Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đưa ra những kiến nghị đối với Chính phủ, các cơ quan Bộ, Ngành Trung ương ; Ngân hàng nhà nước, các doanh nghiệp XNK nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGÔ THỊ MINH THẢO
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẢU
TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGÔ THỊ MINH THẢO
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẢU TẠI
AGRIBANK CHI NHÁNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân được đúc kết từ quá trình nghiên cứu, học tập và hoạt động thực tế tại đơn vị công tác trong thời gian qua Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Kiên Giang, ngày 25 tháng 9 năm 2015
Ngô Thị Minh Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, các em và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới: Ban giám hiệu, Khoa kinh tế, khoa Sau đại học, Hội đồng khoa học Trường Đại học Nha Trang, các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn trong quá trình học tập và
nghiên cứu
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đỗ Thị Thanh Vinh - Trưởng khoa kinh tế - Trường Đại học Nha Trang đã tận tình bồi dưỡng kiến thức, năng lực tư duy, phương pháp nghiên cứu và trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song do trình độ có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và độc giả để luận văn được hoàn thiện và đề tài có giá trị thực tiễn cao hơn./
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC HÌNH viii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 Rủi ro tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại 6
1.1.1 Các khái niệm 6
1.1.1.1 Rủi ro tín dụng 6
1.1.1.2 Rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 7
1.1.2 Các loại rủi ro tín dụng trong tài trợ xuất nhập khẩu 7
1.1.2.1 Rủi ro từ quy trình cấp tín dụng của ngân hàng 7
1.1.2.2 Rủi ro tác nghiệp của nhân viên ngân hàng 8
1.1.2.3 Rủi ro tiềm ẩn từ phương thức thanh toán 8
1.1.2.4 Rủi ro hối đoái 10
1.1.2.5 Rủi ro mang tính quốc gia 11
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 11
1.2.1 Các nhân tố từ môi trường kinh doanh 11
1.2.2 Các nhân tố về năng lực của doanh nghiệp xuất nhập khẩu 13
1.2.3 Các nhân tố từ nghiệp vụ cấp tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng 14
1.3 Quản trị rủi ro trong tín dụng xuất nhập khẩu 15
1.3.1 Khái niệm 15
1.3.2 Nội dung và tiến trình quản trị rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 16
1.3.2.1 Nhận diện rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 17
1.3.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 21
Trang 61.3.2.3 Kiểm soát rủi ro và xử lý, khắc phục hậu quả rủi ro tín dụng xuất nhập
khẩu 27
1.3.2.4 Phòng ngừa rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI AGRIBANK KIÊN GIANG 32
2.1 Tổng quan về ngân hàng Agribank chi nhánh Kiên Giang 32
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Agribank Kiên Giang 32
Giới thiệu về Agribank Việt Nam 32
2.1.2 Cơ cấu tổ chức: 34
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh giai đoạn 2010-2014 35
2.1.3.1 Huy động vốn 36
2.1.3.2 Hoạt động tín dụng 37
2.1.3.3 Hoạt động thanh toán quốc tế 37
2.1.3.4 Hoạt động thẻ và các dịch vụ khác 38
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh 38
2.2 Tình hình hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu tại Agribank chi nhánh Kiên Giang 39
2.2.1 Hoạt động tín dụng XNK của Agribank Kiên Giang giai đoạn 2010 - 2014 39 2.2.1.1 Quy định và quy trình thực hiện nghiệp vụ tài trợ XNK tại Agribank Kiên Giang 39
2.2.1.2 Chính sách tài trợ doanh nghiệp XNK của Agribank Kiên Giang 40
2.2.1.3 Tình hình hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu 43
2.2.2 Rủi ro tín dụng và nợ xấu 46
2.3 Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu tại Agribank Kiên Giang .49
2.3.1 Công tác nhận diện rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 51
2.3.1.1 Tình hình nhận diện rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 51
2.3.1.2 Phương pháp nhận diện rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 55
2.3.1.3 Những nguyên nhân, hạn chế, thiếu xót trong nhận diện rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 55
2.3.2 Công tác đo lường rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 56
2.3.2.1 Tình hình đo lường rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 56
Trang 72.3.2.2 Những mặt còn hạn chế trong đo lường rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu
57
2.3.3 Công tác kiểm soát rủi ro và xử lý, khắc phục hậu quả rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 58
2.3.3.1 Kiểm soát rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 58
2.3.3.2 Xử lý, khắc phục hậu quả rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 58
2.3.3.3 Những hạn chế trong kiểm soát rủi ro và xử lý, khắc phục hậu quả rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 60
2.3.4 Công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 60
2.3.4.1 Biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng XNK 60
2.3.4.2 Những nguyên nhân, hạn chế trong việc phòng ngừa rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 61
2.4 Nguyên nhân rủi ro tín dụng XNK 61
2.4.1 Nguyên nhân rủi ro từ phía Ngân hàng 62
2.4.2 Nguyên nhân rủi ro từ phía khách hàng 65
2.4 3 Nguyên nhân rủi ro tín dụng từ môi trường kinh doanh 67
2.5 Đánh giá chung 69
2.5.1 Những kết quả đạt được 69
2.5.2 Hạn chế 71
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI AGRIBANK KIÊN GIANG 73
3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 73
3.1.1 Chiến lược xuất nhập khẩu của Việt Nam đến năm 2020 73
3.1.2 Sự phát triển và mục tiêu định hướng của hoạt động xuất nhập khẩu tại Kiên Giang 74
3.1.3 Quan điểm chỉ đạo của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) về chính sách tín dụng & quản trị rủi ro tín dụng đến năm 2020 .74
3.1.3.1 Quan điểm 74
3.1.3.2 Mục tiêu 75
3.1.3.3 Định hướng phát triển cho vay DN xuất nhập khẩu 76
3.2 Các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu 77
Trang 83.2.1 Hoàn thiện công tác nhận diện rủi ro 77
3.2.1.1 Nâng cao chất lượng công tác thu thập, xử lý thông tin phòng ngừa rủi ro 77
3.2.1.2 Tăng cường công tác thẩm định tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu 78
3.2.1.3 Nâng cao trình độ, kỹ năng làm việc của cán bộ thẩm định cho vay 79
3.2.1.4 Nhận diện rủi ro hối đoái 80
3.2.1.5 Nhận diện rủi ro tín dụng từ phương thức thanh toán XNK 80
3.2.2 Hoàn thiện công tác đo lường rủi ro tín dụng tài trợ XNK 81
3.2.2.1 Tăng cường công tác đánh giá rủi ro khách hàng vay và rủi ro khoản vay .81
3.2.2.2 Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ 82
3.2.3 Hoàn thiện công tác giám sát, xử lý và khắc phục 83
3.2.3.1 Quản lý giám sát và kiểm soát chặt chẽ quá trình giải ngân và sau cho vay 83
3.2.3.2 Chú trọng công tác quản lý, khắc phục và thu hồi nợ 85
3.2.3.3 Thực hiện các biện pháp xử lý nợ 85
3.2.4 Hoàn thiện công tác phòng ngừa và ngăn chặn 86
3.2.4.1 Hoàn thiện chính sách cho vay và chính sách đảm bảo vốn cho vay xuất nhập khẩu 86
3.2.4.2 Chủ động phân tán rủi ro khi cho vay 89
3.2.4.3 Thực hiện nghiêm túc công tác trích lập quỹ dự phòng rủi ro 90
3.2.4.4 Nâng cao chất lượng các nghiệp vụ, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu 90
3.3 Một số kiến nghị 91
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ, các cơ quan Bộ, Ngành Trung ương 91
3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước 92
3.3.3 Kiến nghị đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu 93
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC………
Trang 9DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Agribank Kiên Giang Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Chi nhánh tỉnh Kiên Giang
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn vốn huy động 36
Bảng 2.2 Tăng trưởng nguồn vốn huy động 37
Bảng 2.3 Cơ cấu dư nợ 37
Bảng 2.4 Doanh số Thanh toán quốc tế 37
Bảng 2.5 Kết quả hoạt động kinh doanh 38
Bảng 2.6 Mô tả tình hình tài sản, nguồn vốn và đầu tư của Agribank Kiên Giang 39
Bảng 2.7 : Tình hình cấp tín dụng XNK của Agribank 43
Bảng 2.8: Dư nợ cho vay XNK theo kỳ hạn 44
Bảng 2.9: Dư nợ cho vay XNK theo loại tiền 44
Bảng 2.10 Dư nợ cho vay XNK theo ngành nghề 45
Bảng 2.11 Phân loại nợ 47
Bảng 2.12 : Bảng trích lập dự phòng rủi ro 48
Bảng 2.13 Nợ Xấu trong cho vay XNK 48
Bảng 2.14 : Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay XNK so với nợ xấu chung của chi nhánh 49
Bảng 2.15 : Tổng hợp xếp loại khách hàng DN XNK tại Agribank Kiên Giang 57
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1 Sơ đồ hệ thống tổ chức của Agribank Chi nhánh tỉnh Kiên Giang 35
Hình 2.2 Quy trình cho vay tại Agribank Kiên Giang 40
Hình 2.3 Quy trình quản trị rủi ro tại Agribank Kiên Giang 50
Hình 2.4 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng từ phía ngân hàng và 63
Tài sản đảm bảo tín dụng 63
Hình 2.5 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng từ phía khách hàng 65
Hình 2.6 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng XNK từ môi trường kinh doanh 67
Hình 2.7 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng XNK từ môi trường kinh doanh 67
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Giới thiệu chung
Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mở rộng phát triển thương mại quốc tế nói riêng và kinh tế đối ngoại của Việt Nam nói chung, đặc biệt trong bối cảnh đất nước chúng ta đang trong tiến trình hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng hơn Và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực sự
là thì trường lớn đối của các NHTM
Hoạt động tín dụng tài trợ XNK một mặt đem lại doanh thu và lợi nhuận lớn cho ngân hàng, mặt khác đây cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro cao xuất phát tử những đặc điểm riêng có của lĩnh vực này Khi rủi ro tín dụng tài trợ XNK không được quản trị tốt sẽ dẫn đến tỷ lệ nợ xấu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của mỗi ngân hàng, cao hơn nó còn gây tác động xấu đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế
Để có thể mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng trong tài trợ XNK cho các doanh nghiệp, quản trị rủi ro trở thành định hướng chiến lược quan trọng đối với các NHTM Việt Nam và Agribank Kiên Giang cũng không nằm ngoài định hướng chung
đó Đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng trong tài trợ xuất nhập khẩu tại Agribank chi nhánh Kiên Giang” được thực hiện nhằm đề xuất một số giải pháp cụ thể để nâng cao
năng lực quản lý, phát triển khách hàng XNK trong tương lai
2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu trong đề tài này được thực hiện qua 2 bước chính: nghiên cứu định tính và định lượng (thống kê mô tả) Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: Thu thập và xử lý thông tin
từ các báo cáo của Ngân hàng, nguồn sách báo, tham khảo các quy định, văn bản của Agribank và các tài liệu, tạp chí từ các cơ quan, các đề tài nghiên cứu có liên quan, các
phương tiện truyền thông, thông tin thương mại, các tổ chức hiệp hội…
Phương pháp thống kê mô tả được thưc hiện từ kết quả khảo sát thăm dò ý kiến nhân viên ngân hàng và các khách hàng Tác giả đã phỏng vấn trực tiếp các cán bộ tín dụng của ngân hàng và các khách hàng có giao dịch tín dụng XNK với Agribank Số lượng bản câu hỏi được phát ra là 50 bản và thu về 50 bản Dữ liệu sau khi thu thập được mã hóa, làm sạch và tiến hành phân tích bằng sử dụng kỹ thuật xử lý dữ liệu
Trang 12phần mềm SPSS 16.0
3 Nội dung chính của luận văn
Nghiên cứu của tác giả dựa trên các cơ sở lý thuyết sẵn có, đặc biệt là mô hình quản trị rủi ro tín dụng để hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại Agirbank chi nhánh tỉnh Kiên Giang Bên cạnh đó, đề tài cũng đã khái quát về lịch sử hình thành, kết quả kinh doanh, phân tích chi tiết các hoạt động tín dụng tài trợ XNK của Agribank chi nhánh tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2010 - 2014 đồng thời thực hiện khảo sát ý kiến khách hàng về những nguyên nhân rủi ro tín dụng trong XNK của các doanh nghiệp Từ đó, đề tài đã đánh giá về mặt đạt được cũng như những hạn chế cần khắc phục và những nguyên nhân ảnh hưởng đến rủi ro tài trợ XNK để làm cơ sở cho các giải pháp Với những kết quả đạt được, đề tài nghiên cứu đã có những đóng góp nhất định, cụ thể đề xuất các biện pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng XNK và tăng cường năng lực cạnh tranh của Agribank chi nhánh tỉnh Kiên Giang như: Hoàn thiện công tác nhận diện rủi ro; Hoàn thiện công tác đo lường rủi ro tài trợ tín dụng XNK; Hoàn thiện công tác xử lý khắc phục; Hoàn thiện công tác phòng ngừa và ngăn chặn
4 Kết luận và kiến nghị
Hoạt động tín dụng đóng vai trò quan trọng đối với các NHTM và nền kinh tế, đem lại doanh thu và lợi nhuận lớn cho ngân hàng Tuy nhiên đây cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất, đặc biệt là trong nghiệp vụ tín dụng tài trợ XNK Tín dụng tài trợ XNK còn chứa đựng những rủi ro liên quan đến tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới, đến hoạt động thương mại quốc tế (tỷ giá, phương thức mua bán, thanh toán…)
Sau khi phân tích những mặt còn hạn chế trong chính sách và công tác quản trị rủi ro đối với các hoạt động tín dụng tài trợ XNK, tác giả đã mạnh dạn đề xuất 4 nhóm chính sách cho Agribank Kiên Giang nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đưa ra những kiến nghị đối với Chính phủ, các cơ quan Bộ, Ngành Trung ương ; Ngân hàng nhà nước, các doanh nghiệp XNK nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong tài trợ XNK tại Agribank Kiên Giang trong thời gian tới
Từ khóa : tín dụng, tài trợ, xuất nhập khẩu, Agribank
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã và đang thực hiện quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, mở cửa nền kinh tế và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Nhờ vậy, hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt động XNK nói riêng của Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng kể và ngày càng khẳng định vị trí của mình trong toàn bộ nền kinh tế XNK là hoạt động tất yếu khách quan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển đất nước và đã góp phần đáng kể vào tăng nguồn thu ngân sách đặc biệt là thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán, giải quyết công ăn việc làm cho người dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao vị thế của đất nước trong nền kinh tế toàn cầu
Để hoạt động XNK đạt được những kết quả như vậy không thể không kể đến vai trò quan trọng của các ngân hàng - kênh chu chuyển vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng cho nền kinh tế, cho doanh nghiệp Khi hoạt XNK càng phát triển thì nhu cầu vốn của các doanh nghiệp XNK cũng càng lớn, do đó kéo theo sự phát triển của hoạt động tín dụng tài trợ XNK
Hoạt động tín dụng đóng vai trò quan trọng đối với các NHTM và nền kinh tế, đem lại doanh thu và lợi nhuận lớn cho ngân hàng Tuy nhiên đây cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất, đặc biệt là trong nghiệp vụ tín dụng tài trợ XNK Ngoài những rủi ro tín dụng nói chung thì tín dụng tài trợ XNK còn chứa đựng những rủi ro liên quan đến tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới, đến hoạt động thương mại quốc
tế (tỷ giá, phương thức mua bán, thanh toán…) Khi rủi ro tín dụng tài trợ XNK không được quản trị tốt sẽ dẫn đến tỷ lệ nợ xấu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của mỗi ngân hàng, cao hơn nó còn gây tác động xấu đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế
Đối với Agribank Kiên Giang, mặc dù có những nỗ lực lớn trong công tác tín dụng tài trợ XNK, công tác Quản trị rủi ro cho hoạt động tín dụng này vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, nhất là trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh khốc liệt giữa các NHTM Việc hoàn thiện công tác quản trị rủi ro là vấn đề khó khăn nhưng rất bức thiết Xuất phát từ những lý do nêu trên, việc nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong tài trợ XNK là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cấp bách
Trang 14đối với ngân hàng Agribank Kiên Giang Là một cán bộ quản lý của Agribank Kiên
Giang, tôi đã lựa chọn đề tài: “Quản trị rủi ro tín dụng trong tài trợ xuất nhập khẩu tại Agribank chi nhánh Kiên Giang” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ, với
mong muốn nghiên cứu hoàn thiện công tác tín dụng tài trợ XNK của đơn vị
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu, đánh giá thực trạng tình hình rủi ro tín dụng tài trợ XNK; phát hiện những bất cập trong công tác quản trị rủi ro tại Agribank Kiên Giang trong giai đoạn qua và nguyên nhân của các bất cập này, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tài trợ XNK tại Ngân hàng Nông Nghiệp
và Phát Triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Kiên Giang (Agribank chi nhánh Kiên Giang) trong thời gian tới
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể để hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tài trợ XNK tại Agribank Kiên Giang
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Những yếu tố nào có ảnh hưởng đến rủi ro cấp tín dụng tài trợ XNK của Agribank Kiên Giang ?
Ngân hàng Agribank Kiên Giang đã quản lý rủi ro tín dụng trong tài trợ XNK như thế nào ?
Những hàm ý giải pháp nào có thể giúp Agribank Kiên Giang nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong tài trợ XNK ?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu và công tác quản
trị rủi ro tín dụng XNK của ngân hàng thương mại
Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung
Trang 15Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống những lý luận, các quy định liên quan đến vấn đề quản trị rủi ro tín dụng XNK, các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng XNK, thực trạng tình hình quản trị rủi ro tín dụng tài trợ XNK tại Agribank Kiên Giang Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong tài trợ XNK tại Agribank Kiên Giang
+ Về Thời gian: số liệu về Agribank Kiên Giang được thu thập từ năm 2010 đến 2014 Điều tra khảo sát được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 3/2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng đồng thời các phương pháp phân tích nghiên cứu định tính và
định lượng
5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính:
Sử dụng phương pháp luận biện chứng kết hợp với phương pháp nghiên cứu thống kê, so sánh, tổng hợp và phân tích…đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tiễn nhằm giải quyết và làm sáng tỏ các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín
dụng tài trợ XNK tại Agribank Kiên Giang
5.2 Phương pháp phân tích định lượng:
Sử dụng phân tích thống kê mô tả và tương quan bảng chéo từ các dữ liệu điều tra, sử dụng kỹ thuật xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS 16.0
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu của luận văn
Cho đến nay, đã có khá nhiều nghiên cứu có liên quan đến việc phát triển các hình thức tài trợ hoạt động XNK, đến công tác quản trị rủi ro tín dụng đã được thực hiện ở Việt Nam, trong đó có một số công trình tiêu biểu như:
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Hải Đăng “Hạn chế rủi ro tín dụng
NHNo&PTNT Vũng Tàu”, trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (2012) Đề
tài đã tiếp cận những vấn đề rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Chi nhánh Vũng Tàu, đưa ra giải pháp, định hướng nhằm hạn chế rủi ro về tín dụng cho chi nhánh Vũng Tàu
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Ánh Thủy “Nâng cao chất lượng
quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh”, trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (2009)
Trên cơ sở hệ thốn hóa những lý luận cơ bản về quản trị rủi ro của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, so sánh với thực tiễn đánh giá hoạt động quản trị rủi ro tín dụng
Trang 16tại Ngân hàng Ngoại thương chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh; luận văn đã xây dựng các định hướng, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro đảm bảo cho hoạt động tín dụng tăng trưởng ổn định và bền vững
- Các luận văn thạc sỹ của tác giả Huỳnh Xuân Giao: “Quản trị rủi ro tín dụng
tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT chi nhánh tỉnh Kiên Giang”,trường Đại học Nha
Trang (2014); của tác giả Nguyễn Hồng Châu “Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng đối
với DNVVN tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT khu vực TP.HCM”, trường Đại học
Kinh tế TP.HCM (2008) cũng đã đề cập đến những gợi ý chính sách nhằm giảm thiểu rủi ro trong công tác tín dụng thông qua việc hoàn thiện quy trình quản trị rủi ro tín dụng sau khi xem xét phân tích các kết quả khảo sát ý kiến của khách hàng về nợ quá hạn
- “Nghiên cứu chính sách tài chính tài trợ hoạt động xuất khẩu của các DNVVN Việt Nam” của tác giả Phạm Đình Cường, Phó vụ trưởng, Vụ NSNN, Bộ Tài chính; đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến chính sách tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ ở Việt Nam
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Nam Long (2008), “Tín dụng tài trợ xuất
nhập khẩu của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam”, trường Đại học kinh tế - ĐH
Quốc gia Hà nội Trên cơ sở phân tích thực trạng tín dụng tài trợ XNK của Vietcombank, tác giả đã đề xuất 7 nhóm giải pháp phát triển dịch vụ, tiêu biểu như : Hoàn thiện quy trình tín dụng, tăng cường huy động vốn, đa dạng hóa các hình thức cho vay… cùng 2 nhóm giải pháp điều kiện đối với Nhà nước và Ngân hàng nhà nước
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về Quản trị rủi ro tín dụng tài trợ XNK tại ngân hàng Agribank chi nhánh Kiên Giang Đề tài chưa có sự trùng lắp về nội dung
7 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Ý nghĩa khoa học
Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề quản trị rủi ro của các NHTM trong hoạt động tín dụng tài trợ XNK cho các doanh nghiệp
Ý nghĩa thực tiễn
Vận dụng lý luận để nghiên cứu, đánh giá thực tiễn hoạt động tại NHTM, nhận diện những rủi ro tín dụng XNK, những nguyên nhân rủi ro và kiến nghị giải pháp
Trang 17quản trị rủi ro Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần nâng cao chất lượng quản
trị rủi ro tín dụng XNK và tăng cường năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh tỉnh Kiên Giang
8 Nội dung chính của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, nội
dung luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng tài trợ xuất nhập
khẩu của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng trong tài trợ xuất nhập
khẩu tại Agribank Kiên Giang
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng
trong tài trợ xuất nhập khẩu tại Agribank Kiên Giang
Trang 18
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TÀI TRỢ XUẤT
NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Rủi ro tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại
1.1.1 Các khái niệm
Rủi ro tín dụng (RRTD) là rủi ro dễ xảy ra nhất trong hoạt động ngân hàng và gây hậu quả nặng nề nhất Trong khi đó, hầu hết các ngân hàng có dư nợ tín dụng chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng, vì vậy việc quản trị rủi ro tín dụng có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng Ở tất cả các nước, rủi ro tín dụng là vấn đề được đặc biệt quan tâm không chỉ ở phạm vi các ngân hàng mà cả trong toàn nền kinh tế
Một số khái niệm về tín dụng và rủi ro tín dụng, như sau:
“Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng
và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác [16]
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian
nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” [16]
Từ các khái niệm trên, chúng ta thấy ý nghĩa khái niệm tín dụng rộng hơn khái niệm cho vay Cho vay chỉ là một hình thức cấp tín dụng
Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn Tuy nhiên, không
phải bất cứ sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro
Đặc điểm của rủi ro tín dụng:
RRTD xảy ra thường tạo cho ngân hàng những tổn thất về tài chính Những những thiệt hại về uy tín của ngân hàng, về mất lòng tin của khách hàng là những tồn
Trang 19thất còn lớn hơn rất nhiều lần, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Có thể nói RRTD giống như “ngòi nổ” tự mình nó sự phá hoại chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp, nhưng khi có những chất kích nổ sẽ tạo ra sự phá hoại lan truyền RRTD lúc đó có thể là đầu mối của những cuộc khủng hoảng tài chính hoặc khủng hoảng kinh tế - xã hội
RRTD không thể đo lường chính xác: Các ngân hàng luôn cố gắng giảm thiểu RRTD, như: sàng lọc và thẩm định chặt chẽ khách hàng vay, thiết lập mối quan hệ khách hàng lâu dài, qui định các mức tín dụng, tài sản thế chấp, số dư bù và các điều kiện cấp tín dụng Tuy nhiên, không ngân hàng nào đo lường hết mọi sự bất ngờ khi rủi ro tín dụng xảy ra, mà chỉ có thể dùng các biện pháp quản trị rủi ro để hạn chế rủi
ro tín dụng và giảm thiểu tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra
Trong hoạt động tín dụng đòi hỏi ngân hàng phải tìm mọi cách để kiểm soát được khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán của khách hàng, ít nhất cũng là dự tính, phán đoán khả năng này Không phải bao giờ dự tính này cũng chính xác tuyệt đối và thời gian qua đi thì khả năng phán đoán lại càng trở nên khó hơn
1.1.1.2 Rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu
RRTD xuất nhập khẩu (XNK) là những biến cố xảy ra làm giảm khả năng trả
nợ hoặc làm mất khả năng thực hiện cam kết về nghĩa vụ nợ của khách hàng đối với ngân hàng trong hoạt động tín dụng tài trợ XNK Nghĩa vụ nợ ở đây là những cam kết
về điều khoản, thời hạn, nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, nợ lãi hoặc cả gốc và lãi của khoản cấp tín dụng
1.1.2 Các loại rủi ro tín dụng trong tài trợ xuất nhập khẩu
RRTD trong tài trợ XNK bao gồm rủi ro chung của hoạt động tín dụng xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan hay khách quan từ phía ngân hàng, khách hàng hay môi trường bên ngoài, làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ gốc và lãi đúng hạn, đầy đủ theo cam kết giữa khách hàng và ngân hàng Ngoài ra, do tính chất của hoạt động xuất nhập khẩu là phương thức giao thương quốc tế, nên RRTD trong tài trợ XNK chịu tác động của nhiều yếu tố ngẫu nhiên, bất ngờ khó nắm bắt và có những nét đặc thù riêng
RRTD trong tài trợ XNK có thể chia ra thành các nhóm rủi ro như sau:
1.1.2.1 Rủi ro từ quy trình cấp tín dụng của ngân hàng
Đây là những rủi ro phát sinh trong quy trình cấp tín dụng của ngân hàng từ
Trang 20khâu: Thu thập thông tin, xem xét hồ sơ tín dụng, thẩm định tín dụng, ra quyết định, cho đến khâu quản lý và thu hồi khoản tín dụng
Nguyên nhân chủ yếu của loại rủi ro này là từ những kẽ hở, những quy định chung chung thiếu chặt chẽ trong quy trình tín dụng của ngân hàng Hoặc, khi ngân hàng xây dựng quy định, quy trình tín dụng, thẩm định cấp tín dụng, quản lý tín dụng còn kém hiệu quả hoặc phương pháp xem xét, phân tích, quản trị rủi ro còn hạn chế, chưa chính xác
1.1.2.2 Rủi ro tác nghiệp của nhân viên ngân hàng
Đây là những rủi ro phát sinh từ sự thiếu sót, sai lệch số liệu xảy ra trong quá trình tác nghiệp của ngân viên ngân hàng như: Xác định sai nhu cầu vốn, đánh giá sai năng lực của khách hàng về khả năng tài chính, phân tích ngành hàng kinh doanh, xác định sai giá trị tài sản bảo đảm, hay sai sót của hệ thống phần mềm ngân hàng trong khi vận hành
Nguyên nhân của những rủi ro này có thể là do trình độ, năng lực, đạo đức nghề nghiệp của nhà quản trị và nhân viên ngân hàng
1.1.2.3 Rủi ro tiềm ẩn từ phương thức thanh toán
Trong giao thương quốc tế, mỗi phương thức thanh toán điều tiềm ẩn những loại rủi ro nhất định đối một bên hoặc cả hai bên tham gia vào giao dịch ngoại thương Khi phương thức thanh toán càng có nhiều ưu đãi cho bên nhập khẩu thì sẽ chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn cho bên xuất khẩu và ngược lại khi phương thức thanh toán càng
có nhiều ưu đãi cho bên xuất khẩu thì sẽ chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn cho bên nhập khẩu
Vì vậy khi cấp tín dụng tài trợ XNK, tùy vào từng phương thức thanh toán và vai trò của các bên trong quan hệ thương mại mà mức độ rủi ro và loại rủi ro cũng khác nhau, như:
a) Rủi ro trong phương thức thanh toán chuyển tiền (TT: Telegraphic Transfer Remittance): Theo phương thức này nhà xuất khẩu sẽ giao hàng trước cho
nhà nhập khẩu, sau đó nhà nhập khẩu mới thanh toán tiền hàng bằng điện chuyển tiền qua ngân hàng cho nhà xuất khẩu
Đối với phương thức thanh toán chuyển tiền, thì rủi ro sẽ dồn hết cho bên xuất khẩu Do đó rủi ro tín dụng sẽ phát sinh đối với nhà xuất khẩu khi nhà nhập khẩu từ chối thanh toán hoặc chậm trễ thanh toán làm ảnh hưởng đến nguồn thu và khả năng
Trang 21tài chính, khả năng trả nợ của nhà xuất khẩu
Phương thức thanh toán chuyển tiền có độ rủi ro cao cho nhà xuất khẩu Về phía ngân hàng, thì đây là loại rủi ro tín dụng có khả năng xảy ra cao khi cấp tín dụng XNK cho khách hàng là nhà xuất khẩu
b) Rủi ro trong phương thức thanh toán nhờ thu:
- Phương thức thanh toán nhờ thu trơn (Clean collection) Trong phương thức
này, thì nhà xuất khẩu sau khi giao hàng sẽ tiến hành lập bộ chứng từ và gửi cho nhà nhập khẩu để nhận hàng, sau đó nhà xuất khẩu phát hành hối phiếu để nhờ ngân hàng thu hộ tiền từ nhà nhập khẩu
Theo phương thức nhờ thu trơn, thì ngân hàng sẽ căn cứ vào hối phiếu để thực hiện truy đòi đối với nhà nhập khẩu, tuy nhiên nhà nhà nhập đã nhận hàng và bộ chứng từ nên có thể xảy ra rủi ro nhà nhập khẩu không thực hiện thanh toán hoặc chậm thanh toán làm ảnh hưởng đến nguồn thu và khả năng tài chính, khả năng trả nợ của nhà xuất khẩu
Phương thức thanh toán nhờ thu trơn cũng có độ rủi ro cao cho nhà xuất khẩu
Về phía ngân hàng, thì đây là loại rủi ro tín dụng có khả năng xảy ra khá cao khi cấp tín dụng XNK cho khách hàng là nhà xuất khẩu
- Thanh toán theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection): Theo phương thức này nhà xuất khẩu sau giao hàng sẽ tiến hành lập bộ
chứng từ và hối phiếu gửi cho ngân hàng Ngân hàng sẽ căn cứ vào hối phiếu để truy đòi nhà nhập khẩu; và chỉ khi nhà nhập khẩu thanh toán tiền hoặc chấp nhận thanh toán thì ngân hàng mới giao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu để nhận hàng
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ cũng góp phần hạn chế rủi ro cho nhà xuất khẩu thông qua việc nhờ ngân hàng thu hộ và ngân hàng chỉ giao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu nhận hàng khi nhà nhập khẩu thực hiện thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
Đây là cũng phương thức thanh toán có độ rủi ro khá cao đối với nhà xuất khẩu
vì nhà nhập khẩu có thể từ chối nhận hàng và thanh toán
Khi ngân hàng cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu, thì rủi ro tín dụng chủ yếu xuất phát từ việc nhà nhập khẩu nước ngoài không chịu nhận hàng, đơn phương hủy hợp đồng hay trì hoãn nhận hàng và thanh toán, từ đó ảnh hưởng đến nguồn thu và khả năng tài chính, khả năng trả nợ của nhà xuất khẩu
Trang 22c) Rủi ro trong Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C: Letter of credit):
Phương thức thanh toán này có thể khái quát như sau: nhà nhập khẩu sẽ đề nghị
mở L/C tại ngân hàng ở nước nhập khẩu (ngân hàng mở L/C) cho người thụ hưởng là nhà xuất khẩu, và ngân hàng mở L/C sẽ thông báo cho ngân hàng của người xuất khẩu Sau khi người xuất khẩu hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, sẽ lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và gửi cho ngân hàng của mình để xuất trình cho ngân hàng mở L/C kiểm tra tính hợp lệ Khi bộ chứng từ hợp lệ thì ngân hàng mở L/C sẽ tiến hành thanh toán (đối với L/C trả ngay) hoặc xác nhận chấp nhận thanh toán (đối với L/C trả chậm)
Đây là phương thức thanh toán hạn chế tối đa rủi ro cho các bên tham gia nhờ
có sự tham gia bảo lãnh nghĩa vụ thanh toán của các ngân hàng
Tuy nhiên, vẫn có những rủi ro phát sinh khi bộ chứng từ không phù hợp hoặc
có sai sót do có tính độc lập của hợp đồng ngoại thương và nội dung của thư tín dụng
Khi phát sinh bộ chứng từ không phù hợp, thì bên nhập khẩu cũng có thể từ chối thanh toán và ảnh hưởng đến nguồn thu, khả năng trả nợ của nhà xuất khẩu, dẫn đến phát sinh rủi ro tín dụng cho ngân hàng
1.1.2.4 Rủi ro hối đoái
Là những rủi ro phát sinh từ sự biến động bất lợi ngoài dự tính của tỷ giá ngoại
tệ và các chính sách quản lý ngoại hối của chính phủ, làm ảnh hưởng đến nguồn thu, khả năng tài chính của khách hàng có thể phát sinh rủi ro tín dụng cho ngân hàng
Sự biến động bất lợi của tỷ giá có ảnh hưởng lớn đến doanh thu, lợi nhuận và khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp XNK từ đó có thể phát sinh rủi ro tín dụng XNK cho ngân hàng như:
- Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, khi thu mua nguyên vật liệu để sản xuất và thu mua hàng hóa trong nước để xuất khẩu thì vay vốn bằng VNĐ Nhưng khi xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài thì lại thu về ngoại tệ, do đó phải quy đổi ngoại tệ ra VNĐ để thanh toán nợ vay cho ngân hàng Nếu tại thời điểm nhận thanh toán tiền hàng bằng ngoại tệ, mà tỷ giá biến động giảm thì khi quy đổi sẽ làm giảm doanh thu của doanh nghiệp từ đó làm ảnh hưởng khả năng thanh toán nợ vay
- Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa để sản xuất kinh doanh trong nước, khi mua thu nguyên liệu, phụ kiện, hàng hóa ở nước ngoài thì thường vay vốn bằng ngoại tệ để thanh toán Nhưng bán hàng hóa ở trong nước lại thu về VNĐ, khi
Trang 23đến hạn thanh toán nợ vay thì phải trả bằng ngoại tệ, nên phải quy đổi VNĐ thành ngoại tệ Nếu tại thời điểm nhận thanh toán nợ vay bằng ngoại tệ, mà tỷ giá biến động tăng thì khi quy đổi sẽ làm giảm khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Với các ngân hàng, dù cấp tín dụng hay thu hồi vốn cùng một loại ngoại tệ, nhưng khi có sự biến động bất lợi của tỷ giá tại thời điểm hoạch toán theo quy định thì cũng gây ra những tổn thất về tỷ giá cho ngân hàng (vì khi hoạch toán ngân hàng phải quy đổi ngoại tệ thành VNĐ)
Tóm lại, trong nền kinh tế khi có sự điều chỉnh chính sách hối đoái như: Điều chỉnh tỷ giá, điều chỉnh các quy định quản lý ngoại hối (chẳng hạn như: điều chỉnh các quy định về việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, điều chỉnh biên độ +/- % tỷ giá mua bán ngoại tệ của các ngân hàng ), hay chính sách thắt chặt quản lý ngoại hối, có thể
sẽ gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp XNK và cả ngân hàng Doanh nghiệp gặp khó khăn trong kinh doanh sẽ làm giảm khả năng trả nợ của doanh nghiệp XNK, từ đó có thể gây ra rủi ro tín dụng XNK cho ngân hàng
1.1.2.5 Rủi ro mang tính quốc gia
Quan hệ giao thương XNK của các doanh nghiệp sẽ có nhiều đối tác tại nhiều quốc gia khác nhau Mỗi quốc gia sẽ có nhiều điểm khác biệt về phong tục tập quán, tình hình kinh tế - chính trị - xã hội, hành lang pháp lý Do đó, khi giao thương quốc
tế, mà hai bên không có sự am hiểu lẫn nhau về mỗi quốc gia, sẽ có thể dẫn đến những sai lầm trong việc thỏa thuận giao dịch thương mại
Ngoài ra, khi có những biến cố về tình hình kinh tế - chính trị - xã hội, chính sách, pháp luật xảy ra ở một trong các quốc gia của các bên thì sẽ ảnh hưởng đến giao dịch thương mại quốc tế Những biến cố này có thể sẽ dẫn đến việc không thực hiện nghĩa vụ của các bên trong giao dịch thương mại, gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và làm giảm khả năng trả nợ của các doanh nghiệp từ đó có thể phát sinh rủi ro tín dụng cho ngân hàng
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu
Rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro tín dụng XNK nói riêng chịu nhiều sự tác động phức tạp của các nhân tố Sau đây là một số nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tín dụng tài trợ XNK:
1.2.1 Các nhân tố từ môi trường kinh doanh
Một sự thay đổi về chính sách, quy định của pháp luật hay sự biến động về tình
Trang 24hình kinh tế - xã hội là những nhân tố tác động rất lớn đến rủi ro tín dụng ngân hàng, đặc biệt là tín dụng XNK, vì đây là loại hình tín dụng chịu nhiều ảnh hưởng của sự biến động về tỷ giá, giá cả, xu hướng thị trường Và các nhân tố này ảnh hưởng đến những dự đoán, đánh giá của ngân hàng khi thẩm định tín dụng, bao gồm các nhân tố:
Nhân tố kinh tế: Khi có sự biến động bất thường của một nhân tố kinh tế nào đó
(Tỷ giá, hạn ngạch thuế quan, lạm phát ) thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp XNK Đối với ngân hàng, khi có sự biến động của các nhân tố kinh tế sẽ làm sai lệch kết quả thẩm định tín dụng, những dự đoán về khả năng trả nợ của khách hàng sẽ trở nên thiếu chính xác
Lạm phát tăng nhanh sẽ làm cho khách hàng phải trả một khoản nợ lớn và chịu chi phí lớn hơn, hiệu quả kinh doanh cũng giảm Lạm phát là nhân tố kinh tế biến động rất phức tạp, có thể tăng rất nhanh, trong khi sự ước tính của các ngân hàng chỉ giới hạn bởi các thông số thị trường tại thời điểm hiện tại Nên khi lạm phát xảy ra có thể tăng rất nhanh, vượt qua sự ước tính thiệt hại của ngân hàng và doanh nghiệp, có thể sẽ dẫn đến làm giảm khả năng hoặc mất khả năng trả nợ của khách hàng
Sự thay đổi chính sách lãi suất, thay đổi chính sách về tín dụng của chính phủ cũng làm ảnh hưởng đến việc ước tính mức chênh lệch lãi suất huy động đầu vào và lãi suất cấp tín dụng đầu ra, ước tính phần thưởng rủi ro của nhà quản trị ngân hàng
Nhân tố xã hội: Các nhân tố xã hội như an ninh trật tự và an toàn xã hội, trình
độ dân trí, ngoài việc ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động quản trị của các doanh nghiệp, các ngân hàng; mà còn ảnh hưởng đến những nhân viên trong doanh nghiệp, ngân hàng
Nếu có sự biến động tình hình xã hội như bạo động, biểu tình, tại khu vực doanh nghiệp, ngân hàng đang hoạt động thì sẽ làm cho hoạt động của doanh nghiệp, ngân hàng bị đình trệ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp và công tác quản trị rủi ro của ngân hàng ngoài dự tính Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tại khu vực có tình hình an ninh, trật tự xã hội không tốt thì sẽ tạo tâm lý không an toàn cho các ngân hàng khi cấp tín dụng
Các mối quan hệ xã hội của các cá nhân trong doanh nghiệp hay ngân hàng, đôi khi cũng bị những tác động xấu của xã hội làm cho họ bị ức chế, sa đọa, bê trễ công việc từ đó dễ gây ra các rủi ro trong việc tác nghiệp tín dụng (sự thông đồng, có ý làm sai của nhân viên ngân hàng hay cố tình lừa đảo, giả mạo giấy tờ, cung cấp sai thông
Trang 25tin từ phía khách hàng) dẫn đến làm sai lệch các thông tin, các quyết định tín dụng
Nhân tố pháp lý: Môi trường pháp lý trong kinh doanh là tổng hợp các yếu tố
pháp lý có tác động đến hoạt động kinh doanh, bao gồm hệ thống pháp luật và sự chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh
Nếu các quy định của pháp luật không rõ ràng, không đồng bộ, không kịp thời, không ổn định và có nhiều kẽ hở thì sẽ rất khó khăn cho ngân hàng trong việc quản trị rủi ro tín dụng nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung Các doanh nghiệp có thể lợi dụng các kẻ hở để có ý làm sai hay các ngân hàng sẽ không đủ các cơ sở pháp lý để
xử lý khoản tín dụng
Các thiệt hại do thiên tai như bão lụt, động đất, hỏa hoạn sẽ gây thiệt hại
nghiêm trọng đến khả năng trả nợ của khách hàng
Ngoài ra, quan hệ giao thương XNK của các doanh nghiệp là quan hệ giữa nhiều đối tác tại các quốc gia khác nhau Do đó, khi có những biến động về tình hình kinh tế - chính trị - xã hội, chính sách, pháp luật xảy ra ở một trong các quốc gia của các bên tham gia; hay sự thay đổi về thông lệ, hiệp thương giao dịch quốc tế thì sẽ ảnh hưởng đến giao dịch thương mại quốc tế giữa các bên Những biến cố này có thể sẽ dẫn đến việc không thực hiện nghĩa vụ của một trong các bên khi giao dịch thương mại và sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp XNK
1.2.2 Các nhân tố về năng lực của doanh nghiệp xuất nhập khẩu
Khách hàng là người lập phương án, dự án đề nghị cấp tín dụng và sau khi được ngân hàng chấp nhận Họ cũng là người trực tiếp sử dụng vốn tín dụng để sản xuất kinh doanh Vì vậy, các nhân tố từ khách hàng ảnh hưởng rất lớn đến rủi ro tín dụng, chẳng hạn như :
Sử dụng vốn sai mục đích như là: Đề nghị cấp tín dụng để thu mua hàng hóa
XK nhưng lại sử dụng để thu mua nguyên vật liệu sản xuất hàng hóa trong nước,
Sử dụng vốn kém hiệu quả như là: Nhập khẩu những mặt hàng lỗi thời, công
nghệ cũ không theo kịp nhu cầu thị trường hoặc không dự tính nhu cầu, giá cả thị trường nên từ khi nhập khẩu hàng hóa đến khi tiêu thụ hàng hóa thì nhu cầu và giá cả hàng hóa đã giảm
Năng lực quản lý, tổ chức kinh doanh của khách hàng kém, không đón đầu
công nghệ mới, đầu tư nhiều lĩnh vực, dàn trải vượt quá khả năng
Trang 26Khách hàng thiếu trung thực khai báo thông tin không đầy đủ, cung cấp số liệu
sai lệch, làm giả giấy tờ, hợp đồng ngoại thương thì sẽ làm cho việc thẩm định và ra quyết định tín dụng mắc sai lầm dẫn đến khả năng xảy ra rủi ro rất cao Đối với tín dụng tài trợ XNK thì rủi ro do khách hàng thông đồng với đối tác nước ngoài để làm giả hợp đồng ngoại thương là rất dễ xảy ra, vì ngân hàng muốn kiểm tra tính sát thực của đối tác nước ngoài của khách hàng là rất khó khăn
Khách hàng thiếu thiện trí trả nợ: Cho dù khách hàng có khả năng trả nợ
nhưng lại không có thiện chí trả nợ, thì ngân hàng cũng sẽ rất khó khăn trong việc thu hồi vốn đúng hạn
Tài sản bảo đảm của tín dụng tài trợ XNK thường là hàng hóa, máy móc thiết
bị XNK , đây là những tài sản đảm bảo khó thanh lý, dễ bị hư hỏng, giảm giá trị Vì vậy khi khách hàng gặp rủi ro không thể trả nợ, ngân hàng thanh lý tài sản để thu nợ là rất khó khăn và có thể giá trị tài sản không đủ để hoàn trả nợ
1.2.3 Các nhân tố từ nghiệp vụ cấp tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng
Các quy định, quy trình, chính sách tín dụng cứng nhắc, không hợp lý, không
ổn định, còn lỏng lẻo, chưa quy định các điều kiện ràng buộc cụ thể cho từng phương thức cấp tín dụng XNK
Thẩm định tín dụng XNK còn kém chất lượng chưa chú trọng phân tích các yếu tố thị thường, sự biến động tỷ giá, những rủi ro có thể phát sinh trong thương mại quốc tế, các phương thức thanh toán và dự phòng tài chính của khách hàng hoặc phương pháp phân tích còn hạn chế, thiếu chính xác
Thông tin tín dụng còn sơ sài, chưa đầy đủ hoặc thông tin có mức tin cậy không cao, đánh giá sai tầm quan trọng của các thông tin
Chi phí vốn tín dụng: Khi lãi suất tín dụng cao sẽ làm tăng chi phí sử dụng vốn
và ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Khi ngân hàng tăng trưởng tín dụng mà không có sự kiểm soát chất lượng tín dụng: Bỏ bớt các điều kiện tín dụng, thực hiện cấp tín dụng không đúng quy định, thiếu kiểm soát quản lý tín dụng trước, trong và sau khi cấp tín dụng Ngân hàng quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến cấp tín dụng quá liều lĩnh, tập trung cấp tín dụng quá nhiều vào một ngành nào đó
Những nhân viên làm công tác tín dụng không tuân thủ quy định, chính sách, quy trình tín dụng, thiếu kinh nghiệm, sự am hiểu trong hoạt động thương mại quốc tế
Trang 27hoặc vi phạm đạo đức nghề nghiệp
Việc định giá tài sản không đảm bảo không chính xác hoặc không thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết Chủ yếu việc xác định giá trị tài sản bảo đảm là chính hàng hóa, máy móc thiết bị XNK được ngân hàng cấp tín dụng tài trợ XNK là dựa vào hóa đơn thương mại và hợp đồng ngoại thương của khách hàng mà thiếu sự tham khảo, xác định giá trị thị trường của những hàng hóa, máy móc thiết bị đó nên giá trị định giá thường không chính xác
1.3 Quản trị rủi ro trong tín dụng xuất nhập khẩu
1.3.1 Khái niệm
Quản trị là quá trình mà chủ thể tác động vào các đối tượng để đạt được mục
tiêu
Quản trị rủi ro tín dụng theo ủy ban Basel
Nguyên tắc Basel về quản trị nợ xấu: Quan điểm của Ủy ban Basel là sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia sẽ đe dọa đến sự ổn định về tài chính trên toàn quốc gia đó Vì vậy nâng cao sức mạnh của hệ thống tài chính là điều mà Ủy ban Basel quan tâm Ủy ban đã ban hành 17 nguyên tắc về quản trị nợ xấu, quản trị RRTD và đảm bảo tính hiệu quả, an toàn trong hoạt động cấp tín dụng tập trung vào các nội dung cơ bản sau:
Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp: Hội đồng Quản trị phải phê duyệt
định kỳ chính sách RRTD, xem xét RRTD và xây dựng một chiến lược xuyên suốt trong hoạt động của ngân hàng về tỷ lệ nợ xấu, mức độ chấp nhận rủi ro, Trên cơ sở
đó, Ban điều hành có trách nhiệm thực thi các định hướng này và phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát nợ xấu cho từng khoản vay và cho cả danh mục đầu tư Các ngân hàng cần xác định quản trị RRTD trong tất
cả các sản phẩm và hoạt động của mình, đặc biệt là sản phẩm mới phải có sự phê duyệt của Hội đồng quản trị [19]
Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh: Các ngân hàng cần xác định rõ ràng các tiêu
chí cấp tín dụng lành mạnh như thị trường mục tiêu, đối tượng khách hàng, điều khoản
và điều kiện cấp tín dụng, Xây dựng hạn mức tín dụng cho từng khách hàng và nhóm khách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình RRTD khác nhau nhưng có thể so sánh và theo dõi được trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Ngân hàng cần phải có quy trình rõ ràng trong
Trang 28phê duyệt tín dụng mới mới cũng như sửa đổi, gia hạn, tái cơ cấu, tái tài trợ cho các khoản tín dụng hiện tại, các sửa đổi tín dụng với sự tham gia của các bộ phận tiếp thị,
bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia Đồng thời, phát triển đội ngũ nhân viên quản trị RRTD
có kinh nghiệm, kiến thức nhằm đưa ra các nhận định thận trọng trong việc đánh giá, phê duyệt và quản trị RRTD Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên, đặc biệt cần có sự cẩn trọng và đánh giá hợp lý đối với các khoản tín dụng cấp cho các khách hàng có quan hệ [19]
Duy trì quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp: Cần có hệ
thống quản lý cập nhật đối với các danh mục đầu tư có RRTD, bao gồm cập nhật hồ sơ tín dụng, thu nhập thông tin tài chính hiện hành, dự thảo các hợp đồng vay, mức độ đầy đủ của dự phòng và dự trữ, theo quy mô và mức độ phức tạp của ngân hàng Đồng thời, hệ thống này phải có khả năng nắm bắt và kiểm soát tình hình tài chính, sự tuân thủ các cam kết của khách hàng, để phát hiện kịp thời những khoản vay có vấn
đề Các chính sách RRTD của ngân hàng cần nêu cụ thể cách thức quản lý các khoản tín dụng có vấn đề, trách nhiệm đối với các khoản tín dụng này nên giao cho bộ phận tiếp thị hay xử lý nợ hoặc kết hợp cả hai bộ phận này, tùy theo quy mô và bản chất của mỗi khoản tín dụng Các ngân hàng nên xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản trị RRTD, giúp phân biệt các mức độ RRTD trong các tài sản có tiềm năng rủi ro của ngân hàng [19]
Quản trị rủi ro tín dụng XNK là quá trình mà chủ thể tác động vào các đối
tượng để đạt được mục tiêu nhận diện, đo lường và hạn chế những biến cố rủi ro có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ của khách hàng đối với ngân hàng trong hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, đồng thời đưa ra các phương thức giảm thiểu tổn thất và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra
Công tác quản trị rủi ro tín dụng XNK nhằm giúp cho ngân hàng thành công trong việc quản trị rủi ro, khổng chế tỷ lệ nợ xấu, giảm thiểu tổn thất, tối ưu hóa lợi nhuận để đạt được mục tiêu kinh doanh
1.3.2 Nội dung và tiến trình quản trị rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu
Trong hoạt động tín dụng XNK, khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng XNK thì đó mới chỉ là một giao dịch chưa hoàn thành Giao dịch tín dụng chỉ được xem là hoàn thành khi nào ngân hàng thu hồi về được khoản tín dụng XNK gồm
Trang 29cả gốc và lãi Do đó, khi cấp tín dụng từ lúc giải ngân đến khi thu hồi vốn cả gốc và lãi, ngân hàng không biết chắc được giao dịch đó có hoàn thành hay không, là vì lúc
đó việc thu hồi khoản tín dụng chưa xảy ra Rủi ro tín dụng thể hiện ở khả năng hay xác suất hoàn thành giao dịch tín dụng đó
Chính vì vậy, nhà quản trị ngân hàng luôn cố gắng thực hiện mục tiêu lợi nhuận gắn với việc quản trị rủi ro tín dụng và đặc biệt là rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu, vì ngoài những rủi ro tín dụng nói chung thì tín dụng XNK còn chứa đựng những rủi ro liên quan đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu (như biến động tỷ giá, phương thức mua bán, thanh toán, chính sách )
Nội dung và tiến trình quản trị rủi ro tín dụng XNK có thể được khái quát theo bốn nội dung chính như sau:
1.3.2.1 Nhận diện rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu
Nhận diện rủi ro tín dụng XNK có ý nghĩa rất quan trọng trong tiến trình quản trị rủi ro, khi ngân hàng nhận diện được tất cả các loại rủi ro có thể xảy ra đối với khoản tín dụng thì việc phân tích, đo lường và kiểm soát rủi ro tín dụng mới đạt hiệu quả Ngoài việc nhận diện các rủi ro chung của hoạt động tín dụng, thì còn phải nhận diện các rủi ro mang tính đặc thù riêng của tín dụng tài trợ XNK, vì đây là loại hình cấp tín dụng cho các giao dịch thương mại quốc tế Vì vậy, khi nhận diện rủi ro tín dụng XNK cần đánh giá các nguồn thu trả nợ, khả năng chịu thiệt hại của doanh nghiệp khi có biến động về tỷ giá, chính sách hối đoái Đồng thời, cung cấp cho khách hàng những thông tin về việc dự báo xu hướng biến động tỷ giá, dự báo về sự điều chỉnh chính sách hối đoái của chính phủ, để doanh nghiệp có thể tính toán được sự biến động về tài chính, từ đó có những khoản dự phòng tài chính phù hợp
Để nhận dạng các loại rủi ro tín dụng trong tài trợ XNK, có thể dựa vào các dấu hiệu của rủi ro như sau:
a Nhận diện rủi ro trong quy trình cấp tín dụng và rủi ro tác nghiệp:
Khi ngân hàng thực hiện thẩm định hoặc tái thẩm định lại khoản tín dụng hoặc
đi kiểm tra sau giải ngân, phát hiện thấy có dấu hiệu sai lệch số liệu, thông tin, năng lực của doanh nghiệp hay những thiếu sót trong quy trình cấp tín dụng, các điều kiện khi cấp tín dụng, sử dụng vốn tín dụng và thực hiện cam kết tín dụng; thì khoản cấp tín dụng đó có thể gặp rủi ro
b Nhận diện rủi ro xuất phát từ việc đàm phán và ký kết hợp đồng thương mại
Trang 30quốc tế:
Khi ngân hàng cấp tín dụng tài trợ cho doanh nghiệp XNK, mà trong hợp đồng ngoại thương có các điều khoản bất lợi (điều khoản giao hàng, thanh toán không rõ ràng, bị ép giá, chất lượng hàng, thời hạn giao hàng, ) cho doanh nghiệp được tài trợ; thì khoản cấp tín dụng đó có thể gặp rủi ro Việc nhận diện dấu hiệu rủi ro loại này đòi hỏi nhân viên ngân hàng phải có kinh nghiệm và sự am hiểu trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng thương mại quốc tế
c Nhận diện rủi ro từ hoạt động thương mại quốc tế:
Khi ngân hàng thẩm định để cấp tín dụng cho doanh nghiệp XNK, mà sự nhận định, đánh giá về những biến động thị trường (giá cả, nguyên vật liệu, phụ kiện, máy móc thiết bị, hàng hóa XNK, ) và khả năng chịu thiệt hại từ những biến động này của doanh nghiệp chưa chính xác Thì khi có một sự biến động thị trường thì khoản cấp tín dụng đó có thể gặp rủi ro
d Nhận diện rủi ro tiềm ẩn từ phương thức thanh toán
Rủi ro loại này có thể nhận diện ngay khi ngân hàng quyết định cấp tín dụng tài trợ XNK cho doanh nghiệp và tùy vào doanh nghiệp sử dụng phương thức thanh toán nào thì xác suất xảy ra rủi ro sẽ khác nhau
Phương thức thanh toán càng có nhiều ưu đãi cho bên nhập khẩu thì sẽ chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn cho bên xuất khẩu và ngược lại khi phương thức thanh toán càng có nhiều ưu đãi cho bên xuất khẩu thì sẽ chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn cho bên nhập khẩu
e Nhận diện rủi ro hối đoái
Các khoản cấp tín dụng tài trợ XNK bằng VNĐ, nhưng nguồn thu chính để trả
nợ của doanh nghiệp là từ xuất khẩu hàng hóa và thu về bằng ngoại tệ (Thường là các doanh nghiệp thu mua nguyên vật liệu để sản xuất và thu mua hàng hóa trong nước để xuất khẩu) Hay các khoản cấp tín dụng tài trợ XNK bằng ngoại tệ, nhưng nguồn thu chính để trả nợ của doanh nghiệp là từ sản xuất kinh doanh và bán hàng hóa ở trong nước, với nguồn thu bằng VNĐ (Thường là các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiế bị để sản xuất và bán sản phẩm trên thị trường nội địa hay các doanh nghiệp mua hàng hóa ở nước ngoài để bán trong nước) Thì dấu hiệu để nhận diện rủi ro tín dụng là khi có sự biến động bất lợi về tỷ giá hay sự thay đổi về các chính sách quản lý ngoại hối của chính phủ
Trang 31Hiện nay, có một số phương pháp được sử dụng để nhận diện rủi ro tín dụng như:
- Phân tích báo cáo tài chính:
Trong hoạt động nhận dạng rủi ro, phương pháp phân tích báo cáo tài chính là phương pháp phổ biến nhất; các báo cáo tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong việc xem xét, ra quyết định của các ngân hàng Một báo cáo tài chính doanh nghiệp cho ta thấy trạng thái tài chính của tổ chức (lợi nhuận, phi lợi nhuận) nhằm đưa ra các quyết định phù hợp Ngoài ra, một cách gián tiếp, báo cáo tài chính cho ta biết tình hình hoạt động của doanh nghiệp, thông qua đó, góp phần đánh giá năng lực của bộ máy lãnh đạo tổ chức, các hoạt động của tổ chức đó
Mục đích của phương pháp phân tích báo cáo tài chính là đánh giá tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiêp, từ đó đưa ra một cơ sở hợp lý cho việc dự đoán tương lai Bằng cách sử dụng các công cụ và kĩ thuật phân tích báo cáo tài chính nhằm cố gắng đưa ra đánh giá có căn cứ về tình hình tài chính tương lai của một doanh nghiệp, dựa trên phân tích tình hình tài chính trong quá khứ và hiện tại, và đưa ra ước tính tốt nhất về khả năng kinh tế trong tương lai Từ đó đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp và nhận diện các rủi ro có thể phát sinh
- Sử dụng bảng liệt kê (check-list) và biến thể:
Phương pháp check - list là phương pháp thông qua các câu hỏi, bảng câu hỏi
về những vấn đề có thể xảy ra, để từ đó nhận dạng và đánh giá mức độ tác động của từng loại rủi ro có thể xảy ra
- Sử dụng lưu đồ (Flow-Chart):
Phương pháp lưu đồ là một phương pháp có thể giúp chúng ta liệt kê trình tự các bước đối với một quy trình của nghiệp vụ cấp tín dụng tài trợ XNK Từ những bước liệt kê này, có thể dễ dàng nhận diện được rủi ro có thể phát sinh khi thực hiện từng bước
- Giao tiếp với các tổ chức chuyên nghiệp:
Các ngân hàng có thể giao tiếp với tổ chức chuyên nghiệp đánh giá tín dụng và RRTD để trao đổi thông tin hay mua thông tin xếp hạng tín nhiệm, đánh giá xác suất của các doanh nghiệp có khả năng trả nợ hay không
Các tổ chức chuyên nghiệp đánh giá tín dụng và RRTD (các tổ chức đánh giá tín nhiệm doanh nghiêp), thường đánh giá tín dụng dựa trên mức độ tin cậy ước tính
Trang 32của khách hàng, dựa trên lịch sử tín dụng tổng thể Đánh giá tín dụng cũng được biết đến như sự đánh giá khả năng để trả nợ, xếp hạng tín dụng được tính từ lịch sử tài chính, tài sản hiện hành và các khoản nợ
Điểm thuận lợi khi sử dụng báo cáo của các tổ chức đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp là các cơ quan này sẽ sử dụng các nguồn thông tin để đối chiếu, sử dụng các phương pháp phân tích để nhận diện ra các doanh nghiệp tốt hoặc có vấn đề, từ đó đưa
ra các khuyến nghị cụ thể về hạng mức tín nhiệm, giúp cho ngân hàng đưa ra quyết định chính xác
- Giao tiếp trong nội bộ tổ chức:
Để nhận biết được những rủi ro từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì việc trao đổi thông tin, giao tiếp giữa những người đứng đầu các phòng ban như giám đốc tài chính, kế toán trưởng, kiểm toán viên là hết sức cần thiết đối với ngân hàng Việc Giao tiếp, trao đổi và cung cấp thông tin trong nội bộ doanh nghiệp sẽ giúp cho những ngân hàng đánh giá được chiến lược, những rủi ro trong kế hoạch kinh doanh mà công ty đang theo đuổi
- Phân tích hợp đồng:
Để nhận diện rủi ro, ngân hàng có thể phân tích các hợp đồng của doanh nghiệp
để thấy được những rủi ro trong hợp đồng có thể phát sinh
Những rủi ro đối với một hợp đồng có thể gặp phải là: Rủi ro trong khâu ký kết, rủi ro từ chủ thể, đối tác kinh doanh (không uy tín, khả năng tài chính yếu), rủi ro ngôn ngữ, rủi ro pháp lý, rủi ro trong thực hiện…
- Nghiên cứu số liệu tổn thất quá khứ:
Các ngân hàng có thể tham khảo hồ sơ lưu trữ về những tổn thất qua các biến
cố rủi ro đã xảy ra tại doanh nghiệp Các thông tin trong quá khứ cho phép dự báo các thông số liên quan đến rủi ro tiềm năng Số liệu thống kê cho phép các ngân hàng đánh giá xu hướng phát triển của các tổn thất tiềm năng mà doanh nghiệp phải đối mặt
- Phân tích hiểm họa (HazardAnalysis)
Mức độ rủi ro cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan của mục đích sử dụng vốn cũng như hoạt động của khách hàng
Các yếu tố khách quan thường là những nhìn nhận ban đầu và tổng quát về triển vọng của phương án, dự án có nhu cầu tín dụng Nếu phương án, dự án có triển vọng thành công cao thì rủi ro tín dụng thấp và ngược lại
Trang 33Các yếu tố chủ quan có thể được hiểu là tính tin cậy của doanh nghiệp khi đề nghị cấp tín dụng hay khả năng trả nợ của doanh nghiệp khi đến hạn Nhân tố này được phân tích chủ yếu dựa vào các dữ liệu kế toán của doanh nghiệp
1.3.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu
Theo hiệp ước Basel 2 năm 2004 (Basel là Uỷ ban Giám sát ngân hàng do ngân hàng trung ương các nước G10 thành lập dưới sự bảo trợ của Ngân hàng Thanh toán quốc tế), các phương pháp đo lường rủi ro tín dụng, gồm:
- Phương pháp chuẩn hóa: phụ thuộc vào đánh giá của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập;
- Phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá nội bộ cơ bản: Các ngân hàng đưa
Đối với các doanh nghiệp nhỏ, phần lớn nguồn thông tin thu thập được là do sự điều tra của ngân hàng hoặc mua từ các tổ chức phân loại và đánh giá tín dụng bên ngoài
Đối với các doanh nghiệp lớn, các công ty đại chúng, nguồn thông tin về khách hàng được công bố rộng rãi cho thị trường: thông tin doanh nghiệp, cổ đông, các báo cáo tài chính, phương án/dự án sản xuất kinh doanh hoặc các báo cáo tổng hợp của các nhà phân tích Khả năng thu thập thông tin dễ dàng và chi phí bình quân cho việc thu thập thông tin giảm cho phép các ngân hàng sử dụng các phương pháp đo lường RRTD thiên về hướng định lượng và phức tạp hơn Tuy nhiên, lợi thế của công nghệ thông tin đang làm cho sự đánh giá RRTD về mặt lượng cũng trở nên có tính khả thi hơn và với chi phí thấp
Các ngân hàng có thể sử dụng nhiều mô hình khác nhau để đánh giá RRTD XNK đối với một khách hàng Các mô hình đánh giá này rất đa dạng, bao gồm các mô
Trang 34hình phản ánh về mặt số lượng và cả những mô hình phản ánh về mặt chất lượng RRTD chung và RRTD đặc thù của hoạt động XNK Hơn nữa, các mô hình này không loại trừ lẫn nhau, nên có thể sử dụng nhiều mô hình để phản ánh rủi ro tín dụng XNK
từ nhiều góc độ khác nhau
Sau đây là một số các mô hình đo lường rủi ro tín dụng XNK thường được sử dụng:
* Đo lường các yếu tố định tính:
a Đo lường theo mô hình chất lượng:
Đây là mô hình mang tính chất định tính, khi sử dụng mô hình này ngân hàng thu thập các thông tin có liên quan đến chất lượng của doanh nghiệp XNK đề nghị cấp tín dụng Những thông tin này sẽ giúp các ngân hàng đánh giá xác suất phát sinh rủi ro của doanh nghiệp XNK và trên cơ sở đó xác định hạn mức cấp tín dụng hoặc từ chối tài trợ
Số lượng thông tin cần thu thập cho mỗi khoản cấp tín dụng phụ thuộc vào quy
mô của khoản tín dụng XNK và chi phí thu thập thông tin Tuy nhiên, các yếu tố chủ yếu liên quan đến các quyết định đầu tư được chia thành 2 nhóm
Các yếu tố liên quan doanh nghiệp XNK đề nghị cấp tín dụng:
Danh tiếng: Được thể hiện thông qua lịch sử quan hệ tín dụng và việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của họ và lịch sử giao dịch thương mại quốc tế Nếu doanh nghiệp có quan hệ tín dụng XNK thường xuyên với các ngân hàng và luôn trả nợ đầy đủ, đúng hạn, thì đây là doanh nghiệp có danh tiếng tốt, có sức hấp dẫn đối với các ngân hàng Tuy nhiên, mức độ quan trọng của yếu tố danh tiếng lại gây nên bất lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và mới quan hệ tín dụng lần đầu với các ngân hàng
Cơ cấu vốn: Thể hiện thông qua tỷ lệ sử dụng vốn tự có và nợ vay của khách hàng tùy theo ngành hàng thương mại hay sản xuất mà doanh nghiệp XNK đang kinh doanh Khi một doanh nghiệp XNK có tỷ lệ sử dụng nợ vay cao, thì khả năng vỡ nợ sẽ cao hơn các doanh nghiệp sử dụng vốn tự có, tuy nhiên hiệu quả của việc sử dụng cơ cấu vốn nợ và vốn tự có còn phụ thuộc vào tình hình kinh doanh và ngành hàng XNK của doanh nghiệp Nhưng khi tỷ lệ sử dụng vốn nợ vượt quá một mức nhất định nào
đó, thì xác suất vỡ nợ tăng lên kéo theo rủi ro không thanh toán được nợ cho ngân hàng cũng tăng lên
Mức độ biến động của thu nhập: Với bất kỳ cơ cấu vốn nào, sự biến động thu
Trang 35nhập của doanh nghiệp XNK cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng Đối với các doanh nghiệp XNK, thì phải đánh giá mức độ biến động thu nhập khi tỷ giá thay đổi trong các chu kỳ XNK hàng hóa
Tài sản bảo đảm: Các khoản cấp tín dụng có thể được bảo đảm bằng tài sản và cũng có thể không có tài sản bảo đảm (tín chấp) Nhưng hầu hết các khoản cấp tín dụng tài trợ XNK điều là hình thức có tài sản bảo đảm (tài sản bảo đảm thông thường
là chính hàng hóa XNK) Đối với các tài sản bảo đảm dễ thanh lý, giá cả ít biến động thì việc xử lý tài sản bảo đảm để thu nợ sẽ dễ dàng hơn Đối với các tài sản bảo đảm
dễ bị giảm giá, khó thanh lý, thì khi thanh lý sẽ mất nhiều thời gian, tốn kém chi phí, giảm giá trị và đôi khi còn gặp những phiền toái không lường trước được; thì rủi ro không thu hồi được toàn bộ vốn gốc và lãi sẽ cao hơn
Các yếu tố liên quan đến thị trường:
- Về chu kỳ kinh tế: Vị trí của nền kinh tế trong chu kỳ kinh tế có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự đánh giá của ngân hàng về xác suất xảy ra RRTD Và các chính sách khuyến khích ưu đãi XNK cho từng loại hàng hóa trong từng thời kỳ khác nhau
- Lạm phát, chính sách lãi suất: Khi mức lãi suất hay tỷ lệ lạm phát ở mức cao, điều này không chỉ dẫn đến tình trạng khan hiếm nguồn vốn đầu tư, mà còn làm tăng chi phí vốn của doanh nghiệp, nên thường gắn liền với xác suất xảy ra RRTD sẽ cao hơn
- Tỷ giá hối đoái: Đối với các doanh nghiệp XNK, thì các chính sách điều hành tỷ giá hối đoái của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, do đó khi đo lường rủi ro khoản tín dụng XNK phải xem xét đến yếu tố
tỷ giá đang trong giai đoạn bình ổn hay biến động liên tục, để đo lường những rủi ro
có thể gặp phải
b Đo lường theo mô hình 6C (6 khía cạnh):
Đối với mỗi khoản cấp tín dụng, câu hỏi đầu tiên của ngân hàng là liệu khách hàng có thiện chí và khả năng thanh toán khi khoản tín dụng đến hạn hay không? Điều này liên quan đến việc nghiên cứu chi tiết “6 khía cạnh - 6C” của khách hàng bao gồm:
- Tư cách người vay (Character): chuyên viên tín dụng phải làm rõ mục đích
đề nghị cấp tín dụng của khách hàng, có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng và điều kiện sản xuất kinh doanh của khách hàng không? Đồng thời,
Trang 36xem xét lịch sử tín dụng đối với khách hàng đã có giao dịch tín dụng; còn khách hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như từ: trung tâm thông tin tín dụng (CIC), từ ngân hàng khác, từ các cơ quan thông tin đại chúng
- Năng lực của khách hàng (Capacity): Khách hàng phải có năng lực pháp lý
và năng lực hành vi dân sự
- Thu nhập của người đi vay (Cashflow): Xác định nguồn trả nợ của doanh nghiệp như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay thu nhập, tiền bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán
- Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng
và là nguồn tài sản thứ hai có thể trả nợ vay cho ngân hàng
- Các điều kiện (Conditions): Các ngân hàng sẽ quy định các điều kiện ràng buộc khi cấp tín dụng tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ
- Kiểm soát (Control): Những sự thay đổi của luật pháp có liên quan và sự thay đổi quy chế hoạt động có ảnh hưởng đến khách hàng hay không? Yêu cầu tín dụng của khách hàng có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng hay không?
Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế của nó là nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của cán bộ tín dụng
Trên đây là 02 mô hình đo lường RRTD mang tính chất định tính mà ngân hàng thường sử dụng, tuy nhiên cần phải phối hợp với các mô hình định lượng để lượng hóa các nhân tố gây rủi ro và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố
* Đo lường định lượng
Các mô hình mang tính định lượng sau đây sẽ giúp lượng hóa mức độ tác động của từng nhân tố, qua đó mà đo lường mức độ RRTD XNK một cách cụ thể hơn:
a) Mô hình xác suất tuyến tính:
Mô hình xác suất tuyến tính sử dụng số liệu quá khứ làm dữ liệu đầu vào để giải thích quá khứ chi trả cho các khoản tín dụng XNK cũ
Giả sử các khoản vay cũ (i) được chia thành hai nhóm: nhóm có rủi ro mất vốn (Zi = 1) và nhóm không có rủi ro (Zi = 0) Chúng ta thiết lập mối quan hệ giữa các nhóm này với các nhân tố ảnh hưởng tương ứng (Xij) phản ánh đặc điểm của khách hàng thứ i (như cơ cấu vốn hay thu nhập ) theo mô hình đường thẳng tuyến tính với công thức như sau:
Trang 37Zi = z Pj Xij + e (sai số) Trong đó, (Pj) phản ánh mức độ quan trọng tương đối của các nhân tố (Xij) tương ứng (Pj) được sử dụng để giải thích quá trình chi trả trong quá khứ, sẽ được sử dụng để dự đoán xác suất chi trả cho các khoản tín dụng mới
Chúng ta tìm các giá trị (Pj) trong quá khứ, và lấy các giá trị của (Pj) quá khứ nhân với các nhân tố (Xij) của một khách hàng mới chúng ta sẽ dự tính được giá trị của (Zi) Giá trị (Zi) này phản ánh xác suất bình quân rủi ro mất vốn của khoản tín dụng E(Zi), ta có E(Zi) = (1 - Pi), với (Pi) là xác suất trả nợ của khoản tín dụng mới
Kỹ thuật này được thực hiện một cách đơn giản khi các số liệu phản ánh đặc điểm của khách hàng được cung cấp Tuy nhiên điểm yếu của nó là ở chỗ xác suất rủi
ro mất vốn rất dễ nằm ngoài khoảng từ 0 đến 1
b) Mô hình logit:
Dựa trên kết quả của mô hình xác suất tuyết tính, thì có thể sử dụng mô hình logit đơn giản như sau: Mô hình logit giới hạn xác suất lũy kế của rủi ro mất vốn đối với một khoản tín dụng nằm trong khoảng từ 0 đến 1 và giả sử xác suất này được phân
bố theo dạng hàm số:
Trong đó e là cơ số tự nhiên, F(Zi) là xác suất lũy kế của mức rủi ro đối với một khoản vay, và Zi được tính toán theo mô hình đường thẳng tuyến tính tương tự như mô hình trên Như vậy, chúng ta có thể xác định giá trị dự tính của Zi theo hàm số tuyến tính cho một người vay mới, sau đó thay thế giá trị Zi vào bên phải hàm số logit
để xác định giá trị của F (Zi) (xác suất lũy kế của rủi ro tín dụng) Hạn chế chủ yếu của phương pháp này là giả thiết rằng xác suất lũy kế của rủi ro mất vốn được phân bổ theo một dạng hàm số logit cụ thể
c Mô hình probit:
Mô hình probit cũng hạn chế xác suất RRTD dự tính trong khoảng từ 0 đến 1, nhưng nó khác với mô hình trên khi giả thiết rằng xác suất của rủi ro có dạng phân bổ chuẩn (normal distribution) chứ không phân bổ theo hàm số logit Tuy nhiên, khi được nhân với một yếu tố cố định thì giá trị logit có thể trở thành giá trị probit gần đúng
d Mô hình phân biệt tuyến tính :
Trong khi các mô hình xác suất tuyến tính, logit và probit đều dự tính mức xác
Trang 38suất của RRTD đối với một khoản tín dụng được cấp, thì mô hình này có tác dụng phân loại khách hàng căn cứ vào mức độ rủi ro có liên quan đến các chỉ tiêu (Xj) phản ánh các đặc điểm tài chính và kinh doanh của họ Sau đây xin trình bày mô hình phân biệt tuyến tính được xây dựng bởi E.I.Altman:
Chỉ số biến động Z đo lường toàn bộ mức độ rủi ro của người vay Chỉ số này phụ thuộc vào giá trị của các chỉ số các yếu tố tài chính của khách hàng (Xj) tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của khách hàng
Hàm số phân biệt của Altman có dạng sau:
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5 Trong đó :
X1 : Tỷ lệ giữa vốn lưu động và tổng tài sản
X2 : Tỷ lệ giữa lợi nhuận tích lũy và tổng tài sản
X3 : Tỷ lệ giữa lợi nhuận trước thuế và lãi trên tổng tài sản
X4 : Tỷ lệ giữa giá trị thị trường của cổ phiểu và giá trị ghi sổ của nợ dài hạn X5 : Tỷ lệ giữa doanh thu và tổng tài sản
Trị số Z càng cao thì khách hàng có xác suất vỡ nợ càng thấp Vì vậy, khi trị số
Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao, với:
Z < 1,8 : Khách hàng có khả năng rủi ro cao
1,8 < Z < 3 : Không xác định được
Z > 3 : Khách hàng không có khả năng vỡ nợ
Theo mô hình của Altman, bất kỳ khách hàng nào có điểm số Z nhỏ hơn 1,81
sẽ bị xếp vào khu vực có rủi ro cao
Ưu điểm: Kỹ thuật đo lường RRTD tương đối đơn giản
Nhược điểm: Mô hình này chỉ cho phép phân loại nhóm khách hàng vay có rủi
ro không và không có rủi ro Tuy nhiên trong thực tế mức độ rủi ro tín dụng tiềm ẩn của mỗi khách hàng là khác nhau, từ mức thấp như chậm trả lãi, vi phạm cam kết hợp đồng, không được trả lãi cho đến mức mất hoàn toàn cả vốn và lãi vay của khoản vay
Mô hình không tính đến một số nhân tố khó định lượng nhưng có thể đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến mức độ của các khoản vay (như danh tiếng của khách hàng, mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng và ngân hàng hay các yếu tố vĩ mô như sự biến động của chu kỳ kinh tế )
Trang 39e Xếp hạng tín dụng hay chấm điểm tín dụng:
Phương pháp đo lường xác suất của RRTD này dựa trên cơ sở các yếu tố thị trường Nó phân tích yếu tố phần thưởng rủi ro (xác suất của rủi ro có thể phát sinh) có trong cơ cấu thu nhập hiện hành từ các khoản tín dụng được cấp đối với doanh nghiệp
Thông thường, các ngân hàng sử dụng 10 mức phân loại rủi ro căn cứ vào chất lượng của từng doanh nghiệp:
Ba mức phân loại đầu là AAA, AA, A phản ánh người vay có mức độ tín nhiệm cao Và hai mức phân loại BBB, BB phản ánh khách hàng có khả năng trả các khoản thu nhập và các mức B, CCC, CC, C, D phản ánh khách hàng có mức rủi ro lớn
Phương pháp này các ngân hàng thường xây dựng một hệ thống tiêu chí để xếp hạng tín dụng, chấm điểm tín dụng tùy theo từng nhân tố đặc điểm của khách hàng như: khả năng tài chính, triển vọng ngành nghề kinh doanh, dư nợ tín dụng so với thu nhập, tình trạng việc làm hiện tại, lịch sử thanh toán nợ đến hạn của khách hàng trong quá khứ, Ngoài ra, còn dựa vào kỳ hạn của khoản tín dụng để xác định mức phần thưởng rủi ro (lãi suất tín dụng), đối với một khoản tín dụng 01 năm hay đối với khoản tín dụng dài hạn Trong mỗi trường hợp chúng ta sẽ nhận thấy có thể xác định mức phần thưởng rủi ro đối với từng khách hàng như thế nào
Việc đo lường rủi ro theo phương pháp này và xác định mức lãi suất tín dụng XNK (phần thưởng rui ro) để nhà quản trị ngân hàng ước lượng được xác suất rủi ro của khoản tín dụng XNK, từ đó ra quyết định cấp tín dụng (với mức lợi ích tương ứng với xác suất rủi ro chấp nhận) hoặc ra quyết định từ chối cấp tín dụng Đây là phương pháp tương đối phổ biến được các ngân hàng thương mại ở Việt Nam sử dụng để đo lường rủi ro tín dụng XNK
1.3.2.3 Kiểm soát rủi ro và xử lý, khắc phục hậu quả rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu
a) Kiểm soát rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu
Kiểm soát RRTD XNK là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để ngăn ngừa, né tránh và giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro Căn cứ vào các hệ số tài chính, mức độ rủi ro đã được tính toán và khả năng chấp nhận rủi ro mà ngân hàng sẽ
có những biện pháp kiểm soát rủi ro làm giảm khả năng xảy ra rủi ro và giảm mức độ thiệt hại của rủi ro Các biện pháp cơ bản để kiểm soát RRTD XNK như sau:
Nâng cao chất lượng của công tác thẩm định trước khi cấp tín dụng XNK Đồng
Trang 40thời giám sát chặt chẽ các khoản giải ngân là rất quan trọng đối với tín dụng XNK, vì vậy khi giải ngân cần tuân thủ các quy định về quản lý ngoại hối của nhà nước (đối với cấp tín dụng bằng ngoại tệ) và phải giải ngân chuyển khoản trực tiếp cho bên đối tác của khách hàng, để kiểm soát được các nguồn tiền và giao dịch thương mại quốc tế của doanh nghiệp XNK; từ đó tạo thuận lợi cho việc quản lý và theo dõi khoản tín dụng; để kịp thời phát hiện những khoản tín dụng có vấn đề để ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro
Thực hiện kiểm tra định kỳ và đột xuất khách hàng để thường xuyên đánh giá
về tình hình kinh doanh, tình hình giao thương quốc tế, khả năng tài chính, hiện trạng tài sản bảo đảm để kiểm soát khả năng thực hiện nghĩa vụ nợ của khách hàng
Ngân hàng phải thường xuyên theo dõi và thu thập thông tin về thị trường, những biến động về tình hình kinh tế - chính trị, các chính sách về XNK (hạn ngạch thuế quan, tỷ giá ), các thay đổi về thông lệ quốc tế trong giao dịch ngoại thương, Để đánh giá mức độ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng Đồng thời điều chỉnh danh mục cấp tín dụng theo hướng thích hợp
c) Xử lý, khắc phục hậu quả rủi ro tín dụng xuất nhập khẩu
Khi RRTD trong XNK xảy ra sẽ gây nhiều tổn thất cho ngân hàng, tùy theo mức độ nghiêm trọng của rủi ro tín dụng Các tổn thất đó bao gồm: Tổn thất về tài chính (Mất cân đối nguồn ngoại tệ, trích lập sự phòng, tổn thất mất vốn gốc, lãi hoặc
cả gốc và lãi), tổn thất về uy tín, tổn thất về việc hạn chế mở rộng mạng lưới kinh doanh, kiểm soát hoạt động của ngân hàng
Bởi vậy, các ngân hàng cần có những biện pháp giảm thiểu những tổn thất khi rủi ro xảy ra Sau đây là một số các phương án xử lý, khắc phục hậu quả rủi ro:
- Rủi ro chậm thanh toán vốn gốc, lãi: Ngân hàng cơ cấu lại kỳ hạn khoản tín dụng như: Điều chỉnh lại các phân kỳ trả nợ, gia hạn nợ phù hợp với khả năng tài chính, nguồn thu nhập trả nợ hiện tại của doanh nghiệp
- Rủi ro vi phạm điều khoản hợp đồng: Ngân hàng có thể thu hồi nợ trước hạn hoặc ký phụ lục hợp đồng để điều chỉnh lại các điều khoản
- Rủi ro đối với khách hàng mất khả năng thanh toán nợ, nhưng có tài sản bảo đảm, ngân hàng sẽ xử lý như sau:
Trường hợp khách hàng không có thiện trí trả nợ (Bỏ trốn, không hợp tác, chây ỳ, ) thì ngân hàng lập thủ tục khởi kiện khách hàng theo quy định, để thanh lý tài sản