DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 2.1 Quy mô trường, lớp, học sinh THPT Nam Khoái Châu 37 2.2 Kết quả xếp loại văn hóa của trường THPT Nam Khoái Châu 38 2.5 Những biểu hiện vi phạm đạo đức của họ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN ANH MINH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NAM KHOÁI CHÂU – TỈNH HƯNG YÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thị Minh Hằng
Trang 2Lời cảm ơn
Với tình cảm chân thành, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn tới Hội đồng khoa học của trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, các Thầy giáo, Cô giáo đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn đồng chí Hiệu trưởng, các đồng chí trong Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo trường Trung học phổ thông Nam Khoái Châu tỉnh Hưng Yên đã tham gia đóng góp ý kiến, cung cấp thông tin giúp đỡ tác giả trong quá trình điều tra, nghiên cứu
Xin vô cùng cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Phó Giáo Sư - Tiến Sĩ Trần Thị Minh Hằng Người Thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo ân cần cho tác giả trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự đóng góp, chỉ bảo của các Thầy Cô trong Hội đồng khoa học, bạn bè và đồng nghiệp
Một lần nữa tác giả xin trân trọng cảm ơn!
Hưng Yên, tháng 12 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Anh Minh
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGH : Ban giám hiệu BCH - TƯ : Ban chấp hành - Trung ương CBQL : Cán bộ quản lý
CĐ - ĐH : Cao đẳng - Đại học CNH - HĐH : Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa CNXH : Chủ nghĩa xã hội
CNTT : Công nghệ thông tin CSVC : Cơ sở vật chất
ĐĐ - GDĐĐ : Đạo đức - Giáo dục đạo đức ĐHGD - ĐHQG : Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia ĐTDĐ : Điện thoại di động
ĐTN : Đoàn thanh niên
GD & ĐT : Giáo dục và Đào tạo
GV : Giáo viên GVBM : Giáo viên bộ môn GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
HS - HSG : Học sinh - Học sinh giỏi
KH - CN : Khoa học - công nghệ NXB : Nhà xuất bản
PGS TS : Phó Giáo sư Tiến sĩ
QL - QLGD : Quản lý - Quản lý giáo dục
SL : Số lượng TCN : Trước công nguyên THCS - THPT : Trung học cơ sở - Trung học phổ thông
TL (G - K - TB) : Tỉ lệ (giỏi - khá - trung bình) UBND : Uỷ ban nhân dân
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng biểu vii
Danh mục các sơ đồ, biểu đồ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
5 Câu hỏi nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Phạm vi nghiên cứu 3
8 Phương pháp nghiên cứu 4
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
10 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 6
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 12
1.2.1 Quản lý 12
1.2.2 Quản lý giáo dục 14
1.2.3 Quản lý nhà trường 16
1.2.4 Đạo đức 17
1.2.5 Giáo dục đạo đức 17
Trang 51.3 Giáo dục đạo đức ở trường THPT 19
1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức 19
1.3.2 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức 19
1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức 20
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 22
1.4.1 Xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức 22
1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức 24
1.4.3 Chỉ đạo thực hiện nội dung giáo dục đạo đức 25
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức 25
1.5 Các yếu tố tác động đến quản lý giáo dục đạo đức học sinh THPT 27
1.5.1 Yếu tố khách quan 27
Tiểu kết chương 1 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NAM KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN 33
2.1 Khái quát về huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 33
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, dân cư của huyện Khoái Châu 33
2.1.2 Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội của huyện Khoái Châu 34
2.1.3 Tình hình phát triển giáo dục của huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 35
2.2 Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Nam Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 36
2.2.1 Khái quát về trường THPT Nam Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 36
2.2.2 Thực trạng kết quả GDĐĐ ở trường THPT Nam Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 38
2.3 Thực trạng quản lý GDĐĐ HS ở trường THPT Nam Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 53
2.3.1 Thực trạng nhận thức về giáo dục đạo đức học sinh 53
2.3.2 Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh 57
Trang 62.3.3 Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý giáo dục đạo đức học sinh của
trường THPT Nam Khoái Châu 68
2.4 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trong công tác GDĐĐ ở trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 70
2.4.1 Nguyên nhân chủ quan 70
2.4.2 Nguyên nhân khách quan 71
Tiểu kết chương 2 72
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NAM KHOÁI CHÂU TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 73
3.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lí GDĐĐ học sinh THPT 73
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông 73
3.1.2 Nguyên tắc tính kế thừa 73
3.1.3 Nguyên tắc tính khả thi 74
3.1.4 Nguyên tắc tính thực tiễn 74
3.1.5 Nguyên tắc tính hiệu quả 74
3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 75
3.2 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh ở trường THPT Nam Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 75
3.2.1 Đổi mới việc xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho học sinh trường THPT Nam Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 75
3.2.2 Nâng cao nhận thức của CBQL, giáo viên, cha mẹ học sinh và các tổ chức xã hội về giáo dục đạo đức học sinh 78
3.2.3 Chỉ đạo đa dạng hóa các hình thức hoạt động GDĐĐ cho học sinh 80
3.2.4 Nâng cao vai trò của Đoàn thanh niên trong giáo dục đạo đức 82
3.2.5 Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh 85
3.2.6 Nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm về quản lí hoạt động giáo dục đạo đức 90
Trang 73.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 94
3.4 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 96
3.4.1 Mục đích, nội dung, cách thức khảo nghiệm 96
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 96
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
1 Kết luận 100
2 Khuyến nghị 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 105
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
2.1 Quy mô trường, lớp, học sinh THPT Nam Khoái Châu 37 2.2 Kết quả xếp loại văn hóa của trường THPT Nam Khoái Châu 38
2.5 Những biểu hiện vi phạm đạo đức của học sinhtrường THPT
Nam Khoái Châu - Hưng Yên
43
2.6 Thực trạng mức độ thực hiện và hiệu quả của các hình thức
giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Nam Khoái Châu
(theo ý kiến của CBQL và GV)
45
2.7 Thực trạng mức độ thực hiện và thái độ của học sinh với
hình thức giáo dục đạo đức ở trường THPT (Theo ý kiến của
2.10 Mức độ ảnh hưởng của những nguyên nhân đến hiện tượng
học sinh vi phạm nội qui nhà trường (theo ý kiến học sinh)
52
2.11 Nhận thức của GV và PHHS về vai trò của GDĐĐ cho HS 54
2.12 Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về mức độ cần
thiết của các nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
55
2.13 Nhận thức của học sinh về các nội dung đạo đức cần học tập 56
2.14 Thực trạng xây dựng kế hoạch Giáo dục đạo đức 58
2.15 Thực trạng việc tổ chức thực hiện kế hoạch GDĐĐ 60
2.16 Thực trạng việc chỉ đạo thực hiện kế hoạch GDĐĐ 61
2.17 Thực trạng kiểm tra đánh giá giáo dục đạo đức học sinh 63
2.18 Thực trạng phối hợp các lực lượng trong việc GDĐĐ học
sinh của trường THPT Nam Khoái Châu
64
3.1 Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của
các biện pháp quản lý GDĐĐ học sinh trường THPT Nam
Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay
97
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
3.1 Quan hệ giữa Nhà trường - gia đình - xã hội để quản lý
GDĐĐ học sinh
89
Biểu đồ
2.1 Tỷ lệ hạnh kiểm tốt, khá của học sinh trường THPT Nam
Khoái Châu trong 3 năm học gần đây
39
2.2 Tỷ lệ hạnh kiểm trung bình, yếu của học sinh trường
THPT Nam Khoái Châu trong 3 năm học gần đây
40
3.1 Tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 98
Trang 10Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ những yếu kém hạn chế về lĩnh vực giáo dục và đào tạo: “…Chất lượng giáo dục đào tạo chưa đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển,…Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa… dạy chữ và dạy người…; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút Xu hướng thương mại hoá và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của toàn xã hội…”.[9, tr.167]
Thực trạng trên đã và đang diễn ra trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên nói chung, trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu nói riêng trong những năm qua tác động đến đạo đức học sinh, tình trạng suy thoái về
Trang 11đạo đức của học sinh có chiều hướng ngày một gia tăng, đã có những vụ học sinh của trường đánh nhau có cả học sinh nữ tham gia, đã có những học sinh nghiện game phải nghỉ học, học sinh nữ yêu đương “quan hệ” sớm phải nghỉ học để lấy chồng, học sinh vô lễ với thầy cô giáo, học sinh trấn lột điện thoại, lấy cắp xe đạp của bạn bán lấy tiền tiêu xài, học sinh vi phạm luật giao thông,
vi phạm pháp luật…vv Trước thực trạng trên, hơn ai hết là một người đang trực tiếp đứng trên bục giảng của trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu, hàng ngày phải chứng kiến những hiện tượng suy thoái về đạo đức trong một bộ phận học sinh tôi nhận thức rõ trách nhiệm của mình, phải có biện pháp quản lý giáo dục đạo đức thiết thực, phù hợp trong công tác giáo dục đạo đức học sinh nhà trường
Xuất phát từ những lí do nêu trên, với mong muốn được nghiên cứu, tìm tòi các biện pháp quản lý tốt nhất nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay vì vậy tôi mạnh dạn lựa
chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường
trung học phổ thông Nam Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao kết quả hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Xác định cơ sở lý luận về quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ
thông và biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông
3.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học
Trang 123.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo
đức cho học sinh trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu trong giai đoạn hiện nay
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDĐĐ ở trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
5 Câu hỏi nghiên cứu
Cơ sở lí luận nào về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ?
Thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu hiện nay như thế nào?
Những mặt mạnh, những mặt yếu, nguyên nhân của thực trạng ?
Nội dung quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu nên lựa chọn cách tiếp cận nào ?
Biện pháp có thể sử dụng để quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu?
6 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu đã đạt được những kết quả nhất định song vẫn còn những yếu kém Nếu phân tích nguyên nhân và đề xuất thực hiện các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên sẽ góp phần nâng cao kết quả giáo dục đạo đức nói riêng và giáo dục toàn diện cho học sinh của nhà trường nói chung
7 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu ở trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Trang 13Trong thời gian từ năm học 2011 - 2012 đến năm học 2013 - 2014
Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh, học sinh trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu, hệ thống hóa quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, những văn kiện của Đảng và Nhà nước có liên quan đến nội dung
đề tài nghiên cứu
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm khảo sát thực tiễn
Phương pháp điều tra thu thập thông tin, số liệu, dữ liệu
Phương pháp phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia và các nhà quản lý ở trường trung học phổ thông
Phương pháp xử lý, phân tích và sử dụng các thông tin đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu thuộc phạm vi đề tài
8.3 Phương pháp xử lý thông tin
Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu
Phương pháp thống kê toán học và dùng phần mềm tin học
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
9.1 Ý nghĩa lý luận
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động giáo dục
đạo đức học sinh nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của
trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu
9.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh phù hợp với thực tế và có tính khả thi giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh nói riêng, giáo dục toàn diện của nhà trường nói chung Từ đó giúp nhân rộng kinh nghiệm quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh cho các cơ sở giáo dục, các trường trung học phổ thông khác
Trang 1410 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Nam Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Nam Khoái Châu trong giai đoạn hiện nay
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Ở phương Tây, nhà triết học Hy Lạp cổ đại Socrate (469 - 399 TCN) người đầu tiên đặt nền móng cho đạo đức cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện, bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được nuôi dưỡng, phát triển thì con người sẽ có hạnh phúc Theo ông muốn xác định được chuẩn mực đạo đức phải bằng nhận thức lý tính kết hợp với phương pháp khoa học Aristoste (384 - 322 TCN) một trong những người thầy có ảnh hưởng nhất đối với bộ môn triết học chính trị cũng cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan
hệ đạo đức
Thế kỷ XVII, I.A.Komenxky (1592 - 1670) - nhà giáo dục vĩ đại của Tiệp Khắc đã có nhiều đóng góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm "Khoa sư phạm vĩ đại" Ông đề ra nhiều biện pháp cụ thể trong việc giáo dục, làm cơ sở cho nền giáo dục hiện đại sau này Ông nhấn mạnh việc tôn trọng con người phải bắt đầu từ ý thức tôn trọng trẻ em, bởi trẻ em như những cây non trong
vườn ươm: "Để cây đó lớn lên một cách lành mạnh, nhất thiết phải được sự
quan tâm, chăm sóc, tưới bón, tỉa tót" Komensky có quan niệm về sự hòa nhập
giữa con người và thế giới tự nhiên và ông cực lực phản đối việc dùng bạo lực đối với trẻ em Ông kêu gọi các bậc cha mẹ, các nhà giáo và tất cả những
ai làm nghề nuôi dạy trẻ: "Hãy mãi mãi là một tấm gương trong đời sống,
trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo và bắt chước mà vào đời một cách chân chính" Nói cách khác ông đặc biệt quan tâm đến phương pháp làm
Trang 16Thế kỷ XX, một số nhà giáo dục nổi tiếng Xô Viết cũng nghiên cứu về giáo dục đạo đức học sinh, các nghiên cứu đã đặt nền tảng cho việc giáo dục đạo đức mới trong giai đoạn xây dựng CNXH ở Liên Xô Tiêu biểu là nhà giáo dục học và tâm lý học A X Macarenco trong tác phẩm Bài ca sư phạm, đã khái quát các vấn đề giáo dục người công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình) đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục đạo đức và các biện pháp giáo dục đúng đắn như sự nêu gương, nguyên tắc giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thể
Ở phương Đông vấn đề giáo dục đạo đức cũng được quan tâm từ rất sớm Ngay từ thời cổ đại, Khổng Tử (551 - 479 TCN ) là nhà triết học nổi tiếng của Trung Hoa phong kiến đồng thời là nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo, người được tôn làm “Vạn thế sư biểu” rất coi trọng vai trò của giáo dục đạo đức và quan niệm có tính hệ thống về phương pháp giáo dục cũng như về tâm lý giáo dục Nội dung và mục tiêu chủ yếu của giáo dục Nho giáo được ghi trong Tứ thư và Ngũ kinh Nhưng cụ thể và tập trung nhất là nêu trong Luận ngữ (sách ghi lời nói, việc làm của Khổng tử và của một số môn đồ) là
bồi dưỡng những người có đức nhân, người "quân tử" có đủ phẩm cách và
năng lực thi hành "đạo lớn" theo tôn chỉ của Nho giáo Khổng Tử quan niệm sự hiểu biết không phải là sinh ra đã có mà phải được tích lũy qua quá trình học
tập, rèn luyện khá công phu Các đức tính như nhân, trí, tín, trực, dũng,
cương cần phải học tập rèn luyện thì mới có thể phát triển đúng hướng, ứng
dụng hoàn hảo Kết hợp chặt chẽ việc truyền thụ tri thức văn hóa với việc rèn luyện phẩm chất đạo đức Ở mức độ nào đó, có thể nói Khổng Tử chủ trương coi việc rèn luyện đạo đức là ưu tiên số một Ông từng căn dặn các học trò
rằng: Ở nhà thì ăn ở hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài xã hội thì kính trọng
nhường nhịn các bậc huynh trưởng; nên ít lời và đã nói thì phải thành thực, nên thân yêu rộng khắp mọi người Ông còn xây dựng học thuyết "Nhân-Trí-
Dũng", trong đó, đề cao đường lối đức trị và lễ trị để trị quốc an dân, phát triển đất nước Theo ông cơ sở của đường lối đức trị là lòng Nhân, lòng yêu
Trang 17thương con người Ông coi Nhân là gốc rễ của các đức khác, các đức tụ cả ở Nhân Hơn nữa, ông còn chủ trương lấy "Lễ" để ứng xử ở đời Khổng Tử cho rằng: “Điều mình không muốn thì đừng làm cho kẻ khác” Làm người phải biết sửa mình “Không nhìn cái không hợp Lễ, không nghe cái không hợp Lễ, không nói điều không hợp Lễ, không làm việc không hợp Lễ” Muốn vậy, mỗi
người phải biết tu thân làm gốc [20]
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Kế thừa những tinh hoa văn hoá của nhân loại, từ hàng nghìn năm trước Việt Nam đã xây dựng mô hình giáo dục theo truyền thống Nho giáo, coi trọng Lễ và Văn Đây là hai yếu tố căn bản của nhân cách con người, trong đó cha ông ta coi trọng đạo đức, coi đạo đức là gốc rễ Xuất phát từ tư tưởng đó cha ông chúng ta đã dạy bảo con cháu: “Tiên học Lễ, Hậu học Văn” Nguyễn Trãi cũng từng khẳng định “Tài thì kém đức một vài phần” và cho rằng:
“Người có tài mà không có đức thì nhũng nhiễu thiên hạ” Cho nên “sĩ tử đi học trước hết phải trau dồi đạo đức rồi sau mới học làm văn chương, giỏi thì giúp đời cứu dân, không giỏi thì sửa mình, sửa tục” [6]
Đến trước Cách mạng Tháng Tám 1945, ở nước ta đã có nhiều sách dạy về luân lý, dạy làm người, dạy giao tiếp của các tác giả: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Đỗ Thận, Tản Đà, Trần Trọng Kim, Trần Hữu Độ, Lê Văn Siêu, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng Các tác phẩm được dùng làm sách giáo khoa, sách dùng cho người dạy, sách đọc ở nhà Trong đó có "Phong hóa điều hành", "Cờ bạc nha phiến", "Huấn nữ ca" (dịch),
"Gia huấn ca" (dịch) của Trương Vĩnh Ký; "Khổng học đăng" của Phan Bội Châu; "Đạo đức và luân lý" của Phan Chu Trinh [21]
Trong tác phẩm "Khổng học đăng", Phan Bội Châu với quan điểm tiến
bộ đã đúc kết những tinh hoa của Khổng học, chắt lọc tính nhân bản sâu sắc, phát huy những phẩm chất cao cả của con người nhằm phục vụ bản thân và
xã hội Ông cho rằng: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, liêm là những đức tính
Trang 18Còn Phan Chu Trinh trong bài nói chuyện về “Đạo đức và luân lý”cũng
đã đề cao sức mạnh đạo đức, nhân cách, bản lĩnh con người (sau được in thành sách năm 1927) Theo ông, một dân tộc muốn đứng lên không bị người
ta chèn ép thì phải có một nền đạo đức vững chặt, đó là cái tính chất của dân tộc đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử [21]
Kế thừa và phát huy các tư tưởng của các bậc tiền nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm đến đạo đức và giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ Bác viết: “Thiện ác nguyên lai vô định tính
Đa do giáo dục đích nguyên nhân”
Bác còn cho rằng đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách mạng Quan điểm của Người không có nghĩa là tuyệt đối hoá “đạo đức”
mà coi nhẹ “tài năng” Đức là gốc, nhưng đức và tài phải kết hợp , phẩm chất phải đi đôi với năng lực, không thể có mặt này mà thiếu mặt kia Chính vì vậy, cùng với việc giáo dục nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân cán bộ đảng viên và các tầng lớp nhân dân, Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho mọi người Bác còn căn dặn Đảng ta phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, học sinh thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa "hồng" vừa "chuyên" Chủ tịch Hồ Chí Minh coi nội dung cơ bản trong quan điểm đạo đức cách mạng là: trung với nước, hiếu với dân; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; yêu thương con người;
có tinh thần quốc tế trong sáng.[1]
Theo tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng giúp con người vượt mọi thử thách, không lùi bước trước khó khăn gian khổ Bản thân Người chính là tấm gương sáng nhất về đạo đức cách mạng Do đó cuộc vận động “Học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động được đông đảo nhân dân ta hưởng ứng tham gia
Sớm nhận thức được vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự nghiệp giáo dục nói riêng và sự phát triển bền vững của toàn xã hội nói chung Năm 1979
Bộ chính trị BCH TƯ Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết về cải cách
Trang 19giáo dục và Uỷ ban cải cách giáo dục trung ương đã ra quyết định số 01 về cuộc vận động tăng cường GDĐĐcách mạng trong trường học [17, tr.2] Xuất phát từ mục tiêu đào tạo con người trong giai đoạn CNH - HĐH, hội nghị lần thứ II của BCH TƯ Đảng khóa VIII, Đảng ta đã cụ thể bằng văn kiện mang ý nghĩa chỉ đạo sâu sắc: “Mục tiêu chủ yếu là giáo dục toàn diện, đức dục, trí dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học, hết sức coi trọng giáo dục chính trị
tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành” Nghị quyết TW II còn nhấn mạnh “Phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản quan trọng nhất cho sự toàn diện của đất nước, coi trọng nhân cách, lý tưởng và đạo đức, trí lực và thể lực, gắn học với hành” [22]
Trước thực tế, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã và đang có ảnh hưởng không nhỏ đến công tác GDĐĐ cho học sinh Trong những năm gần đây, nhiều giáo trình đạo đức đã được biên soạn khá công phu Tiêu biểu như giáo trình của Trần Hậu Kiểm; giáo trình đạo đức học, GS TS Nguyễn Ngọc Long - chủ biên, Phạm Khắc Chương - Hà Nhật Thăng; Giáo trình đạo đức học Mác - Lê nin, PGS TS Vũ Trọng Dung chủ biên Vấn đề giáo dục đạo đức cũng được rất nhiều tác giả nghiên cứu như: Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Khắc Chương, Trần Văn Chương, Phạm Hoàng Gia, Phạm Tất Dong, cùng nhiều tác giả khác Để đi đến các quan niệm và giải pháp về GDĐĐ, các tác giả đã lựa chọn cho mình những cách tiếp cận khác nhau, tạo ra sự đa dạng, phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu
Tác giả Hà Nhật Thăng đã nghiên cứu sự phát triển trí lực - tâm lực - thể lực của mỗi con người, theo tác giả phải coi tâm lực là nội lực của sự phát triển
con người Trong cuốn sách: "Rèn luyện kỹ năng sư phạm" và cuốn "Sổ tay giáo
viên chủ nhiệm" tác giả đã nêu rõ những kỹ năng sư phạm cần thiết cho sinh viên sư phạm và đội ngũ giáo viên với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong các nhà trường phổ thông
Tác giả Phạm Minh Hạc xuất phát từ đặc trưng tâm lý học để khảo sát
Trang 20hiện giáo dục đạo đức trong quá trình phát triển nhân cách, xem đó như mục tiêu quan trọng nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục
Tác giả Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học, nhất là các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học để trên cơ sở
đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho học sinh
Tác giả Phạm Tất Dong đã đi sâu nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạt động giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với GDĐĐ nhằm đạt được mục tiêu GDĐĐ nghề nghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ
Những năm gần đây, ở nước ta đã có nhiều nhà khoa học, nhiều công trình nghiên cứu về QLGD, nhiều luận văn, luận án về quản lý GDĐĐ học sinh như: Luận văn thạc sĩ: “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của hiệu trưởng trường THPT Gia Lộc II, tỉnh Hải Dương” của tác giả Nguyễn Tuấn Anh
Luận văn thạc sĩ: “Các biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức của Hiệu trưởng trường THPT tỉnh Hưng Yên” của tác giả Đỗ Quang Hợp
Luận văn thạc sĩ: “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh
ở trường THPT Tự Lập Mê Linh – Hà Nội” của tác giả Phạm Văn Đường Các tác giả đã đề cập đến các vấn đề GDĐĐ ở phạm trù như đạo đức trong gia đình, đạo đức trong tình bạn, đạo đức trong tình yêu, đạo đức trong học tập, đạo đức trong giao tiếp, đạo đức trong truyền thống của dân tộc Trong các phạm trù đó mỗi vấn đề đạo đức từ cổ xưa đến những vấn đề bức xúc hiện nay đã được đề cập và đã đánh giá thực trạng đạo đức học sinh hiện nay có một khoảng cách khá xa mới tiếp cận được với mục tiêu giáo dục giá trị đạo đức so với yêu cầu giáo dục của thời kỳ CNH - HĐH
Qua một số nghiên cứu và thực tiễn GDĐĐ cho thấy hoạt động GDĐĐ học sinh nói chung và học sinh THPT nói riêng, là công việc hết sức vất vả,
Trang 21khó khăn, phức tạp, không thể có kết quả tốt trong một thời gian ngắn Nó đòi hỏi một quá trình lâu dài với những biện pháp quản lý khả thi để GDĐĐ học sinh THPT và sự phối hợp, gắn kết thật sự có trách nhiệm giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng giáo dục khác trong xã hội Vì vậy với việc lựa chọn đề tài này, tôi hy vọng sẽ góp phần tháo gỡ những bất cập trong quá trình GDĐĐ học sinh nói chung, nâng cao hiệu quả hoạt động GDĐĐ học sinh trường THPT Nam Khoái Châu nói riêng nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Dẫn theo Frederick Winslow Taylor (1856-1915) người sáng lập ra thuyết quản lý theo khoa học thì: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [12, tr 89]
Còn Henry Fayol (1845-1925), cha đẻ của thuyết quản lý hành chính cho rằng: "Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra" [12, tr.103]
Theo C.Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động” C.Marx đã coi việc xuất hiện quản lý như là một kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại C.Marx đã nhấn mạnh vai trò của quản lý: “Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [10, tr.326]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì hiện nay quản lý được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [5, tr.9]
Quản lý có 4 chức năng cơ bản là:
Trang 22Kế hoạch hoá: là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương
lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá: (a) xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức; (b) xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này và; (c) quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó [5, tr.12]
Tổ chức: Là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành
viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức [5, tr.13]
Lãnh đạo (chỉ đạo): Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người
khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức [5, tr.13]
Kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng của quản lý, thông qua đó một cá
nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động
và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết [5, tr.13]
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình quản lý Trong đó, từng chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có quan hệ biện chứng với nhau Trong quá trình quản lý thì yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện để tạo điều kiện cho chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý và đưa ra được các quyết định quản lý
Các chức năng trên đan xen nhau, tác động bổ sung lẫn nhau để hoàn thiện quá trình quản lý Điều này được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 23Sơ đồ 1.1: Sơ đồ các chức năng quản lý
Biểu hiện mối liện hệ và tác động trực tiếp
Biểu hiện mối liện hệ ngược hoặc thông tin phản hồi trong quá trình QL
Tuy có nhiều cách tiếp cận khái niệm quản lý khác nhau, song tất cả đều
đề cập đến bản chất của hoạt động QL Bản chất của hoạt động QL là sự tác động có mục đích của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích đề ra Quá trình này là quá trình tác động hai chiều thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa chủ thể QL và đối tượng quản lý Khi mục tiêu của tổ chức thay đổi sẽ tác động đến đối tượng QL thông qua chủ thể quản lý
Tóm lại, ở đề tài này tác giả sử dụng khái niệm QL là quá trình tác động
có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người quản lý) đến khách thể QL (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đựợc mục đích của tổ chức
1.2.2 Quản lý giáo dục
Dẫn theo P.V Khuđôminxky thì: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất
cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em” [10, tr.327 ]
Kế hoạch
Tổ chức
Chỉ đạo
Trang 24hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội” [3, tr.9 ] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý phù hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối của giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy - học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [10, tr.341]
Còn tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “QLGD là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [11]
Qua đây ta thấy có nhiều quan niệm khác nhau về QLGD Song các khái niệm đều thống nhất chỉ ra đặc trưng cơ bản của QLGD là quản lý con người nên không chỉ cần tính khoa học mà còn phải có nghệ thuật Bởi sản phẩm đầu ra của quá trình QLGD không phải là một đồ vật mà là con người, là nhân cách của người học theo mục tiêu giáo dục
Tóm lại, theo tác giả QLGD là hệ thống những tác động có ý thức, có chủ đích, có hệ thống, có kế hoạch của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận của toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực của trẻ em Song
hệ thống giáo dục là hệ thống mở, luôn vận động và phát triển theo quy luật chung của sự phát triển kinh tế - xã hội và chịu sự quy định của kinh tế - xã hội Vì thế QLGD cũng phải luôn được đổi mới, đảm bảo tính năng động, khả năng tự điều chỉnh và thích ứng của giáo dục đối với sự vận động và phát triển chung của xã hội
Trang 251.2.3 Quản lý nhà trường
Dẫn theo M.I.Kônđacôp: “Quản lý nhà trường là một hệ thống xã hội -
sư phạm chuyên biệt Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch hướng đích của chủ thể QL đến tất cả các mặt đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo vận hành tối ưu về các mặt xã hội - kinh tế, tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang trưởng thành” [10, tr.373] Theo Phạm Thị Tuyết Oanh và cộng sự thì cho rằng: "Quản lý trường học
là hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác huy động tối
đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường" [18, tr.135]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: "Quản lý trường học là lao động của các
cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục
để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường"
Từ 3 khái niệm trên có thể khẳng định quản lý nhà trường thực chất là quản lý hoạt động dạy học - giáo dục mà cụ thể là quản lý quá trình lao động
sư phạm của giáo viên, hoạt động học tập - tự giáo dục của học sinh diễn ra trong quá trình dạy học - giáo dục
Tóm lại, quản lý nhà trường là quá trình tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực theo nguyên lý giáo dục Nhằm thúc đẩy các hoạt động của nhà trường tiến tới mục tiêu giáo dục mà trọng tâm là đưa hoạt động dạy và học tiến lên trạng thái mới về chất Cụ thể quản lý nhà trường bao gồm những nội dung chính sau:
Quản lý hoạt động dạy - học
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Quản lý Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Quản lý hoạt động xã hội của nhà trường, hoạt động của các đoàn thể trong
Trang 26Quản lý sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính vv
1.2.4 Đạo đức
Theo tác giả Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng: “Đạo đức là một thái của ý thức xã hội, là tổng hợp những qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội” [7, tr.51 ]
Theo tác giả Trần Hậu Kiểm thì: "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội
đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội" [14, tr.12]
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu khái quát khái niệm đạo đức ở hai góc độ:
Góc độ xã hội: Đạo đức là những hình thái ý thức xã hội được phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu,chuẩn mực, qui tắc điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội, lao động và con người với chính bản thân mình
Góc độ cá nhân: Đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách của con người phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của
họ trong các mối quan hệ giữa con người với xã hội, giữa bản thân với người khác và với chính bản thân mình
Tóm lại, tuy có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức nhưng theo tác giả: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội
1.2.5 Giáo dục đạo đức
Trang 27Theo Makarenko: “Giáo dục đạo đức có nghĩa là rèn luyện những phẩm chất tốt cho học sinh (tính trung thực, thật thà, thái độ tận tâm, tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật, lòng yêu thích học tập, thái độ XHCN đối với người lao động, chủ nghĩa yêu nước) và trên cơ sở đó uốn nắn những sai sót của chúng” [25, tr.18]
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: "GDĐĐ là quá trình biến
các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục" [13]
Còn theo Phạm Viết Vượng: “GDĐĐ là quá trình tác động tới người học
để hình thành cho họ ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức, đích cuối cùng và quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức” [24, tr.16]
Qua 3 khái niện trên ta có thể hiểu, GDĐĐ là sự tác động có hệ thống của các nhà giáo dục lên người được giáo dục một cách có mục đích, có kế hoạch những phẩm chất và tư tưởng mà nhà giáo dục kỳ vọng, chuyển hoá những quan điểm, yêu cầu và ý thức xã hội có liên quan thành phẩm chất đạo đức, tư tưởng và hành vi đạo đức của mỗi cá nhân
Về bản chất, GDĐĐ là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức
từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục Mà mục tiêu quan trọng nhất của GDĐĐ là hình thành thói quen hành vi đạo đức cho học sinh Đây cũng là một nhiệm vụ bao trùm, xuyên suốt toàn bộ hoạt động của gia đình, nhà trường và xã hội Trong đó giáo dục trong nhà trường giữ vai trò chủ đạo định hướng: “ GDĐĐ cho học sinh là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của GD trong nhà trường XHCN”
Vì thế, GDĐĐ cho học sinh là giáo dục đạo đức XHCN, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh có tinh thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý
Trang 28trọng pháp luật Điều này đã được ghi trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh: “…Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng GDĐĐ, lối sống…” [8, tr.131]
1.3 Giáo dục đạo đức ở trường THPT
1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức
Mục tiêu GDĐĐ là trang bị cho HS những nhận thức đúng đắn và đầy
đủ những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của thời đại Nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ, bổn phận và trách nhiệm của cá nhân đối
với xã hội, đối với công cuộc CNH - HĐH đất nước Cụ thể là:
Về nhận thức: “Nâng cao nhận thức chính trị, hiểu rõ các yêu cầu của
sự nghiệp CNH - HĐH đất nước Nắm vững các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện, gắn liền với sự nghiệp đổi mới của nước nhà Có nhân sinh quan trong sáng, có quan điểm rõ ràng về lối sống thích ứng với những yêu cầu của giai đoạn mới” [19, tr.323]
Về thái độ tình cảm: “ Có thái độ tình cảm đúng đắn, trong sáng trong
các mối quan hệ xã hội với mọi người và với môi trường sống, có tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ cha anh đã hi sinh sương máu vì độc lập tự do của Tổ quốc Có thái độ rõ ràng đối với các hiện tượng đạo đức trong xã hội, ủng hộ những việc làm tốt, hợp đạo lí, bày tỏ phẩn ứng trước những hành vi sai trái” [19, tr.324]
Về hành vi và kỹ năng: “ Có thói quen thường xuyên rèn luyện hành vi
đạo đức trong ứng xử trong các vấn đề của các lĩnh vực hoạt động và quan hệ
xã hội tự giác thực hiện các chuẩn mực đạo đức, văn hóa và chấp hành pháp luật Biết sống lành mạnh, trong sáng, thể hiện được tư cách của người học sinh Tích cực đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, thờ ơ với các vấn đề của cuộc sống.” [19, tr.324]
1.3.2 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức
Trang 29Trong nhà trường, cùng với nhiệm vụ trang bị tri thức khoa học cho học sinh thì nhiệm vụ GDĐĐ là vô cùng quan trọng và rất nặng nề Để đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện đã đề ra, GDĐĐ có nhiệm vụ:
Giáo dục ý thức đạo đức: Giáo dục ý thức đạo đức là cung cấp cho
người học những tri thức cơ bản về phẩm chất đạo đức và các chuẩn mực đạo đức xã hội trên cở sở đó giúp họ hình thành niềm tin đạo đức Từ đó giúp họ có
ý thức và có trách nhiệm trước hành vi đạo đức của mình trong các mối quan hệ
xã hội
Giáo dục tình cảm, niềm tin đạo đức: Là khơi dậy ở người học những
rung động, xúc cảm đối với hiện thực xung quanh, biết yêu, ghét rõ ràng, biết đồng cảm, chia sẻ với người khác và có niềm tin vào đạo lý, vào những điều tốt đẹp của cuộc sống Để từ đó có thái độ và hành vi ứng xử đúng đắn đối trước các tình huống trong cuộc sống
Giáo dục hành vi thói quen đạo đức: Là một quá trình tổ chức luyện tập,
rèn luyện đạo đức trong học tập, trong sinh hoạt và trong cuộc sống nhằm tạo lập hành vi đạo đức đúng đắn, trở thành phẩm chất của nhân cách và từ đó có thói quen đạo đức bền vững
1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức
Nội dung của GDĐĐ là những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những giá trị đạo đức cần thiết của con người Việt Nam trong thời kỳ CNH - HĐH cần trang bị cho HS nhằm đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực của nền kinh tế xã hội đất nước Trên cơ sở kế thừa những chuẩn mực đạo đức truyền thống, kết hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh Cụ thể là:
Giáo dục tri thức đạo đức: Đây là những tri thức, những quan niệm của
con người được hình thành trong hoạt động thực tiễn hàng ngày nhưng đã được hệ thống hoá, khái quát hoá thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù đạo đức Tri thức đạo đức thường phản
Trang 30thường xuyên chi phối hành vi đạo đức con người của con người trong cuộc sống đó
Giáo dục tình cảm đạo đức: Tình cảm đạo đức là một yếu tố cấu thành,
là một hình thái biểu hiện, một cấp độ của ý thức đạo đức Ở cấp độ này, tình cảm đạo đức được biểu hiện là phản ứng tình cảm của con người đối với các hiện tượng đạo đức Tình cảm đạo đức vừa biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá đạo đức (đúng - sai) vừa biểu hiện xu hướng nhân cách đạo đức (tích cực hay tiêu cực) Người có tình cảm đạo đức phát triển là người nhạy cảm trước cái thiện, cái ác, cái đúng, cái sai, cái xấu, cái đẹp; là người có xúc cảm,
có sự rung động trước cái đẹp của tự nhiên, xã hội nhưng cũng sẵn sàng phản ứng mạnh trước cái xấu; có thái độ kiên quyết ủng hộ, bảo vệ cái tốt, lên án, loại bỏ những hiện tượng phi đạo đức
Ở nước ta hiện nay, mặt trái của cơ chế thị trường đã và đang tác động tiêu cực và làm suy yếu tình cảm đạo đức, sự gắn kết con người với con người, với tập thể và với xã hội Đời sống đạo đức trong gia đình đang có chiều hướng suy giảm gây ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển bền vững cuộc sống gia đình, hạnh phúc của mỗi thành viên, tới tình cảm, niềm tin, đạo đức của con người Vì vậy, giáo dục tình cảm đạo đức sẽ góp phần tích cực vào việc khắc phục tình trạng nêu trên, bồi đắp lại những tình cảm đạo đức tốt đẹp của con người trong điều kiện hiện đại
Giáo dục lí tưởng đạo đức: Lí tưởng đạo đức là quan niệm về cái cần
vươn tới và cũng như mọi lí tưởng xã hội khác, lí tưởng đạo đức bao hàm yếu
tố lựa chọn, mong muốn, khao khát vì vậy nó chứa đựng yếu tố tình cảm đạo đức Nó là sự thống nhất giữa tình cảm và lí trí Việc cá nhân lĩnh hội được lí tưởng đạo đức tiên tiến của thời đại vừa khẳng định sự phát triển đạo đức của bản thân vừa là điều kiện bảo đảm cho mọi hoạt động mang ý nghĩa xã hội
Giáo dục giá trị đạo đức: là giúp người học lĩnh hội được các giá trị
đạo đức một cách tự nhiên, tự giác để hình thành trong mình những lý tưởng, tình cảm đạo đức để từ đó nhận thức và có những hành vi ứng xử phù hợp
Trang 31trong cuộc sống Giá trị đạo đức bao gồm: Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, giá trị đạo đức cách mạng và tinh hoa đạo đức nhân loại
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
1.4.1 Xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là một quá trình trong đó khâu đầu tiên là xây dựng
kế hoạch Kế hoạch hoá là chức năng quan trọng hàng đầu trong công tác quản lý Vì vậy cần chú ý tới ba nội dung chủ yếu của việc xây dựng kế hoạch quản lí GDĐĐ là:
Thứ nhất: Xác định hình thành mục tiêu, phương hướng đối với nhà trường về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
Thứ 2: Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của nhà trường để đạt được những mục tiêu đề ra về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh Trong đó phải:
Tạo được cơ sở vật chất phù hợp đáp ứng yêu cầu GDĐĐ học sinh của nhà trường
Xây dựng được chế độ khen thưởng, kỷ luật thích hợp nhằm khuyến khích, thúc đẩy phong trào rèn luyện đạo đức trong học sinh nhà trường và phong trào thi đua GDĐĐ học sinh trong tập thể giáo viên nhà trường
Xây dựng được cơ chế phối kết hợp các lực lượng GDĐĐ học sinh ở trong và ngoài nhà trường
Thứ 3: Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đã đề ra
Để lập kế hoạch phải trả lời 9 câu hỏi sau đây; câu trả lời sẽ tương ứng với một bước lập kế hoạch:
Bước 1: Chúng ta muốn gì hay mục tiêu của chúng ta là gì?
Bước 2: Chúng ta đang làm gì để đạt được điều chúng ta muốn
Bước 3: Những yếu tố tác động nào ở bên ngoài chúng ta?
Bước 4: Chúng ta có thể làm được những gì với nguồn lực đó?
Trang 32Bước 6: Nếu chúng ta tiếp tục công việc đang làm liệu có đạt dược điều mong muốn hay không?
Bước 7: Đây có phải là cái chúng ta sẽ làm để đạt được mục đích không ? Bước 8: Làm nhé?
Bước 9: Kiểm tra xem chúng ta có làm đúng hay không? [5, tr.87] Khi xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cần chú ý những yêu cầu sau:
Kế hoạch phải được thể hiện tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ thể và trọng tâm trong từng thời kì
Kế hoạch phải được phát huy những mặt mạnh, khắc phục những mặt yếu kém, củng cố ưu điểm, vạch ra được chiều hướng phát triển trong việc hình thành đạo đức cho học sinh
Kế hoạch phản ánh được mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu,nội dung, phương pháp, phương tiện, thời gian, hình thức tổ chức, biện pháp,kiểm tra, đánh giá
Kế hoạch thể hiện được phân cấp quản lý của Hiệu trưởng, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và cụ thể
Do đó, việc xây dựng kế hoạch giáo dục nói chung và đặc biệt là kế hoach giáo dục đạo đức thì người quản lý cần quan tâm nhiều đến hiệu quả xã hội và động lực mục tiêu của nhà trường, đưa ra tầm nhìn mới và tuyên truyền
để làm biến đổi nhận thức và hành động của các thành viên trong nhà trường Bản kế hoạch cần được xây dựng xong vào tháng 7, tháng 8 Sau đó phổ biến thảo luận đóng góp trong lãnh đạo, Chi bộ, Công đoàn, Đoàn thanh niên, các tổ trưởng và sau đó phổ biến trong toàn thể cán bộ, giáo viên, công nhân viên vào tháng 9 của năm học
Tóm lại, để xây dựng kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh chúng ta cần thiết phải xác định mục đích, các biện pháp để đạt mục đích, xác định các yếu tố ảnh hưởng từ bên trong, bên ngoài, dự báo những biến đổi, vận hội, nguy cơ và xác định những khó khăn, thuận lợi để xây dựng kế hoach
Trang 33cho phù hợp với nhà trường, địa phương trong điều kiện thực tế, để kế hoạch
có thể thực hiện thành công, đạt được mục đích đề ra
1.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức
Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong nhà trường để giúp họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của nhà trường về giáo dục đạo đức cho học sinh Đây là nội dung cần làm sau khi đã lập xong kế hoạch Nói khác đi, đó là lúc cần phải chuyển hóa những ý tưởng thành hiện thực
Tổ chức GDĐĐ cho học sinh phải xuất phát từ quan điểm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Học sinh là chủ thể của hoạt động nhận thức
và rèn luyện phẩm chất đạo đức dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên
Có như vậy thì những chuẩn mực giá trị đạo đức của xã hội sẽ trở thành những phẩm chất riêng trong nhân cách của học sinh
Tổ chức GDĐĐ cho học sinh THPT có liên quan mật thiết đến việc tổ chức hoạt động học tập văn hoá trong nhà trường Do vậy để đạt được mục tiêu
đề ra trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch các thành viên và các bộ phận cần được giải thích mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch GDĐĐ; thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch; sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, kinh tế; định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện, thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc
Tổ chức thực hiện kế hoạch GDĐĐ học sinh cần được tiến hành theo 5 bước như sau:
Bước 1: Lập danh sách những công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu về GDĐĐ của nhà trường
Bước 2: Phân chia toàn bộ những công việc thành những nhiệm vụ cụ thể để các thành viên hay các bộ phận trong trường thực hiện một cách thuận
lợi và hợp lôgic, có thể gọi đây là bước phân công lao động
Trang 34Bước 3: Kết hợp các nhiệm vụ một cách logic và hiệu quả, nhóm gộp
nhiệm vụ cũng như các thành viên như vậy gọi là bước phân chia bộ phận
Bước 4: Thiết lập một cơ chế điều phối Sự liên kết hoạt động của các
cá nhân, các nhóm, các bộ phận một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện để đạt được mục tiêu một cách dễ dàng và hiệu quả
Bước 5: Theo dõi, đánh giá và có những điều chỉnh cần thiết
Tóm lại, trong việc tổ chức thực hiện, người quản lý không chỉ hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong nhà trường mà cần tạo điều kiện cho người tham gia phát huy tinh thần tự giác, tích cực, phối hợp cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ
1.4.3 Chỉ đạo thực hiện nội dung giáo dục đạo đức
Chỉ đạo là việc xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người lãnh đạo đối với các cá nhân, bộ phận trong nhà trường trong quá trình quản lý để bảo đảm việc GDĐĐ diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục một cách có hiệu quả nhất Chỉ đạo không phải chỉ có sau khi lập kế hoạch và tổ chức thực hiện mà nó đã được thấm vào và ảnh hưởng quyết định tới hai nội dung trước Song việc này sẽ đạt hiệu quả cao nếu người QL biết liên hệ mật thiết với các cá nhân, tổ chức, biết kết hợp giữa
sử dụng uy quyền và thuyết phục, giữa pháp lý - đạo lý và công lý, động viên khích lệ để phát huy hết tiềm năng của bộ máy thực hiện
Trong quá trình chỉ đạo, người quản lý cần kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch bằng cách thu thập thông tin chính xác, phân tích, tổng hợp, xử
lý thông tin để đưa ra những quyết định đúng đắn Có thể đó là những quyết định điều chỉnh, sửa sai để hoạt động giáo dục diễn ra theo đúng kế hoạch Việc chỉ đạo GDĐĐ sẽ đạt hiệu quả cao nếu trong quá trình chỉ đạo người
QL biết kết hợp sử dụng uy quyền và thuyết phục, động viên khuyến khích, tôn trọng, tạo điều kiện cho người dưới quyền phát huy năng lực và sáng tạo
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức
Kiểm tra, đánh giá GDĐĐ đề cập đến phương pháp và cơ chế được sử dụng để đảm bảo rằng các hoạt động phải được tuân thủ, phù hợp, nhất quán
Trang 35với những kế hoạch, mục tiêu GDĐĐ đã xây dựng Kiểm tra giúp chúng ta có thông tin phản hồi, xác định được những lệch lạc nếu có để tiến hành những hành động điều chỉnh cần thiết
Kiểm tra thường đi liền với đánh giá, đó là những phán đoán nhận định
về kết quả của công việc dựa trên mục tiêu đề ra Kiểm tra đánh giá là một chức năng của quản lý, nếu thiếu chức năng này người quản lý sẽ rơi vào tình trạng chủ quan duy ý chí hay buông lỏng quản lý
Trong quản lý GDĐĐ việc kiểm tra đánh giá có ý nghĩa không chỉ đối với nhà QLGD mà còn có ý nghĩa đối với học sinh Vì qua kiểm tra đánh giá của giáo viên, học sinh hiểu rõ hơn về những hoạt động của mình, khẳng định được mình Từ đó hoạt động tích cực hơn, tự giác hơn, biết tự điều chỉnh hành
vi của mình cho phù hợp với yêu cầu chung của xã hội Song để việc kiểm tra đánh giá có hiệu quả thì phải thực hiện có hệ thống, công khai, toàn diện và khách quan Sau kiểm tra có nhận xét, kết luận, phải động viên khen thưởng, nhắc nhở kịp thời những sai trái thì mới có tác dụng
Người quản lý có thể kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp, hoặc gián tiếp nhưng cần xây dựng được chuẩn đánh giá phù hợp với đặc điểm nhà trường thì việc kiểm tra đánh giá mới khách quan công bằng, rõ ràng, chính xác giúp các cá nhân, các bộ phận rõ hơn về những hoạt động của mình, khẳng định được mình, từ đó hoạt động tích cực hơn, tự giác hơn, biết
tự điều chỉnh mình cho phù hợp với yêu cầu chung trong hoạt động GDĐĐ của toàn trường
Kiểm tra, đánh giá GDĐĐ học sinh cần tiến hành theo 4 bước:
Bước 1: Xác định tiêu chuẩn (chuẩn mực) và phương pháp đo lường thành tựu để đảm bảo so sánh chính xác và công bằng giữa thành tựu đạt được với chuẩn mực đặt ra
Bước 2: Đo lường thành tựu: Được tiến hành lặp đi lặp lại với tần xuất nhất định tùy theo từng hoạt động và cấp độ quản lí GDĐĐ trong nhà trường Bước 3: Xác định mức độ đáp ứng của thành tựu so với tiêu chuẩn
Trang 36Bước 4: Tiến hành những hoạt động uốn nắn, sửa chữa: Nếu phát hiện thấy những sai lệch của thành tựu so với tiêu chuẩn, hoặc thay đổi các tiêu chuẩn nếu chúng không thể thực hiện
1.5 Các yếu tố tác động đến quản lý giáo dục đạo đức học sinh THPT
1.5.1 Yếu tố khách quan
1.5.1.1 Đặc điểm xã hội Việt Nam và địa phương thời kỳ mở cửa, hội nhập
Việt Nam là một nước đang phát triển, mở cửa và hội nhập là một đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, phù hợp với xu thế chung của thời đại Đảng và Nhà nước ta chủ trương hội nhập nhưng không hoà tan, phải
tự khẳng định, phải giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng đất nước theo định hướng XHCN, giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc Tuy nhiên, trong quá trình mở cửa hội nhập, chúng ta tiếp thu nhiều giá trị văn hoá tích cực của các quốc gia trên thế giới, đồng thời cũng chịu những ảnh hưởng tiêu cực Đó không chỉ là sự ngẫu nhiên mà còn là âm mưu của các thế lực thù địch trong và ngoài nước Vì vậy, trong điều kiện mở cửa, hội nhập, việc định hướng cho sự lựa chọn chuẩn mực đạo đức, lối sống của cá nhân là vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ
Sự phát triển của KH - CN, giúp các em có điều kiện tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin, khoa học kỹ thuật, văn hoá xã hội nên có những hiểu biết rất phong phú về mọi mặt của đời sống xã hội Bên cạnh những hiểu biết có lợi thì có vô vàn thông tin tác động xấu đến nhân cách của các em
Mặt khác những biểu hiện tiêu cực trong xã hội, trong cộng đồng dân cư (tệ nạn xã hội) mà các em tiếp xúc là những tác động tiêu cực làm méo mó những điều tốt đẹp mà các em được cha mẹ và nhà trường giáo dục, tạo nên những khó khăn không nhỏ cho quá trình GDĐĐ học sinh Cơ sở vật chất, phương tiện, địa điểm phục vụ các hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh cho thanh thiếu niên còn nhiều hạn chế, có lúc, có nơi còn thiếu hụt trầm trọng cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng không nhỏ đến GDĐĐ cho các em Do vậy, các cấp chính quyền, đoàn thể, các lực lượng giáo dục trong xã hội cần nắm vững đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, những nhu cầu chính đáng của các
Trang 37em để tạo điều kiện thuận lợi về môi trường, cơ sở vật chất để giáo dục các
em theo các chuẩn mực đạo đức của xã hội đạt hiệu quả cao nhất
1.5.1.2 Giáo dục gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi đặt nền móng đầu tiên cho sự hình thành nhân cách của mỗi cá nhân GD gia đình có ảnh hưởng sâu sắc, trực tiếp đến việc hình thành và phát triển nhân cách của HS Trách nhiệm của cha mẹ không chỉ là sinh con, nuôi con mà còn phải giáo dục con trưởng thành, có nhân cách, trí tuệ, có ích cho xã hội Hơn thế nữa việc chăm sóc, nuôi dạy con cái nên người còn là một nhu cầu, một niềm hạnh phúc của các bậc cha mẹ Trong gia đình tình thương yêu sâu sắc của cha mẹ có một sức mạnh cảm hoá lớn mà nhà trường, xã hội không làm được Nhân cách không thể hình thành
và phát triển một cách đầy đủ và bền vững nếu không có một môi trường giáo dục gia đình lành mạnh, thuận lợi Chính vì lẽ đó giáo dục gia đình chiếm một
vị trí quan trọng mà các hình thức giáo dục khác không thể thay thế được
Giáo dục trong gia đình là sự giáo dục nhiều chiều, đa dạng và liên tục từng ngày, từng giờ Nề nếp sinh hoạt của gia đình, những giá trị đạo đức của
xã hội mà ông, bà, cha, mẹ, anh chị em chọn lựa là những tác động trực tiếp, thường xuyên, lâu dài và mạnh mẽ đến HS, được học sinh tiếp nhận, thực hiện đầy đủ nhất Ở đó vừa có ảnh hưởng của cá nhân cha mẹ đến con cái (ông bà đến cháu) vừa có ảnh hưởng của cả tập thể gia đình lên từng cá nhân thông qua lối sống, nếp sống ở mỗi gia đình; việc giáo dục trong gia đình không chỉ ở lời nói mà còn bằng cử chỉ, hành động, thái độ, tình cảm, làm gương của ông bà, cha mẹ đối với con cháu
Tóm lại, giáo dục gia đình có ý nghĩa to lớn đối với việc hình thành và phát triển nhân cách HS Vì thế, cần có sự quan tâm đúng mức đến vai trò của
gia đình trong việc GDĐĐ học sinh không ỷ lại vào nhà trường và xã hội
1.5.2 Yếu tố chủ quan
1.5.2.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT
Học sinh THPT thường có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi Các em đang trong độ
Trang 38mạnh về thể lực, tâm lý, sinh lý và là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn Đây là thời kỳ then chốt của sự phát triển nhân cách, các em tham gia tích cực vào đời sống xã hội và hình thành cơ sở nhân cách của người công dân trong tương lai Đặc điểm của sự phát triển nhân cách của các em là sự tự ý thức gắn liền với nhu cầu nhận thức và đánh giá các phẩm chất tâm lý, đạo đức trong nhân cách của mình Ở lứa tuổi này, HS còn có nhu cầu về tình bạn, tình bạn khác giới và tình yêu Các em có những ước mơ và tự xây dựng cho mình những kế hoạch, dự định cho bản thân trong tương lai
Song với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự bùng nổ thông tin trên thế giới và nhất là tác động của nền kinh tế thị trường dẫn đến
sự biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; cùng với đó là sự biến đổi về tâm lý, đạo đức của thế hệ trẻ Việt Nam mà chủ yếu là HS Các em có những nét tâm lý - sinh lý - đạo đức nói chung của tuổi trẻ, mang truyền thống của dân tộc, song có cả những nét mới mang dấu ấn của thời đại hội nhập Cụ thể học sinh THPT có một số đặc điểm nổi bật sau:
Học sinh THPT đang ở thời kỳ hoàng kim của quá trình phát triển thể lực
và trí lực Khả năng phân tích, tổng hợp, phán đoán và suy luận được nâng cao,
cơ thể có sự chuyển hóa, phát triển mạnh, sinh lực dồi dào
Lứa tuổi bộc lộ rõ nét về tính cách và các trạng thái tâm lý không ổn định, tính khí thay đổi thất thường Song đây cũng là lứa tuổi giàu ước mơ hoài bão,
có khát vọng được cống hiến, mong muốn được xã hội ghi nhận Phần lớn HS ở
độ tuổi này có ý thức rèn luyện phẩm chất đạo đức, có ý chí vươn lên trong học tập, chiếm lĩnh tri thức khoa học và có nguyện vọng tiếp tục học tập để lập nghiệp trong tương lai
Tóm lại, học sinh THPT đang ở thời kỳ nhân cách được định hình rõ nét, lứa tuổi các em có nhiều biến đổi về tâm, sinh lý hết sức phức tạp Vì vậy cần phải có hình thức, phương pháp GDĐĐ đa dạng không nên áp dụng một
mô hình giáo dục cứng nhắc rất rễ phản giáo dục
1.5.2.2 Giáo dục nhà trường
Nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển nhân
Trang 39cách HS Nhà trường không chỉ thực hiện nhiệm vụ cung cấp kiến thức mà còn
tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức học sinh, dạy chữ và dạy làm người Đối với học sinh mỗi thầy cô giáo phải là một tấm gương đạo đức cho học sinh học tập, noi theo đặc biệt là học sinh THPT Các thầy cô giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức khoa học, hình thành và phát triển nhân cách toàn vẹn theo mục tiêu giáo dục đã đề ra, điều này thể hiện rõ ngay từ giáo dục mầm non đến giáo dục THPT
Song hiện nay, còn có thầy cô nặng nề về định kiến, thiếu thiện cảm đối với học sinh chưa ngoan Kinh nghiệm, nghệ thuật và phương pháp giáo dục học sinh của một số GVBM, GVCN còn hạn chế, sử dụng các biện pháp kỷ luật thái quá, sự thiếu gương mẫu trong giáo dục; việc đánh giá kết quả, khen thưởng, kỷ luật thiếu khách quan và chưa công bằng, sự phối hợp không đồng bộ giữa các lực lượng giáo dục đều là những nguyên nhân có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình GDĐĐ cho học sinh
1.5.2.3 Yếu tố tự giáo dục của học sinh
Trong quá trình hình thành nhân cách học sinh phải tự tu dưỡng giáo dục bản thân Do vậy, để biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục cần phải chú trọng phát triển đặc điểm tự ý thức, tự giáo dục ở lứa tuổi học sinh THPT Mặc dù đặc điểm tự ý thức được phát triển mạnh mẽ ở học sinh THPT, tạo cho học sinh khả năng độc lập sáng tạo nhiều hơn nhưng các em cũng dễ mắc sai lầm trong nhận thức và hành vi, dễ có những suy nghĩ, hành động bồng bột, nông nổi nhất thời Vì vậy cần cần phải thực hiện các biện pháp quản lý công tác GDĐĐ chặt chẽ và khoa học hơn Các nhà quản lý và các nhà giáo dục phải xây dựng được chương trình GDĐĐ phù hợp với trình độ nhận thức, tâm lý lứa tuổi, có sự chỉ đạo thống nhất đồng bộ, vận dụng linh hoạt các phương pháp giáo dục, phát huy khả năng tự ý thức, tự giáo dục của học sinh một cách đúng đắn nhằm đạt mục tiêu GDĐĐ trong nhà trường
1.5.2.4 Mức độ xã hội hóa giáo dục trong lĩnh vực giáo dục đạo đức
GDĐĐ cho học sinh là quá trình, lâu dài, phức tạp đòi hỏi phải có sự
Trang 40hệ đó nhà trường phải giữ vai trò chủ đạo
Thông qua ban đại diện cha mẹ học sinh, nhà trường chủ động tuyên truyền, giúp gia đình nhận thức sâu sắc trách nhiệm của cha mẹ học sinh trong việc phối hợp với nhà trường, với thầy cô giáo để GDĐĐ cho học sinh Đồng thời nhà trường cùng gia đình bàn bạc để thống nhất các biện pháp, hình thức
tổ chức sao cho phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, phù hợp với hoàn cảnh từng gia đình trong việc giáo dục học sinh nói chung, GDĐĐ cho học sinh nói riêng Nhà trường cần cha mẹ học sinh phải thường xuyên liên hệ với thầy cô giáo để kịp thời nắm bắt tình hình học tập, rèn luyện của con em mình Đồng thời cha
mẹ học sinh thông báo với nhà trường tình hình học tập, rèn luyện của học sinh
ở gia đình Sự phối hợp tốt giữa nhà trường và gia đình sẽ giúp điều chỉnh kịp thời quá trình học tập, hành vi đạo đức cho học sinh
Nhà trường phải tích cực liên hệ với chính quyền địa phương, các cơ quan, đoàn thể trên địa bàn để bàn bạc, phối hợp GDĐĐ cho học sinh theo nội dung yêu cầu của nhà trường Đồng thời nhà trường liên hệ với các đoàn thể, tổ chức cho HS các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội, văn hóa, văn nghệ, lao động
Qua đó, hoạt động GDĐĐ cho học sinh sẽ phong phú, sinh động hơn Ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức, hành vi đạo đức của học sinh sẽ được bộc lộ Đây là điều kiện tốt giúp nhà trường điều chỉnh phương pháp, hình thức tổ chức để từng bước nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh