PHẦN MỞ ĐẦUNhà nước là một trong những vân đề có tầm quan trọng đặc biệt của lý luận chủ nghĩa Mác, Lênin nói chung và chính trị học nói riêng. Hệ thống quan điểm về nhà nước của các nhà kinh điển mácxit đã trở thành một trong những cơ sở lý luận khoa học quan trọng cho thực tiễn xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa ở các quốc gia lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tiến trình xây dựng nhà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là sư vận dụng lý luận về nhà nước và nhà nước xã hội chủ nghĩa của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác vào điều kiện và hòan cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam. Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986 cho đến nay đã được hơn 20 năm, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đã có những thay đổi to lớn, ngày càng chứng tỏ vai trò của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam là không thể thay thế. Để đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phấn đấu đến năm 2020, về cơ bản nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chúng ta không thể không tiếp tục đổi mới nhà nước. Đại hội XI, Đảng ta xem tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhiệm vụ trọng điểm trong đổi mới trên lĩnh vực chính trị. Thực hiện nhiệm vụ này, đòi hỏi phải xuất phát từ thực tiễn xây dựng nhà nước ở Việt Nam nói riêng, kinh nghiệm xây dựng nhà nước trên thê giới nói chung. Nhưng trước hết đó là vấn đề làm thế nào để quán triệt được những quan điểm kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin về nhà nước xã hội chủ nghĩa trong điều kiện của xã hội Việt Nam trước những thách thức thời đại về phát triển. Do đó, việc trở lại với những quan điểm của C. Mác, F. Ăngghen về nhà nước nói chung và nhà nước xã hội chủ nghĩa nói riêng thông qua các tác phẩm kinh điển vẫn đang là nhu cầu bức xúc cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn.Từ những lý do trên, tôi chọn: “Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về nhà nước và việc vận dụng để xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Nhà nước là một trong những vân đề có tầm quan trọng đặc biệt của lýluận chủ nghĩa Mác, Lênin nói chung và chính trị học nói riêng Hệ thốngquan điểm về nhà nước của các nhà kinh điển mácxit đã trở thành một trongnhững cơ sở lý luận khoa học quan trọng cho thực tiễn xây dựng nhà nước xãhội chủ nghĩa ở các quốc gia lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.Tiến trình xây dựng nhà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là sư vận dụng lý luận vềnhà nước và nhà nước xã hội chủ nghĩa của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mácvào điều kiện và hòan cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam Công cuộc đổi mớiđất nước do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986 cho đến nay
đã được hơn 20 năm, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đã có những thay đổi
to lớn, ngày càng chứng tỏ vai trò của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam làkhông thể thay thế Để đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phấn đấu đến năm 2020,
về cơ bản nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chúng
ta không thể không tiếp tục đổi mới nhà nước Đại hội XI, Đảng ta xem tiếptục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là nhiệm vụ trọng điểm trong đổi mới trên lĩnh vực chính trị Thực hiện nhiệm
vụ này, đòi hỏi phải xuất phát từ thực tiễn xây dựng nhà nước ở Việt Nam nóiriêng, kinh nghiệm xây dựng nhà nước trên thê giới nói chung Nhưng trướchết đó là vấn đề làm thế nào để quán triệt được những quan điểm kinh điểncủa chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước xã hội chủ nghĩa trong điều kiện của
xã hội Việt Nam trước những thách thức thời đại về phát triển Do đó, việc trởlại với những quan điểm của C Mác, F Ăngghen về nhà nước nói chung vànhà nước xã hội chủ nghĩa nói riêng thông qua các tác phẩm kinh điển vẫnđang là nhu cầu bức xúc cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn
Từ những lý do trên, tôi chọn: “Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về nhà nước và việc vận dụng để xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân
ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.
Trang 2Chương 1
QUAN ĐIỂM CỦA MÁC, ĂNGGHEN, VỀ NHÀ NƯỚC
VÀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1.1 Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về nhà nước
Về nguồn gốc nhà nước
Vấn đề nguồn gốc nhà nước đã được đề cập trong lịch sử từ thời cổ đại
Xã hội càng phát triển thì vấn đề nguồn gốc nhà nước cũng càng được quantâm nghiên cứu và loài người ngày càng có được những tri thức đầy đủ, chínhxác hơn Đặc biệt từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời, các nhà tư tưởng tư sản tiến
bộ đã hướng việc tìm nguồn gốc nhà nước vào trong xã hội
Nhà nước chỉ xuất hiện khi loài người đã phát triển đến một trình độnhất định, trước hết là sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến xã hộiphân chia thành các giai cấp đối kháng và mâu thuẫn giữa các giai cấp ấy làkhông thể điều hòa được
Xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử, khi nghiên cứu vấn đề nhànước, Mác và Ăngghen đã phân tích toàn bộ sự tíến triển của lịch sử loàingười trong mối quan hệ hữu cơ của con người, xã hội và tự nhiên ở từng giaiđoạn lịch sử để làm rõ quá trình hình thành và phát triển của nhà nước cũngnhư chỉ rõ bản chất và ý nghĩa của nhà nước ở mỗi chế độ xã hội
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, thông qua việc bàn về mối liên hệ
giữa cơ cấu xã hội và chính trị với sản xuất, trên cơ sở nắm được mối quan hệthực chất của nhà nước và tính chất của những mối liên hệ xã hội, các ông đãnêu tư tưởng về vai trò quyết định của chế độ tư hữu trong kinh tế đối vớichính trị
Trong “Bản thảo kinh tế 1857-1859 và góp phần phê phán khoa họckinh tế-chính trị năm 1859” Mác đã phân tích vai trò của xã hội công dân vàcho rằng, xã hội công dân là lĩnh vực sinh hoạt và hoạt động vật chất kinh tếcủa con người Chính xã hội công dân là cơ sở đầu tiên của tòa nhà đời sốngchung của loài người, hoạt động sống của xã hội công dân là động lực chính
Trang 3của sự phát triển lịch sử “không thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền
cũng như những hình thái nhà nước hay lấy cái gọi là sự phát triển chung của tinh thần của con người để giải thích những quan hệ và hình thái đó, mà trái lại phải lấy những quan hệ và hình thái đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất mà toàn bộ đã được Hêghen, theo cách của người Anh và người Pháp thế kỷ XVIII gọi gộp chung lại là “xã hội công dân”[64,tr.14]
Sau khi Mác qua đời, Ăngghen đã viết tác phẩm “Nguồn gốc của gia
đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” vừa để trình bày những quan điểm
của hai ông, vừa bổ sung thêm những tư liệu mới Trong tác phẩm Ăngghencho rằng, chính sự chênh lệch về tài sản cộng với việc con người ta có thể đểlại tài sản cho con cháu mình đã tạo ra những mầm mống đầu tiên của giớiquý tộc thế tập và vương quyền thế tập Chế độ nô lệ từ chỗ chỉ áp dụng đốivới các tù binh trong chiến tranh giữa các thị tộc, bộ lạc thì nay ngày càng mởrộng phạm vi đối với mọi đối tượng trong xã hội
1.2 Quan điểm của Mác, Ăngghen, về nhà nước xã hội chủ nghĩa
1.2.1 Về bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác luôn khẳng định bản chất giai cấp củanhà nước vô sản thể hiện ở chỗ nhà nước đó do đảng của giai cấp công nhânlãnh đạo, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, thực hiện dân chủ thực sự vớinhân dân lao động, bảo vệ quyền lợi, lợi ích của nhân dân, chuyên chính với
kẻ thù của nhân dân Bản chất này là sơ sở kinh tế và chế độ chính trị xã hộicủa chủ nghĩa xã hội quyết định
Từ bài học Công xã Pari, Mác cho rằng, để thiết lập xã hội mới, giaicấp công nhân phải đập tan bộ máy nhà nước cũ và thay thế nó bằng bộ máynhà nước của bản thân họ
Trong tác phẩm “Nội chiến ở Pháp”, Mác đã chỉ ra rằng công xã Pari
thực chất là “Chính phủ của giai cấp công nhân” Việc thành lập công xã cónghĩa là quần chúng nhân dân, tức là xã hội đoạt lại quyền lực nhà nước, biến
nó từ chỗ là lực lượng thống trị xã hội, áp bức xã hội thành sức sống của bản
Trang 4thân xã hội Đó chính là hình thức chính trị mà quần chúng nhân dân giành
được để giải phóng cho xã hội Mác viết “bí quyết thực sự của công xã Pari
là ở chỗ: về thực chất nó là một chính phủ của giai cấp công nhân, là kết quả của cuộc đấu tranh của giai cấp những người sản xuất chống lại giai cấp chiếm đoạt, là hình thức chính trị rốt cuộc đã tìm ra được khiến cho chủ thể thực hiện được việc giải phóng lao động về mặt kinh tế” [66, tr 454].
Nhà nước là công cụ chuyên chính của một giai cấp, điều này cũnghòan toàn phù hợp với nhà nước vô sản, nhưng như thế không có nghĩa là nhànước vô sản là tổ chức riêng của giai cấp công nhân mà thực chất nó là tổchức của toàn thể nhân dân lao động thực hiên quyền làm chủ của mình Nhândân là người bầu ra và giám sát những người trong bộ máy nhà nước để thaythế quan lại của chế độ cũ và những người đó có thể bị bãi miễn bất cứ lúc
nào, căn cứ vào quyết nghị của những cử tri đã bầu ra họ Và “thay cho xã hội
tư sản cũ với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó thì một thể lien hợp xuất hiện, trong đó sự tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển
tự do của mọi người” [63, tr 628].
Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” nói về sự khác biệt
bản chất của nhà nước vô sản với nhà nước tư sản, Mác, Ăgnghen viết: “Giaicấp vô sản sẽ dùng ưu thế chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn
bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản
xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản đã có tổ chức thành giai cấp thống trị và để tăng số lượng những lực lượng sản xuất lên hết sức nhanh” [63, tr 626].
Bàn về bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa, cả Mác, Ăngghen còn cónhững luận điểm quan trọng về nguy cơ quan liêu hóa của nhà nước ấy vàbiện pháp ngăn ngừa, khắc phục nó
Về chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Vấn đề tính tất yếu của nhà nước chuyên chính vô sản đã được Mác
khẳng định trong tác phẩm: “Phê phán cương lĩnh Gôta” Sau đó trong những
Trang 5năm đầu cách mạng tháng Mười, nhấn mạnh tính chất và chức năng trấn áp
bằng bạo lực của nhà nước vô sản, Lênin viết: “Chuyên chính là một chính
quyền dựa trực tiếp vào bạo lực và không bị một luật pháp nào hạn chế cả… chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản là một chính quyền do giai cấp
vô sản giành được và duy trì bằng bạo lực đối với giai cấp tư sản, chính quyền không bị một luật pháp nào hạn chế cả” [49, tr.296-297] Tuy nhiên
ông cũng khẳng định rằng chuyên chính vô sản không hề đối lập với dân chủ,
mà là phần bổ sung, là một hình thức thể hiện của dân chủ, nó chỉ đối lập vớichuyên chính của các giai cấp áp bức, bóc lột nhân dân:
Chuyên chính vô sản nghĩa là tổ chức đội tiên phong của những người
bị áp bức thành giai cấp thống trị để trấn áp bọn áp bức thì không thể giảnđơn đóng khung trong việc mở rộng chế độ dân chủ được Đồng thời với việc
mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ - lần đầu tiên bíến thành chế độ dân chủ chongười nghèo, chế độ dân chủ cho nhân dân chứ không phải cho bọn nhà giàu.Chuyên chính vô sản còn thực hành một loạt biện pháp hạn chế quyền tự dođối với bọn áp bức, bọn bóc lột, bọn tư bản [48, tr 109]
Thực ra trong lịch sử đã có những nhà nước thực hiện sự chuyên chínhnhư vậy và nhà nước vô sản cũng đã có lúc cần phải “rắn như thép” Tuy nhiênđôi với các nhà nước hiên đại, ngay cả nhà nước tư sản khi đã tồn tại dưới hìnhthức nhà nước pháp quyền thì về nguyên tắc, pháp luật phải là tối cao mặc dùpháp luật chẳng qua cũng chỉ là biểu hiện ý chí của giai cấp thống trị
Nhà nước trong các chế độ xã hội có đối kháng giai cấp luôn củng cố
và bảo vệ các quan hệ xã hội, các lợi ích xã hội có lợi cho giai cấp thống trị.Trong các nhà nước đó, phần lớn nhân dân lao động bị gạt ra ngoài sự quản lýcủa nhà nước Ngược lại nhà nước vô sản là nhà nước của chính nhân dân laođộng để thực hiện quyền lực của mình trong việc bảo vệ thành quả cách mạng
và xây dựng xã hội mới Điều đó được thể hiện cụ thể ở những điểm sau:
Một là, tất cả các nhà nước kiểu cũ đều dựa trên cơ sở là chế độ sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất - đó là cơ sở kinh tế đẻ ra chế độ người bóc lột
Trang 6người Còn cơ sở kinh tế của nhà nước vô sản là chế độ sở hữu công cộng vềcác tư liệu sản xuất chủ yếu - đó là điều kiện tiên quyết để xóa bỏ chế độngười bóc lột người.
Hai là, khác với nhà nước của các giai cấp bóc lột, nhà nước vô sản
mặc dù cũng là bộ máy trấn áp nhưng nó chỉ thực hiện trấn áp với một thiểu
số dân cư, phục vụ quyền lợi của đa số nhân dân Chức năng trấn áp ở đây chỉđược coi là phương tiện để thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể trên tất cả cáclĩnh vực của công cuộc xây dựng xã hội mới, đặc biệt là xây dựng và pháttriển lĩnh vực kinh tế - nền tảng của mọi chế độ xã hội và nhà nước Chỉ trên
cơ sở xây dựng được một xã hội có năng suất lao động cao đáp ứng ngày càngđầy đủ nhu cầu vật chất, tinh thần của nhân dân thì mới giữ vững, duy trì vàđảm bảo được vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, thắng lợi cuối cùngcủa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
Ba là, khác với nhà nước bóc lột, nhà nước vô sản thực hiện quyền lực
của mình dựa trên một nền tảng xã hội rộng rãi Trước đây việc thực hiệnquyền lực của nhà nước bóc lột chỉ được thông qua một nhóm nhỏ của xã hội
- giai cấp bóc lột Việc thực hiện quyền lực đó chỉ bảo vệ và phục vụ chủ yếuquyền lợi và lợi ích của giai cấp bóc lột Ngược lại, trong nhà nước vô sản,ngay từ khi xuất hiện việc thực hiện quyền lực đã thuộc về nhân dân lao độngdưới sự lãnh đạo của đảng tiên phong của giai cấp công nhân
Chương 2
Trang 7SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA MÁC, ĂNGGHEN, VỀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân
Ngay từ khi còn đang trong quá trình tìm tòi con đường giải phóng dântộc, Hồ Chí Minh đã có những nhận thức sâu sắc về vai trò, ý nghĩa của nhànước pháp quyền đối với việc tổ chức và quản lý xã hội Người chủ trươngsau khi Việt Nam giành được độc lập, chúng ta phải xây dựng một nhà nướckiểu mới - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Tính nhất quán trong tưtưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân thể hiện ở cả mục đích, nguyên tắc tổ chức lẫnphương thức hoạt động của nhà nước Nhà nước đó phải được tổ chức mộtcách hợp hiến, hợp pháp; hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và quản lý xãhội bằng pháp luật, thể hiện sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị… Nó phảithực sự là công cụ quyền lực của nhân dân lao động; phản ánh, thực hiện vàbảo vệ lợi ích của nhân dân
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền, pháp luật, xétđến cùng, đều là do con người và vì con người Người luôn đề cao vai trò vàtầm quan trọng của pháp luật, song không vì thế mà tuyệt đối hoá pháp luậthoặc coi đó là biện pháp duy nhất để tổ chức và quản lý xã hội Khác vớithuyết “Pháp trị” trong các xã hội phong kiến coi pháp luật là công cụ bảo vệlợi ích của thiểu số cầm quyền, hệ thống quan điểm pháp luật theo tư tưởng
Hồ Chí Minh luôn xoay quanh một “trục” là xây dựng nhà nước của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân, đồng thời hình thành pháp luật phục vụ cho quyền lợi của nhân dân Đó thực sự là một giá trị thấm đượm tính nhân văn
sâu sắc Ý nghĩa nhân văn trong triết lý pháp luật của Hồ Chí Minh là ở chỗ,đối với Người, tất cả mọi quyền lực nhà nước đều phải thuộc về nhân dân;nhân dân vừa là mục đích mà nhà nước hướng tới phục vụ, vừa là chủ thể củanhà nước Có thể khẳng định rằng, sự kết hợp, gắn bó hữu cơ giữa các yếu tố
Trang 8“lý” và “tình”, giữa đạo đức và pháp luật là nét độc đáo, sáng tạo trong tưtưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật Khôngphải ngẫu nhiên mà Người nhấn mạnh rằng, trong vấn đề ở đời và làm người,điều căn bản, cốt lõi nhất là con người ta cần phải sống với nhau sao cho cótình, có nghĩa Ở đây, cùng với việc đề ra những chuẩn mực đạo đức cáchmạng, Người đã xây dựng được một hệ thống quan điểm pháp luật phù hợpvới quan điểm đạo đức mới, đảm bảo cho việc thực thi những hành vi đạo đứccách mạng Pháp luật là công cụ quản lý xã hội, điều chỉnh và định hướnghành vi của mỗi người theo hướng ngày càng tốt hơn, ngày càng vươn tới cácgiá trị chân, thiện, mỹ nhằm đáp ứng những yêu cầu, những tiêu chí mới vềđạo đức của xã hội Giá trị to lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợpgiữa các yếu tố đó chính là ở chỗ, nó chỉ ra triết lý phát triển xã hội hiện đạikhông phải chỉ dựa vào một yếu tố thuần tuý - hoặc đạo đức, hoặc pháp luật,
mà chính là ở mối quan hệ mật thiết và biện chứng giữa đạo đức và pháp luật
Do đó, thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm về sự kết hợp đạo đứccách mạng với pháp luật theo tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở đảm bảo choviệc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa nhân dân, do nhân dân và vì nhândân mà chúng ta đang tiến hành hiệnnay
2.2 Tíến trình nhận thức và triển khai xây dựng nhà nước của dân,
do dân, vì dân ở Việt Nam theo hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
2.2.1 Nhận thức về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Quan niệm chung về nhà nước pháp quyền
Lý luận về nhà nước pháp quyền đã được phát triển mạnh mẽ từ thế kỷXVII - XVIII với các đại biểu điển hình như: Giôn Lốccơ, Sáclơ,Môngtetxkiơ, Rutxô…Tiếp theo nó được làm rõ thêm bởi các nhà triết học cổđiển Đức như: I Cantơ, Hêghen…
Trang 9Lý thuyết về nhà nước pháp quyền được tiếp tục phát triển trong thếgiới hiện đại và càng ngày càng được sử dụng rộng rãi Nhà nước pháp quyềnnói chung, được hiển không những là phương thức tổ chức, vận hành quyềnlực công cộng mà còn là các nguyên tắc quản lý xã hội mang tính hợp lý mànhân loại đã đạt được trong lịch sử cho nên nó có những giá trị mang tínhnhân loại.
Những nội dung cơ bản của vấn đề nhà nước đã có sự kế thừa và pháttriển các giá trị phổ biến mang tính nhân loại của lý luận về nhà nước phápquyền Tuy nhiên do điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của thời đại mình,các ông chưa có được một lý luận hoàn chỉnh về nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa
Nhận thức về tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đã vận dụng tư tưởng về nhànước pháp quyền cùng với tư tưởng về nhà nước xã hội chủ nghĩa vào tổ chứcxây dựng nhà nước Việt Nam mới (sau năm 1945) Cùng với thực tiễn củaquá tình xây dựng nhà nước Việt Nam độc lập, nhận thức về nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dần hình thành và định hình trên cơ sởnhững lý luận và học thuyết về nhà nước pháp quyền mà nhân loại đã từng cótrong lịch sử
Trong các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam trước thời kỳ đổi mớivẫn thường khẳng định: nắm vững chuyên chính vô sản, khi nói về đường lốicách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam và xem làm chủ tập thể xã hội chủnghĩa là thực chất của chuyên chính vô sản Chuyên chính vô sản ở đây được
sử dụng với tư cách hình thức nhà nước xuyên suốt tiến trình cách mạng Đạihội VI (12/1986) mở đầu sự nghiệp đổi mới đã khẳng định: “Nhà nước ta làcông cụ của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa Trong thời kỳ quá độ đó
là nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa”.Đại hội VII Đảng công sản Việt Nam (6/1991) đã thật sự có bước ngoặt lý
Trang 10luận, trong đó có sự cải thiện rất đáng kể các quan điểm về nhà nước Thuậtngữ “chuyên chính vô sản” hầu như không được sử dụng trong các văn kiệnchính thức, khái niệm chuyên chính vô sản với tư cách là bản chất của nhànước vô sản - nhà nước xã hội chủ nghĩa đã được vận dụng một cách phù hợptrong điều kiện Việt Nam ở giai đoạn lịch sử này: “xây dựng nhà nước xã hộichủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân, vì dân” Mặc dù không sử dụng chínhthức thuật ngữ chuyên chính vô sản, nhưng vẫn luôn xác định chuyên chính
vô sản là thuộc về bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa Lúc này nền dânchủ xã hội chủ nghĩa được xem là mục tiêu của toàn bộ tổ chức và hoạt độngcủa hệ thống chính trị chư không phải là “quyền làm chủ tập thể của nhân dânlao động” như trước đây nữa Nhà nước ta lúc này phải “có đủ quyền lực và
đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hộibằng luật pháp Sửa đổi hệ thống chính trị nhà nước, cải cách bộ máy hànhchính, kiện toàn các cơ quan luât pháp để thực hiện có hiệu quả chức năngquản lý của nhà nước” Trong quá trình đổi mới tư duy lý luân, thuật ngữ
“nhà nước pháp quyền” dần dần được làm rõ Ở hội nghị đại biểu toàn quốcgiữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng cộng sản Việt Nam (1/1994), lần đầu tiên
thuật ngữ đó được nêu rõ trong văn kiện: Tiếp tục xây dựng và từng bước
hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam Tiếp theo, các văn kiện Đại hội
Đảng cộng sản Việt Nam (các khóa VIII, IX, X) và các nghị quyết hội nghịTrung ương 8 khóa VII (1/1995), Nghị quyết hội nghị Trung ương 3 khóaVIII( 6/1997), Nghị quyết hội nghị Trung ương 7 khóa VIII (8/1999) đều cónhững phần đáng kể thể hiện sự phát triển của việc nhận thức và xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với những luận điểm căn
bản: Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân
dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân (Đại hội X); xây dựng
cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất.