1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển đội ngũ giảng viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng hà nội i

127 443 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN MINH TIẾN PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI I LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÀ NỘI – 2014

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN MINH TIẾN

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI I

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN MINH TIẾN

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI I

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60.14.01.14

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Từ Đức Văn

HÀ NỘI – 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Thực hiện đề tài “Phát triển đội ngũ giảng viên tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội I trong giai đoạn hiện nay”, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy, cô giáo và cán bộ quản lý Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã luôn định hướng, giáo dục, quan tâm, tạo mọi điều kiện

và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian học tập của tôi tại nhà trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Từ Đức Văn đã tận tình hướng dẫn khoa học trong quá trình nghiên cứu viết luận văn của tôi, đã không chỉ trang bị cho tôi về kiến thức, mà còn định hướng giúp đỡ tôi về phương pháp nghiên cứu khoa học để tôi hoàn thành luận văn của mình

Tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, các đồng chí, đồng đội Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội I, Vụ Giáo dục quốc phòng - Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục quốc phòng - Cục Dân quân tự vệ, Bộ Quốc phòng đã giúp

đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài này

Tôi luôn khắc sâu và kính trọng những tình cảm tốt đẹp, những lời dạy, lời chỉ bảo, động viên chân thành về khoa học của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học cùng toàn thể các đồng chí và các bạn

Mặc dù đã hết sức cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả luận văn kính mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý thêm của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Hà Nội, tháng 11 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Minh Tiến

Trang 4

8 GDQP - AN Giáo dục quốc phòng – an ninh

9 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

Trang 5

giảng viên 56 Bảng 2.7 Mức độ thực hiện các biện pháp tạo môi trường thuận lợi đội

ngũ giảng viên 59 Bảng 2.8 Mức độ thực hiện các biện pháp kiểm tra, đánh giá đội ngũ

giảng viên 62 Bảng 3.1 Kết quả khảo sát tính cấp thiết của các biện pháp phát triển

đội ngũ giảng viên 94 Bảng 3.2 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp phát triển

đội ngũ giảng viên 96

Trang 6

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Trang

Sơ đồ 2.1 Bộ máy Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội I … 43 Biểu đồ 2.1 Số lượng giảng viên GDQP theo biên chế đủ và biên chế hiện

nay tại Trung tâm GDQP Hà Nội I ……….… 46

Sơ đồ 3.1 Tiền trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 78

Sơ đồ 3.2 Nội dung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 80

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Danh mục các bảng iii

Danh mục các sơ đồ, biêu đồ iv

Mục lục v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG – AN NINH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC 5

1.1 Vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu 5

1.2 Các khái niệm cơ bản 7

1.2.1 Quản lý 7

1.2.2 Giảng viên 11

1.2.3 Đội ngũ giảng viên 16

1.2.4 Phát triển đội ngũ giảng viên 16

1.3 Giảng viên giáo dục quốc phòng, an ninh ở Trung tâm/ Khoa GDQP - AN của trường đại học 22

1.3.1 Bối cảnh thời đại hiện nay 22

1.3.2 Vai trò của đội ngũ giảng viên đại học 24

1.3.3 Nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên và giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh 25

1.3.4 Quyền hạn của đội ngũ giảng viên và giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh 26 1.3.5 Đặc trưng và yêu cầu đối với Trung tâm giáo dục quốc phòng

Trang 8

-an ninh của trường đại học 27

1.4 Nội dung phát triển đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh 32

1.4.1 Qui hoạch đội ngũ về số lượng, chất lượng và cơ cấu tổ chức 32

1.4.2 Xây dựng cơ chế chính sách tuyển dụng, đãi ngộ, sử dụng và bảo vệ quyền lợi cho đội ngũ giảng viên 33

1.4.3 Đào tạo, bồi dưỡng giảng viên 34

1.4.4 Xây dựng môi trường thuận lợi cho sự phát triển giảng viên 35

1.4.5 Kiểm tra, đánh giá đội ngũ giảng viên 36

1.5 Yêu cầu phát triển đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh 36

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giảng viên tại Trung tâm giáo dục quốc phòng - an ninh của trường Đại học 37

Tiểu kết chương 1 39

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI I 40

2.1 Khái quát về Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I 40

2.1.1 Khái quát quá trình hình thành, phát triển của Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I

40 2.1.2 Tổ chức bộ máy của Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I 42

2.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I 44

2.2.1 Số lượng, cơ cấu, độ tuổi đội ngũ giảng viên 44

2.2.2 Thực trạng trình độ đội ngũ giảng viên 47

2.3 Thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I 48

Trang 9

2.3.1 Thực trạng về quy hoạch đội ngũ giảng viên 48

2.3.2 Thực trạng về tuyển chọn, sử dụng đội ngũ giảng viên 52

2.3.3 Thực trạng về đào tạo, bồi dưỡng 56

2.3.4 Thực trạng xây dựng môi trường thuận lợi cho sự phát triển của đội ngũ giảng viên 58

2.3.5 Thực trạng về kiểm tra, đánh giá đội ngũ giảng viên 62

2.4 Đánh giá và nguyên nhân thực trạng 64

2.4.1 Đánh giá 64

2.4.2 Nguyên nhân 64

Tiểu kết chương 2 66

Chương 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG HÀ NỘI I 67

3.1 Các nguyên tắc đề xuất các biện pháp 67

3.1.1 Nguyên tắc tính thực tiễn 67

3.1.2 Nguyễn tắc tính khả thi 67

3.1.3 Nguyễn tắc tính kế thừa 67

3.1.4 Nguyễn tắc tính đồng bộ, toàn diện 68

3.2 Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I 68

3.2.1 Nâng cao nhận thức công tác phát triển đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng-an ninh 68

3.2.2 Làm tốt quy hoạch đội ngũ giảng viên 70

3.2.3 Thực hiện tốt tuyển chọn, sử dụng đội ngũ giảng viên 72

3.2.4 Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 77

3.2.5 Xây dựng môi trường thuận lợi, tạo động lực cho sự phát triển đội ngũ giảng viên 85

Trang 10

3.2.6 Thực hiện tốt kiểm tra, đánh giá đội ngũ giảng viên 89

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 92

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 92

Tiểu kết chương 3 98

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99

1 Kết luận 99

2 Khuyến nghị 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 107

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với việc nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác giáo dục quốc phòng, an ninh cho sinh viên các trường đại học và nâng cao hiệu quả công tác này, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách đề cập trên tất cả các mặt (giảng viên, cơ sở hạ tầng, đổi mới nội dung, chương trình ) và bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định: công tác giáo dục quốc phòng, an ninh đi vào nền nếp, chất lượng, hiệu quả được nâng lên Tuy nhiên, so với yêu cầu xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc hiện nay và thực trạng công tác giáo dục quốc phòng, an ninh cho sinh viên đòi hỏi phải cần tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác này Trong đó, yếu tố giữ vai trò quyết định nâng cao chất lượng công tác giáo dục quốc phòng, an ninh cho sinh viên chính là phải làm tốt công tác phát triển đội ngũ giảng viên, bởi đây chính là lực lượng trực tiếp giảng dạy, truyền đạt kiến thức quốc phòng, an ninh cho sinh viên

Một trong những hạn chế khi tổng kết 10 năm thực hiện công tác giáo dục quốc phòng, an ninh (2001-2010) theo Nghị định 15/2001/NĐ-CP đã được Chính phủ chỉ ra, đó là “Giáo viên giáo dục quốc phòng, an ninh thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, phương pháp tổ chức thực hiện còn hạn chế ” [14, tr.5] Và để khắc phục hạn chế này, Hội đồng giáo dục quốc phòng - an ninh Trung ương cũng chỉ rõ: “cần chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng, an ninh trong hệ thống giáo dục quốc dân”

Mặt khác, trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế theo tinh thần Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI Nghị quyết số 29-NQ/TW, cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với đổi mới công tác giáo dục quốc phòng, an ninh cũng như việc nâng

Trang 12

cao chất lượng và chuẩn hóa đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng, an ninh nói chung, và tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội I nói riêng

Nằm trong bối cảnh chung đó, trong những năm qua, Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội I đã có nhiều giải pháp chú trọng việc xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng, an ninh Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được bước đầu, công tác quản lý, phát triển đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng, an ninh tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội I vẫn còn có những hạn chế nhất định Đội ngũ giảng viên theo biên chế thiếu số lượng, bất cập về chất lượng Mặt bằng chuẩn đội ngũ giảng viên theo Luật Giáo dục Quốc phòng và An ninh thấp hơn giảng viên đại học theo Luật Giáo dục và Luật giáo dục Đại học trong nhà trường Đội ngũ chưa đồng bộ về cơ cấu, hợp lý giữa các học phần trong môn học Chính vì vậy đã ít nhiều ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy của môn học chính khóa cho sinh viên trong nhà trường

Xuất phát từ các cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn đề tài:

“Phát triển đội ngũ giảng viên tại Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I”

làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng, đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng, an ninh nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Đội ngũ giảng viên các Trung tâm giáo dục

quốc phòng của trường Đại học

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên

Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I

4 Giả thuyết khoa học

Phát triển đội ngũ giảng viên Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I những năm gần đây có sự quan tâm và tiến bộ rõ rệt, song so với yêu cầu phát triển hiện nay

Trang 13

vẫn còn một số mặt hạn chế Nếu đề xuất và áp dụng hợp lý những biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên thì chất lượng đội ngũ giảng viên sẽ ngày càng được nâng cao

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận của công tác phát triển đội ngũ giảng viên trong các Trung tâm giáo dục quốc phòng

5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I

5.3 Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài giới hạn ở việc nghiên cứu thực trạng và các biện pháp nhằm phát triển đội ngũ giảng viên của Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I

- Khảo sát và sử dụng các số liệu trong luận văn từ năm 2009 - 2014

7 Phương pháp nghiên cứu

Theo quan điểm duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ kết hợp sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp này sử dụng nhằm phân tích, tổng hợp, khái quát hóa tài liệu, văn bản và các công trình đã nghiên cứu liên quan đến đề tài

7.2 Phưong pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến để

thu thập thông tin cần thiết và thực trạng đội ngũ giảng viên Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I hiện nay

Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: về việc xây dựng và phát triển đội

ngũ giảng viên Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I

Trang 14

Trao đổi phóng vấn với các cán bộ quản lý có kinh nghiệm, đội ngũ giảng

viên lâu năm có uy tín, thế hệ giảng viên trẻ mới về Trung tâm

Các phương pháp dự báo về xây dựng và phát triển nhà trường đại học

nói chung và đội ngũ giảng viên nói riêng

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, khảo sát các báo cáo thực tiễn

Phương pháp khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi các biện pháp đề xuất

7.3 Phương pháp toán thống kê

Phương pháp này dùng để thống kê số lượng, chất lượng đội ngũ giảng viên;

xử lý các số liệu đã thống kê, kiểm định độ tin cậy của các biện pháp quản lý mới,

đề xuất nhằm đưa ra kết luận phục vụ cho công tác nghiên cứu

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận khuyến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày cơ bản trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ giảng viên tại Trung tâm giáo dục quốc phòng của trường đại học

Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên tại Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I

Chương 3 : Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên tại Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội I

Trang 15

Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn nhân lực

có chất lượng cao, những con người có phẩm chất đạo đức, có năng lực chuyên môn, có kỹ năng tiếp cận, vận hành, ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước

Trên thế giới và trong khu vực, nhiều nước coi giáo dục và đào tạo là một trong những nhân tố quan trọng có tính quyết định đến sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội và sự hưng thịnh của đất nước Những thập niên cuối thế kỷ XX đã có những cải tổ giáo dục và đào tạo, về chương trình, nội dung giảng dạy, phương thức đào tạo và cả về số lượng lẫn chất lượng đội ngũ nhà giáo

Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Mục tiêu đến năm 2020 đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, ngành giáo dục cần phát triển mạnh mẽ phục vụ đắc lực mục tiêu đó Trong đó, phát triển đội ngũ giáo viên được xem là khâu then chốt trong phát triển giáo dục đào tạo hiện nay, bởi "Giáo viên giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục" [33, tr.6]

Vì vậy, nghiên cứu về xây dựng đội ngũ giảng viên đã có nhiều công trình của tập thể, cá nhân cán bộ khoa học nghiên cứu, đề cập đến Bàn về vai trò, tiêu chuẩn người giảng viên, công trình "Lý luận dạy đại học" của Đặng Vũ Hoạt và

Hà Thị Đức cho rằng: “Đối với người cán bộ giảng dạy đại học, nâng cao năng lực chuyên môn, nghệ thuật sư phạm và phẩm chất đạo đức là điều kiện chủ yếu

Trang 16

để tạo nên uy tín của người thầy” [26, tr.35] Tuy chưa đề cập sâu, cụ thể vể năng lực chuyên môn, nghệ thuật sư phạm và phẩm chất đạo đức của đội ngũ nhà giáo, nhưng những khái quát của các tác giả đã gợi nên định hướng cho việc xác định tiêu chuẩn và chuẩn hoá đội ngũ giảng viên

Ngoài ra, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về chiến lược phát triển giáo dục, đổi mới chương trình, mục tiêu, phương pháp giảng dạy, phát triển nguồn nhân lực như:

Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hóa

Trần Khánh Đức, Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI

Đặng Quốc Bảo (2010), Phát triển nguồn nhân lực và chỉ số phát triển con người, Giáo trình dành cho học viên cao học quản lý giáo dục

Ngoài ra còn một số luận văn thạc sĩ tập trung nghiên cứu về đội ngũ giảng viên ở từng cấp học, bậc học như:

Hoàng Ngọc Long, luận văn cao học quản lý giáo dục: Nghiên cứu một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trường Văn hoá 1- Bộ Công an

Trịnh Xuân Ninh, Một số biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Biên phòng

Trong các công trình trên, nhìn chung các tác giả đã đề cập đến việc xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên dưới nhiều góc độ của các cấp học, ngành học khác nhau như:

- Lấy phát triển bền vững con người là tư tưởng trung tâm

- Mỗi con người là một cá nhân độc lập làm chủ quá trình lao động của mình (có sự hợp tác, có kỹ năng lao động)

Trang 17

- Lấy lợi ích người lao động làm nguyên tắc cơ bản của quản lý lao động (trong sự hài hoà với lợi ích của cộng đồng, xã hội)

- Bảo đảm môi trường dân chủ thuận lợi cho tiến trình giao lưu đồng thuận

- Có các chính sách phát huy tiềm năng của người lao động, đảm bảo hiệu quả công việc

- Phát triển nguồn nhân lực bám sát yêu cầu của thị trường lao động quản

lý giáo dục

Về cơ bản các công trình đã làm rõ được nhiều vấn đề liên quan đến quản

lý, phát triển đội ngũ nhà giáo dưới các góc độ, chuyên ngành khác nhau nhưng cho đến nay chưa có công trình nào đề cập đầy đủ, hệ thống về phát triển đội ngũ giảng viên Trung tâm GDQP Hà Nội I Song đây thực sự là những tài liệu quý, bổ ích, tạo thuật lợi cho tác giả trong nghiên cứu đề tài này

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

- Quản lý

Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội Xã hội loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau và đồng thời cũng trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội Nó là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử Ở mỗi góc độ tiếp cận và hoạt động, người ta có thể đưa ra một quan niệm về quản lý khác nhau

- Theo từ điển Tiếng Việt: Quản lý mang ý nghĩa của động từ:

+ Quản là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định

+ Lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định [42, tr.48]

- Dưới góc độ khoa học khác nhau:

Trang 18

+ Theo quan điểm triết học, quản lý được xem như một quá trình liên kết thống nhất giữa chủ quan và khách quan để đạt mục tiêu đề ra

+ Theo quan điểm kinh tế học, nhà kinh tế học người Mỹ - Frederic Wiliam Taylor (1856-1915) cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” [30, tr.31]

+ Nhà toán học A.N Kolmogorov cho rằng: “Quản lý là quá trình gia công thông tin thành tín hiệu điều chỉnh hoạt động của máy móc hay cơ thể sống

[38, tr.35]

+ Khi nói về vai trò của quản lý trong xã hội, hai tác giả Paul Hersey và Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” cho rằng: Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức

+ Trong Giáo dục học, Hà Thế Ngữ đã viết: “Thành công của cải cách giáo dục ở nước ta sẽ tùy thuộc phần lớn vào những cố gắng củng cố tổ chức và cải tiến quản lý trong hệ thống giáo dục quốc dân” [31, tr.324] Để đơn giản hoá người ta hiểu quản lý là cai trị một bộ máy bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy và đồng thời tìm kiếm biện pháp tác động vào bộ máy để đạt tới mục tiêu Bản chất của quản lý là cai trị, bên cạnh thuyết phục là cưỡng chế

+ Theo Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường [38, tr.42]

Hoạt động quản lý bao giờ cũng gắn với hoạt động có ý thức của con người và toàn xã hội dưới tác động của hoàn cảnh nhằm định hướng sự vận động và phát triển của đối tượng cần quản lý theo một mục đích nhất định Khái

Trang 19

niệm đó phải bao quát được tất cả mọi hoạt động của con người Đồng thời khái niệm “quản lý" cũng như bất kỳ một khái niệm nào khác cũng phải xây dựng theo những quy tắc khái niệm Trong các quan điểm về quản lý đã nêu trên, ta nhận thấy hầu như các quan điểm đó chưa bao quát được mọi hoạt động của con người Có định nghĩa chưa nêu được khuynh hướng vận động của đối tượng quản lý theo mục đích hoạt động của con người

Các cách lý giải quan điểm về quản lý tuy có những khía cạnh khác nhau, nhưng về bản chất và nội dung đều thống nhất: Quản lý là lao động điều khiển lao động, về bản chất nó là quá trình điều chỉnh mọi quá trình xã hội về tư tưởng văn hoá, kinh tế chính trị, giáo dục, pháp luật…, quản lý giữ vai trò quan trọng trong sự tiến bộ xã hội Chúng ta có thể hiểu khái niệm quản lý theo nghĩa chung

nhất: Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường

- Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của bộ máy QLGD đến hình thức giáo dục và hoạt động giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục đến kết quả mong đợi Quan hệ cơ bản của hoạt động giáo dục là quan hệ của người quản lý với người dạy và người học trong hoạt động giáo dục Các mối quan hệ khác biểu hiện trong quan hệ giữa các cấp bậc quản lý, giữa người với người (đội ngũ giáo viên - học sinh), giữa người với việc (quá trình hoạt động giáo dục), giữa người với vật (cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục)

Theo tác giả Trần Kiểm, đối với cấp vĩ mô “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống, sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong

Trang 20

điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động’’ [27,

tr.37]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ Hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá

VIII cũng đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý tới

khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới

kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [20, tr.7]

Từ những quan niệm trên cho thấy: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục ở các cơ sở giáo dục

Trên thực tế QLGD luôn gắn với quá trình quản lý nhà trường Hai quá trình này luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Bởi trường học là hạt nhân cơ bản của

hệ thống giáo dục trên qui mô toàn xã hội, là nơi diễn ra hầu hết các hoạt động giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân Vì vậy khi bàn đến QLGD cũng cần hiểu rõ quan niệm về quản lý nhà trường

- Quản lý nhà trường (trung tâm là một đơn vị của Nhà trường)

Theo Trần Kiểm, quản lý nhà trường là quản lý theo mục tiêu chất lượng, tức là phải làm cho chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp với các đối tượng học sinh cụ thể, các điều kiện học tập cụ thể Điều này, một mặt đòi hỏi hiệu trưởng phải có kế hoạch tổ chức thực hiện chương trình, mặt khác chỉ đạo tổ chức thực hiện tất cả các hoạt động giáo dục trong nhà trường, điều kiện cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin, công tác đào tạo, bồi dưỡng tức là triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những

tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi

Trang 21

hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng

thái mới" [32, tr.43]

Vậy bản chất của hoạt động quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học để đưa hoạt động này phát triển đi lên theo xu thế tất yếu của thời đại và đạt tới mục tiêu giáo dục, đào tạo Trong đó cần lưu ý, quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những lí luận chung của khoa học quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của nó Quản lý nhà trường khác với việc quản lý các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các tổ chức xã hội khác, bởi nhà trường là một tổ chức đặc biệt, là nơi tạo ra những

“sản phẩm” cũng hết sức đặc biệt, đó là nhân cách của con người

1.2.2 Giảng viên

1.2.2.1 Giảng viên

Điều 61, Luật Giáo dục xác định: Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáơ dục trong các nhà trường hoặc cơ sở giáo dục khác Nhà giáo ở cơ sở giáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên [33, tr.8]

Như vậy, giảng viên là những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong các trường đại học

Điều 54, Luật Giáo dục đại học nêu rõ:

+ Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là người có nhân thân rõ ràng;

có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt trình độ

về chuyên môn, nghiệp vụ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 77 của Luật Giáo dục

+ Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư

+ Trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên Trường hợp đặc biệt ở một số ngành chuyên môn đặc thù do Bộ

Trang 22

trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo quy định Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học ưu tiên tuyển dụng người có trình độ từ thạc sĩ trở lên làm giảng viên

+ Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, quy định việc bồi dưỡng, sử dụng giảng viên [34, tr.12]

- Giảng viên cơ hữu

Thông tư số 36/2010/TT-BGDĐT ngày 15/12/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định chế độ làm việc đối với giảng viên (Quy định) ban hành kèm theo Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28/11/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: Giảng viên cơ hữu là giảng viên thuộc biên chế chính thức hoặc hợp đồng lao động từ 12 tháng trở lên hoặc hợp đồng lao động không xác định thời hạn; là lực lượng chính của trường, thực hiện sự phân công, giao việc của hiệu trưởng theo Điều lệ nhà trường Giảng viên cơ hữu: được trả lương theo thang bậc lương, được nhà trường đóng bảo hiểm xã hội hàng tháng, được lập sổ bảo hiểm xã hội, được hưởng các quyền lợi và có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện theo quy định của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Giảng viên cơ hữu gồm có :

+ Giảng viên trong biên chế;

+ Giảng viên ký hợp đồng lao động với trường

Theo quy định của Thông tư 36 của Bộ GD& ĐT, để đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, mỗi trường đại học cần có tối thiểu 60% giảng viên cơ hữu Hiện nay số giảng viên cơ hữu tại các trường đại học còn quá ít, đặc biệt tại các trường đại học tư thục chủ yếu là giáo viên thỉnh giảng Trên thực tế, giảng viên tại các trường đại học không chỉ làm công tác giảng dạy mà còn phải làm

cả công tác nghiên cứu Vì vậy để đảm bảo về mặt thời gian dành cho giữa việc nghiên cứu và giảng dạy thì giáo viên cơ hữu đảm bảo hơn, nếu tỷ lệ giảng viên

cơ hữu tại mỗi trường mà thấp thì rất bị động trong việc phân bố giảng viên đứng lớp Giảng viên đại học phải làm nhiều việc, thậm chí đào tạo theo hình

Trang 23

thức tín chỉ thì giảng viên đại học còn là “cố vấn học tập” Vì vậy, giảng viên cơ hữu mới nâng cao và tập trung được trách nhiệm đối với giảng dạy, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học, trách nhiệm đối với chính trường mà họ công tác

Có thể khẳng định, việc quy định 60% giảng viên cơ hữu tại mỗi trường đại học

là yếu tố rất cần thiết, là yếu tố mang tính sống còn của chất lượng đào tạo

- Giảng viên thỉnh giảng

Điều 74, Luật Giáo dục quy định: Người được cơ sở giáo dục mời giảng dạy được gọi là giáo viên thỉnh giảng hoặc giảng viên thỉnh giảng

Giảng viên thỉnh giảng phải thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 72 của Luật Giáo dục Giảng viên thỉnh giảng là cán bộ, công chức phải bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ ở nơi mình công tác

Khuyến khích việc mời nhà giáo, nhà khoa học trong nước, nhà khoa học

là người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài đến giảng dạy tại các cơ sở giáo dục theo chế độ thỉnh giảng

Điều 57, Luật Giáo dục đại học nêu rõ: Giảng viên thỉnh giảng thực hiện các nhiệm vụ và được hưởng các quyền theo hợp đồng thỉnh giảng được ký giữa hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học với giảng viên thỉnh giảng

Cơ sở giáo dục đại học được mời giảng viên thỉnh giảng, mời báo cáo viên là các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân, nghệ nhân ở trong nước và nước ngoài Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể về giảng viên thỉnh giảng và báo cáo viên [33, tr.14]

1.2.2.2 Giảng viên GDQP

Giảng viên GDQP là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục có đủ tiêu chuẩn do Luật Giáo dục quy định; tốt nghiệp đại học trở lên các chuyên ngành thuộc khoa học quân sự có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm; có tinh thần trách nhiệm của người thầy, người chỉ huy và người cán bộ quản lý giáo dục Gồm có::

+ Giảng viên thuộc biên chế hữu cơ, hợp đồng, thỉnh giảng

Trang 24

+ Giảng viên là sĩ quan biệt phái [5, tr.4]

Nghị định số 13/2014/NĐ - CP của Chính phủ Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh quy định rõ: Giảng viên phải có một trong các trình độ chuẩn sau đây:

- Có bằng cử nhân giáo dục quốc phòng và an ninh trở lên;

- Cán bộ quân đội, công an có bằng tốt nghiệp đại học trở lên;

- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên chuyên ngành khác và chứng chỉ đào tạo giáo viên, giảng viên giáo dục quốc phòng, an ninh và chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

Nguồn cung cấp cho tuyển chọn đội ngũ giảng viên giáo dục quốc phòng,

an ninh tại các trung tâm GDQP - AN như sau:

- Giảng viên giáo dục quốc phòng, an ninh là cán bộ sỹ quan quân đội, công an do Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an điều động, có tuyển chọn sỹ quan có bằng đại học đang là giảng viên từ các nhà trường quân đội, công an hoặc sỹ quan đã

ra trường đang công tác từ các đơn vị sau một thời gian được Bộ quyết định biệt phái

về Bộ GD&ĐT làm giảng viên Đối tượng SQBP khi biệt phái có thể tham gia giảng dạy hoặc quản lý đơn vị sử dụng được ngay và đơn vị tuyển dụng không được chủ động (hay nói cách khác tính chủ động thấp hơn) Đây cũng là do đặc thù môi trường quân đội, nhất khi điều động SQBP trong quân đội phải có sự hiệp thương giữa các

cơ quan: Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh các đơn vị quân khu quân đoàn, nhà trường quản lý sỹ quan biệt phái, Bộ GD&ĐT và Cơ sở giáo dục nhận sử dụng SQBP đến công tác; Trước mắt và trong những năm tiếp theo nguồn giảng viên GDQP là sĩ quan do Bộ Quốc phòng biệt phái vẫn là quan trọng và quyết định Nòng cốt cơ bản vẫn là SQBP từ nay cho đến năm 2020

- Giảng viên giáo dục quốc phòng, an ninh tuyển dụng qua hình thức thi tuyển từ học sinh phổ thông và tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học sư phạm gửi

đi đào tạo Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Quốc phòng mở mã ngành đào

Trang 25

tạo giáo viên giáo dục quốc phòng, an ninh cho các trường Sỉ quan Lục quân 1, Sĩ quan Lục quân 2 và Học viện Chính trị - Quân sự Bộ GD&ĐT ký hợp đồng đào tạo với Bộ Quốc phòng theo nhu cầu và chỉ tiêu kế hoạch hàng năm Thời gian tương ứng với đào tạo tại các trường đại học sư phạm (4 năm), cấp bằng tốt nghiệp đại học chính quy, nhóm ngành khoa học quân sự Đối tượng này đơn vị tuyển dụng lựa chọn, tuyển người (tính chủ động cao hơn) trên cơ sở các tiêu chí quy định, nhưng vẫn phải trên cơ sở đồng ý, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ GD&ĐT Khi được tuyển dụng cần có thời gian kèm cặp, bồi dưỡng về mọi mặt, nhất là chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm và phương pháp huấn luyện quân sự, gắn với hoạt động thực tiễn trong môi trường quân sự, sau đó mới có thể sử dụng được Thực tiễn cho thấy tuyển chọn giảng viên GDQP-AN rất khó và qua hoạt động thực tiễn đội ngũ này yếu, khó đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ giảng dạy QP - AN

Sự khác giữa giảng viên GDQP- AN với giảng viên môn học khác trong các trường đại học được thể hiện:

- Thứ nhất, giảng viên giáo dục quốc phòng, an ninh giảng dạy và bồi

dưỡng kiến thức QP- AN ở môi trường đặc thù, đặc biệt của hoạt động quân sự, sát với thực tế chiến đấu Điều kiện giảng dạy và huấn luyện quân sự khắc nghiệt, đòi hỏi có trí lực, thể lực, bản lĩnh thép vượt bậc so với các ngành nghề, các lĩnh vực khác; khác biệt hẳn với giảng viên thông thường

- Thứ hai, giảng viên GDQP- AN phải có phẩm chất năng lực trí tuệ vượt trội, lai

lịch chính trị trong sạch rõ ràng, được đào tạo trong môi trường quân sự hoặc sát với hoạt động quân sự, có lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân

- Thứ ba, cường độ làm việc của giảng viên giáo dục quốc phòng, an

ninh rất cao, khác biệt hẳn với giảng viên thông thường

- Thứ tư, ngoài nhiệm vụ giảng dạy và bồi dưỡng kiến thức QP- AN,

giảng viên GDQP- AN còn tham gia các hoạt động quản lý học viên, sinh viên

và các hoạt đọng ngoại khóa theo đặc thù hoạt động quân sự quốc phòng

Trang 26

- Thứ năm, giảng viên GDQPAN phải thực hiện nề nếp chế độ ngày tuần

theo môi trường quân đội, theo Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh

1.2.3 Đội ngũ giảng viên

Theo từ điển tiếng Việt, đội ngũ là “Tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lượng” [42, tr.45] Chẳng hạn: “đội ngũ trí thức”, “đội ngũ cán bộ”, “đội ngũ giảng viên”

Đội ngũ giảng viên là tập thể những người đảm nhiệm công tác giáo dục

và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định

Từ những nghiên cứu trên, có thể quan niệm: Đội ngũ giảng viên là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục và nghiên cứu khoa học ở các trường đại học và cao đẳng; họ được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đề ra cho các cơ sở giáo dục đó Đội ngũ giảng viên là lực lượng tham gia trực tiếp vào quá trình giáo dục đại học nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, bồi dưỡng, phát triển nhân tài cho đất nước Họ gắn bó với nhau thông qua lợi ích vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật và thể chế xã hội

Từ khái niệm trên có thể hiểu: Đội ngũ giảng viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội

I là lực lượng lao động sư phạm làm nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học về môn học GDQP - AN cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố

Hà Nội; số lượng đội ngũ này tùy theo yêu cầu nhiệm vụ giảng dạy GDQP và quy định của cấp trên cũng như việc tổ chức lao động sư phạm của Trung tâm

1.2.4 Phát triển đội ngũ giảng viên

- Phát triển

Theo triết học Mác-Lênin, phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ yếu kém đến tốt hơn Sự phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động nói chung mà nó chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động - xu hướng vận động đi lên của sự vật, hiện tượng Quá trình

Trang 27

phát triển sẽ làm thay đổi mối liên hệ, cơ cấu, phương thức tồn tại, vận động và chức năng vốn có theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn của sự vật hiện tượng

Theo từ điển tiếng Việt: Phát triển là biến đổi, hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp" [42, tr.42], theo đó cái mới, cái tiến bộ sẽ hình thành và thay thế cho cái cũ, cái lạc hậu Nét đặc trưng của phát triển là hình thức xoáy ốc và theo các chu kỳ

Theo David C.Korten, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng người Mỹ; “Phát triển là một tiến trình qua đó các thành viên của xã hội tăng được những khả năng của cá nhân và định chế của mình để huy động và quản lý các nguồn lực nhằm tạo ra những thành quả bền vững… nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ”

Từ những năm 60 của thế kỷ XX thuật ngữ “phát triển” được sử dụng khá rộng rãi với cách hiểu đơn giản là phát triển kinh tế Sau đó khái niệm này được

bổ sung thêm về nội hàm và được hiểu một cách toàn diện hơn

Ngày nay, khái niệm phát triển được sử dụng để chỉ cả ba mục tiêu cơ bản của nhân loại: phát triển con người toàn diện, bảo vệ môi trường, tạo hoà bình

và ổn định chính trị

Phát triển là một quá trình nội tại, là bước chuyển hoá từ thấp đến cao, trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm năng những khuynh hướng dẫn đến cái cao, còn cái cao là cái thấp đã phát triển Phát triển là quá trình tạo ra sự hoàn thiện của cả tự nhiên và xã hội Phát triển có thể là một quá trình hiện thực nhưng cũng có thể là một tiềm năng của sự vật hiện tượng

- Phát triển đội ngũ giảng viên

Việc chăm lo xây dựng và phát triển ĐNGV là nhiệm vụ trung tâm, ưu tiên hàng đầu của mỗi nhà trường Phát triển ĐNGV cần chú ý tính toàn diện; phải chăm lo bồi dưỡng về phẩm chất năng lực của người giảng viên, tạo điều

Trang 28

kiện môi trường thuận lợi cho mỗi người yên tâm gắn bó với nghề và gắn kết họ thành một khối thống nhất vì nhiệm vụ chung của nhà trường; các khoa, bộ môn

đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, vững mạnh về chuyên môn Tùy theo cách tiếp cận khác nhau, dẫn đến có các quan niệm khác nhau về phát triển ĐNGV Quan điểm phát triển ĐNGV tập trung có ba quan điểm

+ Quan niệm phát triển ĐNGV lấy cá nhân người giảng viên làm trọng tâm Đây là quan niệm được nhiều tác giả đề cập đến Chẳng hạn như J.Ggar coi giảng viên là nguồn lực quan trọng nhất trong việc duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, còn một số tác giả khác lại cho rằng: “phát triển nghề nghiệp phải phục vụ nhu cầu của các cá nhân giảng viên, còn nhu cầu nhà trường là thứ cấp” [30, tr.56]

Quan điểm nêu trên đều đề cao vai trò của giảng viên trong quá trình phát triển đội ngũ Giảng viên là trung tâm, là đối tượng cần đặc biệt chú ý Đó là lực lượng duy nhất Tất cả mọi hoạt động khác đều tập trung vào mục đích tăng cường năng lực của các cá nhân giảng viên trên cơ sở đáp ứng các yêu cầu và khuyến khích

sự phát triển của họ như những chuyên gia Điều đó có nghĩa là trọng tâm công tác phát triển ĐNGV là tạo ra sự chuyển biến tích cực của các cá nhân giảng viên dựa trên những nhu cầu của họ Như vậy, mục đích của việc phát triển đội ngũ giảng viên nhằm khuyến khích tài năng, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ và như vậy thúc đẩy sự phát triển nghề nghiệp của giảng viên, đặc biệt trong hoạt động giảng dạy

Theo J.Schiffer thì: “Các chương trình phát triển đội ngũ giảng viên cần tạo ra

sự biến đổi của cá nhân giảng viên, tuy nhiên bản thân điều này chưa bảo đảm được

sự hoàn thiện của nhà trường bởi điều đó đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa sự thay đổi của nhà trường với sự thay đổi của cá nhân giảng viên” [29, tr.65] Chính vì vậy, muốn đạt được hiệu quả trong việc phát triển ĐNGV cần phải chú trọng đến nhu cầu

và kế hoạch của nhà trường

Trang 29

+ Quan điểm phát triển ĐNGV là một trong những nhiệm vụ của nhà trường (Đại diện cho quan điểm này có Piper, 1993) Theo đó, phát triển đội ngũ giảng viên là công cụ mạnh nhất của phát triển nhà trường Nó tập trung vào các biện pháp nhằm đạt được các mục tiêu trong tương lai và gắn chặt với việc lập kế hoạch chiến lược

Hay như Grifin (1983) và Bradhy (1991) xem xét sự phát triển đội ngũ giảng viên là sự phát triển của tổ chức (nhà trường) hoặc ít ra nó cũng là bộ phận cấu thành lên chiến lược để phát triển nhà trường Nó chính là một hình thức tác động vào hoạt động của nhà trường nhằm đạt được mục tiêu phát triển Công tác phát triển ĐNGV là nhằm tạo ra tiềm lực cho việc phát triển nhà trường

Mặc dù các mục tiêu của nhà trường là cơ sở vững chắc cho việc xây dựng các chương trình và chính sách phát triển ĐNGV, nhưng nếu không chú ý đến các yếu tố khác như yếu tố văn hóa hay nhu cầu động cơ của cá nhân giảng viên thì việc phát triển ĐNGV cũng mang tính áp đặt, gượng ép Theo quan điểm này thì nhu cầu của giảng viên trở nên mờ nhạt, không phát huy được tính năng động, tích cực sáng tạo của đội ngũ

+ Quan điểm phát triển ĐNGV trên cơ sở kết hợp giữa phấn đấu của cá nhân giảng viên và sự quan tâm của nhà trường

Đây là quan điểm có sự kết hợp hài hòa giữa nhu cầu cá nhân (giảng viên)

và nhu cầu tổ chức (nhà trường) trong sự phát triển đội ngũ giảng viên, nhằm bảo đảm cho nhà trường ổn định và phát triển

Quan điểm này xem xét vai trò của giảng viên và nhà trường ngang nhau đó là sự hợp tác, cộng đồng trách nhiệm vì thế công tác phát triển đội ngũ sẽ đạt hiệu quả Phát triển ĐNGV là một nỗ lực mang tính chất thường xuyên nhằm hòa hợp các lợi ích, mong muốn và sự phấn đấu của đội ngũ giảng viên trên cơ sở có tính đến các yêu cầu của nhà trường nơi họ công tác Tuy nhiên, không phải lúc nào nhu cầu của đôi bên cũng thống nhất, vì thế trong công tác quản lý phát triển ĐNGV chúng ta cần phân tích

Trang 30

khoa học nhu cầu của giảng viên, yêu cầu của tổ chức để xây dựng kế hoạch chiến lược cho sự phát triển ĐNGV ở các trường đại học

Đại diện cho quan điểm này là Piper và Glatter, với phương châm “phát triển đội ngũ giảng viên là một nỗ lực mang tính chất thường xuyên nhằm hoà hợp các lợi ích, mong muốn và các đòi hỏi mà ĐNGV đã cân nhắc kỹ để tiếp tục phát triển sự nghiệp của mình trên cơ sở có tính đến các yêu cầu của nhà trường nơi họ công tác” [29, tr.56] Tuy nhiên không phải lúc nào nhu cầu của đôi bên cùng hoà hợp, vì thế trong công tác quản lý phát triển ĐNGV, nhà quản lý cần phân tích kỹ nhu cầu cá nhân thông qua nhu cầu của tổ chức để xây dựng kế hoạch chiến lược cho sự phát triển ĐNGV

Từ những quan niệm trên, theo chúng tôi có thể hiểu: Phát triển ĐNGV là quá trình qui hoạch, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên của cấp ủy, chỉ huy các cấp, các cơ quan chức năng, các khoa giáo viên trong nhà trường làm cho đội ngũ này tăng tiến cả số lượng lẫn chất lượng và có cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển của nhà trường

Khái niệm này chỉ ra rằng:

Mục tiêu phát triển ĐNGV ở trường đại học là phát triển nguồn nhân lực dạy học, là tạo ra sự tăng trưởng bền vững, liên tục của mỗi thành viên và của cả đội ngũ, gắn liền với việc không ngừng tăng lên về chất lượng và số lượng của đội ngũ Để có

sự phát triển của đội ngũ, đòi hỏi phải giải quyết đồng bộ, thường xuyên nhiều vấn

đề có mối quan hệ khăng khít với nhau như: Công tác qui hoạch, tạo nguồn, sử dụng, bồi dưỡng, các chính sách hỗ trợ…

Trong giai đoạn hiện nay, phát triển ĐNGV là mang tính đón đầu chứ không phải chỉ là nhiệm vụ trước mắt Đó là về số lượng phải đủ so với biên chế; về cơ cấu phải hợp lý bao gồm độ tuổi, thâm niên giảng dạy, giới…; có tỷ lệ phù hợp với sự phát triển của đội ngũ theo thời gian; đặc biệt về chất lượng đội ngũ là phải chăm lo đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng thường xuyên để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ (đạt chuẩn và trên chuẩn); tạo điều kiện để giảng viên phát triển toàn diện nội

Trang 31

lực của bản thân hài hòa với sự phát triển của trường đại học, đồng thời phải xây dựng chính sách và chiến lược phát triển đội ngũ trên cơ sở mục tiêu phát triển trước mắt cũng như lâu dài của nhà trường

Từ những cách tiếp cận trên có thể hiểu: Phát triển ĐNGV ở Trung tâm GDQP là tổ hợp các cách thức tiến hành của chủ thể quản lý nhằm xây dựng và phát triển ĐNGV đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề đào tạo, đạt chuẩn về chất lượng để đội ngũ giảng viên của Trung tâm hoạt động có hiệu quả, qua đó không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy GDQP- AN cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng

Trong điều kiện hiện nay, xã hội có nhiều biến động và phát triển không ngừng, việc quản lý phát triển nguồn nhân lực trong nhà trường là yêu cầu hết sức cấp bách và cần được ưu tiên Bởi vì mục tiêu của việc quản lý nhân lực là huy động khả năng làm việc tốt nhất của mỗi giảng viên và làm cho họ hài lòng,

yên tâm công tác, có động lực lao động tích cực trong các hoạt động

Phát triển ĐNGV đại học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Vì vậy, phát triển ĐNGV là vừa là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt của các cấp quản lý, vừa

là nhu cầu xây dựng thương hiệu chất lượng của trường đại học trong xu thế hội nhập và phát triển

Chất lượng của ĐNGV không chỉ là sự cộng lại thuần tuý các phẩm chất, năng lực cá nhân của mỗi giảng viên mà còn là tổng hoà của mỗi phẩm chất ấy thể hiện ở những đặc trưng của một tập thể sư phạm Đó là bầu không khí thân thiện về mọi mặt, là một tổ chức biết học hỏi, biết làm việc tập thể từ cấp bộ môn, đến cấp Khoa và toàn thể nhà trường

Để nâng cao hiệu quả việc quản lý, phát triển ĐNGV, người quản lý cần xây dựng mục tiêu phát triển toàn diện ĐNGV đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường

Cụ thể là phát triển đội ngũ giảng viên cả về số lượng lẫn chất lượng Do vậy, phải tiến

Trang 32

hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đảm bảo đánh giá đúng thực trạng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý về số lượng, cơ cấu, về tình hình chính trị, tư tưởng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ từ đó bố trí lại cơ cấu đội ngũ nhằm phát huy tốt nhất năng lực công tác của mỗi cán bộ, giáo viên, có tác dụng động viên, khuyến khích những giảng viên thực sự tâm huyết, trách nhiệm với nghề, cống hiến tài năng cho

sự nghiệp giáo dục Đồng thời có cơ sở để thay thế những giảng viên không đủ phẩm chất, năng lực công tác Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đạt chuẩn chất lượng đội ngũ giảng viên với các chỉ số cao về trình độ đào tạo chuẩn hoá, trên chuẩn và các yêu cầu cụ thể về phẩm chất nhà giáo, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục trong thời kỳ mới Đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học của giáo viên, đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường và của hệ thống, trên cơ sở nâng cao trình độ năng lực của giáo viên, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển đội ngũ Phát triển ĐNGV là một quá trình liên tục nhằm hoàn thiện, thậm chí “cách mạng hoá” tình hình, tạo nên một tập thể giảng viên theo kịp sự phát triển của nhiệm vụ giáo dục và đào tạo của nhà trường

1.3 Giảng viên GDQP - AN ở Trung tâm / Khoa GDQP - AN của trường đại học

1.3.1 Bối cảnh thời đại hiện nay

Giáo dục nước ta trong thập kỷ tới phát triển trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi nhanh và phức tạp Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành

xu thế tất yếu Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế trí thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát triển của các nền giáo dục trên thế giới Đồng thời, trước sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với sự nghiệp phát triển giáo dục, đào tạo của nước ta Bối cảnh mới tạo cơ hội thuận lợi để giáo dục, đào tạo nước ta tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những

mô hình giáo dục hiện đại, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, tạo thời cơ để phát triển

Trang 33

giáo dục, đào tạo; tạo điều kiện để đổi mới căn bản, toàn diện nội dung, phương pháp

và hình thức tổ chức giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục, đào tạo, tiến tới một nền giáo dục, đào tạo tiên tiến, hiện đại đáp ứng nhu cầu của xã hội và từng cá nhân người học

Bối cảnh thời đại mới đặt ra cho giáo dục, đào tạo nước nhà những yêu cầu, nhiệm vụ, thách thức mới Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế tri thức đang là áp lực của ngành giáo dục nói riêng và của toàn Đảng, toàn dân nói chung Điều này đòi hỏi phải có định hướng phát triển, có tầm nhìn chiến lược, ổn định lâu dài cùng những phương pháp, hình thức, tổ chức, quản lý giáo dục và đào tạo cho phù hợp

Bối cảnh mới tạo cơ hội thuận lợi để giáo dục, đào tạo nước ta tiếp cận với các

xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện đại, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, tạo thời cơ để phát triển giáo dục, đào tạo; tạo điều kiện để đổi mới căn bản, toàn diện nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục, đào tạo, tiến tới một nền giáo dục, đào tạo tiên tiến, hiện đại đáp ứng nhu cầu của

xã hội và từng cá nhân người học Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với Chiến lược phát triển nhân lực giai đoạn 2011-2020 và Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam trong thời kỳ dân số vàng là tiền đề cơ bản để chúng ta thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

Tuy nhiên, bối cảnh mới cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với sự nghiệp phát triển giáo dục, đào tạo, như: khoảng cách phát triển kinh tế, khoảng cách về giáo dục, đào tạo giữa nước ta và các nước ngày càng mở rộng; hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường làm nảy sinh những vấn đề mới, như nguy cơ xâm nhập của văn hóa và lối sống không lành mạnh làm xói mòn dần bản sắc văn hóa dân tộc, sự thâm nhập của các loại dịch vụ giáo dục, đào tạo kém chất lượng từ bên ngoài có thể gây rủi ro lớn đối với giáo dục, đào tạo, sự gia tăng khoảng cách giàu - nghèo giữa các nhóm dân cư, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền có nguy cơ dẫn đến tình

Trang 34

trạng thiếu bình đẳng trong tiếp cận giáo dục của người dân Những vấn đề đó đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới cả về triết lý, lý luận cũng như những giải pháp thực tiễn để phát triển giáo dục, đào tạo Nhu cầu phát triển nhanh giáo dục, đào tạo đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh

tế tri thức và hội nhập quốc tế đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với phát triển giáo dục, đào tạo, trong khi nguồn lực đầu tư cho giáo dục, đào tạo có hạn, tạo sức ép lớn cho sự phát triển giáo dục, đào tạo

1.3.2 Vai trò của giảng viên đại học

Điều 15 Luật Giáo dục khẳng định: Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học

Có thể khẳng định, giảng viên đại học là yếu tố hàng đầu để nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong thực tế hiện nay Người giảng viên giỏi không phải là người truyền thụ cho sinh viên tất cả những gì mình biết Bởi, không ai có thể dạy được cho người học hết các kiến thức mà cái chính là biết khơi dậy ngọn lửa của lòng đam mê học tập, nghiên cứu khoa học của sinh viên Đây là cách để có được chất lượng và sự đổi mới căn bản trong hoạt động đào tạo ở bậc đại học hiện nay Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này đòi hỏi ý thức trách nhiệm, lòng nhiệt tình và sự say mê tâm huyết của mỗi giảng viên - nhân tố chính trong việc nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học, giảng viên cần phải có những khả năng: kiến thức chuyên môn sâu, kiến thức xã hội rộng, và áp dụng nhiều phương pháp sư phạm, sử dụng thành thạo có hiệu quả trang thiết bị, học liệu hiểu tâm lý người học, cơ chế truyền đạt và tiếp thu kiến thức, cảm hóa định hướng suy nghĩ cho người học, luôn luôn tích lũy và nâng cao khả năng sư phạm Ngoài ra, giảng viên còn phải luôn cập nhật tri thức mới và phù hợp với từng đối tượng học

Trang 35

Đối với người giảng viên, mỗi khi lên lớp là họ cung cấp một sản phẩm giảng dạy đến đối tượng sinh viên Chất lượng của mỗi bài giảng không chỉ đơn thuần ở góc độ chuyên môn mà nó còn hàm chứa sự tâm huyết của người giảng viên Điều này đòi hỏi các giảng viên phải không ngừng tự nâng cao năng lực chuyên môn, nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp, cố gắng tự làm mới mỗi giờ dạy cả về hình thức lẫn nội dung để mỗi tiết lên lớp là một sự sáng tạo, là một

“tác phẩm” mới Khi người giảng viên có kiến thức chắc chắn, có khả năng truyền đạt và có tâm huyết thì mỗi giờ giảng chắc chắn sẽ hiệu quả hơn Để tạo

ra sự hấp dẫn trong mỗi tiết học, người giảng viên phải tìm cách đổi mới từ những cái nhỏ nhất mỗi khi lên lớp như cách đặt vấn đề cho bài giảng, hệ thống câu hỏi phát vấn, thảo luận, hình thức kiểm tra bài Do vậy, để thay đổi được chất lượng giáo dục đào tạo đại học thì trước hết giảng viên phải thay đổi trước (thay đổi năng lực chuyên môn, phương pháp giảng dạy và tư duy đào tạo):

1.3.3 Nhiệm vụ của giảng viên và giảng viên giáo dục quốc phòng - an ninh

- Nhiệm vụ của giảng viên đại học, trên cơ sở quy định tại Điều 72 của Luật Giáo dục và Điều 55 của Luật Giáo dục đại học, tập trung trên những nhiệm vụ chủ yếu sau:

+ Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường;

+ Giảng dạy theo mục tiêu, chương trình đào tạo và thực hiện đầy đủ, có chất lượng chương trình đào tạo

+ Nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ, bảo đảm chất lượng đào tạo

+ Định kỳ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy

+ Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của giảng viên

Trang 36

+ Tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học

+ Tham gia quản lý và giám sát cơ sở giáo dục đại học, tham gia công tác Đảng, đoàn thể và các công tác khác

+ Thực hiện các nhiệm vụ và quyền khác theo quy định của pháp luật

- Giảng viên GDQP - AN ở Trung tâm GDQP – AN có nhiệm vụ:

+ Giảng dạy theo kế hoạch đã được phê duyệt, bảo đảm mục tiêu, chương trình, nguyên lý giáo dục Chịu trách nhiệm trước khoa, bộ môn về nội dung và

kế hoạch giảng dạy

+ Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và Quy chế Tổ chức và hoạt động của Trung tâm GDQP - AN

+ Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách, đối xử công bằng và bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người học

+ Tích cực học tập về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm để nâng cao hiệu quả dạy học; rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, nêu gương tốt cho sinh viên

+ Tham gia nghiên cứu khoa học và thực hiện các nhiệm vụ khác khi được phân công

1.3.4 Quyền hạn của giảng viên và giảng viên giáo dục quốc phòng -

an ninh

- Quyền hạn của giảng viên đại học được quy định tại Điều 73 của Luật Giáo dục

và Điều 55 của Luật Giáo dục đại học, hiểu khái quát trên những nội dung chính sau:

+ Được giảng dạy theo chuyên ngành đào tạo;

+ Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; + Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ

sở giáo dục khác và cơ sở nghiên cứu khoa học với điều kiện bảo đảm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ nơi mình công tác;

Trang 37

+ Được bổ nhiệm chức danh của giảng viên, được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú và được khen thưởng theo quy định của pháp luật

+ Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự;

+ Được nghỉ hè, nghỉ Tết âm lịch, nghỉ học kỳ theo quy định của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo và các ngày nghỉ khác theo quy định của Bộ luật lao động

- Giảng viên Trung tâm GDQP - AN có quyền hạn sau:

+ Được giảng dạy theo chuyên ngành đào tạo

+ Được hưởng các chế độ, quyền lợi theo quy định hiện hành đối với giảng viên và viên chức nhà nước; khi kiêm nhiệm thêm chức danh khác được hưởng các quyền lợi theo quy định;

+ Được đề xuất với giám đốc và các cơ quan có thẩm quyền những chủ trương, biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đào tạo, góp phần xây dựng và phát triển trung tâm

+ Được sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật của trung tâm phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập và rèn luyện

+ Được bồi dưỡng nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ Giảng viên

có đủ điều kiện và có triển vọng phát triển được cử đi đào tạo ở trình độ cao hơn

+ Được đánh giá kết quả học tập của sinh viên và công tác khen thưởng,

kỷ luật liên quan đến sinh viên do mình phụ trách

1.3.5 Đặc trưng và yêu cầu đối với Trung tâm giáo dục quốc phòng -

an ninh của trường đại học

1.3.5.1 Đặc trưng Trung tâm giáo dục quốc phòng – an ninh của trường đại học

Hiện nay các Trung tâm giáo dục quốc phòng – an ninh được tổ chức dưới

3 hình thức tùy thuộc vào điều kiện cho phép đặt trung tâm Cụ thể:

- Hình thức thứ nhất: Trung tâm GDQP- AN là cơ sở giáo dục đào tạo trực thuộc đại học Quốc gia, đại học Vùng và các trường đại học trực thuộc Bộ

Trang 38

Giáo dục và Đào tạo, do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký quyết định thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp của Giám đốc đại học Quốc gia, đại học Vùng và hiệu trưởng các trường đại học trực thuộc Bộ

- Hình thức thứ hai: Trung tâm GDQP- AN là cơ sở giáo dục đào tạo trực thuộc trường Quân sự Quân khu, do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký Quyết định thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của Đảng ủy và Hiệu trưởng trường quân sự Quân khu

- Hình thức thứ ba: Trung tâm GDQP- AN là cơ sở giáo dục đào tạo trực thuộc trường đại học do Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương trực tiếp quản lý và ký Quyết định thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo, quản lý trực tiếp của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố Trung ương và hiệu trưởng trường trực thuộc tỉnh, thành phố

Đặc trưng Trung tâm giáo dục quốc phòng – an ninh của trường đại học biểu hiện:

- Trung tâm GDQP - AN là nơi tập trung giảng dạy môn học GDQP - AN cho sinh viên các trương đại học, cao đẳng

Hệ thống các trung tâm GDQP (nay là trung tâm GDQP - AN) cho HS,

SV được thành lập theo Quyết định số 07/2003/QĐ-TTg, ngày 09-01-2003 của Thủ tướng Chính phủ, đảm nhiệm giảng dạy môn GDQP - AN cho học sinh, sinh viên (trong đó chủ yếu là cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng) Sự ra đời của trung tâm GDQP - AN các khu vực đã tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh, sinh viên học môn GDQP - AN Theo thống kê, hiện cả nước có khoảng gần 4 triệu học sinh, sinh viên hằng năm học môn GDQP - AN; trong đó, có trên

900 nghìn sinh viên đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề

- Trung tâm GDQP - AN là nơi có tương đối đầy đủ các điều kiện, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất đảm bảo chất lượng cho giảng dạy GDQP - AN cho sinh viên

Trang 39

Khác với các môn học khác, sinh viên các trường đại học khi học môn GDQP - AN, đòi hỏi tính thực tế, sát điều kiện chiến đấu; phải có thao trường, bãi tập, có vũ khí, trang bị huấn luyện đi kèm; phải có đội ngũ giảng viên là sĩ quan quân đội thì chất lượng mới được bảo đảm Do vậy nếu sinh viên học GDQP - AN tại trường thì những yếu tố này rất khó bảo đảm, nhất là thao trường, bãi tập, vũ khí huấn luyện và cả đội ngũ giảng viên Những yếu tố này thì trung tâm GDQP - AN cơ bản đáp ứng được yêu cầu giảng dạy, huấn luyện Ngày 9 tháng 1 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 07/2003/QĐ-TTg về Phê duyệt Quy hoạch Hệ thống Trung tâm Giáo dục quốc phòng sinh viên Về điều kiện thành lập trung tâm GDQP - AN được Thủ tướng quy định rõ nơi thành lập phải là nơi tập trung nhiều học viện, trường đại học, cao đẳng; có mặt bằng và có thể mở rộng sau này; đủ điều kiện về đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và cơ sở vật chất; có đề án thành lập trung tâm GDQP - AN nằm trong quy hoạch của nhà trường; phải phân bố hợp lý và phù hợp với từng địa phương Các trung tâm GDQP - AN ra đời đã đáp ứng cơ bản công tác giảng dạy GDQP - AN cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng từng bước khắc phục những bất cập về tình trạng thiếu cơ sở vật chất, sân bãi và đội ngũ giảng viên trong giảng dạy GDQP - AN cho sinh viên, đồng thời khẳng định tính ưu việt của Trung tâm

- Trung tâm GDQP - AN là nơi lý tưởng cho việc rèn luyện tính kỷ luật, trải nghiệm cuộc sống quân ngũ cho sinh viên

Quy chế trung tâm GDQP - AN quy định rõ: “Trung tâm giáo dục quốc phòng tổ chức học tập, huấn luyện, ăn, ở tập trung, quản lý toàn diện theo nếp sống quân sự Kết hợp chặt chẽ việc học tập với rèn luyện kỷ luật, lễ tiết tác phong, nếp sống khoa học, thông qua việc duy trì các chế độ trong ngày và trong tuần theo Điều lệnh quản lý bộ đội” [5, tr.9]

Trang 40

GDQP - AN được đánh giá là một học phần đặc biệt quan trọng trong chương trình đào tạo đại học Học môn GDQP - AN sẽ góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, tạo cho thế hệ trẻ có điều kiện tu dưỡng phẩm chất, rèn luyện năng lực để sẵn sàng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Bởi vậy, cùng với GDQP - AN, trung tâm còn chú trọng công tác quản lý sinh viên theo các chế độ, quy định như môi trường quân đội, từ đó giúp cho mỗi sinh viên ngày một hoàn thiện về phẩm chất, năng lực, tác phong, tinh thần yêu nước của một công dân, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Sinh viên về học tại các Trung tâm ngoài việc được trang bị các kiến thức,

kỹ năng quân sự, còn trực tiếp được rèn luyện, trải nghiệm trong môi trường quân sự Đây là điều kiện, cơ sở quan trọng để sinh viên hình thành nhân cách, tính tổ chức, tính kỷ luật, đảm bảo phát triển toàn diện

1.3.5.2 Yêu cầu đối với Trung tâm giáo dục quốc phòng - an ninh của trường đại học

Trung tâm GDQP - AN là nơi tập trung giảng dạy môn học GDQP - AN cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng Đến năm 2013, cả nước có 32 Trung tâm hoạt động ổn định, đảm nhiệm GDQP - AN cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng theo phân luồng của Bộ GD&ĐT Do được đầu tư khá đồng bộ về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên nên chất lượng GDQP - AN của các Trung tâm đảm bảo ngày càng tốt Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên công tác GDQP- AN cho sinh viên ở các Trung tâm vẫn còn những hạn chế Thực tế, các trung tâm GDQP - AN mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu học GDQP - AN của sinh viên Hằng năm, các Trung tâm đảm nhiệm GDQP - AN khoảng 30% số sinh viên; công tác quy hoạch, xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên môn GDQP -

AN chưa được coi trọng đúng mức Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, thao trường, bãi tập ở nhiều Trung tâm còn thiếu, v.v Để nâng cao chất lượng công

Ngày đăng: 16/07/2016, 12:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường. Tập bài giảng cho lớp Cao học Quản lý Giáo dục, Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2006
2. Đặng Quốc Bảo (1999), Khoa học tổ chức và quản lý, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học tổ chức và quản lý
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 1999
4. Bộ Giáo dục và đào tạo (2007), Chỉ thị 57/2007/ CT- BGD&ĐT, về tăng cường công tác GDQP – AN trong ngành giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 57/2007/ CT- BGD&ĐT
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2007
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Thông tư số: 40/2012/TT-BGDĐT ngày 19 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Quy định tổ chức dạy, học và đánh giá kết quả học tập môn học Giáo dục quốc phòng - an ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số: 40/2012/TT-BGDĐT ngày 19 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Quy định tổ chức dạy, học và đánh giá kết quả học tập môn học Giáo dục quốc phòng - an ninh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2012
9. Nguyễn Quốc Chí (2003), Những cơ sở của lý luận quản lý giáo dục,, Tài liệu bài giảng cao học quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của lý luận quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí
Năm: 2003
10. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2010), Đại cương về khoa học quản lý,, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
11. Nguyễn Đức Chính (2002), Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
12. Chính phủ (2003), Nghị định số 165/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ về việc biệt phái sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 165/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ về việc biệt phái sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
13. Chính phủ (2007), Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 10/7/2007 của Chính phủ về Giáo dục quốc phòng an ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 10/7/2007 của Chính phủ về Giáo dục quốc phòng an ninh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
15. Chính phủ (2010), Quyết định số 472/QĐ-TTg ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án "Đào tạo giáo viên Giáo dục quốc phòng - an ninh cho các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề giai đoạn 2010 - 2016” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 472/QĐ-TTg ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án "Đào tạo giáo viên Giáo dục quốc phòng - an ninh cho các trường trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề giai đoạn 2010 - 2016”
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
17. Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
18. Nguyễn Thị Doan, Trường đại học với nhiệm vụ giáo dục quốc phòng, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 12/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường đại học với nhiệm vụ giáo dục quốc phòng
19. Đào Ngọc Dũng. Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 1 với nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng cho sinh viên, Tạp chí quốc phòng toàn dân, số 06/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 1 với nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng cho sinh viên
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương khóa VIIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương khóa VIIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1997
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 03/05/2007 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác GDQP – AN trong tình hình mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 12-CT/TW", ngày 03/05/2007 của Bộ Chính trị về
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2007
23. Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật, Hà Nội, năm 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật
24. Trần Khánh Đức, (2009), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XI, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XI
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
25. Nguyễn Minh Đường – Nguyễn Thị Hằng (2008), Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội. Quan niệm và giải pháp thực hiện, Tạp chí Khoa học giáo dục số 32 tháng 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội. Quan niệm và giải pháp thực hiện
Tác giả: Nguyễn Minh Đường – Nguyễn Thị Hằng
Năm: 2008
26. Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ (2008), Lý luận dạy học đại học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
27. Trần Kiểm (2006), Khoa học quản lý giáo dục, một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lý giáo dục, một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Bộ máy Trung tâm GDQP Hà Nội I - Phát triển đội ngũ giảng viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng hà nội i
Sơ đồ 2.1 Bộ máy Trung tâm GDQP Hà Nội I (Trang 53)
Bảng 2.1: Thống kê số lượng, chất lượng sỹ quan biệt phái - Phát triển đội ngũ giảng viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng hà nội i
Bảng 2.1 Thống kê số lượng, chất lượng sỹ quan biệt phái (Trang 55)
Bảng 2.2: Thống kê trình độ nghiệp vụ sư phạm đội ngũ giáo viên - Phát triển đội ngũ giảng viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng hà nội i
Bảng 2.2 Thống kê trình độ nghiệp vụ sư phạm đội ngũ giáo viên (Trang 57)
Bảng 2.3:  Mức độ thực hiện biện pháp quy hoạch đội ngũ giảng viên - Phát triển đội ngũ giảng viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng hà nội i
Bảng 2.3 Mức độ thực hiện biện pháp quy hoạch đội ngũ giảng viên (Trang 59)
3  Hình  thức  lựa  chọn, - Phát triển đội ngũ giảng viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng hà nội i
3 Hình thức lựa chọn, (Trang 62)
Bảng 2.7: Mức độ thực hiện biện pháp tạo môi trường cho đội ngũ giảng viên - Phát triển đội ngũ giảng viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng hà nội i
Bảng 2.7 Mức độ thực hiện biện pháp tạo môi trường cho đội ngũ giảng viên (Trang 69)
Sơ đồ 3.1: Tiến trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên - Phát triển đội ngũ giảng viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng hà nội i
Sơ đồ 3.1 Tiến trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên (Trang 88)
Sơ đồ 3.2. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên - Phát triển đội ngũ giảng viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng hà nội i
Sơ đồ 3.2. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên (Trang 90)
Bảng  3.1.  Kết  quả  khảo  sát  tính  cần  thiết  của  các  biện  pháp  đề  xuất  phát triển đội ngũ giảng viên - Phát triển đội ngũ giảng viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng hà nội i
ng 3.1. Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp đề xuất phát triển đội ngũ giảng viên (Trang 104)
Bảng 3.2: Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp - Phát triển đội ngũ giảng viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng hà nội i
Bảng 3.2 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp (Trang 106)
3  Hình  thức  lựa  chọn,  đánh - Phát triển đội ngũ giảng viên tại trung tâm giáo dục quốc phòng hà nội i
3 Hình thức lựa chọn, đánh (Trang 121)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm