dạng, phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y

tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân” [2, tr.11]; Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ

6 Khóa X cũng đề cập đến việc từng bước mở rộng và cải thiện hệ thống an sinh xã hội

để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội,nhất là nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo

Trong hệ thống an sinh của mỗi quốc gia, bảo hiểm xã hội đóng vai trò quantrọng, là hệ thống xương sống của toàn thể hệ thống an sinh Nghị quyết số 21-NQ/TWngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công

tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020 ghi rõ: “Bảo hiểm xã hội và

bảo hiểm y tế là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị

- xã hội và phát triển kinh tế - xã hội” [3, tr.2]

Là một nước nông nghiệp, với nông dân chiểm trên 70% dân số và 50% lực lượnglao động, muốn đạt được an sinh cho toàn dân thì cần chú trọng đặc biệt đến an sinh xã

Trang 6

hội cho nông dân Tuy nhiên, ở Việt Nam, hệ thống chính sách an sinh xã hội nóichung và bảo hiểm xã hội nói riêng chưa chú ý đúng mức đến người nông dân LuậtBảo hiểm xã hội Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2006, trong đó đã bước đầu

đề cập đến hệ thống Bảo hiểm xã hội tự nguyện dành cho nông dân (có hiệu lực năm2008) Đó là một dấu hiệu quan trọng, tạo ra hành lang pháp lý để phát triển hệ thốngbảo hiểm xã hội dành cho nông dân nói riêng và đảm bảo an sinh cho người nông dânnói chung Tuy nhiên, qua nhiều năm thực hiện, bảo hiểm xã hội tự nguyên chưa thuhút được sự tham gia của người dân, nhất là nông dân Theo báo cáo của Bảo hiểm xãhội Việt Nam, đến tháng 10 năm 2012, mới có 135 nghìn người tham gia trong số 30triệu đối tượng của loại hình bảo hiểm này trong đó chủ yếu là những người thiếu thờigian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc các cán bộ cấp xã Bảo hiểm xã hội tự nguyệnkhông thu hút được người dân là do mức đóng cao so với thu nhập của người nông dân

và các chế độ hưởng kém hấp dẫn…

Trong khi chính sách của nhà nước tỏ ra kém hiệu quả do thiếu tính sát thực thìcác cơ chế cộng đồng trong việc đảm bảo an sinh lại được phát huy Căn cứ trên nhucầu của người dân về lương hưu để đảm bảo cuộc sống khi về già, nhiều địa phương đãhình thành các loại hình quỹ lương, quỹ bảo hiểm, quỹ phúc lợi Có thể kể đến các Quỹlương hưu tự nguyện ở tỉnh Nghệ An, Quỹ Phúc lợi tại nhiều xã ở tỉnh Bắc Giang, BắcNinh hay Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi ở xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội…Đây là mộttrong những loại hình quỹ cộng đồng tự phát, hoạt động trên cơ sở quản lý của cộngdồng để chi trả lương hưu cho người nông dân khi hết tuổi lao động Nhiều mô hìnhbộc lộ tính thiếu bền vững và đã chuyển đổi, tuy nhiên có những mô hình hoạt động rấthiệu quả, thu hút sự tham gia và đồng tình của người dân Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi

xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội là một ví dụ điển hình

Việc đa dạng hóa các loại hình bảo hiểm, thu hút nông dân và lao động ở khu vựcphi chính thức cũng là một chủ trương lớn của Chính phủ nhằm đảm bảo an sinh xã hộitốt hơn cho người dân Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số

Trang 7

15-NQ/TW ngày 1/6/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI một số vấn

đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 cũng khẳng định chủ trương này:

“Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật bảo hiểm xã hội theo hướng đa dạng hóa các hình

thức bảo hiểm xã hội, mở rộng đối tượng tham gia các loại hình bảo hiểm xã hội, khuyến khích nông dân và người lao động trong khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội”[5, tr.3] Do đó, việc tồn tại và phát triển của các loại hình quỹ cộng đồng

nói riêng và việc xã hội hóa công tác đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trong giaiđoạn hiện nay là vô cùng cần thiết

Nghiên cứu này sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm của loại hình quỹnày trên cơ sở lý thuyết của An sinh xã hội và Công tác xã hội, tìm hiểu các cơ chế về

tổ chức, tài chính và chính sách, các tác động của quỹ đến đời sống người dân, từ đóxác định các ưu và nhược điểm, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động của loạihình quỹ nói riêng và hoạt động bảo hiểm xã hội hướng đến nông dân nói chung.Nghiên cứu cũng hướng đến việc tìm ra những nhân tố cần thiết để có thể xây dựng,phát triển và hoàn thiện hệ thống các loại hình quỹ cộng đồng nhằm đảm bảo an sinh

xã hội cho người lao động ở khu vực phi chính thức nói chung và nông dân nói riêng

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Nghiên cứu nước ngoài

An sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội là những lĩnh vực quan trọngtrong sự phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia Do đó, nghiên cứu về an sinh xã hội,phúc lợi xã hội và bảo hiểm xã hội là rất nhiều:

Neil Gilbert và Paul Terrell (2009): Dimensions in Social Welfare Policy/Khuônkhổ của chính sách phúc lợi xã hội (tái bản lần 7) đã phân tích và đưa ra một công cụkhá hoàn thiện, có chiều sâu và bao hàm nhiều lĩnh vực khi nghiên cứu về chính sáchphúc lợi xã hội Nghiên cứu đưa ra những minh họa thực tế để chứng minh cho cácluận điểm lý thuyết về bảo đảm thu nhập, phúc lợi trẻ em, những thành phố kiểu mẫu,chăm sóc hàng ngày, hành động của cộng đồng và sức khỏe tâm thần Ngoài ra, tác giả

Trang 8

còn nêu ra tổng quan về xu hướng của chính sách phúc lợi xã hội của các bang có hệthống phúc lợi tiến bộ, bao gồm: tính phù hợp, tài chính, phân phối và phân phối lợiích…

Neil Gilbert (1989) trong “Phúc lợi tư bản hiện đại ở Mỹ/The enabling state:Modern welfare capitalism in America”: Sau hơn hai thập niên áp dụng chế độ tàichính và phúc lợi cải tiến ở Hoa Kỳ và một nước công nghiệp dân chủ khác, chế độphúc lợi mới đã vượt xa những hình mẫu truyền thống Lựa chọn mô hình nào là vấn

đề đặt ra Nghiên cứu trên sẽ trình bày chi tiết một tầm nhìn mới về sự chuyển dịch củaphúc lợi xã hội – từ cách thức phân phối đến đối tượng hưởng lợi Nghiên cứu tím hiểu

về lợi ích của các tổ chức tư nhân và hướng tiếp cận theo hướng thị trường trong phânphối nguồn quỹ dự phòng xã hội; kiểm tra cách thức chuyển dịch từ thuế tiêu dung, hỗtrợ tín dụng, các chi phí phát sinh khác sang nguồn quỹ phúc lợi xã hội

Còn Howard Jacob Karger trong “Chính sách phúc lợi xã hội Mỹ/Americansocial welfare policy” (tái bản lần 6, 2009) lại nghiên cứu về chính sách phúc lợi xã hội

Mỹ với cái nhìn đa chiều, gắn phúc lợi xã hội với nhiều vấn đề của xã hội Mỹ nhưcông nghệ, tôn giáo, bất bình đẳng, chính sách thuế và cả những biến đổi xã hội mangtính cập nhật nhất: Bầu cử tổng thống 2008, khủng hoảng kinh tế, sự đóng băng của thịtrường bất động sản…

Về bảo hiểm vi mô, Eloisa A.Barbin, Christopher Lomboy và Elmer S.Sorianotrong nghiên cứu thực tế về bảo hiểm vi mô của Philippines/A Field Study ofMicroinsurance in the Philippines đã đi đánh giá một cách tổng quát về mô hình bảohiểm vi mô mà MFIs( Microfinance Institution in Philippines) đã đang áp dụng cho cácgia đình có thu nhập thấp, trong đó có chú ý đến bảo hiểm từ sự đóng góp tự nguyệntrong cộng đồng nhằm hỗ trợ những người thu nhập thấp, người nghèo trước những rủi

ro về tài chính trong cuộc sống

Trang 9

Trung Quốc, một quốc gia có nhiều nét tương đồng với Việt Nam, cũng có nhiềunghiên cứu về an sinh xã hội, trong đó đặc biệt chú ý đến hệ thống an sinh xã hội nóichung và bảo hiểm xã hội nói riêng dành cho nông dân ở nông thôn

Wang Dewen (2005) trong “Hệ thống an sinh cho người cao tuổi ở đô thị và nôngthôn Trung Quốc: Thách thức và lựa chọn/China’s Urban and Rural Old Age SecuritySystem: Challenges and Options” Nghiên cứu cho thấy lịch sử phát triển và hiện trạngcủa hệ thống an sinh cho người cao tuổi Trung Quốc ở đô thị và nông thôn Nghiên cứucũng nêu lên những thách thức và lựa chọn trong quá trình xây dựng một hệ thống ansinh bền vững dành cho người cao tuổi Hệ thống lương hưu hiện tại mới chỉ có độ phủcao ở đô thị trong khi chưa bao phủ đến nông dân ở nông thôn Kẻ hở của quỹ vànhững tài khoản cá nhân trống rỗng đặt một gánh nặng lên tính bền vững của hệ thốnglương hưu ở đô thị Tuổi trung bình ngày càng cao và thu nhập lại thấp đặt ra thạchthức không nhỏ cho hệ thống hỗ trợ các gia đình dễ tổn thương ở nông thôn Sự táchbiệt giữa hệ thống an sinh cho người cao tuổi ở đô thị và nông thôn còn đặt ra áp lựccho quá trình đô thị hóa và những nông dân mất đất Do đó, cải cách hệ thống an sinh

là yêu cầu cấp thiết đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế

Changyou Zang (2009), “Phương thức bảo hiểm xã hội dành cho nông dân TrungQuốc/Research on Chinese Farmers’ Social Endowment Insurance Mode”: Dựa trên lýthuyết an sinh xã hội, vận vào điều kiện thực tế của Trung Quốc, tác giả cho rằng: Giátrị lao động thực sự phải bao hàm khả năng bảo hiểm cho lao động đó và một phần chocha mẹ của họ Bằng cách này, tác giả hợp nhất hình thức bảo hiểm nhà nước, tập thể,gia đình, cá nhân…thành một phương thức bảo hiểm phức tạp Phương thức này baogồm hệ thống bảo hiểm xã hội của nhà nước và các hệ thống hỗ trợ của gia đình vàcộng đồng Hệ thống bảo hiểm xã hội này bao gồm hưu trí cơ bản, hưu trí xã hội và các

kế hoạch hưu trí mang tính chất gia đình dành cho nông dân Nghiên cứu cũng chỉ racách thức quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội nông thôn và làm rõ những thành phần cơ bảntrong hệ thống bảo hiểm xã hội khá phức tạp dành cho nông dân Trung Quốc này

Trang 10

Zhang Jianwei (2008) trong “Nghiên cứu về an sinh lương hưu/Study on farmer’spension security” lại quan tâm đến hệ thống lương hưu cho người cao tuổi ở nông thônTrung Quốc Theo đó, cuộc sống của những người cao tuổi ở nông thôn Trung Quốcchủ yếu dựa vào hỗ trợ của gia đình, nhưng đang phải đối mặt với nhiều thách thứclớn Nông dân Trung Quốc lại được chia thành nhiều nhóm khác nhau và nghiên cứuchỉ đi sâu vào việc thiết kế hệ thống lương hưu cho những nông dân đích thực Bởi vì,tuy là nông dân nhưng những người làm việc tại các thị trấn, đô thị, trong các doanhnghiệp lại được hưởng các chế độ của hệ thống an sinh xã hội đô thị Nghiên cứuhướng đến thiết lập một hệ thống bao gồm các thiết chế chính thức và không chínhthức có khả năng khích lệ cá nhân, gia đình, chính phủ và các nguồn lực xã hội trongviệc giảm trừ bất ổn kinh tế mà những người nông dân gặp phải khi bước vào giai đoạncao tuổi Trong khi đó, những hỗ trợ của gia đình cho người cao tuổi vẫn được coi là

mô hình mang tính lâu dài và cần được củng cố ở khía cạnh kinh tế và đạo đức

Như vậy, có thể thấy rằng, các nghiên cứu về an sinh xã hội, phúc lợi xã hội vàbảo hiểm xã hội trên thế giới là rất nhiều Tuy nhiên, các nghiên cứu đó chỉ tập trungvào thể chế chính sách, khuôn khổ và mối liên hệ của an sinh xã hội, phúc lợi xã hộicũng như bảo hiểm xã hội với các yếu tố kinh tế - xã hội xung quanh nó Các giải phápmang tính cộng đồng như các loại hình quỹ ở Việt Nam chưa được nghiên cứu

2.2 Các nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, nghiên cứu về an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hộicũng khá nhiều với những cách tiếp cận khác biệt

Về lý luận chung, có thể nhắc đến các đề tài:

Viện Xã hội học: Chính sách xã hội và quản lý xã hội ở cấp cơ sở nông thôn và

đô thị (1983 – 1985); Chính sách xã hội ở Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa(1987 – 1989); Người cao tuổi và hệ thống an sinh xã hội ở miền Bắc Việt Nam(1991) là những đề tài đầu tiên tập trung nghiên cứu về chính sách xã hội ở Việt Nam

và bước đầu chú ý đến an sinh xã hội cho một số đối tượng cụ thể

Trang 11

Tác giả Bùi Thế Cường là một người nghiên cứu khá sớm và đa dạng về cácchính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ở Việt Nam Ông nghiên cứu về an sinh xãhội và phúc lợi xã hội với nhiều góc độ nhìn nhận khác nhau:

Toàn bộ các quan điểm, hệ thống chính sách xã hội nói chung và chính sách ansinh xã hội nói riêng cũng như công tác xã hội đã được tác giả mô tả, phân tích, giảithích khoa học trong “Chính sách xã hội và công tác xã hội ở Việt Nam thập niên 90”.Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu các khía cạnh cơ bản của chính sách xã hội và côngtác xã hội, đồng thời tiến hành nghiên cứu trường hợp về nhiều khía canh khoa họckhác nhau của chính sách xã hội và công tác xã hội: lý luận xã hội, lý luận về an sinh

xã hội; người cao tuổi và hệ thống an sinh xã hội; tệ nạn xã hội, xã hội học và công tác

xã hội; chính sách tiền lương, các tổ chức bảo đảm xã hội ở nông thôn trong Đổi mới;phúc lợi doanh nghiệp; chính sách với đồng bào dân tộc thiểu số…Có thể thấy, đây làmột nghiên cứu khá bài bản và được thực hiện từ rất sớm về một lĩnh vực khá mới lạ ởViệt Nam lúc bấy giờ là chính sách xã hội và công tác xã hội.1

Là một đề tài nhánh nằm trong đề tài cấp Viện Xã hội học “Báo cáo xã hội năm2000”, đề tài “Hệ thống phúc lợi xã hội và tình hình phúc lợi xã hội năm 2000” củanhóm tác giả Viện Xã hội học do tác giả Bùi Thế Cường làm chủ nhiệm đã phân tích

và làm rõ bối cảnh xã hội cũng như các chính sách phúc lợi xã hội cụ thể: ưu đãi xãhội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cứu trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khókhăn, người tàn tật, già hóa dân số, thiên tai…

Nhóm tác giả Viện Xã hội học do Bùi Thế Cường làm chủ nhiệm đề tài cũng cómột hướng tiếp cận khá độc đáo về phúc lợi xã hội Đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh vềphúc lợi xã hội (năm 2001)” tập trung đi sâu phân tích và so sánh giữa mô hình phúclợi thực dân, tổ chức phúc lợi với tư tưởng của Hồ Chí Minh về phúc lợi; lại tiếp tụcphân tích và so sánh sự biến chuyển trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phúc lợi xã hội ở

1 Năm 2010, Công tác xã hội mới được coi là một nghề khi Thủ tướng phê duyệt “Đề án phát triển nghề công tác

xã hội giai đoạn 2010-2020”.

Trang 12

các thời kỳ cách mạng khác nhau: thời kỳ cách mạng tháng tám và kháng chiến chốngPháp, thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa (1954-1969)

Đề tài Hệ thống phúc lợi thời kỳ đổi mới (2001-2003) của Viện Xã hội học, ViệnKhoa học Xã hội Việt Nam lại tập trung đi sâu phân tích hệ thống phúc lợi trong thời

Nhắc tới lý luận chung về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cũng không thể không

kể đến hai giáo trình phổ biến hiện nay Giáo trình “An sinh xã hội” (NXB Đại họckinh tế quốc dân, 2008) của tác giả Nguyễn Văn Định đã trình bày một cách tổng quát

về an sinh xã hội Từ vai trò, bản chất, chức năng, các chính sách cụ thể ở Việt Nam,một số kinh nghiệm về an sinh xã hội ở một số nước tiêu biểu như Đức, Mỹ, TrungQuốc, Nhật Bản và công tác quản lý nhà nước về an sinh xã hội…Đây là một côngtrình được viết thiên về kinh tế, do đó, đôi khi nhấn mạnh tính tài chính mà không tậptrung vào những đặc điểm đặc thù và mục tiêu cơ bản của hệ thống an sinh xã hội làđảm bảo an sinh cho người dân

Trong giáo trình “Nhập môn an sinh xã hội” (NXB Lao động Xã hội, 2008), Tácgiả Nguyễn Hải Hữu cũng phân tích về khái niệm, các cách hiểu khác nhau, các tranhluận về khái niệm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và các lĩnh vực liên quan Tác giảcũng đi sâu vào phân tích vai trò, bản chất, chức năng cũng như các chính sách cụ thể,các thể chế tài chính, chính sách, cán bộ trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam Vớikinh nghiệm của một nhà quản lý nhiều năm trong ngành lao động, tác giả đã khái quát

Trang 13

được khá đầy đủ những kiến thức cơ bản nhất, được chấp nhận một cách chính thốngnhất về an sinh xã hội, phúc lợi xã hôi, bảo hiểm xã hội Tác giả cũng nhấn mạnh đượcđến tính đặc thù và mục tiêu của an sinh xã hội.

Viện Khoa học Lao động (2010) “Quan điểm và định hướng về chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong Chiến lược KTXH giai đoạn 2011-2020” thông qua nghiên cứu thực trạng hệ thống an sinh xã hôi lại đưa ra 6 kiến nghị để định

hướng sự phát triển của các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội trong thời kỳmới

Tác giả Đàm Hữu Đắc (2010) trong đề tài: Nghiên cứu chính sách phúc lợi xã hội

và phát triển dịch vụ xã hội chăm sóc người cao tuổi trong kinh tế thị trường địnhhướng XHCN và hội nhập”, mã số: ĐTĐL.2007G/51 đã tập trung nghiên cứu toàn diện

về lý luận và thực tiễn của hệ thống chính sách phúc lợi xã hội và dịch vụ xã hội chămsóc người cao tuổi Việt Nam Nghiên cứu còn tìm hiểu những kinh nghiệm quốc tế để

từ đó đề xuất định hướng phát triển hệ thống chính sách phúc lợi xã hội và dịch vụ xãhội cơ bản chăm sóc người cao tuổi hiện đại phù hợp với bối cảnh xây dựng nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa qua từng giai đoạn

Đề tài “Chiến lược an sinh xã hội thời kỳ 2011-2020” của Viện Khoa học Laođộng đã tổng kết kết quả thực hiện chính sách an sinh xã hội thời kỳ 2001-2010 và đề

ra chiến lược an sinh mang tầm quốc gia giai đoạn 2011-2020 Thông qua phân tíchđịnh hướng của Đảng và Nhà nước về chính sách an sinh xã hội cũng như các hệ thốngchính sách về thị trường lao động chủ động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cácchương trình giảm nghèo…nghiên cứu đề ra những chỉ tiêu mang tính chiến lược choviệc phát triển và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội nói chung và mỗi lĩnh vực chínhsách cụ thể nói riêng

Trên cơ sở tổng kết, đánh giá hệ thống an sinh xã hội ở vùng nông thôn cũng như

xu hướng phát triển kinh tế xã hội, đề tài: “Hệ thống An sinh xã hội với dân cư nôngthôn giai đoạn 2011-2020” trên cơ sở tổng kết, đánh giá hệ thống an sinh xã hội ở

Trang 14

vùng nông thôn cũng như xu hướng phát triển kinh tế xã hội để đưa ra các giải phápmang tính định hướng trong việc hoạch định chính sách an sinh xã hội tại nông thôntrong thời kỳ mới.

Một đề tài nghiên cứu khá toàn diện về hệ thống an sinh và phúc lợi xã hội ViệtNam cũng như đề ra các kiến nghị để định hướng hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội vàPhúc lợi xã hội giai đoạn 2015 – 2020 cũng đang được Khoa Xã hội học, trường Đạihọc Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội Đề tài nằm trong chương trìnhkhoa học lý luận trọng điểm do đó mang tính khái quát và cập nhật cao Thông quanghiên cứu đời sống, nghiên cứu hiệu quả của các chính sách về lao động – việc làm,bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, ưu đãi và trợ giúp xã hội, đề tài sẽ cung cấp bức tranhtoàn cảnh về thực trạng các chính sách an sinh xã hội nói chung và các chính sách cụthể trong từng lĩnh vực nói riêng Đồng thời, thông qua phân tích mô hình của các nướctrên thế giới, thông qua những thông tin thực tế tại Việt Nam, đề tài hướng đến việcđịnh hướng để hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội trong tương lai cóthể phục vụ tốt hơn, đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu của mỗi người dân nói riêng và xã hộiViệt Nam trong thời kỳ mới nói chung

Là một quốc gia đi sau thế giới rất nhiều trong việc xây dựng hệ thống an sinh xãhội, phúc lợi xã hội, do đó, các kinh nghiệm quốc tế từ cách hiểu về an sinh xã hội,phúc lợi xã hội đến cách thức tổ chức, cách thức xây dựng hệ thống là vô cùng hữu íchcho việc hiểu, nghiên cứu, xây dựng hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội ở ViệtNam Do đó, có rất nhiều nghiên cứu tập trung vào mảng này

Tác giả Đinh Công Tuấn (2008) trong “Hệ thống an sinh xã hội của EU và bàihọc kinh nghiệm cho Việt Nam” đã trình bày, phân tích về quan điểm, lịch sử hìnhthành, cách thức tổ chức và các chính sách an sinh xã hội cụ thể của các nước EU.Trong các hệ thống an sinh xã hội của EU, tác giả lại đi sâu vào phân tích mô hình củamột số quốc gia điển hình như Đức, Thụy Điển, Pháp, Anh…Thông qua việc so sánh,phân tích với tình hình thực tế của hệ thống an sinh xã hội Việt Nam, tác giả đưa ra

Trang 15

những bài học kinh nghiệm từ việc tìm hiểu, phân tích sự thành công hay thất bại củacác nước EU để áp dụng vào điều kiện thực tế Việt Nam sao cho đem lại hiệu quả caonhất.

Cũng phân tích các bài học kinh nghiệm của các nước đối với Việt Nam, Tác giảTrần Hoàng Hải và Lê Thị Thúy Hương (2011) lại tiếp cận dưới góc độ pháp luật về ansinh xã hội “Pháp luật an sinh xã hội kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam”

là một công trình khoa học công phu khi nghiên cứu, phân tích hệ thống pháp luật ansinh xã hội ở một số nước tiêu biểu như Đức, Mỹ, Nga; đồng thời tác giả cũng phântích những quan điểm, nội dung và nguyên tắc cơ bản của hệ thống Pháp luật ViệtNam Trên cơ sở sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh trong lĩnh vực Luật học, tácgiả đã đưa ra những nhận định, phân tích và đánh giá về ưu điểm và nhược điểm,những bất cập trong hệ thống pháp luật về an sinh xã hội hiện nay, từ đó đưa ra cáckiến nghị để phát triển hệ thống an sinh xã hội về mặt pháp luật, chính sách một cáchtoàn diện hơn, hoàn thiện hơn

Các nghiên cứu về việc tiếp cận hệ thống an sinh của các đối tượng cụ thể trong

xã hội cũng là một mảng quan trọng trong các nghiên cứu về an sinh xã hội và phúc lợi

xã hội:

Viện Khoa học Lao động (2010) với đề tài: “Nghiên cứu khả năng tiếp cận hệthống an sinh xã hội của khu vực không chính thức” Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứuđến khả năng tiếp cận chính sách việc làm, chính sách dạy nghề và chính sách bảohiểm xã hội của khu vực phi chính thức, từ đó đưa ra các giải pháp trên cơ sở học tậpnhững kinh nghiệm quốc tế

Cũng là khả năng tiếp cận của khu vực không chính thức, Hoàng Bá Thịnh (2011)trong nghiên cứu “Lao động nữ di cư làm việc ở khu vực phi chính thức và mức độ tiếpcận an sinh xã hội” lại đi sâu vào nghiên cứu lao động phụ nữ di cư, nghiên cứu chỉ ranhững khó khăn, rào cản của lao động nữ di cư trong khu vực phi chính thức trong việc

Trang 16

tiếp cận an sinh xã hội của nhóm này tại các khía cạnh cụ thể: chính sách bảo hiểm xãhội, bảo hiểm y tế; dịch vụ giáo dục và y tế,…

Nghiên cứu “Cơ chế bảo trợ xã hội đối với sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ ởViệt Nam” do Oxfam và Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) phốihợp (2011) Thông qua khảo sát 580 hộ nông dân ở Hà Tĩnh và Vĩnh Long, nghiên cứuchỉ ra rằng: nguy cơ tổn thương của người nông dân, gồm những tác động từ bên ngoàinhư biến động kinh tế vĩ mô, thiên tai, lũ lụt và những nguyên nhân khác như tiếp cậnvốn, vấn đề sức khỏe của người nông dân…Trong khi đó, bảo hiểm xã hội lại chưa hềphát huy được vai trò trong việc bảo vệ người dân trước những rủi ro Bảo hiểm xã hội

có tỷ lệ tham gia thấp (20%), Bảo hiểm y tế có 57,4% dân số tham gia…Nghiên cứukhuyến nghị về việc tăng cường sự tham gia các loại hình bảo hiểm của người dân, qua

đó tăng năng lực ứng phó với các rủi ro

Là xương sống và lưới đầu tiên trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam, bảo hiểm

xã hội cũng là một nội dung quan trọng được nhiều cơ quan, tổ chức đặc biệt là tronglĩnh vực hoạch định chính sách

Báo cáo “Dự báo cân đối Quỹ Bảo hiểm xã hội và các khuyến nghị pháp lý” doILO thực hiện tại Việt Nam là một báo cáo nhấn mạnh đến sự bền vững về khía cạnhtài chính của Quỹ bảo hiểm xã hội Theo nghiên cứu này, hiện nay, chính sách bảohiểm xã hội đã bao phủ khoảng 20% lực lượng lao động ở Việt Nam Nghiên cứu cũngchỉ ra những rủi ro của Quỹ Bảo hiểm xã hội Việt Nam: tuổi nghỉ hưu sớm trong khiViệt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa, chế độ chi trả hào phóng, chỉ có 47%doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động (năm 2010) Nghiên cứu cũng

dự báo rằng, nếu không thay đổi chính sách, đến năm 2021, Quỹ Bảo hiểm xã hộisẽ bắtđầu thâm hụt và cạn kiệt vào năm 2034 Từ đó, nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp:tăng tuổi về hưu, tính lại công thức đóng và hưởng, thay đổi cách thức đầu tư sinh lờicủa nguồn quỹ, tăng cường việc tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động có đủđiều kiện…

Trang 17

Liên quan trực tiếp đến đề tài về loại hình các quỹ cộng đồng: Về loại hình bảohiểm xã hội nông dân có nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động, Bộ Lao độngThương binh và Xã hội (2007) Trong báo cáo “Kết quả nghiên cứu và đề xuất giảipháp chuyển đổi bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An sang bảo hiểm xã hội tự nguyện”

đã nghiên cứu về các đặc điểm của loại hình bảo hiểm xã hội nông dân, trong đó tậptrung nghiên cứu về tính bền vững tài chính và cách thức chuyển đổi sang bảo hiểm xãhội tự nguyện Sau nghiên cứu này, bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An đã đượcchuyển đổi sang bảo hiểm tự nguyện, tuy nhiên, số lượng chuyển đổi ít và không thực

sự phù hợp với nhu cầu của người dân

Ngoài ra còn phải kể đến một nghiên cứu rất toàn diện về loại hình quỹ này củaP.Castel (2007), Nghe An Voluntary Pension Fund: Transition to the nation schemepolicy Option Nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển, thểché tài chính của loại hình quỹ này và đưa ra các lựa chọn cùng với bình luận về ưu vànhược điểm cũng như những gói giải pháp đi kèm

Về Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho nông dân xã Thanh Văn, cũng có rấtnhiều bài viết được đăng trên các tạp chí, các báo Tuy nhiên, các bài báo mới chỉmang tính báo chí, giới thiệu mô hình mà chưa có tìm hiểu sâu sắc, mang tính khoa học

về Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội

Như vậy, có thể thấy có rất nhiều các nghiên cứu trong và ngoài nước về an sinh

xã hội, phúc lợi xã hội cũng như các cơ chế cộng đồng trong hệ thống an sinh Ngay cảnghiên cứu về loại hình quỹ lương hưu tự nguyện cũng đã có Tuy nhiên, nghiên cứunày lại có hướng tiếp cận khác biệt Nghiên cứu sẽ vận dụng các kiến thức của an sinh

xã hội và công tác xã hội; tiếp cận từ nhu cầu của người dân Nghiên cứu không chỉ tậptrung vào tính bền vững về tài chính của quỹ như các nghiên cứu trên mà còn đánh giátính bền vững đó qua cơ sở pháp lý, qua tác động xã hội của quỹ, qua nhu cầu củangười dân, qua độ phù hợp với tình hình thực tế của địa phương để từ đó đưa ra những

Trang 18

lựa chọn và những giải pháp sát thực để đảm bảo tốt hơn việc thực hiện bảo xã hội chonông dân, hướng đến an sinh toàn dân.

3 Ý nghĩa của nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết và quan điểm khoa học về an sinh xã hội và côngtác xã hội vào nghiên cứu một loại hình quỹ bảo hiểm và phúc lợi xã hội dành chonông dân Thông qua nghiên cứu, các lý thuyết, quan điểm về an sinh xã hội, bảo hiểm

xã hội và công tác xã hội sẽ được vận dụng trong điều kiện thực tế ở Việt Nam

Nghiên cứu cũng sẽ khẳng định vai trò của các cơ chế cộng đồng trong việc đảmbảo an sinh cho người nông dân Nghiên cứu đi sâu vào phân tích hoạt động của Quỹdưới góc nhìn khoa học để cung cấp những tài liệu mang tính khoa học về một loạihình quỹ cộng đồng vốn đã và đang tồn tại trong hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xãhội tại Việt Nam Về cụ thể, nghiên cứu sẽ tìm hiểu so sánh về thể chế tổ chức, thể chếtài chính và thể chế chính sách của loại hình quỹ này với các loại hình bảo hiểm chínhthống của Nhà nước hiện nay để tìm ra sự giống và khác nhau

Thông qua thực tế hoạt động của quỹ, nghiên cứu sẽ làm rõ hơn các giải pháp đểnâng cao hiệu quả trong việc phát huy các cơ chế cộng đồng trong việc đảm bảo ansinh cho người nông dân nói riêng và người dân nói chung, từ đó đóng góp các ý tưởngvào việc định hướng và hoàn thiện các cơ chế đảm bảo an sinh xã hội cho người nôngdân nói riêng và các tầng lớp xã hội nói chung

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu đánh giá ưu và nhược điểm của loại hình quỹ bảo hiểm và phúc lợidành cho nông dân đang tồn tại trong thực tế Qua đó đề xuất những giải pháp phù hợp

để nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình quỹ tự nguyện này

Đồng thời, nghiên cứu sẽ cung cấp một cách tiếp cận mới khi nghiên cứu về cácloại hình quỹ bảo hiểm, phúc lợi: Tiếp cận dưới góc độ công tác xã hội, nhấn mạnh đếnnhu cầu của đối tượng thụ hưởng Đây là hướng tiếp cận liên ngành Bởi có nhiều loại

Trang 19

hình quỹ, khi tiếp cận dưới góc độ an sinh xã hội hay bảo hiểm xã hội, nó không cótính bền vững cao về mặt khoa học, nhưng lại phù hợp với nhu cầu của người dân vàvẫn thể hiện tính bền vững của mình về mặt tài chính, chính sách qua các năm Do đó,khi nghiên cứu các lĩnh vực liên quan đến an sinh xã hội, các loại hình bảo hiểm cầnhết sức chú ý đến tác động xã hội cũng như nhu cầu của đối tượng thụ hưởng Ngoài sựbền vững về tài chính, mức độ hài lòng và tin tưởng của người dân sẽ mang tính quyếtđịnh sự tồn tại và bền vững của của các loại hình quỹ lương hưu nói riêng và các quỹtrong an sinh xã hội nói chung.

Ngoài ra, nghiên cứu sẽ góp phần vào xây dựng một hệ thống bảo hiểm xã hộiphù hợp, bền vững dành cho nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội nóiriêng và nông dân ở nhiều địa phương khác trong cả nước bằng việc khắc phục cácnhược điểm, phát huy các ưu điểm đã và đang tồn tại Thông qua nghiên cứu, các ưuđiểm và nhược điểm của quỹ sẽ được đánh giá một cách toàn diện, từ đó, nghiên cứu sẽtổng kết ra những điểm chung nhất và cần thiết nhất trong việc xây dựng các quỹ cótính cộng đồng tương tự

4 Câu hỏi nghiên cứu

Lịch sử ra đời và hoạt động của loại hình Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành chonông dân tại xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội được thực hiện như thế nào?

Tác động của quỹ đối với đời sống của người dân được thể hiện như thế nào?Tính bền vững của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho nông dân xã ThanhVăn, Thanh Oai, Hà Nội được thể hiện như thế nào?

Có nên duy trì hoạt động của các loại hình quỹ tự nguyện trong hệ thống bảohiểm xã hội dành cho nông dân hay không?

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu:

Hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân tại xã Thanh Văn, huyệnThanh Oai, Hà Nội

Trang 20

5.2 Khách thể nghiên cứu

Người dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội

6 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 3/2013 đến tháng 6/2013

Không gian: Xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội

Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung nghiên cứu hoạt động của loại hìnhquỹ bảo hiểm và phúc lợi dành cho nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội.Qua đó so sánh các thể chế của quỹ với các loại hình quỹ cộng đồng khác cũng nhưbảo hiểm xã hội của nhà nước Nghiên cứu cũng tập trung đánh giá các tác động củaquỹ đối với đời sống của người dân địa phương Ngoài ra, nghiên cứu đánh giá tínhbền vững trong hoạt động của quỹ trên các tiêu chí: tính pháp lý, độ phù hợp với nhucầu của người dân, tính bền vững về tài chính…Từ đó đưa ra các đề xuất có tính thựctiễn về việc duy trì loại hình quỹ cộng đồng trong hệ thống các cơ chế đảm bảo an sinh

xã hội cho người dân ở khu vực phi chính thức; đưa ra các giải pháp hoàn thiện, nângcao hiệu quả hoạt động của loại hình quỹ cộng đồng tại Thanh Văn nói riêng và hướngđến việc hoàn thiện một hệ thống bảo hiểm xã hội phù hợp, sát thực, có khả năng thuhút người dân tham gia, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho nông dân

7 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu

7.1 Mục đích

Nghiên cứu tập trung phân tích hoạt động của loại hình quỹ bảo hiểm và phúclợi tại xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội Đồng thời, đánh giá tác động xã hội,đánh giá tính bền vững của mô hình Từ đó, đề ra các giải pháp hoàn thiện, nâng caohiệu quả hoạt động của loại hình quỹ cộng đồng trong việc đảm bảo an sinh cho ngườinông dân nói riêng và người dân nông thôn nói chung

7.2 Nhiệm vụ

Mô tả đặc điểm của loại hình quỹ ở các khía cạnh: hoạt động, đặc điểm tàichính, đặc điểm tổ chức, đặc điểm chính sách…

Trang 21

Tìm hiểu, đánh giá tác động của quỹ đối với đời sống của người dân địa phươngĐánh giá tính bền vững của quỹ trên các tiêu chí: bền vững về tài chính, tínhpháp lý, độ phù hợp với nhu cầu của người dân.

Đưa ra các đề xuất phù hợp để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ

8 Giả thuyết nghiên cứu

Loại hình Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội

có các đặc điểm hoạt động giống với bảo hiểm xã hội Việt Nam

Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn có tác động tích cực đối với đời sốngcủa người dân địa phương

Cần thiết phải duy trì và phát triển hệ thống Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành chonông dân trong công tác đảm bảo an sinh cho người dân nông thôn

Chính quyền địa phương có vai trò quan trọng trong việc thành lập và phát triểnloại hình quỹ cộng đồng này

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Phương pháp luận

Mọi công trình khoa học đều không thể thiếu nền tảng phương pháp luận vàphương pháp nghiên cứu Phương pháp luận cho biết cách thức tiếp cận một vấn đề xãhội cụ thể Phương pháp luận định hướng cho nghiên cứu, quyết định hướng tiếp cậnvấn đề của nghiên cứu Vì thế nó có vai trò quan trọng, quyết định sự thành công củamột nghiên cứu khoa học Luận văn này dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làphương pháp luận để lý giải các hiện tượng, các vấn đề xã hội Quan điểm của chủnghĩa duy vật biện chứng cho rằng, tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới kháchquan không tồn tại riêng rẽ, tách rời mà có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau Điều

đó đòi hỏi, khi nghiên cứu về loại hình quỹ bảo hiểm phúc lợi dành cho nông dânkhông được xem xét nó một cách riêng lẻ, tách biệt với những mối liên hệ của nó trong

Trang 22

xã hội Khi phân tích hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, ThanhOai, cần đặt các hoạt động của nó trong mối liên hệ với tình hình kinh tế - xã hội địaphương, đời sống người dân, các luật pháp, chính sách quy định về an sinh xã hội nóichung và hoạt động của các loại hình quỹ cộng đồng nói riêng Sự tồn tại và phát triểncủa Quỹ sẽ kết quả của sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố.

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử xem xét các sự vật, hiện tượng trong

xã hội với cái nhìn mang tính lịch sử của nó Việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt độngcủa loại hình quỹ bảo hiểm và phúc lợi cũng phải đặt trong các bối cảnh kinh tế, vănhóa, xã hội mà nó tồn tại; đồng thời cần nghiên cứu kỹ lưỡng sự biến chuyển trong cáchoạt động của quỹ theo thời gian

9.2 Phương pháp thu thập thông tin

9.2.1. Trưng cầu ý kiến

Nghiên cứu tiến hành trưng cầu ý kiến của người dân tham gia quỹ

Dung lượng mẫu: 155

Cách thức lựa chọn mẫu: Ngẫu nhiên nhưng đảm bảo cân bằng về số lượngngười được nhận và chưa được nhận lương, giữa nam và nữ

Cơ cấu mẫu: Trong 155 mẫu được lựa chọn, có 80 người trên 60 tuổi (52,1%)người đã được nhận lương; có 74 người (47.7%) là nữ

Bảng 1.1: Cơ cấu mẫu được lựa chọn

Trang 23

9.2.2. Phỏng vấn sâu

Mục đích phỏng vấn sâu là để thu thập các thông tin chính xác, cụ thể, có tínhchiều sâu Để có những thông tin cụ thể, chính xác làm căn cứ phân tích hoạt động củaQuỹ Bảo hiểm và Phúc lợi tại xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội

Số lượng phỏng vấn sâu 25 Trong đó:

15 nông dân tham gia quỹ

05 người dân không tham gia quỹ

02 cán bộ quản lý quỹ

02 đại diện chính quyền

01 chuyên gia về bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội ;

9.2.3. Phân tích tài liệu:

Nghiên cứu cũng thu thập và phân tích các tài liệu về lịch sử hình thành và pháttriển quỹ; cơ chế thu chi, các báo cáo hàng năm của quỹ cũng như các bài báo, các tàiliệu có thông tin về lịch sử hình thành, hoạt động, tác động của Quỹ Bảo hiểm và Phúclợi nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội với đời sống người tham gia

Trang 24

NỘI DUNG CHÍNH

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

1.1 Khái niệm công cụ

1.1.1 Quỹ cộng đồng (Mô hình bảo hiểm dựa vào cộng đồng)

“Là hình thức bảo hiểm vi mô do cộng đồng, tổ chức phi chính phủ (tự nguyện vàphi lợi nhuận) cung cấp dịch vụ cho các hộ gia đình với mục đích phòng ngừa, giảmthiểu và khắc phục rủi ro

Mô hình này được hoạt động theo cơ chế chia sẻ rủi ro, tập trung quyền lực củanhững nhóm có cùng đặc trưng, lợi ích Mô hình này được tổ chức và quản lý ở cộngđồng và mang tính tự nguyện Các thành viên tham gia đồng thời là chủ sở hữu vàngười hưởng lợi” [23, tr.45]

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa trên của Viện Khoa học Laođộng xã hội và Giz trong cuốn Thuật ngữ an sinh xã hội về quỹ cộng đồng Các đặcđiểm, tính chất của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn, huyện ThanhOai, Hà Nội nằm trong đặc điểm, tính chất của loại hình quỹ cộng đồng (mô hình bảohiểm dựa vào cộng đồng nêu trên)

1.1.2 An sinh xã hội

Thuật ngữ này được sử dụng đầu tiên tại Mỹ (Luật An sinh xã hội – 1935) chỉ

sự bảo vệ trong bốn trường hợp: Già cả, chết, tàn tật và thất nghiệp Năm 1938, thuậtngữ an sinh xã hội được sử dụng làm tên gọi cho đạo luật quy định về các chế độ trợcấp xã hội đang áp dụng tại New Zealand Năm 1952, Hội nghị toàn thể của Tổ chứcLao động Quốc tế (ILO) đã thông qua công ước 102 về an sinh xã hội Ở Việt Nam, ansinh xã hội được sử dụng lần đầu tiên tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về an sinh xã hội Cho đến nay, do sự phứctạp và đa dạng của an sinh xã hội nên tồn tại nhiều nhận thức khác nhau về lĩnh vựcnày An sinh xã hội cũng có những khác biệt giữa các quốc gia

Trang 25

Có nguồn gốc từ tiếng Anh, Social security nhưng khi dịch sang tiếng Việt,ngoài an sinh xã hội, nó còn được dịch là bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội, an toàn xãhội…với những ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau Theo nghĩa chung nhất, Socialsecuriry là sự đảm bảo thực hiện các quyền con người được sống hòa bình, tự do làm

ăn, cư trú, di chuyển, tự do ngôn luận trong khuôn khổ của pháp luật; được bảo vệ,bình đẳng trước pháp luật; được học tập, có việc làm, nhà ở; được đảm bảo thu nhập đểthỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già…Điều nàycũng được thể hiện qua một số định nghĩa:

Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới: “An sinh xã hội là những biện phápcông cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềmchế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và nhữngbấp bênh về thu nhập”

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO - 1984): “An sinh xã hội là sự bảo vệ mà xãhội cung cấp cho thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộngrãi để đương đầu với những khó khăn, những cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặcsuy giảm nghiêm trọng hoặc tử vong An sinh xã hội cung cấp chăm sóc y tế và trợgiúp cho các gia đình có nạn nhân là trẻ em” [10, tr.11] Định nghĩa này nhấn mạnhkhía cạnh bảo hiểm xã hội và mở rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu vựckinh tế không chính thức

Theo tác giả Hoàng Chí Bảo trong đề tài KX02.02/06-10: “An sinh xã hội là

sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và độnglực cho sự phát triển con người và xã hội An sinh xã hội là những bảo đảm xã hộicho con người tồn tại như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người,tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thểmang nhân cách

An sinh xã hội bao hàm trong nó cả những đảm bảo về an ninh để con ngườisống, làm việc, thực hiện được nhu cầu, lợi ích chính đáng, hợp lý của mình trong

Trang 26

quá trình phát triển; con người nhận được từ xã hội những đảm bảo về cuộc sống,những bảo vệ trước những rủi ro, bất trắc, những tình huống bất thường đe dọa hoặcphá hủy trạng thái bình yên, quyền sống và sự thụ hưởng lợi ích của họ”

Trong “Thuật ngữ an sinh xã hội” của Viện Khoa học Lao động Xã hội (BộLao động Thương binh và Xã hội) và GIZ thì an sinh xã hội được định nghĩa như sau:

“An sinh xã hội là hệ thống các chính sách can thiệp của nhà nước (bảo hiểm xã hội

và trợ giúp xã hội) và tư nhân (các chế độ không theo luật định và của tư nhân) nhằmgiảm mức độ đói nghèo và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và

xã hội trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định,phát triển và công bằng xã hội” [23, tr.10]

Như vậy, có thể thấy có rất nhiều cách nhìn nhận khác nhau về an sinh xã hội.Điều này không chỉ gây ra tranh cãi ở Việt Nam mà còn là vấn đề của nhiều quốc gia.Tuy nhiên, trong giới hạn của nghiên cứu này, tác giả chú trọng sử dụng định nghĩacủa tổ chức Viện Khoa học Lao động Xã hội và GIZ (2011), vì định nghĩa này nhấnmạnh đến vai trò của cộng đồng nói chung và tư nhân nói riêng, với các chế độ khôngtheo luật định Định nghĩa này công nhận sự tồn tại của các quỹ cộng đồng là mộtdạng thức nhỏ nằm trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam

1.1.3 Phúc lợi xã hội

Cũng giống an sinh xã hội, cũng có rất nhiều khái niệm và nhận thức nhau vềphúc lợi xã hội Thậm chí mối quan hệ giữa phúc lợi xã hội và an sinh xã hội cũng có

sự khác biệt ở mỗi trường phái, mỗi quốc gia

Theo “Thuật ngữ an sinh xã hội” của ILLSA và GIZ (2011): “Phúc lợi là hoạtđộng của người dân, cộng đồng và tổ chức trong xã hội nhằm đảm bảo mức sống tốithiều và các điều kiện sống nhất định” [23, tr 53 – 54]

Trong nghiên cứu này, phúc lợi xã hội được coi là bộ phận thu nhập được phânphối lại để thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần cho người dân Người dân có thểnhận được các loại hỗ trợ về y tế, nghỉ dưỡng, học tập…mà không phải trả tiền

Trang 27

1.1.4 Bảo hiểm xã hội

Theo Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH (2006): “Bảo hiểm xã hội là sự bảođảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặcmất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hếttuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” [18, tr.2]

“Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động vàngười sử dụng lao động phải tham gia” [18, tr.2]

“Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tựnguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhậpcủa mình để hưởng bảo hiểm xã hội”.[18, tr.2]

1.2 Các lý thuyết ứng dụng

1.2.1 Lý thuyết hệ thống

Lý thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng nhất trong công tác

xã hội Khởi nguồn từ lý thuyết tổng quát của Bertalaffy cho rằng mọi tổ chức hữu cơđều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và bản thân các hệ thống nàycũng là một phần của các hệ thống lớn hơn Lý thuyết hệ thống được Pincus vàMinahan và các đồng sự áp dụng vào thực tiễn công tác xã hội và nó được phát triển vàhoàn thiện trong công tác thực hành công tác xã hội bởi Germain và Giterman2

Trong công tác xã hội, hai loại thuyết hệ thống nổi bật và quan trọng nhất làthuyết hệ thống tổng quát và thuyết hệ thống sinh thái Nghiên cứu này sử dụng thuyết

hệ thống sinh thái mà đại diện của nó là Hearn, Siporin, Germain và Gitterman Thuyết

hệ thống sinh thái nhấn mạnh đến sự tương tác của con người vào môi trường sinh thái

mà mình sinh sống Sự can thiệp vào một điểm bất kì trong hệ thống sẽ tạo ra sự thayđổi của cả hệ thống

Theo định nghĩa của “Lý thuyết công tác xã hội hiện đại”:

2 Malcolm Payne (1997 – Trần Văn Kham dịch), Modern Social Theories, Lyceum Books INC, USA

Trang 28

“Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ vớinhau để hoạt đông thống nhất.” Theo lý thuyết này, con người phụ thuộc vào những hệthống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ Công tác xã hội chú ý đến 3 hệ thống:(1) Các hệ thống thân tình hay tự nhiên như gia đình, bạn bè, người thân hay đồngnghiệp; (2) Các hệ thống chính thức như cá nhóm bạn bè, đồng nghiệp, hay các tổ chứccông đoàn; (3) Các hệ thống tập trung như của các tổ chức xã hội như bệnh viện,trường học…

Các hệ thống luôn có sự tác động lên cá nhân Có thể đó là sự tác động tiêu cựchoặc tích cực Bên cạnh đó không phải tất cả mọi cá nhân đều có khả năng tiếp cận sự

hỗ trợ như nhau về nguồn lực có từ các hệ thống tồn tại xung quanh Như vậy mỗi cánhân chịu sự tác động khác nhau từ các hệ thống mà họ tồn tại Các nhóm đối tượngyếu thế chịu sự tác động của nhiều hệ thống và mỗi cá nhân, mỗi nhóm đặc thù lại cókhả năng tiếp cận khác nhau Nghiên cứu sẽ đi sâu phân tích sự tương tác giữa nhữngngười tham gia quỹ, giữa người tham gia quỹ với cán bộ điều hành và kiểm soát quỹcác đối tượng yếu thế với nhau, đồng thời cũng nghiên cứu khả năng tiếp cận quỹ củacác đối tượng yếu thế, một trọng tâm của công tác xã hội…Từ đó sẽ khái quát được sựtương tác của cả hệ thống lớn là Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, Thanh Oai,

Hà Nội Sự tương tác đó sẽ phản ánh được tổ chức và hoạt động của quỹ trong việc trợgiúp và đảm bảo an sinh xã hội cho người yếu thế nói riêng và nông dân Thanh Văn,Thanh Oai, Hà Nội nói chung

Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai,

Hà Nội cũng là một tiểu hệ thống trong hệ thống lớn hơn là hệ thống an sinh xã hộiViệt Nam Do đó, tổ chức và hoạt động của quỹ cũng chịu ảnh hưởng chi phối củachính sách tổ chức và hoạt động của cả hệ thống pháp luật, chính sách an sinh xã hộinói chung và bảo hiểm xã hội Việt Nam nói riêng… Không những thế, hoạt động cuảquỹ cũng nằm trong mối liên hệ với các hệ thống xã hội khác, có mối quan hệ gắn bóvới nhiều tổ chức khác…Do đó, nghiên cứu cũng tập trung vào nghiên cứu mối liên hệ,

Trang 29

sự tác động giữa Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho nông dân xã Thanh Văn, huyệnThanh Oai, Hà Nội và các hệ thống xung quanh.

Nghiên cứu cũng tập trung đánh giá tác động của quỹ đối với đời sống của dân

cư tại địa phương Tác động của quỹ đối với đời sống người dân là tiêu chí quan trọng

để xác định hiệu quả hoạt động của quỹ

Hình 1.1: Các hệ thống có ảnh hưởng đến hoạt động của Quỹ

1.2.2 Lý thuyết nhu cầu

Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một trong nhữngngười tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic psychology),trường phái này được xem là thế lực thứ 3 (the Third Force) khi thế giới lúc ấy đangbiết đến 2 trường phái tâm lý chính: Phân tâm học (Psychoanalysis) và Chủ nghĩa hành

vi (Behaviorism)

Chính quyền

địa phương

Hệ thống kiểm soát quỹ

Các tổ chức

chuyên môn

Hoạt động của Quỹ

Luật pháp, chính sách về ASXH

Người dân tham gia Ban điều hành quỹ

Trang 30

Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nóđược thừa nhận rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cảlĩnh vực giáo dục Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của conngười Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thốngtrật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu

ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước

Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của conngười theo 5 cấp bậc:

Hình 1.2: Thang nhu cầu Maslow

Nhu cầu cơ bản ((basic needs): bao gồm các nhu cầu cơ bản của con

người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục…Đây là những nhu cầu cơ bảnnhất và mạnh nhất của con người Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhucầu này được xếp vào bậc thấp nhất: bậc cơ bản nhất Maslow cho rằng, những nhu cầu

ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn

Trang 31

và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khinhu cầu cơ bản này chưa đạt được.

Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety needs): Nhu cầu an toàn và an ninh

này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sựsống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt độngtrong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai,gặp thú dữ…

Nhu cầu về xã hội ((social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu

mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu

về tình cảm, tình thương (needs of love) Nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đápứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh

Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs): Nhu cầu này còn được gọi

là nhu cầu tự trọng vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nểtrọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bảnthân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân

Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs): Khi nghe về nhu

cầu này: “thể hiện mình” chúng ta khoan vội gán cho nó ý nghĩa tiêu cực Không phảingẫu nhiên mà nhu cầu này được xếp đặt ở mức độ cao nhất Nhu cầu của một cá nhânmong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm” Nóimột cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng

của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội

Thông qua lý thuyết về Thang bậc nhu cầu được đề xướng bởi nhà tâm lý họcAbraham Maslow, chúng ta sẽ đi tìm hiểu nhu cầu của các nhóm dân cư tham gia vàkhông tham gia quỹ Từ đó chúng ta đối chiếu với những hoạt động của quỹ, xem xétmức độ thích hợp của những hoạt động đó với những nhu cầu của nhóm đối tượng.Phù hợp với nhu cầu của đối tượng là yêu cầu tiên quyết, không thể thiếu quyết địnhhiệu quả của các hoạt động trợ giúp; mức độ phù hợp với nhu cầu của người dân sẽ

Trang 32

quyết định mức độ tham gia và gắn bó với quỹ, một trong những tiêu chí quan trọngtrong việc xác định tính bền vững của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi dành cho nông dân tại

xã Thanh Văn, huyện Thanh Oại, Hà Nội

1.3 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu

Xã Thanh Văn là một xã vùng chiêm trũng, nằm ở phía đông của huyện ThanhOai, Hà Nội Thanh Văn cách trung tâm Hà Nội khoảng 20km, diện tích đất tự nhiên là

600 ha trong đó đất 2 vụ lúa là 444,5 ha, dân số 7000 người

Trước Đổi mới, Thanh Văn là một xã nghèo của huyện Thanh Oai, đời sống củanhân dân gặp nhiều khó khăn, nhà tranh vách đất, cơ sở vật chất của xã vô cùng yếukém: không có trụ sở Ủy ban nhân dân; giao thông trong làng, liên thôn, liên xã rất khókhăn; sản suất gặp nhiều khó khăn với năng suất lúa chỉ đạt 100 kg/sào/vụ; văn hóa,giáo dục cũng hạn chế do thiếu điều kiện phát triển…

Sau Đổi mới, với chiến lược phát triển có chiều sâu, phù hợp với tình hình kinh

tế địa phương, Thanh Văn không ngừng phát triển cả về kinh tế, văn hóa, giáo dục.Hiện nay, cơ cấu kinh tế của xã đã trở nên đa dạng, có kinh tế dịch vụ, có tiểu thủ côngnghiệp Hoạt động nông nghiệp cũng không ngừng được công nghiệp hóa theo hướngsản xuất hàng hóa: toàn xã có trên 50 trang trại hoạt động với hiệu quả kinh tế cao, xãcũng thực hiện dồn điển đổi thửa được diện tích đất canh tác ở các thôn…Xã cũng tiếnhành xây dựng 26 km đường bê tông nội đồng, liên thôn, liên xã để tạo điều kiện chosinh hoạt và sản xuất của người dân

Hoạt động văn hóa giáo dục cũng đạt được nhiều thành tựu, mỗi năm xã có

20-30 học sinh đỗ vào các trường đại học chính quy Thu nhập trung bình của người dânđạt 20 triệu/người/năm Đây là một mức thu nhập cao so với nhiều vùng nông thôn

Chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở xã Thanh Văn, Thanh Oai, HàNội có nhiều đặc thù so với các vùng nông thôn khác không chỉ ở Hà Nội và trongphạm vi cả nước đặc biệt là trong công tác quy hoạch và sử dụng đất đai Thanh Văn làmột trong số ít trong các xã nông thôn từ chối tiếp nhận các dự án công nghiệp mà chú

Trang 33

trọng đến phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại để nâng cao đời sống củangười dân.

1.4 Đặc điểm và hoạt động của một số quỹ lương hưu dành cho nông dân

Hiện nay, Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai,

Hà Nội đang là một mô hình quỹ cộng đồng nhận được sự quan tâm của cấp Bộ, ngành

có liên quan và nhiều địa phương khác Tuy nhiên, có rất nhiều quỹ cộng đồng đã rađời và hoạt động trước loại hình quỹ ở Thanh Văn Những người xây dựng và pháttriển quỹ ở Thanh Văn đã nghiên cứu, học hỏi cách thức xây dựng và phát triển quỹ tạicác cộng đồng này

Nhắc đến Bảo hiểm nông dân được thực hiện thí điểm tại một số tỉnh, thành phốthì không thể không nhắc đến Quỹ Bảo hiểm xã hội nông dân tỉnh Nghệ An Đây là địaphương mà loại hình này phát triển có quy mô và ảnh hưởng lớn nhất Quỹ Bảo hiểm

xã hội nông dân Nghệ An được UBND tỉnh Nghệ An ký quyết định thành lập ngày28/04/1998 Ngày 30 tháng 07 năm 1999, UBND tỉnh ban hành Điều lệ tạm thời Bảohiểm xã hội nông dân Nghệ An Ngày 10 tháng 04 năm 2001, UBND tỉnh ban hànhchính thức Điều lệ Bảo hiểm xã hội nông dân Đến cuối năm 2006, theo số liệu của cơquan Bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An, đã có 86.769 người lao động của 314 xãthuộc 11 huyện/thị xã/thành phố tham gia chương trình; 96 đối tượng được hưởnglương hưu hàng tháng và 3.252 đối tượng nhận trợ cấp một lần Như vậy, số đối tượngtham gia Bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chiếm 5,7% lực lượng lao động trong độtuổi lao động của Nghệ An, bằng 6,7% tổng số đối tượng không thuộc diện tham giaBảo hiểm xã hội bắt buộc Tuy nhiên, do nhiều nhân tố trong đó có thiểu tính bền vững

về tài chính, bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An đã được nghiên cứu chuyển sang Bảohiểm xã hội tự nguyện3

Ngoài ra còn có các quỹ lương hưu cộng đồng tại Dị Sử, Mỹ Hào, Hưng Yên và quỹ của các chi hội nông dân tỉnh Bắc Ninh

3 Viện Khoa học Lao động, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2007), Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp chuyển đổi bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An sang bảo hiểm xã hội tự nguyện”

Trang 34

Trong quá trình công nghiệp hóa, đất nông nghiệp được chuyển đổi để xây dựngcác khu công nghiệp Điều này làm nảy sinh vấn đề về việc làm, thu nhập của nhữngngười nông dân cao tuổi Từ thực tế địa phương, chính quyền xã Dị Sử, Mỹ Hào, HưngYên đã quyết định thành lập “Quỹ chăm sóc công dân hết tuổi lao động” Nguồn tàichính quỹ được huy động từ công tác xã hội hóa, kêu gọi đóng góp của các doanhnghiệp trên địa bàn, đóng góp của người dân xã từ làm ăn xa và trích tiền chuyểnnhượng đất công Do chủ trương đúng đắn, quỹ đã huy động được rất nhiều cá nhân,tập thể đóng góp Nawm 2004, nguồn tài chính quỹ lên đến 1 tỷ đồng Số vốn này đượcgửi ngân hàng và lấy lãi suất để trả lương cho người cao tuổi trên 60 tuổi không hưởngchế độ gì của Nhà nước Quỹ do Hội người cao tuổi và Hội nông dân xã quản lý, chịu

sự giám sát của của UBND xã Đến nay, nguồn tài chính quỹ đã lên đến 5 tỷ và thựchiện chi trả chế độ cho trên 1000 người cao tuổi tại địa phương Mức chi trả tương đốithấp so với Thanh Văn: Năm 2008 là 40.000 đồng/người/tháng (đối với người từ 60đến 69 tuổi) và 50.000 đồng/người/tháng (đối với người từ 70 tuổi trở lên).4

Một địa phương khác thành lập quỹ lương hưu nông dân từ rất sớm là thôn Ất,Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh thành lập năm 1992 Các thành viên tham gia tìnhnguyện đóng 100 kg thóc chia đều cho 10 năm Mỗi tháng thành viên nhận lại 10 kgthóc được gọi là lương hưu Khi thành viên mất, quỹ sẽ hoàn trả số tiền tương ứng 100

kg thóc và chi mai tang phí Số thóc các thành viên đóng sẽ được quy ra tiền để cho các

hộ dân ở địa phương vay lấy lãi Từ 172 thành viên ban đầu, đến nay, quỹ đã có trên

500 thành viên tham gia Nguồn tài chính quỹ lên đến 2 tỷ trong đó có 600 triệu chongười dân địa phương vay để phát triển kinh tế Mức chi trả hiện nay của quỹ lươnghưu thôn Ất , phường Hạp Lĩnh, Bắc Ninh cũng ở mức cao so với các địa phương kháctrong tỉnh: 65.000 đồng/người/tháng

Ngoài các loại hình quỹ được nêu trên, còn có rất nhiều địa phương khác pháttriển các loại hình quỹ lương hưu nông dân như Nghệ An, Bắc Ninh, Bắc Giang…

4 Phúc Hậu (2011), Nông dân cũng có lương hưu, http://sggp.org.vn/thongtincanuoc/2011/1/249151 ngày 22/01/2011

Trang 35

Đồng thời, với ảnh hưởng của các loại hình quỹ, đặc biệt từ tác động của Quỹ Bảohiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn, Thanh Oai, Hà Nội, nhiều địa phương khác

đã tham quan, học hỏi kinh nghiệm để xây dựng mô hình

Như vậy, có thể thấy rằng, nhu cầu về loại hình quỹ cộng đồng để chi trả lươnghưu cho người nông dân là một nhu cầu cấp thiết, được nhiều địa phương quan tâm.Việc tồn tại và phát triển của các loại hình quỹ này không phải chỉ là thiểu số một địaphương mà đã có ở rất nhiều địa phương, do đó vấn đề nghiên cứu càng trở nên cấpthiết do tính phổ biến của một mô hình không chính thức (không do nhà nước quy định

Trang 36

Chương 2: Lịch sử hình thành và các thể chế của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân tại xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội

2.1 Sơ lược lịch sử hình thành Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội

Theo khảo sát của đề tài, trong quá suốt quá trình phát triển, đồng hành với chủtrương phát triển nông nghiệp, đưa ngành nghề vào xã, xóa đói giảm nghèo, nâng caođời sống kinh tế, văn hóa của người dân, xã Thanh Văn cũng đã chú ý đến việc đảmbảo an sinh xã hội cho người nông dân từ rất sớm Từ năm 1989, Đảng ủy xã ThanhVăn đã có chủ trương thành lập quỹ hưu nông dân Sau khi tổ chức bộ máy lãnh đạoquỹ, thu hút người tham gia, quỹ cũng đã nhận được 20 tấn thóc từ Hợp tác xã nôngnghiệp để tạo nguồn vốn ban đầu Số thóc này đã được bán đi lấy 10 triệu đồng tiềnmặt Năm 1990, quỹ gửi số tiền mặt đó vào trung tâm tín dụng của UBND huyệnThanh Oai để thu lãi Sau hơn 1 năm hoạt động, trung tâm tín dụng phá sản, do đó sốtiền gửi của Quỹ hưu trí Thanh Văn cũng bị mất trắng Do đó, Đảng ủy xã quyết địnhdừng hoạt động của Quỹ, tiếp tục nghiên cứu và chuẩn bị tài chính cho việc tái thànhlập quỹ sau này

Đầu năm 2000, với tình hình kinh tế ngày càng phát triển, Đảng ủy xã Thanh Văn

có nghị quyết tái thành lập quỹ hưu trí dành cho nông dân xã và xác định đây là việclàm trọng tâm để đảm bảo an sinh xã hội cho người dân trong xã khi về già Mỗi thànhviên tham gia quỹ đóng góp 20.000 đồng/người/tháng để đến 60 tuổi nhận lương hưu.Tuy nhiên, do chưa tạo ra được sự tin tưởng của người dân nên đến năm 2009 quỹ mớihuy động được gần 250 thành viên tham gia với số vốn chỉ khoảng 1 tỷ đồng Nếu so

về giá trị tiền quỹ, Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn thời kỳ này có

số vốn thấp hơn Quỹ lương hưu của nông dân xã Dị Sử, Mỹ Hào, Hưng Yên (năm

2008 có 4,1 tỷ) và ở thành phố Bắc Ninh (năm 2013 là gần 4 tỷ đồng)

Đến năm 2010, Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn có bước ngoặttrong sự phát triển của mình với nguồn tài chính tiết kiệm từ xây dựng cơ bản ở địa

Trang 37

phương và công tác xã hội hóa mang lại Quỹ mới được huy động từ các nguồn: (1)Các nguồn thu từ tiết kiệm của địa phương; (2) Đóng góp của người dân tham gia; (3)

Xã hội hóa

Sau một quá trình dài chuẩn bị cả về nhân sự và tài chính, ngày 19/04/2011, quỹchính thức khai trương với số vốn 20 tỷ và 250 thành viên tham gia, trong đó có 196thành viên trên 60 tuổi được hưởng trợ cấp hàng tháng

Tính chất và mục tiêu hoạt động của Quỹ là: “Quỹ bảo hiểm và phúc lợi xã ThanhVăn được thành lập và hoạt động trên cơ sở tự nguyện, tự góp vốn, tự chịu trách nhiệm

và tự hạch toán kinh tế độc lập Mục tiêu gửi vốn tiết kiệm lấy lãi để chi trả lương hưu,phụ cấp và phúc lợi khác cho thành viên”[14, tr.1]

Sau hơn 2 năm đi vào hoạt động, Quỹ Bảo hiểm – Phúc lợi xã Thanh Văn khôngngừng phát triển Điều này được thể hiện qua các tiêu chí sau: (1) Số vốn của Quỹkhông ngừng tăng: từ 20 tỷ năm 2011 đến nay là 45 tỷ; (2) Mức hỗ trợ tăng: từ100.000/người/tháng đã tăng lên 350.000/người/tháng (từ 1.1.2013); (3) Số thành viêntham gia tăng từ 250 thành viên (năm 2011) lên 1413 (tháng 2/2013); (4) Người dânngày càng tin tưởng vào hoạt động của quỹ

Như vậy, có thể thấy rằng, hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xãThanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội chia làm 2 thời kỳ chính: (1) Từ năm 2000 đếnnăm 2009, mang đặc điểm của loại hình quỹ lương hưu nông dân khác trong cả nước:nguồn tài chính ít và chưa huy động được sự tham gia của đông đảo người dân; (2) Từsau 2010 với nguồn tài chính bổ sung, phát triển vượt bậc về mọi mặt Rõ rang, nguồntài chính thời kỳ từ 2010 do tiết kiệm xây dựng cơ bản ở địa phương và công tác xã hộihóa mang lại là dấu mốc quan trọng, tạo ra sự biến chuyển về chất trong quá trình hìnhthành và phát triển của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn, huyệnThanh Oai, Hà Nội Chính nguồn tài chính bổ sung này đã tạo ra sự khác biệt của QuỹBảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội so với loạihình quỹ lương hưu nông dân tương tự tại các địa phương khác

Trang 38

Trong cách thức xây dựng quỹ ở cả hai thời kỳ, chính quyền xã đều chú ý đếnviệc tạo ra nguồn quỹ ban đầu lớn Năm 1989 là 20 tấn thóc (tương đương với 10 triệuđồng) và năm 2011 là trên 30 tỷ đồng từ tiết kiệm địa phương và xã hội hóa Việc tạo

ra nguồn quỹ ban đầu lớn, đủ chi trả, bù lỗ các chi phí ban đầu là điều kiện cần thiết đểthành lập và phát triển loại hình quỹ cộng đồng Cách thức tạo nguồn quỹ của ThanhVăn ở cả hai thời kỳ đều là huy động nguồn lực phi tài chính của địa phương để tạo ranguồn tài chính để hình thành quỹ Đây là một đặc điểm quan trọng, cần đặc biệt chú ýkhi tiến hành thành lập và phát triển các quỹ cộng đồng để chi trả lương hưu và phúclợi cho người dân

Quá trình phát triển quỹ của xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Nội đã thể hiện

sự nghiên cứu nghiêm túc của những người sáng lập quỹ Với những địa phương muốnphát triển loại hình quỹ cộng đồng, cách thức huy động nguồn lực của Thanh Văn làmột kinh nghiệm quý báu

2.2 Đặc điểm các đối tượng tham gia

Điều 10, Chương III, Điều lệ Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Vănghi chi tiết, cụ thể những điều kiện tham gia và trở thành thành viên của Quỹ: “Tất cảmọi công dân có hộ khẩu thường trú tại xã Thanh Văn (trừ những công dân ở nơi khácchuyển đến sẽ có quy định riêng của Hội đồng quản trị), từ 16 tuổi trở lên được đóngbảo hiểm…” [14, tr.2]

Điều lệ của quỹ cũng quy định rõ: Phải đóng đủ 10 năm trở lên mới được coi làthành viên chính thức Đóng chưa đủ 10 năm thì được công nhận là thành viên dự bị.Tính đến tháng 2 năm 2013, đã có 1413 thành viên tham gia quỹ trong đó có 651người trên 60 tuổi (chiếm 46,1%) và 762 người dưới 60 tuổi (chiếm 53,9%)

Khảo sát của đề tài được thực hiện trên 155 khách thể trong đó có: 80 người trên

60 tuổi (chiếm 51,6%) đã được nhận lương và 75 người dưới 60 tuổi (chiếm 48,4%)chưa được nhận lương Về giới tính, có 81 nam (chiếm 52,3%) và 74 nữ (chiếm47,7%)

Trang 39

Về nghề nghiệp, đa số là nông dân vì đây là vùng nông thôn Tuy nhiên quỹ cũngthu hút được sự tham gia của một số thành phần khác Trong số 155 người được hỏi có:

126 nông dân chiếm 82,6%, 8 công nhân chiếm 5,2%, 6 cán bộ hưu trí chiếm 3,9%, 4giáo viên chiếm 2,6%, 3 người thuộc lực lượng vũ trang chiếm 1,9%, 3 kinh doanhbuôn bán chiếm 1,9%

Bảng 2.1: Cơ cấu nghề nghiệp của thành viên tham gia quỹ được khảo sát

Như vậy, ngoài nông dân là đối tượng tham gia chính, Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợinông dân xã Thanh Văn đã huy động được sự tham gia của nhiều thành phần dân cưkhác nhau trong đó có cả cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước về hưu Việc thu hútđông đảo đối tượng tham gia là do sự hấp dẫn trong chi trả và lợi ích mà quỹ mang lại.Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân xã Thanh Văn không chỉ là của riêng nông dân xãThanh Văn mà là “tài sản” của toàn bộ người dân Thanh Văn

Thành phần đa dạng, tuy nhiên, đa số những người tham gia quỹ là nhưng cư dân

có điều kiện kinh tế kém hơn so với mức trung bình của địa phương

Trang 40

Theo khảo sát của đề tài, về điều kiện kinh tế, những người tham gia quỹ hiệnnay, nhìn chung có điều kiện kinh tế kém hơn những người chưa hoặc không tham gia.Trong khi thu nhập bình quân của dân cư ở xã là 20 triệu đồng/ người/năm thì thu nhậptrung bình của 155 thành viên của Quỹ mà đề tài khảo sát chỉ là: 13,8 triệu đồng/người/năm (tương đương với 1,157 triệu đồng/người/tháng) Trong đó số người thu nhập dưới700.000 đồng/người/tháng chiếm 31,3%, từ 700.000 vnđ đến 1,4 triệuđồng/người/tháng chiếm 40,7%, từ 1,4 triệu đồng/người/tháng trở lên chỉ chiếm 28%.Như vậy có nghĩa là, trong số 155 thành viên tham gia quỹ được khảo sát, có đến 72%

có thu nhập thấp hơn mức thu nhập trung bình của người dân địa phương Rõ rang mứcthu nhập ảnh hưởng đến sự tham gia quỹ Ngoại trừ những người trên 60 tuổi tham giađược hưởng lợi ngay, những người dưới 60 tuổi ở Thanh Văn tham gia quỹ thường lànhững người có thu nhập kém hơn do không biết quay vòng đồng tiền để làm ăn.Những người có thu nhập tốt hơn lại sử dụng tiền để quay vòng, sau đó dự định đến 60tuổi đóng một lần để hưởng lương hưu từ quỹ Sở dĩ có điều này vì cách thức đóng vàhưởng của quỹ hiện nay còn quá dễ dãi

“Nếu nói là không có tiền đóng thì không phải Nhưng giờ sửa xe thế này, bán hàng thế này cũng cần vốn Mà có 6 triệu quay vòng thì cũng có đầy cách làm ăn lợi hơn là đóng vào quỹ Mĩnh vẫn muốn tham gia quỹ nhưng đợi chục năm nữa, gần 60 tuổi, thì đóng một lần Lúc đấy mức đóng tăng rồi nhưng chắc cũng chỉ đến 10 triệu thôi” – PVS 18, người dân không tham gia quỹ, nam, 47 tuổi

Thu nhập của người dân chủ yếu tập trung ở nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.Trong số các nguồn thu nhập chính của người dân tham gia Quỹ được khảo sát: 87,7%người dân có thu nhập chính là nông nghiệp; tiểu thủ công nghiệp: 32,3%

Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện cơ cấu thu nhập trung bình của người dân/tháng

Ngày đăng: 16/07/2016, 17:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. ILO (Tổ chức Lao động quốc tế – 2010), Báo cáo “Dự báo cân đối Quỹ Bảo hiểm xã hội và các khuyến nghị pháp lý” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo cân đối Quỹ Bảo hiểm xã hội và các khuyến nghị pháp lý
24. Viện Khoa học Lao động (2010), “Quan điểm và định hướng về chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong Chiến lược KTXH giai đoạn 2011- 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm và định hướng về chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong Chiến lược KTXH giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Viện Khoa học Lao động
Năm: 2010
25. Viện Khoa học Lao động (2010), “Nghiên cứu khả năng tiếp cận hệ thống an sinh xã hội của khu vực không chính thức” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng tiếp cận hệ thống an sinh xã hội của khu vực không chính thức
Tác giả: Viện Khoa học Lao động
Năm: 2010
26. Viện Khoa học Lao động, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2007),“Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp chuyển đổi bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An sang bảo hiểm xã hội tự nguyện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp chuyển đổi bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An sang bảo hiểm xã hội tự nguyện
Tác giả: Viện Khoa học Lao động, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Năm: 2007
1. Mai Ngọc Anh (2010), An sinh xã hội đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Khác
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2006), Văn kiện Đại hội Đảng X Khác
3. Bộ Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2012), Nghị quyết số 21 – NQ/TW của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020 Khác
4. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2013), Rà soát các chương trình, chính sách về an sinh xã hội ở Việt Nam Khác
6. Bùi Thế Cường (2002), Chính sách xã hội và công tác xã hội ở Việt Nam thập niên 90, NXB Khoa học Xã hội Khác
7. Bùi Thế Cường (2001 – chủ nhiệm), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Phúc lợi xã hội (Đề tài cấp Viện Xã hội học – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) Khác
8. Bùi Thế Cường (2000 – chủ nhiệm), Hệ thống phúc lợi xã hội và tình hình phúc lợi xã hội năm 2000 (Đề tài nhánh thuộc đề tài “Báo cáo xã hội năm 2000) Khác
9. Bùi Quang Dũng (2008), Hệ thống an sinh xã hội Việt Nam năm 2007 Khác
10. Nguyễn Văn Định (2008), Giáo trình an sinh xã hội, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
11. Đàm Hữu Đắc (2010), Nghiên cứu chính sách phúc lợi xã hội và phát triển dịch vụ xã hội chăm sóc người cao tuổi trong kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập”, mã số ĐTĐL.2007G/51 Khác
13. Trần Hoàng Hải, Lê Thị Thúy Hương (2011), Pháp luật an sinh xã hội – Kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Khác
14. Hội đồng Quản trị Quỹ Bải hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn (2011), Điều lệ hoạt động của Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi xã Thanh Văn Khác
15. Nguyễn Hải Hữu (2007), Giáo trình Nhập môn an sinh xã hội, NXB Lao động – Xã hội Khác
17. Trần Hữu Quang (2009), Phúc lợi xã hội trên thế giới: quan niệm và phân loại, Tạp chí Khoa học xã hội, số 4 (128) – 2009 Khác
18. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật Bảo hiểm xã hội (Số: 71/2006/QH) Khác
19. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Doanh nghiệp (Số: 60/2005/QH11) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn của thành viên điều hành, giám sát quỹ - LUAN VAN HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BẢO HIỂM VÀ PHÚC LỢI  NÔNG DÂN TẠI HÀ NỘI
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn của thành viên điều hành, giám sát quỹ (Trang 45)
Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện đánh giá của người dân về khó khăn khi tham gia - LUAN VAN HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BẢO HIỂM VÀ PHÚC LỢI  NÔNG DÂN TẠI HÀ NỘI
Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện đánh giá của người dân về khó khăn khi tham gia (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w