Làm nên những giá trị củatiểu thuyết trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam phải phải kể đến nhữngthành công của thể loại tiểu thuyết mang nội dung văn hóa lịch sử,mà đặcbiệt là tác phẩm “M
Trang 1ĐẠI HỌC KHOA HỌC THÁI NGUYÊN
Học phần : Niên luận
Số tín chỉ: 02
Gíao viên hướng dẫn: Vũ Thị Hạnh
Tên sinh viên: Nguyễn Bích Hà
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4. Phương pháp nghiên cứu 9
5. Mục đích nghiên cứu, ý nghĩa niên luận 10
6. Cấu trúc đề tài 10
NỘI DUNG 11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11
1.1. Khái niệm biểu tượng 11
1.1.1 Biểu tượng văn hóa 14
1.1.2 Phân biệt hình ảnh và biểu tượng 15
1.1.3 Mẫu gốc 17
1.1.4 Hệ biểu tượng phát sinh 17
1.2 Tác giả Nguyễn Xuân Khánh và tiểu thuyết “ Mẫu Thượng Ngàn” từ góc nhìn văn hóa 17
1.2.1 Tác giả Nguyễn Xuân Khánh 17
1.2.2 Tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn từ góc nhìn văn hóa 20
Chương 2 : BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA TRONG MẪU THƯỢNG NGÀN 24
2.1 Biểu tượng đất trong tác phẩm “ Mẫu Thượng Ngàn” 24
Trang 32.1.1 Ý nghĩa gốc của các biểu tượng đất trong từ điển văn hóa thế giới 24
2.1.2 Khảo sát ý nghĩa của biểu tượng trong tác phẩm 26
2.2 Biểu tượng nước trong tác phẩm “ Mẫu Thượng Ngàn” 34
2.2.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng nước trong từ điển văn hóa thế giới 34
2.2.2 Khảo sát ý nghĩa của biểu tượng trong tác phẩm 36
2.3 Biểu tượng rừng trong tác phẩm “ Mẫu Thượng Ngàn” 38
2.3.1 Ý nghĩa gốc của biểu tượng rừng trong từ điển văn hóa thế giới 38
2.3.2 Khảo sát ý nghĩa của biểu tượng trong tác phẩm 39
KẾT LUẬN 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 4MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong những năm gần đây, thể loại tiểu thuyết được coi là một thể loại
phát triển mạnh mẽ nhất của văn học Việt Nam Có thể nói, đây là thời
kỳ nở rộ của tiểu thuyết Việt Nam Nhiều tác phẩm mới ra đời, nhiều câybút mới và đề tài của tiểu thuyết thì vô cùng phong phú và đa dạng Tiểuthuyết đã phát triển ở cả bề rộng và chiều sâu, tạo nên một sức hấp dẫnđối với nhiều thế hệ người đọc đồng thời cũng mang đến cho nền văn họcnói chung một sức sống mới Thành công của thể loại tiểu thuyết trongvăn học giai đoạn hiện nay có thể coi đó là sự phát triển vượt bậc của vănhọc đi đến sự hoàn thiện cho chức năng của văn học đối với cuộc sống,phản ánh cuộc sống một cách toàn diện nhất.Trong dòng phát triển đó,tiểu thuyết Việt Nam đã phát triển theo nhiều hướng khác nhau như tiểuthuyết thế sự, đời tư, tiểu thuyết về đề tài chiến tranh, tiểu thuyết về lịch
sử phong tục Trong mỗi hướng đi của mình, tiểu thuyết Việt Nam đều đãghi nhận được những thành công nhất định Làm nên những giá trị củatiểu thuyết trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam phải phải kể đến nhữngthành công của thể loại tiểu thuyết mang nội dung văn hóa lịch sử,mà đặcbiệt là tác phẩm “Mẫu Thượng Ngàn” của tác giả Nguyễn XuânKhánh.“Mẫu Thượng Ngàn” là cuốn tiểu thuyết đã khắc họa sâu sắc vềvăn hóa phong tục Việt Nam qua cuộc sống và những con người ở vùngquê bán sơn địa Bắc Bộ cuối thế kỷ 19,đầu thế kỷ 20.Bên cạnh đó tácphẩm còn là câu chuyện tình yêu của những người phụ nữ Việt ,trongkhung cảnh một làng cổ,đó là một tình yêu mãnh liệt,nhưng lại rất baodung của những người đàn bà với bao nỗi đắng cay,đầy chất phồnthực,có bi,có hài,hòa quyện với mộng mơ và sự cao thượng Tác phẩm làhướng đi đáng chú ý của tiểu thuyết trong giai đoạn hiện nay Trên thực
tế, văn học của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều đã chứngminh rằng khi tiểu thuyết đề cập đến những vấn đề về phong tục tậpquán, lịch sử, văn hóa thì những cuốn tiểu thuyết ấy rất dễ có được nhữnggiá trị lâu bền trong nền văn học như “Sông Đông êm đềm” (M.Solokhop), “Chiến tranh và hòa bình” (L.Tonxtoi)
Trang 51.2. Khi đọc tác phẩm “Mẫu Thượng Ngàn” chúng ta có thể thấy được sự
uyên bác từ ngòi bút của tác giả “Nguyễn Xuân Khánh”, ông đã giải mãcâu hỏi về bản sắc,nền văn hóa Việt Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn XuânKhánh) ra mắt bạn đọc năm 2006 được đánh giá là cuốn tiểu thuyết giàugiá trị Ngay từ khi ra đời, cuốn tiểu thuyết đã được đông đảo bạn đọc vàgiới phê bình, nghiên cứu văn học quan tâm Người ta chú ý đến nhiềukhía cạnh của tác phẩm, trong đó đặc biệt phải kể đến một vấn đề quantrọng, đó là việc nhà văn đã thể hiện một cách độc đáo những nét đặc sắc
về tín ngưỡng, phong tục tập quán của nền văn hóa Việt Bằng cách đưahàng loạt những biểu tượng liên quan trực tiếp đến đời sống, tín ngưỡng
và phong tục Việt Nam, tác giả đã tạo dựng trong sáng tác của mình mộtthế giới tâm linh đa dạng, đậm nét từ ngoại cảnh đến nội tâm Có thể xemđây là một khám phá mới mẻ, mở đường cho thể loại tiểu thuyết vềphong tục tập quán, về văn hóa trong văn học Việt nam
1.3. Đối với mỗi quốc gia dân tộc, cái quan trọng nhất, cao quí nhất là giá trị
văn hoá Văn học là một biểu hiện của văn hóa, sản phẩm của văn hoá
Là một dạng văn hoá tinh thần, văn học chính là nơi lưu giữ giá trị vănhoá tinh thần cho mọi thế hệ Từ văn học có thể hiểu thêm về văn hoá.Đứng ở góc độ tương quan giữa văn hoá và văn học, có thể thấy văn hoáđựơc hiểu thêm một cách tinh tế và sống động hơn, còn văn học trên nềntảng văn hóa, văn học sẽ được tiếp nhận một cách sâu sắc hơn Tiểuthuyết “ Mẫu Thượng Ngàn” đã góp phần không hề nhỏ cống hiến chonền văn học Việt Nam Có thể nói cuốn tiểu thuyết là sự tái hiện văn hóahết sức tuyệt vời.Còn về lối viết của Nguyễn Xuân Khánh, ngòi bút củaông vừa là cổ điển nhưng vẫn mang đậm hơi thở của đời sống hiện đại
Đó là những lí do chúng tôi tiếp cận, tìm hiểu đề tài “ Biểu tưởng văn hóa trong tácphẩm Mẫu Thượng Ngàn”
2. Lịch sử ngiên cứu vấn đề
2.1. Các ý kiến phê bình trên báo, tạp chí, các bài phỏng vấn
Nhà văn “ Nguyên Ngọc” đã nhận xét:
Trang 6“Văn hóa Việt, bản sắc văn hóa Việt là vấn đề, là câu hỏi đã được nêu ra và đượchàng trăm, nếu không nói hàng nghìn nhà nghiên cứu tìm cách lý giải từ rất lâu.Nguyễn Xuân Khánh là nhà tiểu thuyết ,anh cũng có câu trả lời của mình, khôngphải bằng lý lẽ uyên bác mà bằng một cuốn tiểu thuyết sinh động, Mẫu ThượngNgàn còn dày dặn,bề thế, phong phú hơn cả cuốn Hồ Qúy Ly từng gây xôn xao củaanh mấy năm trước.Và có vẻ đây có thể là câu trả lời hấp dẫn, nếu không nói làthuyết phục hơn cả Qủa vậy,nếu đi tìm một nhân vật chính đó là nền văn hóa Việt,cái thực tại vừa vô cùng hiện thực, vừa rất hư ảo, bền chặt, xuyên suốt mà cũng lạibiến hóa khôn lường, rất riêng và chung, rất bản địa mà cũng rất nhân loại Để nắmbắt được “nhân vật” vô cùng gần gũi mà vô cùng kì ảo đó,Nguyễn Xuân Khánhcũng như tất cả các nhà tiểu thuyết thật sự đẩy nó vào những hoàn cảnh cực đoannhất: nông thôn Bắc Bộ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, khi dân tộc phải đối mặt mấtcòn với thực dân phương Tây, cái phương Tây mang đến vừa vũ khí xâm lược hiệnđại,vừa nền văn minh tân tiến,khi đạo Phật từng bám rễ suốt nghìn năm nay đã suy,khi Nho giáo chỉ còn thoi thóp…Bỗng bừng dậy một tôn giáo nảy sinh và thấm sâu
âm thầm có lẽ từ thưở mới hình thành của dân tộc, đạo Mẫu rất Việt, rất phươngNam, rất dồi dào, bất tận, bất tử, như Đất, như Mẹ, như người đàn bà.Không phảingẫu nhiên mà trong cuốn tiểu thuyết này đông đúc nhất, hay nhất, đậm nhất, mênhất là những nhân vật nữ, có cảm giác như vô số vậy, từ bà Tổ Cô bí ẩn, bà BaVáy đa tình cho đến cô đòng Mùi, cô mõ Hoa khốn khổ, cô trinh nữ Nhụ tinhkhiết Hàng chục, hàng chục nhân vật nữ hết sức gần gũi, hiện thực, mơn mởn, sầnsùi, dào dạt, trễ tràng, trữ tình, thừa mứa, khát khao cho và nhận, nhận và cho…Và
ta bỗng hiểu ra: một nhân dân tiềm chứa trong mình một sức sống ẩn sâu trongmột thứ tín ngưỡng tuyệt diệu như vậy thì không bao giờ có thể chết,có thể cạn.Vĩnh cửu như Đất Mẹ, như người Đàn bà Bằng cuốn tiểu thuyết này, bằng khámphá này – Nguyễn Xuân Khánh một lần nữa khiến ta kinh ngạc vì bút lực còn dồidào đến tràn trề và say đắm của anh Tác giả đã ngót 75 tuổi Gừng già thật cay!”
Nhà văn Ma Văn Kháng nhận xét: “ Đóng góp lớn của nhà tiểu thuyết là sự khámphá sâu sắc con người Việt ở chiều kích văn hoá tâm linh, phong tục, tập quán, tínngưỡng - con người vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của một cơ tầng văn hoá bảnđịa vô cùng giàu có, ẩn hiện trong sương khói mộng mị huyền bí mà nguyên khốitrong lành, tươi sáng, vẻ như cổ quái mà thân mật ấm áp nhân tình, tràn trề sứcsinh sôi như cây đời, bền vững vĩnh hằng như trời đất Khám phá này có cơ sở bền
Trang 7vững ở sự hiểu biết thấu đáo, kỹ lưỡng trong sự tham chiếu và được nhà văn biểuhiện qua một loạt hình tượng nhân vật, đặc biệt là tầng tầng lớp lớp các nhân vật
nữ huyền ảo mà chân thật, chứa chan phồn thực mà cao sang, chất phác, giản dị màlộng lẫy tươi đẹp Cuốn sách là một công trình văn hoá, văn học, vừa nghiêm túc,vừa tráng lệ.”
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên trong cuộc phỏng vấn của VTC News đă khẳngđịnh :
So với “Hồ Quý Ly” 700 trang thì “Mẫu thượng ngàn” cũng rất dày dặn, công phu,được trình bày tới 807 trang Tuy dài thế, nhưng phải nói luôn là sách rất hấp dẫn,cuốn hút người đọc từ đầu đến cuối “Mẫu thượng ngàn” là nhân vật quần chúngnhưng mang tính đại diện tiêu biểu cho dân tộc Việt Suy nghĩ về sức sống của dântộc qua những đụng độ văn hoá Việt - Pháp, Đông - Tây trước nạn ngoại xâm ĐạoMẫu trong tiểu thuyết (thể hiện qua nhân vật nữ: Bà Tổ Cô bí ẩn, bà Ba Váy đatình, cô đồng Mùi, mõ Hoa khốn khổ, trinh nữ Nhụ…) vừa là tín ngưỡng vừa thểhiện tính phồn thực và sự trường tồn của dân tộc Việt Từ “Hồ Quý Ly” đến “Mẫuthượng ngàn”, Nguyễn Xuân Khánh đã dùng văn chương phác hoạ rõ nét về nềnvăn hoá Việt Nhà văn rất cần phải làm văn hoá, nói về văn hoá, nhưng trên hết,trong tư cách là một người viết thì văn Nguyễn Xuân Khánh rất đẹp, rất trong sáng,thú vị “Mẫu thượng ngàn” đã chứng tỏ nội lực văn chương, tri thức, kiến văn và cả
tư chất một nhà nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khánh Thật đáng nể phục khi mộtcuốn tiểu thuyết như vậy được viết bởi tác giả ngót nghét bẩy nhăm tuổi
Dương Thị Huyền trong bài viết về Nguyên lý tính mẫu trong truyền thống Vănhọc Việt Nam –Tạp chí Văn học tháng 3/2009 nhấn mạnh: “Trước hết, có thể nóirằng đây (Mẫu Thượng Ngàn) là cuốn tiểu thuyết có giá trị, nhất là khi nhà văn đãthể hiện một cách vô cùng độc đáo những nét đặc sắc về tín ngưỡng, phong tục tậpquán của nền văn hóa Việt Cũng có thể coi đây là một hướng đi mới của thể loạitiểu thuyết, bởi khi đề cập tới những giá trị về mặt văn hóa phong tục sẽ rất dễdàng tạo nên cho tác phẩm một sức sống lâu bền trong nền văn học dân tộc…Thành công của Nguyễn Xuân Khánh phải chăng sẽ là điểm bắt đầu, là sự mởđường cho thể loại tiểu thuyết về phong tục tập quán, về văn hóa trong văn họcViệt Nam?”
Trang 8Nhà nghiên cứu Châu Diên cho rằng đây là “cuốn tiểu thuyết mang tầm khái quátvăn hóa, nhân vật không còn là những thân phận riêng lẻ mà là cả một cộngđồng ”
2.2. Các công trình nghiên cứu trong nhà trường
“ Mẫu Thượng Ngàn” là tác phẩm mang đậm dấu ấn bản sắc văn hóa dântộc vậy nên tác phẩm đã trở thành một đề tài thu hút sự quan tâm tìm hiểucủa các nhà nghiên cứu khoa học, trong đó phải kể đến sự đóng góp củacác đề tài sau:
+ Hoàng Thị Thu Trang, Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn,Luận văn Thạc sĩ, H, 5/2007
+ Dương Thị Huyền, Nguyên lý tính mẫu trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn,Luận văn Thạc sĩ, H.2007
+ Phạm Thị Kiều, Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn, Luậnvăn Thạc sĩ, H.2007
+ Lê Thu Trang, Nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh, Luận vănThạc sĩ, Thái Nguyên 2010
+ Nguyễn Thị Hà, Một số đặc sắc nghệ thuật trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàncủa Nguyễn Xuân Khánh, Luận văn Thạc sĩ, H.2011
+ Mới đây là công trình nghiên cứu của Trương Thị Hòa, Văn hóa tâm linh ngườiViệt trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Luận văn Thạc
sĩ, Thái Nguên 2013
Trang 9Trên đây là những công trình nghiên cứu tìm hiểu của các nhà khoa học xoayquanh tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn của tác giả Nguyễn Xuân Khánh Mặc dù sốlượng của các bài viết, công trình là nhiều nhưng chưa có đề tài nào tìm hiểu vềbiểu tượng văn hóa trong tác phẩm nên chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu về khía cạnhnày.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chúng tôi thực hiện muốn hướng tới đối tượng là biểu tượng văn hóatrong tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài nằm trong tác phẩm Mẫu thượng ngàn
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng nhiều phương pháp nghiêncứu khác nhau Trong đó phải kể đến một số phương pháp chính như sau:
- Phương pháp phân tích tác giả, tác phẩm văn học:
Đây được xem là phương pháp chủ đạo khi triển khai dạng đề tài về tácgiả, tác phẩm văn học Đề tài chúng tôi nghiên cứu về tác phẩm MẫuThượng Ngàn và tác giả Nguyễ Xuân Khánh cũng đã sử dụng triệt đểphương pháp này
- Phương pháp phân loại thống kê:
Phương pháp này nhằm thống kê, phân loại tần số xuất hiện của các biểutượng trong tác phẩm để thấy mức độ ảnh hưởng của nền văn hóa truyềnthống đối với sáng tác của tác giả, cũng như hiệu quả của chúng qua việcthể hiện nội dung tư tưởng được gửi ngắm
- Phương pháp khái quát, tổng hợp:
Sau khi tiến hành thống kê, phân loại, phân tích các biểu tượng văn hóa
Đề tài tiến hành khái quát, tổng hợp lại để từ đó đưa ra các nhận định,đánh giá về giá trị của nó đối với tác phẩm
Trang 10- Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp mà đề tài vận dùng nhằm sosánh các nhận định, để đưa ra kết luận cuối.
5. Mục đích nghiên cứu, ý nghĩa đề tài
5.1. Mục đích nghiên cứu
- Đề tài cố gắng đi vào, tìm hiểu sâu hơn những biểu tượng văn hóa trongtác phẩm Mẫu Thượng Ngàn
- Nhận xét, đánh giá ,vai trò của các biểu tượng đó
- cao kĩ năng cảm thụ văn chương
5.2. Ý nghĩa đề tài
- Thông qua đề tài, đề tài muốn khẳng định vai trò không thể thay thế đượccủa thể loại tiểu thuyết trong việc thể hiện văn hóa phong tục tập quán.chúng ta có thể thấy rằng, đã có rất nhiều loại hình nghệ thuật thể hiệnnguyên lý tính Mẫu, thể hiện những nét đặc sắc về văn hóa, phong tục tậpquán Tuy nhiên, với thế mạnh của mình, tiểu thuyết đã khắc phục đượcđiều đó và “Mẫu Thượng Ngàn” là một cuốn tiểu thuyết như vậy Thực
tế, sức hấp dẫn lớn nhất của cuốn tiểu thuyết này chính là nội dung vănhóa lịch sử mà cuốn tiểu thuyết đã truyền tải
- Còn thông qua những gì sẽ lý giải, đề tài khẳng định ý niệm thiêng liêng
về các biểu tượng văn hóa Các biểu tượng ẩn sâu những truyền thốngbản sắc văn hóa, phong tục tốt đẹp của dân tộc
6. Cấu trúc đề tài
Đề tài gồm ba phần chính : Mở đầu, nội dung, kết luận Trong đó phần nộidung gồm hai chương
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chương 2: BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA TRONG MẪU THƯỢNG NGÀN
Ngoài ra đề tài còn có phần tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 11NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Khái niệm biểu tượng
Nội dung trọng tâm mà đề tài hướng tới là biểu tượng văn hóa trong tác phẩmMẫu Thượng Ngàn Đề tài sẽ chỉ tập chung làm sáng tỏ những biểu tượng xuấthiện với tần số cao và vai trò của nó Để làm sáng tỏ được điều này trước tiên taphải hiểu được khái niệm biểu tượng
Biểu tượng là một khái niệm đang được đẩy mạnh nghiên cứu trên thế giới bởi đếnnay khái niệm biểu tượng vẫn là một lĩnh vực chứa đựng nhiều bí ẩn
Trong Tiếng Anh biểu tượng được viết bằng chữ “symbol” Thuật ngữ
“symbol” được bắt nguồn từ Hi Lạp “Symbolon” có nghĩa là ký hiệu, lời nói, dấuhiệu, triệu chứng…Cũng có thuyết cho rằng symbol bắt nguồn từ động từ HiLạp “Symballo” có nghĩa là “ném vào một vị trí”, “liên kết”, “suy nghĩ về”…
Biểu tượng trong tiếng Hán: “Biểu” có nghĩa là: “bày ra”, “trình bày”, “dấuhiệu”, để người ta dễ nhận biết một điều gì đó “Tượng” có nghĩa là “hình tượng”.Biểu tượng là một hình tượng nào đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, kýhiệu tượng trưng, nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng
Vấn đề khái niệm biểu tượng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Ởmỗi nước, mỗi khu vực trên thế giới họ lại nưa ra những cách phân chia, khái niệmmột cách khác nhau Cụ thể như sau:
Ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về BT vẫn còn hạn chế cả về mặt lí luận vàthực tiễn Nguyên nhân có thể là do các nhà khoa học chưa ý thức hết được tầm
Trang 12quan trọng của nó, hoặc cũng có thể do sự né tránh những tranh cãi sẽ gặp phải khibàn đến hệ thống khái niệm và phạm trù của khái niệm này.
Theo từ điển TLH (Vũ Dũng- NXB KHXH - 2000 ), "Biểu tượng là hình ảnh cácvật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng Khácvới tri giác, biểu tượng có thể mang tính khái quát Nếu tri giác chỉ liên quan đếnhiện tại, thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương lai.”
Theo từ điển Tiếng Việt (GS Hoàng Phê chủ biên) : Biểu tượng là hình ảnh tượngtrưng, là hình ảnh nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữlại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt
Theo TS Nguyễn Văn Hậu: Biểu tượng là một hình thái ngôn ngữ - ký hiệu tượngtrưng của văn hóa Nó được sáng tạo nhờ vào năng lực “tượng trưng hóa” của conngười, theo phương thức dùng hình ảnh này để bày tỏ ý nghĩa kia nhằm để nhậnthức và khám phá ra một giá trị trừu tượng nào đó Biểu tượng được xem là “tếbào” của văn hóa và là hạt nhân “di truyền xã hội” đầu tiên của nhân loại Nó quyđịnh mọi hành vi ứng xử vf giao tiếp của con người đồng thời liên kết họ lại thànhmột cộng đồng riêng biệt
Ở các nước khác trên thế giới:
Jean Chevalier và Alain Gheerbrant cho rằng: “Tự bản chất của biểu tượng,
nó phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ýniệm Nó giống như một mũi tên bay mà không bay đứng im mà biến ảo, hiểnnhiên mà không nắm bắt được Ta sẽ cần phải dùng các từ để gợi ra một hay nhiều
ý nghĩa của một biểu tượng”
Hay nói như Georges Gurvitch: “Các biểu tượng tiết lộ mà che giấu và chegiấu mà tiết lộ”
Theo quan niệm của Freud: “Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bónggió và ít nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đột Biểu tượng là mốiliên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, mọi lời nói với ýnghĩa tiềm ẩn của chúng”
Trang 13Từ điển Larousse cho rằng: “ Biểu tượng là một dấu hiệu hình ảnh, con vậtsống động, hay đồ vật, biểu hiện một điều trừu tượng, nó là hình ảnh cụ thể củamột sự vật hay một điều gì đó”.
Theo C.G Jung: “ Cái mà chúng ta gọi là biểu tượng là một từ ngữ, mộtdanh từ hay một hình ảnh, ngay cả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàngngày vẫn chứa đựng những ý nghĩa khác, bổ sung vào cái ý nghĩa ước định hiểnnhiên và trực tiếp của nó”
Theo Chu Hy, nhà triết học cổ Trung Quốc nổi tiếng đời Tống (1131- 1200)trong “Dịch thuyết cương lĩnh” khi bàn về biểu tượng đã viết: “ Tượng là lấy hìnhnày để tỏ nghĩa kia”
Như vậy, biểu tượng là những hình ảnh của những sự vật, hiện tượng của thếgiới xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ratrước đó, được giữ lại trong ý thức hay là những hình ảnh mới được hình thành trên
cơ sở những hình ảnh đã có từ trước Biểu tượng không phải hoàn toàn là thực tế,bởi vì nó là sự xây dựng lại thực tế sau khi đã được tri giác Tuy nhiên, những hìnhảnh đó cũng không hoàn toàn là kết quả chủ quan xuất phát từ những hoạt độngtâm trí của chủ thể
Biểu tượng là kết quả của sự hình thành trên cơ sở cách tư duy, liên tưởng, tưởngtượng phong phú và sử dụng hình ảnh để cụ thể hóa tâm trạng Biểu tượng tạo sự ứtràn của nội dung ra ngoài dạng biểu đạt
Một sự vật, hiện tượng được gọi là biểu tượng khi nó đọng trong nó những ý nghĩasâu sắc, nó được cộng đồng gai cấp, dân tộc, nhân loại thừa nhận, nó luôn hướng
về một nghĩa cố định nào đó, nhưng đồng thời lại tiềm ẩn khả năng mở ra những ýnghĩa khác trong sự cảm nhận của con người Có thể nói, biểu tượng là những hìnhảnh sự vật,cảm tính chứa đầy ý nghĩa và nó càng trở nên sinh động hơn trong dờisống văn hóa, trong cảm nhận của con người Chẳng hạn, Đất, đất tượng trưng chochức năng người mẹ: Tellus Mater (Đất Mẹ) Đất cho và lấy lại sự sống.Trong đạo
Vệ Đà, đất tượng trưng cho người mẹ, nguồn gốc của hiện hữu và sự sống, che chởchống lại mọi sức mạnh hủy diệt
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về biểu tượng Nhưng dù đứng trênnhững quan điểm và lập trường khác nhau chúng ta vẫn tìm được điểm chung củabiểu tượng: Biểu tượng là những hình ảnh của sự vật, hiện tượng của thế giới xung
Trang 14quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra trước đó đượchình thành trong ý thức hay là những hình ảnh mới được hình thành trên cơ sỏnhững hình ảnh có trước Biểu tượng không hoàn toàn là thực tế bởi vì nó là sự xâydựng lại thực tế sau khi đã được tri giác, nhưng những hình ảnh đó cũng khônghoàn toàn là chủ quan xuất phát từ hoạt độngtâm trí của chủ thể.Biểu tượng là hiệntượng chủ quan của đối tượng khách quan đã được tri giác Biểu tượng vừa chứađựng yếu tố trực tiếp vừa chứa đựng yếu tố gián tiếp bởi nó được hình thành nhờ
sự phối hợp bổ sung lẫn nhau của các giác quan và có sự tham gia của các yếu tốphân tích, tổng hợp Chính vì thế, biểu tượng phản ánh được đặc trưng của các sựvật, hiện tượng
1.1.1. Biểu tượng văn hóa
Để hiểu được thế nào là biểu tượng văn hóa trước tiên phải hiểu được kháiniệm văn hóa
Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnh của đờisống Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt nhất của cuộc sống cũng mang những dấuhiệu văn hóa Rất nhiều thứ mới thoạt nhìn thì giống nhau, nhưng nếu xem xét kỹthì lại có những điểm riêng biệt Trong thực tế, không có sự giống nhau tuyệt đối
Văn hoá là một khái niệm mang nội hàm rộng với nhiều cách hiểu khácnhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần của con người Hiện có rấtnhiều định nghĩa về văn hoá, mỗi một định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận vàđánh giá khác nhau Nhà nhân loại học thì đặt văn hoá trong mối quan hệ với dântộc, nhà lịch sử nhấn mạnh các qúa trình kế thừa xã hội và truyền thống đã dựa trêntính ổn định của văn hoá, nhà cấu trúc chú trọng tới tổ chức của văn hoá,…đều đưa
ra những kiến giải riêng của mình Một số từ điển cũng đưa ra những khái niệm vềvăn hoá Những nhân vật kiệt xuất cũng có những định nghĩa riêng về văn hoá như:
F Mayor, Hồ Chí Minh…vv…
Theo thống kê trên thế giới có khoảng 400 định nghĩa về văn hóa
Theo từ điển tiếng Việt của Hồng Mây- Ngọc Sương- Minh Mẫn: “ Văn hóa
là những điều hiểu biết, kiến thức có trình độ cao, biết cách cư xử”
Theo G.S Đinh Gia Khánh: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ những giá trị vậtchất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thựctiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”
Trang 15Nhìn trong tổng thể chúng ta thấy rằng tất cả các khái niệm trên đều cónhững nét tương đồng “Văn hoá là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do conngười tác động đến tự nhiên - xã hội và bản thân trong quá trình lịch sử lâu dài Nótích tụ và thể hiện diện mạo, bản sắc của cộng đồng” Văn hoá không phải là mộtcái gì cụ thể, không có hình khối, không thể sờ mò…, nhưng lại có mặt ở mọi nơi
và có thể cảm nhận được không mấy khó khăn Bởi văn hoá chính là khuynhhướng lựa chọn, ứng xử của con người trong quá trình sống
Hệ thống biểu tượng cũng chính là hệ thống các khuôn mẫu văn hoá, nó quy
định mọi hành vi ứng xử của con người và "hoạ kiểu" cho lối sống Quá trình "giải mã" hệ thống các biểu tượng cũng là nhằm mục đích thấy được kiểu
lựa chọn khác nhau về văn hoá giữa cộng đồng văn hoá này với cộng đồng văn hoákhác Mô hình lựa chọn đó sẽ tạo nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng - dân tộc.Như vậy, văn hoá được hình thành và tồn tại nhờ vào trí tuệ và sự sáng tạo ra cácbiểu tượng của con người Bản thân một sự vật hiện tượng cụ thể nào đó vẫn chưa
là văn hoá, nếu như chưa cho nó một ý nghĩa, một giá trị nào đó Có lẽ, đó cũng là
lý do để chúng ta nghiên cứu các vật thể vật chất đã được coi như một biểu hiệncủa văn hoá Chúng là những vật thể vật chất đã được biểu tượng hoá trở thànhnhững biểu tượng, và được cả cộng đồng xã hội chấp nhận đồng thời được xem
như là bảng giá trị định hướng của toàn thể cộng đồng Tóm lại, khi chưa có một
ý nghĩa nào đó được ký thác vào các vật thể thì chúng cũng chỉ là những vật thể vậtchất thông thường, có giá trị sử dụng, giá trị kinh tế hoặc giá trị khoa học v.v nhưng chưa nói lên được giá trị văn hoá, ví dụ: quả bom, thuốc nổ, vàng, cái quạt,
cái bàn, cái bóng đèn v.v có thể mang - (b’) Ký hiệu mật ngôn (ẩn dụ) giá trị sử
dụng, giá trị khoa học, giá trị kinh tế v.v nhưng chưa thể khẳng định là có hàm
chứa trong nó những "giá trị văn hoá" hay không, nếu một khi mục đích và động
cơ sử dụng nó không đem lại một "giá trị nhân bản" nào cho cuộc sống của con
người Các vật thể vật chất này, biểu thị cho một nền "văn minh".
1.1.2. Phân biệt hình ảnh và biểu tượng
Cái mà đề tài muốn hướng đến chính là biểu tượng, tuy vậy chúngtôi vẫn phân tích hình ảnh để ràm rõ sự giống và khác giữa hai kháiniệm, tránh sự hiểu nhầm
Trang 16Tên khái niệm Giống Khác
-> cho hình ảnh (ở quá khứhoặc tương lai)
-> giữ lại trong ý thức-> đưa vào tác phẩm,mang sứcgợi lớn Phải liên hệ nó vớinghĩa cổ xưa
Hình ảnh và biểu tượng đều có sự tương đồng là chúng đều cho ta hình ảnh của sựvật.Tuy nhiên giữa chúng cũng mang sự khác biệt rõ nét, nếu ta không tìm hiểu kỹthì sự nhầm lẫn rất dễ xảy ra
Trước hết hình ảnh có được do chúng ta tri giác trực tiếp sự vật hiện tượnghoặc cảm giác Chính vì vậy hình ảnh là cái ở hiện tại Và khi đi vào trong tácphẩm hình ảnh đó thể hiện chính cái điều mà chủ thể tri giác được cùng với đó làtâm tư, tình cảm, cảm xúc…
Biểu tượng là một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, nó được hìnhthành trên cơ sở của cảm giác, tri giác đã xảy ra trước đó được giữ lại trong ý thức.Như vậy biểu tượng là cấp độ cao hơn của hình ảnh, nó không thể hiện trực tiếp cái
mà chủ thể tri giác được mà đã được tôi luyện trong ý thức Nó có thể những gì
Trang 17người ta tri giác, tưởng tượng ở quá khứ hoặc tương lai Còn đặt trong chỉnh thểtác phẩm, biểu tượng phải là những hình ảnh được lặp đi, lặp lại nhiều lần Biểutượng mang trong mình một sức gợi vô cùng lớn, ta không thể hiểu nó đơn giảnnhư hình ảnh.
1.1.3. Mẫu gốc
Cấp độ đầu tiên của biểu tượng, theo C.G.Jung là các mẫu gốc (archetype) hay
“biểu tượng mẹ” “Các mẫu gốc giống như những nguyên mẫu của các tập hợpbiểu tượng ăn sâu trong vô thức đến nỗi chúng trở thành như một cấu trúc… Cácmẫu gốc hiển hiện ra như những cấu trúc tâm thần gần như phổ biến, bẩm sinh hayđược thừa kế, một thứ ý thức tập thể” [34, tr XXI] Những cấu trúc ấy là cái chungcho cả nhân loại “vốn hằng định, chứ không phải những hình ảnh bề ngoài, có thểthay đổi tùy theo các thời đại, các tộc người và các cá nhân” [34, tr XXI] Một sốbiểu tượng mẫu gốc là đất, nước, mặt trời, lửa
1.1.4. Hệ biểu tượng phát sinh
Trong quá trình vận động, chuyển hóa vào bên trong đời sống văn hóa của từngdân tộc, những mẫu gốc (biểu tượng mẹ) sẽ sinh ra một hệ biểu tượng mới gọi lànhững biểu tượng con Xuất phát từ cùng một mẫu gốc, do ảnh hưởng của nhữngđặc điểm về địa lí, kinh tế, văn hóa, tín ngưỡng của từng dân tộc mà biểu tượng, hệbiểu tượng ở các dân tộc khác nhau sẽ mang những hình thức biểu hiện khác nhauhoặc ám gợi những ý nghĩa biểu trưng ít nhiều khác biệt Vì thế, ý nghĩa biểu trưngcủa biểu tượng không bao giờ là một hằng số cố định
1.2. Tác giả Nguyễn Xuân Khánh và tác phẩm Mẫu Thượng Ngàn
1.2.1. Tác giả Nguyễn Xuân Khánh
Trang 18Tiểu sử:
+ Tên thật : Nguyễn Xuân Khánh
+ Năm sinh: 1933
+ Bút danh: là Đào Nguyễn
+ Quê quán: quê gốc ở làng Cổ Nhuế - Từ Liêm - Hà Nội
Sự nghiệp sáng tác:
+ Năm 1953 vào bộ đội sau đó ông làm việc tại tạp chí Văn nghệ quân đội rồiBáo Thiếu niên Tiền Phong Nguyễn Xuân Khánh là một cây bút khá đa dạng, ôngsáng tác truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết và dịch thuật, trong đó có thể kể đến:
Trang 19+ Rừng sâu (tập truyện ngắn, Nxb Văn học, 1962).
+ Miền hoang tưởng (tiểu thuyết, Nxb Đà Nẵng, 1990), - Hai đứa trẻ và conchó Mèo xóm núi (Nxb Nhi đồng, Hà Nội, 2002)
+ Mưa quê (Nxb Nhi đồng, Hà Nội, 2003)
+Hồ Quý Ly (tiểu thuyết), 2000 Tác phẩm này nhận được một loạt các giảithưởng: Giải thưởng Cuộc thi tiểu thuyết (1998 - 2000) của Hội nhà văn Việt Nam;Giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội 2001; Giải thưởng Mai vàng của Báo Ngườilao động, 2001; Giải thưởng Thăng Long của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội,2002
+ Mẫu thượng ngàn (tiểu thuyết), 2006 Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội, 2006;Giải thưởng văn Doanh nhân, 2007
+ Đội gạo lên chùa (tiểu thuyết), 2011 Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam, 2011;Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội 2011
+ Và nhiều tác phẩm dịch
Trang 20Nguyễn Xuân Khánh tuy sáng tác không nhiều nhưng những tác phẩm của nhàvăn thực sự là những viên ngọc quý của thể loại tiểu thuyết lịch sử nói riêng và củavăn học Việt Nam thời kỳ đổi mới nói chung.
1.2.2. Tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn từ góc nhìn văn hóa
- Văn hóa lịch sử ( văn hóa làng xã, gia đình, dòng họ)
+ Tác phẩm Mẫu thượng ngàn là sự kết hợp thành công giữa văn hóa và lịch sử.Mẫu thượng ngàn là cuốn tiểu thuyết về văn hóa- phong tục Việt Nam được thểhiện qua cuộc sống và con người ở một vùng quê bán sơn địa Bắc Bộ cuối thế kỉ
19, đầu thế kỉ 20 Trong bối cảnh Pháp xâm lược Việt Nam, đạo Phật suy tàn, đạoKhổng bị gạt bỏ, đạo Thiên chúa lan rộng, người dân quê trở về với đạo Mẫu.Cùng với đó đây cũng là cuốn tiểu tuyết lịch sử xã hội về Hà Nội cuối thế kỉ 19,gắn với việc người Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai, lịch sử xây dựng Nhà thờlớn, cuộc chiến của ngườ Pháp với quân Cờ Đen
Trang 21+ Mẫu thượng ngàn là xoay quanh cuộc sống của người dân làng Cổ Đình, nơi đãdiễn ra những câu chuyện lịch sử: ông Đùng bà Đà mà sau này nó đã chở thành lễhội Nó cũng là câu chuyện lịc sử đầy biến động gắn với hai dòng họ danh giá vànổi tiếng trong làng: Đinh Công và Vũ Xuân Dòng họ Đinh thì nổi tiếng về đường
đỗ đạt và tính ương bướng, còn dòng họ Lý thì phát về đường công danh, nắm giữnhiều chức vụ trong làng Những con người ấy đại diện cho những giai cấp khácnhau trong xã hội, cho các tầng bậc của một gia đình lớn Hai dòng họ còn đượcnói nên trong cuộc cãi vã của Điều và thằng cò:
“Họ Vũ làm chủ làng Đình
Họ Đinh mà rình cơm nguội.”
Và Điều đáp lại:
“Họ Vũ là cú là cáo
Họ Đinh là dinh ông nghè.”
Văn hóa làng, xã còn được thể hiện qua việc ghi chép gia phả dòng họ Ghi chépgia phả là một việc làm đã có từ lâu đời trong gia đình Việt, nó thể hiện việc coitrọng thứ bậc, tôn ti chật tự gia đình, nó cũng là nét đẹp mang tính nhân văn cao cả,thể hiện truyền thống uống nước nhơ nguồn của con cháu đối với tổ tiên, nhữngngười đi trước Phải chăng đây cũng là nét văn hóa độc đáo của người dân Việt.Cũng nét văn hóa lịch sử này đã làm nên nét đẹp văn hóa dân tộc
- Văn hóa tâm linh (tín ngưỡng thờ Mẫu)
+ Văn hóa và bản sắc văn hóa Việt luôn là đối tượng, đề tài được các nhà nghiêncứu, phê bình quan tâm và lý giải Nguyễn Xuân Khánh cũng là một trong sốnhững nhà văn khá am hiểu về văn hóa Việt, đặc biệt là đạo Mẫu Ông đã đưa độcgiả đến với vùng nông thôn Bắc Bộ cuối thế kỉ 19 khi dân tộc ta phải đối mặt vớithực dân phương Tây Tín ngưỡng tâm linh là hình thức văn hóa đã tồn tại baođời Đặc biệt trong bối cảnh lịch sử du nhập các loại tôn giáo khác nhau, thì đạothờ Mẫu được chú trọng “Ở nước ta, đạo Mẫu thờ tứ phủ, tức là bốn Mẹ: MẹTrời, Mẹ Đất, Mẹ nước và Mẹ Người Mẹ trời là Mẫu Thượng Thiên, Mẹ Người làMẫu Liễu Mẹ Nước là Mẫu Thoải Mẹ Đất rừng là Mẫu Thượng Ngàn, đền thờMẫu nhiều lắm ở khắp mọi nơi Đạo Mẫu là đạo dân gian.”
Trang 22+ Đạo Mẫu cũng có khoảng sáu mươi vị thánh gồm các Mẫu, các vị tônông, các ông Hoàng, các cô, các cậu:
“Cô Chín Ngự Đồng dệt gấm thêu hoaThêu non, thêu nước, cô thêu ra đôi rồng chầu.”
Người ta tin rằng Mẫu là Hồn của đất, Mẫu cho tất cả, Đạo Mẫu là đạo của người
Mẹ, tạo ra tất cả,che chở, cứu giúp, vỗ về, an ủi, xoa dịu nỗi đau cho con người.+ Tục thờ Mẫu có nguồn gốc từ thời tiền sử khi người Việt thờ các vị thần tự nhiênvới hình ảnh của các nữ thần Mẹ Theo thời gian khái niệm Thánh Mẫu được mởrộng để bao hàm các nữ anh hùng trong dân gian - những người phụ nữ nổi lêntrong lịch sử với vai trò người bảo hộ hoặc trị bệnh Những nhân vật lịch sử nàyđược kính trọng, tôn thờ và cuối cùng được thần thánh hóa để trở thành một trong
các hiện thân của Thánh Mẫu Đạo Mẫu là một tín ngưỡng mang đậm bản sắc văn
hóa dân tộc Việt, và chính tác giả Nguyễn Xuân Khánh là người đã rất thành côngkhi đưa tín ngưỡng này vào trong tác phẩm của mình
-Phong tục ma chay
Mẫu thượng ngàn là sự dung hợp nhiều yếu tố căn bản trong đời sống nông thônBắc Bộ cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, trong đó không thể bỏ qua phong tục tang ma.+ Phong tục ma chay cũng là một phần phong tục tập quán của người Việt Ta cóthể nhận thấy phong tục này ở tác phẩm Mẫu thượng ngàn, tác giả Nguyễn XuânKhánh đã dùng một phần không nhỏ viết về đám tang của bà Lụa (vợ cả của LýCỏn) Phải chăng đó là ngụ ý của tác giả khi mang tới cho người đọc những hiểubiết về phong tục tập quán của văn hóa nông thôn Bắc Bộ
+ Ở đám tang ấy có đây đủ các nghi thức, thủ tục của một đám tang bình thường vàmột đám trùng tang, theo quan niệm dân gian trùng tang rất đáng sợ, nếu không machay cẩn thận sẽ còn có nhiều người bị thần chết bắt phải tính toán hết sức cẩn thậngiờ nhập quan, giờ phát tang, giờ chôn cất