Do thiếu cách tiếp cận tổng hợp để quản lý, sử dụng và bảo vệ bền vững vùng ven biển và lợi ích của việc nuôi tôm nên đã dẫn đến việc sử dụng không bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trang 1Quản lý Nguồn Tài nguyên Thiên nhiên Vùng Ven biển tỉnh Sóc Trăng
Điều tra Cơ bản trong Vùng Ven biển tỉnh Sóc Trăng, Đánh giá Sinh kế và Phân tích các Thành phần liên quan
Olivier Joffre, Lưu Hồng Trường
Trang 2Xuất bản
Deutsche Gesellschaft für
Internationale Zusammenarbeit (GIZ) GmbH
Quản lý nguồn Tài nguyên Thiên nhiên Vùng Ven biển tỉnh Sóc Trăng Tác giả
Olivier Joffre, Lưu Hồng Trường
Trang bìa
Nhà ở dọc kênh tại Huyện Long Phú, K Schmitt 2007
Trang 4Giới thiệu về GIZ
Năng lực toàn diện cho phát triển bền vững dưới một mái nhà chung
Với phương châm làm việc năng suất, hiệu quả và dựa trên tinh thần hợp tác, GIZ hỗ trợ người dân
và cộng đồng tại các nước đang phát triển, các quốc gia đang trong thời kỳ chuyển đổi và các nước công nghiệp trong việc định hướng tương lai và cải thiện điều kiện sống Đây là tôn chỉ hoạt động của Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit (GIZ) Được thành lập ngày 01 tháng 01 năm 2011, GIZ tập hợp những kinh nghiệm được tích lũy trong nhiều năm của GIZ hỗ trợ các đối tác trong nỗ lực đạt được những mục tiêu phát triển lâu dài thông qua việc cung cấp các dịch vụ hiệu quả được thiết kế phù hợp với yêu cầu của phát triển bền vững Tổ chức Hỗ trợ Phát triển Đức (DED), Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) và Tổ chức Bồi dưỡng và Phát triển Năng lực Quốc tế Đức (InWEnt) GIZ là tổ chức trực thuộc nhà nước Cộng hòa Liên bang Đức, hỗ trợ Chính phủ Đức trong những nỗ lực thực hiện các mục tiêu trong lĩnh vực hợp tác quốc tế cho phát triển bền vững GIZ cũng tham gia vào công tác giáo dục quốc tế trên toàn cầu
Phát triển hiệu quả
GIZ áp dụng cách tiếp cận tổng thể dựa trên giá trị để đảm bảo sự tham gia của tất cả các bên liên quan Trong quá trình này, sứ mệnh phát triển bền vững luôn là định hướng chủ đạo xuyên suốt mọi hoạt động của tổ chức GIZ cũng luôn quan tâm đến các khía cạnh chính trị, kinh tế, xã hội và sinh thái khi hỗ trợ đối tác ở các cấp địa phương, khu vực, quốc gia và quốc tế tìm ra các giải pháp cho cộng đồng trong bối cảnh xã hội rộng lớn hơn Đây là phương thức giúp GIZ đạt được sự phát triển một cách hiệu quả
GIZ hoạt động trên nhiều lĩnh vực bao gồm: phát triển kinh tế và xúc tiến việc làm; xây dựng nhà nước và khuyến khích dân chủ; thúc đẩy hòa bình, an ninh, tái thiết và giải quyết mâu thuẫn dân sự;
an ninh lương thực, y tế, giáo dục phổ cập; bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu Chúng tôi cũng cung cấp các dịch vụ về quản lý và hậu cần để hỗ trợ đối tác trong việc thực hiện những nhiệm vụ phát triển Trong các tình huống khủng hoảng, GIZ còn tiến hành các chương trình người tị nạn và cứu trợ khẩn cấp Là một phần của dịch vụ phát triển, GIZ đồng thời cung cấp nhiều chuyên gia hỗ trợ phát triển cho các nước đối tác
GIZ tư vấn cho các cơ quan tài trợ và đối tác các vấn đề về xây dựng kế hoạch và chiến lược, giới thiệu các chuyên gia hòa nhập và chuyên gia hồi hương ở các nước đối tác, đồng thời thúc đẩy mạng lưới hợp tác và đối thoại giữa các bên liên quan trong hoạt động hợp tác quốc tế Nâng cao năng lực cho chuyên gia của các nước đối tác là một phần quan trọng trong dịch vụ của GIZ Chúng tôi tạo nhiều cơ hội cho các thành viên tham gia các hoạt động có thể duy trì và thúc đẩy những mối quan hệ
mà họ tạo dựng được Ngoài ra, GIZ còn tạo điều kiện để những người trẻ tuổi nâng cao kinh nghiệm chuyên môn của mình trên khắp thế giới thông qua các chương trình trao đổi giành cho chuyên gia trẻ Những chương trình này giúp xây dựng nền móng cho thành công trong sự nghiệp của họ trên các thị trường trong nước và quốc tế
Các cơ quan ủy nhiệm cho GIZ
Hầu hết các hoạt động của GIZ được thực hiện theo ủy nhiệm của Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển (BMZ) Ngoài ra, GIZ cũng hoạt động thay mặt cho các Bộ khác của Đức, cụ thể là Bộ Ngoại giao Liên bang, Bộ Môi trường Liên Bang, Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Liên bang GIZ cũng hoạt động theo
ủy quyền của chính quyền các bang và các cơ quan công quyền khác của Đức, các cơ quan và tổ chức thuộc khu vực nhà nước, tư nhân trong và ngoài nước Đức, Ủy ban Châu Âu, Liên Hiệp Quốc
và Ngân hàng Thế giới Chúng tôi hợp tác chặt chẽ với khu vực tư nhân và góp phần thúc đẩy xây dựng những tương tác theo định hướng kết quả giữa phát triển và khu vực ngoại thương Kinh nghiệm dày dạn của chúng tôi với các khối liên minh tại các nước đối tác và tại Đức là nhân tố quan trọng cho hợp tác quốc tế thành công không chỉ trong các lĩnh vực kinh doanh, học thuật văn hóa mà còn trong cả xã hội dân sự
GIZ và những con số
GIZ hoạt động tại hơn 130 quốc gia trên toàn cầu Tại Đức, GIZ có mặt ở hầu khắp các bang với văn phòng chính được đặt tại Bonn và Eschborn GIZ tuyển dụng khoảng 17.000 nhân viên trên toàn thế giới với hơn 60% là nhân viên bản địa Ngoài ra, GIZ còn có 1.135 cố vấn kỹ thuật, 750 chuyên gia hòa nhập, 324 chuyên gia hồi hương, 700 chuyên gia địa phương tại các tổ chức đối tác cùng 850
Trang 5Lời tựa
Dự án “Quản lý nguồn Tài nguyên Thiên nhiên Vùng Ven biển Tỉnh Sóc Trăng” do Chi Cục Kiểm Lâm tỉnh Sóc Trăng khởi xướng nhằm mục đích cung cấp các giải pháp thí điểm để giải quyết xung đột giữa phát triển kinh tế và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng
Đồng bằng sông Cửu Long, mặc dù tương đối nhỏ về kích thước so với cả nước, đóng vai trò quan trọng vì là “vựa lúa” cho cả Việt Nam Việc phát triển nhanh chóng nghề nuôi tôm đã góp phần tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo nhưng cũng kéo theo những lo ngại ngày càng tăng về tácđộng môi trường và xã hội
Do thiếu cách tiếp cận tổng hợp để quản lý, sử dụng và bảo vệ bền vững vùng ven biển và lợi ích của việc nuôi tôm nên đã dẫn đến việc sử dụng không bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng, đe dọa chức năng phòng hộ của đai rừng ngập mặn và làm giảm thu nhập của các cộng đồng địa phương
Vùng ven biển không chỉ có nguy cơ chịu các tác động sinh thái tiêu cực của nghề nuôi tôm và sự phá hủy chức năng phòng hộ của rừng ngập mặn, nó cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi các tác động của biến đổi khí hậu đặc biệt là sự tăng cường độ và tần suất các cơn bão và lũ, xâm nhập mặn và nước biển dâng
Dự án khởi xướng nghiên cứu về sinh kế của người dân sinh sống ở vùng ven biển và phân tích các bên liên quan này như là nghiên cứu đầu tiên của một số nghiên cứu để tạo cơ sở cho việc lập kế hoạch các hoạt động dự án phù hợp và là một điều tra dữ liệu cơ sở quan trọng cho việc giám sát tác động của dự án
Nghiên cứu do một nhóm chuyên gia gồm tư vấn quốc tế và quốc gia, một phiên dịch viên địa phương
và cán bộ chính quyền địa phương tỉnh Sóc Trăng tiến hành Điều này đảm bảo việc chuyển giao kiến thức và kỹ năng thực tế cũng như nắm bắt thông tin mà người ngoài khó tiếp cận được
Báo cáo này được viết và trình nộp cho dự án vào tháng 10/2007 Phần viết về các đơn vị trực thuộc
Sở Thủy sản được cập nhật trong trong năm 2009 trước khi in lại báo cáo này với cách trình bày mới
Klaus Schmitt
Cố Vấn Trưởng
Trang 6Mục lục
Giới thiệu về GIZ ii
Lời tựa iii
Mục lục iv
Danh sách hình vii
Danh sách hộp viii
Danh sách bảng ix
Lời cảm ơn xi
Tên viết tắt xii
Chữ viết tắt xiii
1 Giới thiệu 14
1.1 Mục tiêu dự án 15
1.2 Mục tiêu của nghiên cứu 15
2 Giới thiệu khu vực nghiên cứu 17
2.1 Đặc điểm dân số 17
2.2 Đa dạng về môi trường 18
2.3 Sử dụng đất, chất lượng nước và quản lí rừng 20
2.3.1 Sử dụng đất và qui hoạch sử dụng đất 20
2.3.2 Chất lượng nước 21
2.3.3 Diện tích rừng và hiện trạng pháp lí 21
2.3.4 Chương trình phục hồi rừng 22
3 Phương pháp 24
3.1 Chọn mẫu 24
3.1.1 Xác định các điểm khảo sát 24
3.1.2 Chọn, mô tả và phân chia hộ nghiên cứu 26
3.2 Khảo sát cơ sở 27
3.3 Trang trại tôm mang tính thương mại, nhà máy chế biến tôm và hiệp hội nuôi tôm 28
3.4 Thành phần thể chế và tư nhân 28
4 Khuôn khổ pháp lí và các thành phần liên quan trong quản lí vùng ven biển 30
4.1 Khuôn khổ pháp lí về quản lí rừng và tài nguyên thiên nhiên 30
4.1.1 Phân vùng rừng ngập mặn 30
4.1.2 Rừng phòng hộ: qui định pháp luật và quản lí 31
4.1.3 Luật đất đai và bãi bồi 32
4.1.4 Tiêu chuẩn và qui định chất lượng nước 33
4.2 Các thành phần thể chế liên quan 33
4.2.1 Cấp tỉnh và huyện 33
4.2.2 Các thành phần thể chế cấp xã và ấp 37
4.2.3 Sử dụng đất 38
Trang 74.3.1 Hội nghề cá và hiệp hội nuôi tôm 40
4.3.2 Trang trại nuôi tôm thương mại 41
4.3.3 Nhà máy chế biến 43
4.3.4 Sở công an – một thành phần đặc biệt mang tính tư nhân trong quản lí rừng 44 4.4 Kết luận 45
5 Kết quả khảo sát cơ sở 46
5.1 Đặc điểm dân số và kinh tế xã hội 47
5.2 Đất đai và tài sản 50
5.2.1 Đất 50
5.2.2 Tài sản 51
5.3 Nuôi động vật và nuôi thủy sản trong vườn nhà 52
5.4 Sản xuất và thu nhập từ nông nghiệp 53
5.4.1 Các hệ thống canh tác ở các điểm khảo sát 53
5.4.2 Hoạt động trên ruộng đất của gia đình của các nhóm giàu nghèo 54
5.4.3 Nuôi thủy sản 55
5.4.4 Nông nghiệp 58
5.5 Việc làm 60
5.6 Tiếp cận nguồn vốn vay 62
5.7 Thu nhập của hộ và nguồn thực phẩm 63
5.8 Kết luận 64
5.8.1 Kết luận dựa trên nhóm giàu nghèo 64
5.8.2 Kết hợp dựa trên điểm khảo sát 64
6 Sử dụng tài nguyên thiên nhiên 68
6.1 Các cộng đồng sử dụng tài nguyên thiên nhiên 68
6.2 Tiếp cận điểm khai thác và di chuyển trong địa phương 68
6.3 Khi thác tài nguyên thiên nhiên 69
6.3.1 Lâm sản 69
6.3.2 Sản phẩm từ bãi sình và bãi cát 70
6.3.3 Kênh rạch 73
6.3.4 Lịch mùa vụ và vị trí của tài nguyên thiên nhiên 73
6.3.5 Chuỗi giá trị 74
6.4 Đánh cá xa bờ 76
7 Phần tích các thành phần liên quan 78
7.1 Động lực của sự sử dụng tài nguyên thiên nhiên 78
7.2 Qui định pháp luật đối với quản lí vùng ven biển 81
7.2.1 Trách nhiệm chồng chéo và khoảng trống về luật pháp 81
7.2.2 Nguồn nhân lực và tài chính phục vụ bảo vệ rừng 82
7.3 Tác động qua lại giữa các thành phần liên quan và các thành phần đặc biệt liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên 82
7.3.1 Bảo vệ và tiếp cận rừng 82
Trang 87.3.2 Khai thác tài nguyên thiên nhiên và nhóm dân tộc 82
7.3.3 Mâu thuẩn về đất đai 83
8 Kết luận và đề nghị 85
8.1 Nuôi trồng thủy sản bền vững 85
8.1.1 Các vấn đề kỹ thuật 85
8.1.2 Các khía cạnh thể chế và tổ chức của hoạt động nuôi trồng ven biển 85
8.2 Quản lí tài nguyên thiên nhiên 86
8.3 Khuôn khổ pháp lí, qui định địa phương và đồng quản lí tài nguyên 87
8.4 Bài học từ thực địa 88
Tư liệu tham khảo 89
Phụ lục 1: Số liệu khí hậu và môi trường của tỉnh Sóc Trăng 91
Phụ lục 2: Phiếu điều tra 93
Phụ lục 3: Kỹ thuật nuôi tôm ở trang trại thương mại 99
Phụ lục 4: Kỹ thuật khai thác tài nguyên thiên nhiên 101
Trang 9Danh sách hình
Hình 1: Khu vực dự án – vùng ven biển Sóc Trăng 17
Hình 2: Bản đồ sử dụng đất của Tỉnh Sóc Trăng (2005) (nguồn: STN&MT) 20
Hình 3: Điểm khảo sát 25
Hình 4: Tóm tắt trình tự nghiên cứu 27
Hình 5: Cơ cấu tổ chức của Chi cục Kiểm Lâm 35
Hình 6: Số nhân khẩu trung bình/hộ tham gia khai thác tài nguyên thiên nhiên 49
Hình 7: Trình độ học vấn của các nhóm giàu nghèo 49
Hình 8: Đầu tư và thu nhập trong sản xuất nông nghiệp của hộ (triệu đồng/hộ/năm) 59
Hình 9: Thu nhập trung bình từ việc làm phụ của mỗi hộ theo năm ở các nhóm giàu nghèo 60
Hình 10: Phân vùng cho vùng dự án theo các tiêu chí mới (các con số là phần diễn giải trên) 67
Hình 11: Lịch thời vụ các tài nguyên thiên nhiên chính được khai thác 72
Hình 12: Di chuyển của người khai thác tài nguyên thiên nhiên và phân bố các loài được khai thác chính 74
Hình 13: Sơ đồ biểu diễn chuỗi giá trị cho các tài nguyên thiên nhiên chính được khai thác ở tỉnh Sóc Trăng 74
Hình 14: Tác động qua lại giữa các thành phần liên quan trong khai thác tài nguyên thiên nhiên ở vùng ven biển 80
Trang 10Danh sách hộp
Hộp 1: Các loại hình việc làm 48
Hộp 2: Các hệ thống sản xuất chính trong khu vực nghiên cứu 55
Hộp 3: Mô tả một số loại hình sản xuất nông nghiệp chính trong vùng nghiên cứu 58
Hộp 4: Chiến lược sinh kế của các nhóm hộ giàu nghèo 65
Hộp 5: Các điểm quan trọng về khai thác tài nguyên thiên nhiên 76
Trang 11Danh sách bảng
Bảng 1: Đặc điểm dân số và thành phần dân tộc ở các huyện thuộc vùng dự án (2005) 18
Bảng 2: Tính chất môi trường của khu vực dự án 19
Bảng 3: Biến động diện tích nuôi trồng thủy sản và trồng lúa ở 3 huyện ven biển (2000 – 2005) 21
Bảng 4: Diện tích rừng (ha), loài cây, tình trạng pháp lí và các thành phần liên quan 22
Bảng 5: Phân vùng đất và nước ở các huyện ven biển của tỉnh Sóc Trăng 22
Bảng 6: Các nhân tố và phương thức chọn điểm khảo sát 24
Bảng 7: Điểm khảo sát 24
Bảng 8: Tên huyện, xã và ấp của điểm khảo sát 25
Bảng 9: Các điểm khảo sát riêng 26
Bảng 10: Các thành phần thể chế liên quan được phỏng vấn 29
Bảng 11: Thành phần thể chế liên quan đến quản lí các khu vực ven biển 39
Bảng 12: Thông tin kỹ thuật và kinh tế của vụ nuôi tôm (n=8) 42
Bảng 13: Thành phần giàu nghèo trong các hộ được phỏng vấn trong từng ấp 46
Bảng 14: Số khẩu trung bình/hộ, con cái và nghề nghiệp trong từng nhóm giàu nghèo 47
Bảng 15: Tỉ lệ hộ của các nhóm giàu nghèo theo loại hình việc làm 48
Bảng 16: Phân bố hộ giàu nghèo theo dân tộc 49
Bảng 17: Quê quán và thời gian định cư của các nhóm hộ 50
Bảng 18: Sở hữu đất trung bình theo hộ 50
Bảng 19: Vật liệu làm nhà của các nhóm giàu nghèo 51
Bảng 20: Tỉ lệ sở hữu phương tiện đi lại ở các nhóm giàu nghèo (số lượng phương tiện trung bình cho mỗi hộ trong ngoặc đơn) 51
Bảng 21: Tỉ lệ hộ có máy bơm nước, quạt nước và ngư cụ (ghi trong dấu ngoặc đơn) 52
Bảng 22: Thu nhập từ nuôi động vật và tỉ lệ tiêu thụ cho gia đình của các nhóm giàu nghèo 53
Bảng 23: Diện tích nuôi cá trong vườn, loài cá và tỉ lệ hộ nuôi trong từng nhóm giàu nghèo 53
Bảng 24: Hệ thống sản xuất được ghi nhận trong vùng nghiên cứu 54
Bảng 25: Hoạt động của các nhóm hộ giàu nghèo 54
Bảng 26: Diện tích nuôi thủy sản trung bình và tỉ lệ hộ nuôi thủy sản theo nhóm giàu nghèo và loại hình nuôi 56
Bảng 27: Chi phí và thu nhập trung bình trong nuôi thủy sản theo hộ và nhóm giàu nghèo 57
Bảng 28: Hiệu quả kinh tế của các loại hình nuôi thủy sản chính (triệu đồng/ha) 57
Bảng 29: Diện tích đất nông nghiệp trung bình và tỉ lệ hộ tham gia sản xuất nông nghiệp trong các nhóm giàu nghèo 59
Bảng 30: Năng suất, chi phí và lợi nhuận từ sản xuất nông nghiệp 60
Bảng 31: Hợp đồng bằng giấy tờ ở các điển khảo sát 61
Bảng 32: Vốn vay trung bình của hộ và nhóm giàu nghèo 62
Bảng 33: Nguồn thu nhập và nguồn gốc thực phẩm của hộ theo nhóm giàu nghèo (n=92) 63
Bảng 34: Phân vùng cho vùng dự án theo các nhân tố kinh tế xã hội mới 66
Bảng 35: Số lượng người khai thác ước đoán cho các điểm khảo sát 68
Trang 12Bảng 36: Sự tiếp cận đến các điểm khai thác 69Bảng 37: Các loài được khai thác từ rừng 70Bảng 38: Các loài chính được khai thác ở bãi sình và bãi cát 71
Trang 13Lời cảm ơn
Xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến Chi Cục Kiểm Lâm Sóc Trăng và các Đội Dự án Huyện đã hỗ trợ hành chính và hậu cần và các cán bộ của Chi Cục Kiểm Lâm và Đội Dự án Huyện đã đóng góp vào việc thu thập dữ liệu tại thực địa
Cán bộ Sở Tài nguyên và Môi trường, các đơn vị trực thuộc Sở Thủy sản (từ 2008 là Chi cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản), Phòng Kinh tế và Chi Cục Kiểm Lâm đã đóng góp thời gian và thông tin giá trị cho nghiên cứu này
Đóng góp của ông Hồng Thanh Nhẫn như phiên dịch viên và cung cấp thông tin đã giúp đở rất nhiều cho các tác giả của nghiên cứu này
Xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến các hộ gia đình và các trại tôm thương mại về sự kiên nhẫn và trợ giúp cho việc hoàn thành nghiên cứu này
Trang 14Tên viết tắt
Sở NN&PTNN Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
STN&MT Sở Tài nguyên và Môi trường
Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bộ KHCN&MT Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
RIA Viện nghiên cứu thủy sản
VASEP Hiệp hội xuất khẩu và chế biến hải sản
Trang 15đồng đồng Việt Nam (16.000 đồng = 1 đô la Mỹ) (22.000 đồng = 1 Euro)
ppt phần ngàn (parts per thousands)
ppm phần triệu (parts per million)
Trang 161 Giới thiệu
Các khu vực ven biển có thể được xem như các khu vực tiếp giáp giữa mặt nước và vùng đất biến đổi dần và theo mùa, hỗ trợ các phương kế sinh sống khác nhau liên quan đến tài nguyên thiên nhiên, như canh tác nông nghiệp và thủy sản nước ngọt và nước lợ Các sinh kế này phụ thuộc vào môi trường ven biển và tương tác lẫn nhau trong môi trường đó
Vùng ven biển ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới có một hệ sinh thái ven bờ đặc trưng, đó là hệ sinh thái rừng ngập mặn – là nơi mà các hệ thống sông ngòi lớn tích tụ phù sa và độ mặn thì được điều hòa bởi nguốn nước ngọt lớn từ thượng lưu Rừng ngập mặn có vai trò quan trọng ở vùng ven biển Chúng có chức năng tự nhiên là chống xói mòn do sóng biển và gió Rừng ngập mặn là một hệ sinh thái độc đáo, tạo ra môi trường sinh sản thích hợp cho các loài cá và giáp xác nước lợ và nước mặn
Sự biến đổi chính trong ba thập niên vừa qua ở các vùng ven biển châu Á chính là sự phát triển của hoạt động nuôi tôm; sản lượng tôm đã gia tăng mỗi năm 17% trong khoảng thời gian từ năm 1970 đến 2000 Sự gia tăng này dẫn đến sự suy thoái các khu rừng ngập mặn và ruộng lúa ven biển Ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), vựa lúa của Việt Nam, ruộng lúa đã biến thành ao tôm Chỉ trong vòng 2 năm (2000-2002), diện tích ruộng lúa đã giảm 170.000 ha, trong khi diện tích nuôi tôm tăng 160.000 ha (Vo Thi Thanh Loc 2003) Lợi nhuận cao từ nuôi tôm đã kích thích sự phát triển của hình thức nuôi tôm công nghiệp Ao tôm công nghiệp đã gây ảnh hưởng tiêu cực cho môi trường xung quanh, sử dụng nguồn nguyên liệu lớn và trong nhiều trường hợp được đặt tại nơi trước đây là rừng ngập mặn
Ở Việt Nam, rừng ngập mặn đã giảm từ 117.745 ha năm 1983 còn 51.492 ha năm 1995 (Hong & San
1993 và Phuong & Hai 1998, theo Jonhston et al 2000) Sự phát triển nuôi tôm không phải là nguyên
nhân duy nhất liên quan đến sự phá hủy rừng ngập mặn và khai thác lâm sản (gỗ, củi, v.v.) trên khắp thế giới Áp lực dân số cũng là tác nhân quan trọng trong vấn đề này (Hossain 2001)
Dù sao, có những mâu thuẩn tồn tại giữa người nuôi tôm và người sử dụng tài nguyên từ rừng ngập mặn Rừng ngập mặn và bãi bồi – hiện được sử dụng làm ao tôm, đem lại nguồn lợi sinh sống cho nhiều người sống dựa vào tài nguyên thiên nhiên Sự suy thoái môi trường do nuôi tôm đã làm giảm sản lượng tài nguyên thiên nhiên, như: tôm giống (tôm bột) và cua con (cua giống) tự nhiên đã bị
giảm sút khi nuôi trồng thủy sản phát triển (Alauddin et al 1998; Paez Osuna 2001; Primavera 2006)
Sự hủy diệt rừng ngập mặn để chuyển thành hơn 60.000 ha diện tích nuôi tôm trong năm 1997 đã gây ảnh hưởng bất lợi cho cuộc sống của 24.000 hộ ở Việt Nam (Luttrell 2002)
Kinh nghiệm từ các nước châu Á khác, như Thái Lan hay Bangladesh – nơi mà môi trường bị hủy
hoại nặng nề do nuôi tôm (Lebel et al 2002, Hossain et al 2001), cho thấy rõ nhu cầu cấp bách về
việc quản lí tổng hợp vùng ven biển Ở Việt Nam, rừng ngập mặn đã chịu ảnh hưởng của việc mở rộng diện tích nuôi tôm và các nhân tố khác do thiếu qui định pháp luật và các kế hoạch phát triển (de
Graaf et al 1999) Từ năm 1953 đến 1995, diện tích rừng ngập mặn tại ĐBSCL đã giảm từ 190.812
ha còn 29.543 ha (Minh et al 1998, trích trong Minh et al 2001) Phần lớn rừng ngập mặn ở ĐBSCL
đã bị biến thành ao tôm kể từ thập niên 1990, trong đó có một tỉ lệ lớn những người nuôi tôm không phải là dân địa phương đến phá rừng làm ao tôm
Tôm sú (Penaeus monodon) là loài được nuôi chủ yếu Năm 2003, có khoảng 460.000 ha diện tích
nuôi tôm sú đem lại sản lượng khoảng 223.000 tấn(Phuong et al 2004) Khu vực nuôi tôm chủ yếu là
ĐBSCL – chiếm 80-85% tổng diện tích nuôi tôm cả nước Năm 2005, giá trị xuất khẩu từ ngành thủy sản đạt 2,65 tỉ USD, trong đó 1,3 tỉ USD là từ ngành tôm (Bộ Thủy sản 2005) Tuy nhiên, ngành tôm không ổn định và bỉ ảnh hưởng bởi dịch bệnh; trung bình 20-25% người nuôi tôm ở Việt Nam bị thất bại mỗi năm (Sinh 2004) Ở ĐBSCL, hơn 60% hộ nuôi tôm thiếu nợ vay, trung bình hơn 20 triệu
Trang 17Sự phát triển nuôi tôm đã làm thay đổi nền kinh tế và sinh thái của vùng ven biển; nhờ đó mà vùng ven biển trở nên quan trọng về mặt kinh tế Sự phát triển kinh tế ở vùng ven biển nhanh và thiếu qui hoạch trong khi sinh kế của người dân phải thích nghi với môi trường sinh thái và kinh tế xã hội mới Tỉnh Sóc Trăng là một trong những tỉnh ven biển của ĐBSCL có sự phát triển nuôi tôm mạnh mẽ và rừng ngập mặn chỉu ảnh hưởng từ sự phát triển kinh tế Trong bối cảnh này, GTZ và UBND tỉnh Sóc Trăng đã ký thỏa thuận hợp tác nhằm thực hiện dự án về quản lí vùng ven biển vì mục tiêu phát triển bền vững
1.1 Mục tiêu dự án
Dự án “Quản lí nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển tại tỉnh Sóc Trăng” sẽ cung cấp các giải pháp thử nghiệm để giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và quản lí nguồn tài nguyên thiên nhiên bền vững Dự án cũng sẽ triển khai các chiến lược có thể tăng tính thích nghi của rừng ngập mặn bằng việc nâng cao tính chịu đựng của chúng đối với sự biến đổi khí hậu
Mục tiêu tổng thể của dự án là đảm bảo tính bền vững về kinh tế và sinh thái của vùng ven biển cho những người nghèo trong các cộng đồng địa phương Mục tiêu của giai đoạn đầu (2007-2010) là hỗ trợ việc đồng quản lí vùng ven biển giữa những người sử dụng nguồn tài nguyên (người dân địa phương, những người nuôi tôm) và chính quyền địa phương các cấp
Dự án hỗ trợ Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng và Chi cục kiểm lâm (CCKL) thông qua việc phát triển các mô hình đồng quản lí các vùng ven biển bền vững, quản lí việc phục hồi rừng ngập mặn để thích ứng tốt hơn với các biến đổi khí hậu, cũng như xây dựng một khuôn khổ chính sách có thể điều tiết
để bảo đảm nguồn tài chính bền vững cho các dịch vụ môi trường tạo ra bởi các vùng đất ngập nước ven biển Để bảo vệ và quản lí vành đai rừng ngập mặn hiệu quả, dự án sẽ áp dụng Phương Pháp Hệ Sinh Thái, một chiến lược để quản lí tổng hợp đất, nước và nguồn tài nguyên sinh vật nhằm hỗ trợ bảo tồn và sử dụng bền vững một cách hợp lí Giai đoạn đầu của dự án sẽ tập trung phát triển cơ chế đồng quản lí cho công tác bảo vệ và quản lí bền vững vùng ven biển
Một trong những mục tiêu dự án là tạo ra một hệ thống chia sẻ quyền lợi cho nhiều thành phần nhờ nâng cao công tác bảo vệ rừng ngập mặn Mục tiêu đạt được thông qua cải thiện công tác qui hoạch tổng hợp sử dụng đất và thử nghiệm cách tiếp cận đồng quản lí có sự tham gia của các nhóm mục tiêu của dự án, như những người dân địa phương sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và người nuôi tôm
1.2 Mục tiêu của nghiên cứu
Nhằm làm rõ các thành phần liên quan khác nhau trong vùng dự án và các nhân tố tác động đến việc quản lí vùng ven biển, nghiên cứu cơ sở này đã được tiến hành
Mục tiêu khảo sát là làm rõ mối quan hệ qua lại giữa các thành phần liên quan ở vùng ven biển và xác định các nhân tố quyết định sự thay đổi về sử dụng đất ở vùng ven biển Sinh kế của người dân được
mô tả theo các tiêu chí (nhóm) giàu nghèo do người dân tự xác định cùng với các ước đoán mang tính số lượng về tài sản và thu nhập từ các hoạt động khác nhau
Vùng ven biển có môi trường đa dạng và phức tạp Trong vùng dự án, sự đa dạng về môi trường kinh
tế xã hội và tự nhiên sẽ được mô tả và phân tích nhằm giúp hiểu rõ hơn về hiện trạng Hơn nữa, nghiên cứu muốn tìm hiểu tầm quan trọng của tài nguyên rừng ngập mặn đối với các hộ không có đất đai và nghèo về khía cạnh đem lại thu nhập và sự sử dụng tài nguyên thiên nhiên Phân tích này sẽ cung cấp thông tin giúp phát triển và thực hiện các hợp phần của dự án quản lí tổng hợp vùng ven biển
Trang 18Báo cáo này gồm 6 chương, trong đó bao gồm mô tả vùng dự án và xem xét khuôn khổ pháp lí trong vấn đề quản lí vùng ven biển có các thành phần liên quan khác nhau Kết quả của khảo sát cơ bản cho thấy các chiến lược sinh sống khác nhau trong vùng dự án Một phần riêng trong báo cáo sẽ nói
về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và phân tích các thành phần liên quan Trong phần kết luận, các đề nghị cũng được nêu ra cho dự án
Trang 192 Giới thiệu khu vực nghiên cứu
Các cấp hành chính ở Việt Nam bao gồm cấp tỉnh, dưới tỉnh là huyện Mỗi huyện gồm các xã và mỗi
xã được chia thành ấp Ấp được coi là đơn vị cơ bản Tỉnh Sóc Trăng bao gồm 8 huyện và một thành phố Vùng ven biển với 3 huyện Vĩnh Châu, Long Phú và Cù Lao Dung là một phần trong khu vực nghiên cứu Tổng chiều dài bờ biển là 72 km với các điều kiện môi trường khác nhau Khu vực dự án bao gồm 11 xã, tổng diện tích 1.153 km2 và hơn 10.000 ha bãi bồi chủ yếu ở huyện Cù Lao Dung và Vĩnh Châu (Hình 1) Tổng dân số của vùng dự án khoảng 188.567 người (gồm 38.149 hộ), trong đó 32% được coi là hộ nghèo (Niên giám thông kê của tỉnh 2005; Niên giám thống kê các huyện 2005)
Hình 1: Khu vực dự án – vùng ven biển Sóc Trăng
2.1 Đặc điểm dân số
Trong khu vực dự án, đặc điểm dân số thay đổi: tỉ lệ nghèo cao ở huyện Vĩnh Châu, nhất là phần phía tây của huyện (Vĩnh Tân, Lại Hòa) với hơn 35% hộ nghèo (<150,000 đồng/người/tháng– tiêu chuẩn 2005)
Trang 20Bảng 1: Đặc điểm dân số và thành phần dân tộc ở các huyện thuộc vùng dự án (2005)
Hộ được coi là nghèo khi có thu nhập ít hơn 150,000 đồng/tháng/người trong năm 2005
Khu vực dự án cũng như từng huyện có thành phần dân tộc đặc trưng (Bảng 1) Trong khi huyện Long Phú và Cù Lao Dung chủ yếu bao gồm người Kinh, ở huyện Vĩnh Châu người Khmer chiếm phần lớn (52%) Ở một số xã, tỉ lệ người Khmer đến hơn 60% Sự khác nhau về thành phần dân tộc
và tỉ lệ hộ nghèo là những chỉ thị cho sự sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chiến lược sinh kế Mật độ dân số cũng khác nhau giữa các huyện: 411 người/km2 ở Long Phú, 316 người/km2 ở Vĩnh Châu và
242 người/km2 ở Cù Lao Dung
2.2 Đa dạng về môi trường
Vùng ven biển có môi trường đặc biệt, với nước mặn xâm nhập trong mùa khô (Phụ lục 1) Nước từ Biển Đông xâm nhập sâu vào đất liền nhờ chế độ bán nhật triều rất mạnh (biên độ triều: 3,32 đến 3,67m, thấp nhất vào tháng Sáu và tháng Bảy (Bảng 2) Kỳ nước cường diễn ra vào lúc giữa (trăng tròn) và đầu tháng (trăng non) và kỳ nước kém diễn ra vào thời gian còn lại Cho nên, độ mặn của nước thay đổi theo mùa và biên độ triều Độ mặn cao nhất ghi nhận được tại Mỏ Ó (huyện Long Phú) vào tháng Sáu (31 ppt) và sau đó giảm dần đến tháng 12 Giai đoạn có nước ngọt là tháng 10 và 11 Lượng mưa hàng năm là 1.558 mm tại thị trấn Vĩnh Châu (Huyện Vĩnh Châu) và 1.597 mm tại Mỏ Ó (huyện Long Phú) Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 (< 100 mm/tháng) và mùa mưa từ tháng
5 đến tháng 10 (chiếm 90% tổng lượng mưa trong năm) Trong mùa khô, gió thổi theo hướng đông bắc và chuyển theo hướng tây nam vào mùa mưa, với vận tốc tối đa là 10.3 to 13.8 m/giây
Các kiểu thổ nhưỡng trong vùng chịu ảnh hưởng chính bởi yếu tố mặn (có một giai đoạn mặn trong năm) Các kiểu đất chính trong vùng là Fluvisol (FAO), được coi là hình thành từ phù sa gần đây Kiểu
Trang 21thionic fluvisol có một lớp sulphur cách mặt đất < 125 cm So với tỉnh Bạc Liêu, các bất lợi như đất phèn không có nhiều
Với diện tích 26.059 ha, huyện Cù Lao Dung là cù lao lớn nhất trong tỉnh, bao quanh bởi hai nhánh sông Cửu Long là Trần Đề và Định An Dòng chảy của sông chứa nhiều phù sa tạo ra sự tích tụ lớn ven bờ của cù lao ở bờ biển, tiến ra biển đến 100 m mỗi năm Chế độ bán nhật triều ảnh hưởng lớn đến sự sử dụng đất và do đó đến hoạt động nông nghiệp tại Cù Lao Dung nói riêng và các khu vực ven biển khác của tỉnh nói chung Trong mùa mưa, cù lao bị ảnh hưởng mạnh bởi nước ngọt từ sông Cửu Long Do đó, hệ thống thủy lợi và đê bao được coi là yếu tố quyết định sự ổn định của hoạt động nông nghiệp
Bảng 2: Tính chất môi trường của khu vực dự án
Chiều rộng của đai
Bãi sình và bãi cát Bãi sình (diện tích
nhỏ)
Bãi sình và bãi cát Bãi sình và bãi cát
(~4.000 ha) Xói mòn/bồi tụ Bồi tụ ít - Bồi tụ phía đông;
- Xói mòn phía tây
Trang 222.3 Sử dụng đất, chất lượng nước và quản lí rừng
2.3.1 Sử dụng đất và qui hoạch sử dụng đất
84% diện tích đất sử dụng trong tỉnh (toàn tỉnh 3.310 km2) là trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp (Hình 2) Trong đó, 79% là cho nông nghiệp (73% là diện tích lúa), thủy sản chiếm 16% và lâm nghiệp 4.4% trong năm 2005 (Niên giám thông của tỉnh 2006) Đóng góp của nông nghiệp và lâm nghiệp vào tổng GDP của tỉnh tăng từ 40% (năm 2000) lên 48% (năm 2010); con số tương tự cho ngành thủy sản là từ 15% lên 27%
Hình 2: Bản đồ sử dụng đất của Tỉnh Sóc Trăng (2005) (nguồn: STN&MT)
Trong toàn tỉnh, xu hướng chính trong 10 năm qua là sự chuyển đổi sang nuôi tôm với diện tích nuôi trồng thủy sản tăng từ 7.802 ha trong năm 1995 lên 51.706 ha trong năm 2006, trong đó có 32% nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp Sản lượng tôm của các huyện ven biển tăng từ 9.999 tấn trong năm 2000 lên 37.705 tấn trong năm 2005, chiếm 88% sản lượng toàn tỉnh năm 2005 (42.837 tấn) Đánh bắt xa bờ ổn định từ năm 2000 đến 2005, chỉ chiếm 4% sản lượng của tỉnh (2.132 tấn năm 2005) mặt dù tăng số lượng tàu đánh bắt (+51%) Tổng giá trị xuất khẩu của ngành thủy sản đạt 286 triệu USD trong năm 2004 Kết quả này cho thấy tầm quan trọng của ngành nuôi tôm và nuôi thủy sản trong nền kinh tế của tỉnh
Từ cuối những năm 1990, nuôi tôm - được hỗ trợ về kỹ thuật và vốn từ chính phủ, đã được phát triển
ở các huyện ven biển Tại các huyện ven biển thuộc vùng dự án (Cù Lao Dung, Long Phú và Vĩnh Châu), xu hướng sử dụng đất là dành cho nuôi tôm và do đó diện tích trồng lúa đã giảm đi (Bảng 3)
Trang 23Bảng 3: Biến động diện tích nuôi trồng thủy sản và trồng lúa ở 3 huyện ven biển (2000 – 2005)
Diện tích nuôi trồng thủy sản (ha) Diện tích lúa (ha)
Cù Lao
Dung
Long Phú
Vĩnh Châu
Cù Lao Dung
Kế hoạch trước đây của tỉnh (2005-2010) là nhắm đến sự gia tăng từ 45.000 lên 60.000 ha (+33%) diện tích nuôi tôm (trong 80.000 ha nuôi trồng thủy sản) Nuôi tôm quảng canh (thả lang) sẽ được chuyển thành nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp với diện tích từ 18.000 ha lên 26.000 ha (+44%) Tuy nhiên, sau khi công bố mục tiêu này trong năm 2005, vào năm 2007 tỉnh đã quyết định đánh giá lại mục tiêu với việc điều chỉnh giảm nuôi công nghiệp nhưng hiện chưa biết các mục tiêu mới được điều chỉnh ra sao
Trong khu vực dự án, tôm là sản phẩm chính Tuy nhiên, một số xã có đặc trưng riêng Mía được trồng trên diện tích lớn ở huyện Cù Lao Dung (637 ha ở xã An Thạnh Nam và 1.200 ha ở xã An Thạnh Ba), hành tím và lúa ở huyện Vĩnh Châu (xã Vĩnh Châu và Vĩnh Hải, với 1.180 và 511 ha) và muối và artemia (483 ha năm 2005) ở xã Vĩnh Phước, Vĩnh Tân và Lại Hòa
Trang 24Tình trạng pháp lí của rừng theo định nghĩa của quyết định 116/1999 của Thủ tướng Chính phủ gồm Rừng phòng hộ xung yếu, vùng đệm và vùng kinh tế Giới hạn quản lí các vùng này xin xem Chương
4 Rừng phòng hộ xung yếu nằm trực tiếp ngay bờ biển, không cho phép dân cư sinh sống và là nơi thực hiện việc phục hồi rừng Vùng đệm cho phép các hoạt động kinh tế khác nhau, các hình thức sinh sống và bảo tồn, kể cả việc phục hồi rừng cho sản xuất lâm ngư kết hợp Diện tích mỗi vùng được trình bày trong Bảng 5
Bảng 4: Diện tích rừng (ha), loài cây, tình trạng pháp lí và các thành phần liên quan
Diện tích
2000 (ha)
Diện tích
2006 (ha)
Chiều rộng của đai rừng
Tình trạng pháp lí
Các thành phần liên quan đến quản lí rừng
Loài cây chính
Cù Lao
Dung 1.021 1.383
100 - 1.200 m
Rừng phòng hộ xung yếu
- CCKL
- Biên phòng
Bần (Sonneratia)
Long Phú 489 774 0 - 600
m
Rừng phòng hộ xung yếu
- CCKL
- TBVR
Bần (Sonneratia)
Vĩnh Châu 1.206 2.702
0 - 300
m ở phía tây 1,6 tới 2,2 km
ở phía đông
- Rừng phòng hộ xung yếu
- Vùng đệm: Quyền
sử dụng đất giao cho Sở Công An, cơ quan Đảng của huyện và tỉnh
Đất cho trại tôm và
- Cơ quan Đảng của huyện và tỉnh
Mắm (Avicenia) Đước (Rhizophora) Bần (Sonneratia)
Ghi chú: CCKL: Chi cục kiểm lâm; TBVR: tổ bảo vệ rừng
Bảng 5: Phân vùng đất và nước ở các huyện ven biển của tỉnh Sóc Trăng
Từ tháng 6/2000 đến 9/2006, Ngân hàng thế giới (WB) thực hiện dự án “Bảo vệ và phát triển đất ngập
nước ven biển” ở phía nam Việt Nam Dự án bao gồm 470 km bờ biển, trong đó có 72 km thuộc tỉnh
Sóc Trăng Mục đích của dự án là: “tái lập đất ngập nước và hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển dọc
ĐBSCL và bảo vệ bền vững các chức năng bảo vệ môi trường nước và bờ biển của chúng” (World
Bank 1999) Mục tiêu tổng quát của dự án là thiết lập một vành đai bảo vệ ven biển nhằm chống xói mòn, bão và lụt
Dự án đã tài trợ việc thành lập các tổ bảo vệ rừng (TBVR) ở huyện Long Phú và Vĩnh Châu TBVR dựa trên sự tham gia của nười dân địa phương trong tuần tra rừng phòng hộ xung yếu để giảm thiểu
Trang 252006, với 1.076 ha rừng ngập mặn được trồng ở các huyện ven biển Long Phú, Vĩnh Châu và Cù Lao Dung, làm tăng tổng diện tích rừng phòng hộ xung yếu của toàn tỉnh lên 3.241 ha
Dự án WB cũng gia cố và xây dựng đê nhằm bảo vệ các vùng đất trong nội địa Ở hầu hết các xã, hệ thống đê (nằm song song với bờ biển) đã thay đổi ranh giới của rừng phòng hộ xung yếu (phía ngoài
đê, về phía phía biển) và vùng đệm (nằm phía trong đê)
Trong dự án WB, có chương trình tái định cư các hộ dân vốn sống trong rừng phòng hộ xung yếu, chủ yếu ở huyện Vĩnh Châu (> 215 hộ) Trước đây, nhà nước cũng đã có chương trình tái định cư cho 250 hộ ở huyện Vĩnh Châu sau cơn bão Linda
Trước dự án WB, công tác trồng rừng đã được thực hiện trong tỉnh, với kinh phí từ các nguồn khac nhau: ngân sách tỉnh, chương trình quốc gia 237 và 661 (sau này gọi là Chương trình 5 triệu ha rừng)
và dự án Miliev Tổng diện tích rừng được trồng trong tỉnh là 1.882 ha trong 3 huyện ven biển (72% diện tích trồng rừng là ở huyện Vĩnh Châu và 28% ở huyện Cù Lao Dung và Long Phú) Các chương trình trồng rừng được quản lí bởi CCKL và được thực hiện thông qua các hợp đồng với người dân địa phương
Trang 263 Phương pháp
Mục tiêu tổng thể của nghiên cứu là: i) hiểu biết về sự đa dạng trong sinh kế trong vùng ven biển của tỉnh Sóc Trăng, ii) hiểu biết thêm về sự sử dụng tài nguyên thiên nhiên ven biển, iii) nhận diện các tương tác qua lại giữa các thành phần liên quan (người nuôi tôm và người trồng lúa, người sử dụng tài nguyên thiên nhiên, thành phần tư nhân và các cấp chính quyền địa phương) trong vùng ven biển Nghiên cứu tiến hành ở hai mức độ Đầu tiên, khảo sát cơ sở được tiến hành ở mức hộ gia đình ở 6
xã nhằm điều tra về sinh kế của người dân địa phương Sau đó, trong pha 2, phỏng vấn các thành phần thuộc về thể chế và tư nhân có liên quan đến việc quản lí vùng ven biển ở các cấp ấp, xã, huyện
- chủy yếu canh tác lúa-tôm hay nuôi tôm quảng canh; Hoạt động canh tác trong đai rừng - có hoạt động canh tác trong đai rừng ngập mặn;
- Không có hoạt động canh tác
Nuôi tôm công nghiệp và
Hoa màu hay nuôi tôm
Có hay không
Trang 27Vùng nghiên cứu có tính đa dạng cao về khu vực sinh thái nông nghiệp và tình hình kinh tế xã hội Để
có được sự đa dạng cao nhất trong mẫu nghiên cứu, ba nhân tố sau đây được phối hợp để thiết lập
Bảng 8: Tên huyện, xã và ấp của điểm khảo sát
Kí hiệu trên
bản đồ
Điểm khảo
1 1 Cù Lao Dung An Thạnh Nam Vàm Hồ
2 2 Cù Lao Dung An Thạnh Ba An Quới
3 3 Long Phú Trung Bình Nhà Thờ
4 4 Vĩnh Châu Vĩnh Châu TT Khu phố 6
5 5 Vĩnh Châu Vĩnh Tân Nopol
6 6 Vĩnh Châu Vĩnh Hải Âu Thọ A và B
Trang 28Ngoài 6 điểm khảo sát, một số điểm ở huyện Vĩnh Châu cũng được khảo sát riêng do có sự đặc biệt
về môi trường hay kinh tế xã hội (Bảng 9) Tại những điểm này, các phương pháp thào luận mở, phỏng vấn nhóm và phỏng vấn kỹ thuật được tiến hành nhằm hiểu biết và làm rõ một số vấn đề về sự
sử dụng tài nguyên thiên nhiên, quản lí rừng và/hoặc sinh kế
Bảng 9: Các điểm khảo sát riêng
Khu tái định cư Huỳnh Kỳ Vĩnh Châu Vĩnh Hải Tái định cư theo dự án WB (2006) Khu tái định cư Trà Sết Vĩnh Châu Vĩnh Hải Tái định cư theo chương trình nhà nước
(1999) Nông trường của Sở
Công An Vĩnh Châu Vĩnh Hải Diện tích rừng giao cho Sở Công An Trang trại nuôi tôm Vĩnh
Hải (ấp Mỹ Thanh) Vĩnh Châu Vĩnh Hải
Trại tôm có tính thương mại đặt trong rừng ngập mặn (vùng đệm)
3.1.2 Chọn, mô tả và phân chia hộ nghiên cứu
Hộ là mức độ cơ sở cho nghiên cứu Các vấn đề trong phạm vi hộ (giới và tuổi) được khảo sát dựa trên số lượng mẫu nhỏ các hộ hoặc áp dụng cách khảo sát điển hình (case-study approach) Các ấp
có khoảng 100-500 hộ Qui trình 3 bước được áp dụng để chọn, mô tả và phân chia các hộ nghiên cứu trong từng ấp:
1 Yêu cầu Trưởng ấp, với vai trò là người cung cấp thông tin chính, xác định các nhóm giàu nghèo khác nhau trong ấp dựa trên thu nhập Yêu cầu anh ta xác định ít nhất 2 hộ trong mỗi nhóm giàu nghèo để tham gia bước phân loại giàu nghèo;
2 Phân loại giàu nghèo có sự tham gia được tiến hành nhằm xác định các nhóm hộ có cùng đặc điểm ngoài tính chất giàu nghèo Những người tham gia (dân địa phương) được yêu cầu xác định các nhóm hộ quan trọng trong ấp và các tiêu chuẩn phân biệt các nhóm này Quan niệm giàu nghèo của người dân địa phương thường phức tạp hơn là thu nhập hàng tháng Quan niệm giàu nghèo và các nhóm giàu nghèo được xác định nhờ các yếu tố nội tại tương ứng trong mỗi ấp hay cộng đồng, đó là các nhân tố quan trọng đối với họ Kết quả của khảo sát là hình thành nên một sự phân loại giàu nghèo không dựa trên thu nhập mà dựa trên các tiêu chí địa phương Mục tiêu của nghiên cứu không phải là so sánh với chuẩn phân chia giàu nghèo của quốc gia, mà là đưa ra một thí dụ phân chia giàu nghèo dựa trên tiêu chí địa phương không chỉ dựa trên mức thu nhập Do tính chất đặc thù của việc khai thác tài nguyên thiên nhiên vốn có thu nhập biến động và không ổn định, không thể so sánh tổng thu nhập của hộ trong khảo sát này với mức thu nhập theo tiêu chuẩn phân chia giàu nghèo của quốc gia (ví dụ: hộ được coi là nghèo nếu thu nhập dưới 200,000 đồng/tháng/người)
3 Đối với mỗi nhóm xã hội/giàu nghèo được xác định như trên, những người tham gia bước phân loại sẽ chọn 3-10 hộ cho khảo sát cơ sở
Phỏng vấn cho khảo sát cơ sở được tiến hành Đây là khảo sát mang tính định lượng về nhân khẩu, tài sản, hoạt động sản xuất và các nguồn thu nhập nông nghiệp và thủy sản, công việc phi nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên
Trang 29Hình dưới đây (Hình 4) cho thấy phương pháp luận áp dụng cho khảo sát này Dữ liệu thu thập được phân tích dựa trên các nhóm xã hội/giàu nghèo nhằm đem lại một sự hiểu biết chung về hiện trạng của vùng ven biển
Hình 4: Tóm tắt trình tự nghiên cứu
3.2 Khảo sát cơ sở
Khảo sát cơ sở nhằm:
Xác định thu nhập từ hoạt động nông nghiệp và thủy sản
(tính toán từ chi phí, sản lượng và diện tích canh tác)
(lúa, hoa màu, nuôi tôm, nuôi cá nước ngọt và mặn, v.v.)
Xác định thu nhập phi nông nghiệp
(thủ công, buôn bán, làm mướn, quà tặng, cho thuê ghe, v.v.)
Xác định sự sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bao gồm thu nhập từ tài nguyên thiên nhiên Tổng diện tích đất đai
Diện tích đất đối với doanh nghiệp
Diện tích đất sở hữu, cho thuê/thuê lại, thế chấp
Kiểu nhà và các tài sản
Xác định điểm khảo sát dựa trên 3 nhân tố
Xác định danh sách các xã cho từng điểm khảo sát Xác định điểm khảo sát trên bản đồ hành chính
Phối hợp với đội dự án huyện chọn 1 ấp cho mỗi xã nghiên cứu Phối hợp với đội dự án huyện chọn 1 xã nghiên cứu cho mỗi điểm khảo sát
Cùng với trưởng ấp xác định các nhóm giàu nghèo ban đầu
Phân loại giàu nghèo
Xác định các nhóm giàu nghèo
Chọn hộ cho mỗi nhóm giàu nghèo
Khảo sát cơ sở đối với các hộ được chọn
Trang 30Bảng câu hỏi khảo sát được soạn thảo (xem Phụ lục 2) nhằm đánh giá định lượng hiện trạng các hộ trong vùng khảo sát trong thời điểm năm 2007 Kết quả có thể sử dụng cho các nghiên cứu so sánh sau này
Phỏng vấn thu thập dữ liệu về đặc điểm dân số và tài sản của hộ (quan tâm đặc biệt đến đất đai), hoạt động sản xuất nông nghiệp và thủy sản, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chăn nuôi Ngoài ra, thông tin về việc làm trong nông nghiệp (ruộng rẫy của gia đình hay đi làm mướn) và phi nông nghiệp cũng được thu thập
Các thông số khác được ghi nhận như: tổng diện tích đất, diện tích đất được giao cho doanh nghiệp, diện tích đất sở hữu, cho mướn, cầm cố, loại nhà cửa và tài sản khác
Số lượng mẫu khảo sát là 92 hộ thuộc 3 nhóm giàu nghèo sau: Nghèo (45 hộ), Trung bình (29 hộ) và
Khá giả (18 hộ) Trong tất cả các trường hợp khảo sát, không có sự phân biệt giữa nghèo và rất
nghèo cũng như khá và giàu như thường thấy trong các báo cáo hành chính về tình trạng giàu nghèo vốn bao gồm 5 nhóm (rất nghèo, nghèo, trung bình, khá và giàu)
Ngoài ra, để tìm hiểu về chuỗi giá trị và nơi tiêu thụ các sản phẩm khai thác từ bãi bồi và rừng, 7 thương lái cũng được phỏng vấn, bao gồm cả thông tin về sản lượng mua bán, biến động của sản lượng và giá cả
3.3 Trang trại tôm mang tính thương mại, nhà máy chế biến tôm và hiệp hội nuôi tôm
Nhằm tìm hiểu vai trò của trang trại tôm mang tính thương mại đối với nền kinh tế địa phương và việc
sử dụng tài nguyên thiên nhiên, 8 trang trại tôm thương mại (công ty nuôi tôm có đăng ký) đã được khảo sát Phỏng vấn kỹ thuật về hiệu quả kinh tế cũng như thu thập thông tin về cơ hội tạo ra việc làm, kỹ thuật nuôi tôm và cấu trúc trang trại đã được tiến hành Ngoài ra, chủ trang trại hay người quản lí trang trại cũng được phỏng vấn về quan điểm của họ trong các vấn đề nhãn sinh thái, tiêu
chuẩn sản xuất (Good Management Practice), v.v
Với mỗi điểm khảo sát, 1-3 trang trại được phỏng vấn Tuy nhiên, ở điểm khảo sát số 2, không có trang trại mang tính thương mại và điểm khảo sát số 3 không thể phỏng vấn người quản lí trang trại
Do đó, tổng số trang trại được phỏng vấn là 8
Một nhà máy chế biến tôm đã được thăm viếng nhằm hiểu về vai trò của nó đối với kinh tế của địa phương cũng như mối liên hệ với các trại tôm thương mại và qui mô nhỏ Ngoài ra cũng nhằm hiểu thêm về qui trình tiêu chuẩn mà nhà máy tuân thủ để có thể xuất khẩu sản phẩm
Hội nghề cá của tỉnh và Hiệp hội nuôi tôm Mỹ Thanh cũng được phỏng vấn về cơ cấu và vai trò của các hội đoàn này trong ngành nuôi tôm, nhất là về sự triển khai các qui trình tiêu chuẩn và dán nhãn sinh thái
3.4 Thành phần thể chế và tư nhân
Một trong những mục đích của khảo sát là xác định các thành phần liên quan khác nhau trong việc quản lí vùng ven biển và vai trò của chúng Các thành phần thể chế liên quan như các cơ quan ban ngành của chính quyền các cấp xã, huyện và tỉnh đã được phỏng vấn (Bảng 10)
Trang 31Bảng 10: Các thành phần thể chế liên quan được phỏng vấn
Trang 324 Khuôn khổ pháp lí và các thành phần liên quan trong quản lí vùng ven biển
Khuôn khổ thể chế và pháp lí về quản lí đất ngập nước đã có nhiều tiến bộ trong 15 năm qua Cơ cấu
tổ chức quản lí đất ngập nước và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước ở các cấp hành chính còn phức tạp Các luật định được thi hành bởi nhiều cơ quan khác nhau Trong phần này, chúng tôi tóm tắt các luật định chủ yếu về việc quản lí đất ngập nước và mô tả một số thành phần liên quan đến quản lí vùng ven biển
4.1 Khuôn khổ pháp lí về quản lí rừng và tài nguyên thiên nhiên
Chưa có luật định riêng biệt về bảo vệ đất ngập nước ở Việt Nam nói chung, nhưng có nhiều luật và qui định liên quan đến quản lí nước, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
Có thể kề các luật và qui định chính ảnh hưởng đến công tác quản lí đất ngập nước như: Luật đất đai (2003), Luật bảo vệ và phát triển rừng (2004), Luật bảo vệ môi trường (2005), Luật tài nguyên nước (1998), Công ước quốc tế về các vùng đất ngập nước, Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững (1991), Kế hoạch hành động đa dạng sinh học quốc gia (1995), Nghị định 109 của Thủ tướng về bảo tồn và quản lí đất ngập nước (2003), Kế hoạch hành động về bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước giai đoạn 2004 - 2010 (BTN&MT 2004), Qui chế quản lí rừng theo Quyết định
186 của Thủ tướng (2006)
Nghị định 109 còn được gọi là nghị định đất ngập nước vì được xem là văn bản pháp lí cao nhất liên
quan trực tiếp đến việc quản lí đất ngập nước Theo đó, đất ngập nước cần được bảo vệ vì lợi ích mà
nó mang lại cho nền kinh tế và đa dạng sinh học Quan trọng hơn, nghị định cũng qui định các Sở NN&PTNT đóng vai trò chủ đạo trong việc điều tra, nghiên cứu, qui hoạch bảo tồn và khai thác bền vững đất ngập nước có tầm quan trọng cấp tỉnh và địa phương
4.1.1 Phân vùng rừng ngập mặn
Văn bản được xem là quan trọng nhất cho công tác bảo vệ đất ngập nước ở Sóc Trăng, theo CCKL,
là quyết định 116 của Thủ tướng (1999) trong đó phê chuẩn kế hoạch phân vùng nhằm phục hồi rừng
ngập mặn ven biển các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng và Trà Vinh Quyết định này cũng xác định rừng phòng hộ xung yếu, vùng đệm, vùng kinh tế và công tác quản lí các khu vực này Rừng phòng
hộ xung yếu được bảo vệ hoàn toàn trong khi 60% diện tích vùng đệm dùng để phục hồi rừng ngập mặn và 40% dành cho hoạt động sản xuất thủy sản, nông nghiệp và các mục đích khác CCKL chịu trách nhiệm theo dõi các hoạt động được phép và không được phép trong các vùng này
Rừng phòng hộ xung yếu: với dải rừng có chiều sâu từ biển vào đất liền 500-1.000 m, nhằm phục
hồi rừng ngập mặn và nghiêm cấm dân cư sinh sống CCKL chịu trách nhiệm quản lí khu vực này Các hoạt động khai thác hải sản khu vực gần bờ cũng như củi khô, hải sản nhỏ, ốc, cua con và nghêu
sò (bằng tay) đều bị cấm nhưng có thể được kiểm lâm cho phép Không được khai thác ấu trùng giáp xác và cá còn nhỏ (cá giống) Củi khô được khai thác nếu có phép của Sở NN&PTNT/UBND tỉnh Các hoạt động khác như khai thác cây gỗ, đất, nuôi trồng thủy sản, canh tác nông nghiệp, bắt cá giống đều bị cấm
Vùng đệm: có chiều sâu từ biển vào đất liền từ vài trăm đến vài ngàn m (100m to 5.000m), dành cho
các hoạt động kinh tế khác nhau, các điểm dân cư và các biện pháp bảo tồn - bao gồm việc khôi phục rừng và các hệ thống lâm thủy sản kết hợp 60% diện tích để phát triển rừng theo mô hình điều chế rừng sản xuất 40% diện tích có thể dùng hình thành khu định cư, ao nuôi phục vụ kinh tế hộ gia đình Các hoạt động được phép bao gồm: khôi phục rừng ngập mặn, kiểm soát việc phá rừng trái phép, quản lí sản lượng bền vững (phù hợp với qui định của Sở NN&PTNN với sự chấp thuận của UBND
Trang 33định cư, hoạt động nghiên cứu và du lịch sinh thái Trong khi đó, các hoạt động trái phép như chặt cây, định cự, săn bắn và bẫy thú vật bị nghiêm cấm
Vùng kinh tế: các hoạt động kinh tế được cho phép, không giới hạn sự sử dụng đất
4.1.2 Rừng phòng hộ: qui định pháp luật và quản lí
Theo Luật bảo vệ và phát triển rừng (2004), đất rừng được chia thành ba loại: rừng phòng hộ, rừng
đặc dụng và rừng sản xuất (Điều 1) Các đai rừng ngập mặn của tỉnh Sóc Trăng thuộc loại thứ nhất,
vốn “được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa,
hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường” Luật cũng qui định rừng phòng hộ
và rừng đặc dụng được quản lí bởi cơ quan nhà nước, trong khi rừng sản xuất có thể được quản lí
bởi nông lâm trường, cá nhân, hộ gia đình hay doanh nghiệp
Theo quyết định 186/2006, các đai rừng ngập mặn ven biển của tỉnh Sóc Trăng có thể được coi là
rừng phòng hộ, hay chính xác hơn, là rừng phòng hộ chắn sóng và lấn biển với các chức năng nhằm ngăn cản sóng, chống sạt lở, bảo vệ sản xuất và các công trình ven biển, ven sông
Đai rừng phòng hộ nằm bên ngoài đê biển có chức năng chắn sóng, cố định bãi bồi, chống sạt lở, bảo vệ đê biển, duy trì diễn thế tự nhiên của hệ sinh thái rừng ngập mặn Đai rừng này
là một hạng mục của hệ thống đê biển, được thiết kế và đầu tư trong công trình xây dựng đê biển
Đai rừng phòng hộ nằm bên trong đê biển có tác dụng phòng hộ cho nuôi trồng thủy sản, canh tác nông nghiệp, phát triển du lịch, bảo vệ môi trường và hạn chế tác hại của gió bão, sóng biển đối với tính mạng và tài sản của nhân dân vùng ven biển
Thông tư 99/2006 của BNN&PTNT nhằm hướng dẫn thực hiện quyết định 186/2006, xác định tiêu chí rừng phòng hộ đạt tiêu chuẩn như sau: “Phải có ít nhất một đai rừng rộng tối thiểu 30 mét, gồm nhiều
hàng cây khép tán Các đai rừng có cửa so le nhau theo hướng sóng chính; cây rừng đã khép tán, hệ
rễ phát triển đảm bảo phát huy tác dụng chắn sóng, ổn định đất, tăng khả năng bồi lấp bờ biển, ngăn chặn hoặc giảm sạt lở”
Luật đất đai (1987, 1993, 1998 và 2001) và Luật bảo vệ và phát triển rừng (1991) cho phép giao
khoán rừng cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân Tuy nhiên, việc cho thuê rừng không được phép cho tới khi có Luật bảo vệ và phát triển rừng (2004) Theo Luật bảo vệ và phát triển rừng (2004), các ban quản lí phải được thành lập đối với bất kỳ khu rừng phòng hộ đầu nguồn tập trung có diện tích từ năm nghìn hecta trở lên hoặc có diện tích dưới năm nghìn hecta nhưng có tầm quan trọng về chức năng phòng hộ hoặc rừng phòng hộ ven biển quan trọng Ban quản lí khu rừng phòng hộ là tổ chức sự nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập theo qui chế quản lí rừng Những khu rừng phòng hộ không thuộc qui định tại khoản 1 Điều này thì Nhà nước giao, cho thuê cho các tổ chức kinh
tế, đơn vị vũ trang nhân dân, hộ gia đình, cá nhân tại chỗ quản lí, bảo vệ và sử dụng Cho thuê rừng
là một sự mở rộng của Luật bảo vệ và phát triển rừng, áp dụng trong lĩnh vực lâm nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, có các chính sách riêng về giao khoán và cho thuê cho các loại rừng khác nhau đối với các chủ rừng khác nhau
Do các rừng phòng hộ và rừng đặc dụng do nhà nước trực tiếp đầu tư, quản lí và bảo vệ, việc giao và cho thuê rừng phải phù hợp với qui định hiện hành Các tổ chức kinh tế được phép thuê rừng phòng
hộ trả tiền hàng năm để bảo vệ và phát triển rừng kết hợp sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường
Luật đất đai (2003) qui định Đất rừng phòng hộ mà chưa có tổ chức quản lí và đất qui hoạch trồng
rừng phòng hộ được giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tại chỗ có nhu cầu và khả năng để bảo vệ
và phát triển rừng (điều 76) Hạn mức giao đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất cho mỗi hộ gia đình,
cá nhân không quá ba mươi ha đối với mỗi loại đất Nhà nước giao đất mà không thu phí với những
người sử dụng đất rừng phòng hộ Điều 105 và 107 qui định người sử dụng đất có các quyền Được
Trang 34cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có các nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo qui định của pháp luật
Ở Sóc Trăng, các hợp đồng bảo vệ rừng được thực hiện trong dự án WB Các nhóm hộ được thành lập ở cấp ấp và được gọi là tổ bảo vệ rừng (TBVR) Tuy nhiên, kinh phí trả cho các hộ bảo vệ rừng không thật sự có tính khuyến khích (50.000 đồng/ha/năm)
Việc khai thác các lâm sản trong rừng phòng hộ được qui định trong điều 47 của Luật bảo vệ và phát
triển rừng (2004), bao gồm rừng trồng và rừng tự nhiên và phải tuân theo các qui định quản lí rừng
của Chính phủ và Bộ NN&PTNT nhằm bảo đảm chức năng phòng hộ bền vững của rừng
Quyết định 186/2006 qui định về việc tổ chức và quản lí rừng phòng hộ trong chương 3: điều 25 đến
33 Điều 33 cho phép trồng xen cây nông nghiệp, cây dược liệu trong rừng phòng hộ chắn sóng, lấn
biển nhưng không được làm ảnh hưởng đến khả năng phòng hộ của rừng Chủ rừng là tổ chức được
sử dụng diện tích đất chưa có rừng để sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp theo qui hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân được sử dụng không quá 40% diện tích đất không có rừng trên đất rừng ngập mặn để sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp Một điểm đáng chú ý khác là điều 32 qui định: đối với rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển thì được khai thác cây trồng xen, cây phù trợ; tỉa thưa, tận thu, tận dụng gỗ; được khai thác lâm sản ngoài gỗ Khai thác gỗ phải theo qui định liên quan
4.1.3 Luật đất đai và bãi bồi
Theo Luật đất đai (2003), đất bãi bồi ven sông, ven biển được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất
hàng năm đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối Đất bãi bồi ven sông, ven biển chưa sử dụng được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân tại địa phương chưa được giao đất hoặc thiếu đất sản xuất để
sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối Nhờ đó, Nhà nước
khuyến khích tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân đầu tư đưa đất bãi bồi ven sông, ven biển vào sử dụng
Tuy nhiên, theo Trưởng Phòng Kinh tế và Phó Chủ tịch huyện Vĩnh Châu thì việc giao đất bãi bồi (sình và cát) cho cộng đồng và hộ gia đình trước hết đòi hỏi sự đồng ý của UBND và quyết định cuối cùng được đưa ra bởi Chính phủ
Việc khai thác nguồn lợi thủy sản ở bãi sình và bãi cát phải tuân thủ Luật thủy sản (2003) Điều 3 qui
định: Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lí Tổ
chức, cá nhân có quyền khai thác thủy sản theo qui định của pháp luật Điều 8 qui định Bộ Thủy sản
định kỳ công bố:
Danh mục các loài thủy sản đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam và các loài thủy sản khác bị cấm khai thác; danh mục các loài thủy sản bị cấm khai thác có thời hạn và thời gian cấm khai thác
Các phương pháp khai thác, loại nghề khai thác, ngư cụ bị cấm sử dụng hoặc bị hạn chế sử dụng;
Chủng loại, kích cỡ tối thiểu các loài thủy sản được phép khai thác, mùa vụ khai thác;
Khu vực cấm khai thác và khu vực cấm khai thác có thời hạn
Điều 6 qui định các hành vi bị cấm trong hoạt động thủy sản, bao gồm khai thác khai thác thủy sản nhỏ hơn kích cỡ qui định, trừ trường hợp được phép khai thác để nuôi trồng
Trang 354.1.4 Tiêu chuẩn và qui định chất lượng nước
Việc quản lí vùng ven biển cũng bao gồm khía khía ô nhiễm nguồn nước Gần đây, Chính phủ đã xem
xét lại Luật bảo vệ môi trường (2006) Bộ TN&MT là cơ quan chủ chốt chịu trách nhiệm vế chính sách
tài nguyên và môi trường 11 cơ quan khác phối hợp với Bộ TN&MT Năm 1995, Bộ KHCN&MT (nay
là Bộ TN&MT) ban hành tiêu chuẩn chất lượng với 26 thông số của nước biển ven bờ (TCVN 5943) dành cho hoạt động nuôi trồng thủy sản, tắm và các mục đích khác Năm 2001, Bộ KHCN&MT ban hành tiêu chuẩn TCVN 6986 và 6987 về nước thải công nghiệp thải vào nguồn nước biển ven bờ dành cho nuôi trồng thủy sản và tắm Lưu ý rằng Luật thủy sản (2003) nghiêm cấm thải nước và nước thải từ các địa điểm nuôi trồng thủy sản, trại giống, cơ sở bảo tồn và sản xuất mà không xử lí hay xử lí không đạt tiêu chuẩn vào môi trường xung quanh (Mục 16 của Điều 6)
Về ô nhiễm môi trường, Việt Nam đã có Luật bảo vệ môi trường, nhưng các qui định về ô nhiễm biển
và định nghĩa về các nguồn ô nhiễm biển có nguồn gốc từ đất liền chưa thống nhất Gần đây đã có nhiều qui định về một số loại ô nhiễm (chất thải rắn, nước cống, v.v.) nhưng một chiến lược quốc gia
về quản lí các nguồn ô nhiễm biển có nguồn gốc từ đất liền vẫn chưa có Do đó, bảo tồn và phát triển đất ngập nước và tài nguyên thiên nhiên của đất ngập nước được qui định trong trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, như luật đất đai, luật về lâm nghiệp, quyết định của Thủ tướng, v.v Ngoài ra, nhiều cơ quan có liên quan đến việc thực hiện các văn bản pháp luật cũng góp phần làm cho khó hình dung được một khuôn khổ pháp lí về quản lí đất ngập nước một cách rõ ràng
4.2 Các thành phần thể chế liên quan
Trong phần này chúng tôi mô tả các cơ quan ban ngành liên quan đến công tác quản lí vùng ven biển
4.2.1 Cấp tỉnh và huyện
4.2.1.1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và huyện
Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh và huyện chịu trách nhiệm đối với các quyết định chính về giao đất
và phát triển cơ sở hạ tầng Vai trò của hội đồng là giám sát hoạt động của các sở, phòng Hội đồng nhân dân hợp tác với sở kế hoạch và đầu tư hay phòng kinh tế lập kế hoạch cho tỉnh và huyện Đối với công tác quản lí và sử dụng khu bồi tụ ven biển, chẳng hạn như bãi bồi ở Cù Lao Dung và
Vĩnh Châu, Điều 80 của Luật đất đai (2003) qui định: Đất bãi bồi ven sông, ven biển thường xuyên
được bồi tụ hoặc thường bị sạt lở do UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quản lí và bảo
vệ theo qui định của Chính phủ Tuy nhiên, hiện chưa rõ cơ quan nào chịu trách nhiệm quản lí bãi bồi
ở hai huyện trên
Các sở và phòng thuộc UBND được thành lập nhằm thực hiện các chính sách quốc gia tại địa phương và chịu trách nhiệm quản lí nhà nước về các vấn đề liên quan
4.2.1.2 Phòng kinh tế
Phòng kinh tế là cơ quan cấp huyện, là một cơ quan tham mưu cho UBND lập kế hoạch phát triển kinh tế của huyện Phòng kinh tế không có vai trò trực tiếp đến công tác quản lí vùng ven biển Tuy nhiên, các hoạt động nông nghiệp và thủy sản là lĩnh vực thuộc sự quản lí của Phòng kinh tế, bao
gồm phát triển các mô hình sản xuất như cá chẻm (Lates calcarifer), tôm càng xanh (Macrobrachium
rosembergi) và cá kèo (Pseudoapocrytes elongates)
Trang 364.2.1.3 Sở tài nguyên và môi trường (Sở TN&MT)
Sở TN&MT có 127 cán bộ, trong đó 73 người làm việc về qui hoạch sử dụng dất và giao đất Sở TN&MT có các chức năng sau: quản lí tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, nước, đất ngập nước, môi trường, khí khậu, điều tra và lập bản đồ) Tuy nhiên, phòng TN&MT lại không tham gia quản lí và bảo
vệ rừng ngập mặn Theo phỏng vấn tại phòng TN&MT thì các bãi bồi ven biển ở Cù Lao Dung được quản lí bởi UBND huyện và rừng ngập mặn được quản lí bởi lực lượng kiểm lâm Phòng TN&MT chỉ quản lí bãi bồi ven sông Cả 3 phòng TN&MT trong vùng dự án đều cho rằng không có cơ quan nào ở cấp huyện trực tiếp quản lí 8.590 ha bãi bồi của tỉnh Các diện tích bãi bồi này thậm chí chưa được coi là diện tích đất tự nhiên của các huyện
Phòng TN&MT thường chú ý đến ô nhiễm gây ra do các nhà máy đặt trong các khu đô thị Hiện chưa
có chương trình giám sát ô nhiễm đối với các thủy vực trong các huyện mặc dù, theo ông Lý Văn Luyện - Phó trưởng Phòng TN&MT huyện Cù Lao Dung, ô nhiễm có thể diễn ra từ hoạt động nuôi tôm Các cuộc phỏng vấn với các cán bộ của các huyện đều không ghi nhận được sự nhận thức về nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sông Hậu do công ty Lee & Man vừa động thổ xây dựng nhà máy giấy lớn nhất Việt Nam trị giá 1,2 tỉ USD với sản lượng 570.000 tấn giấy/năm tại tỉnh Hậu Giang Trên các phương tiện truyền thông đại chúng trong nước đã có nhiều quan tâm của các cán bộ nhà nước và chuyên gia về nguy cơ nhiễm độc do nhà máy này thải ra trong lưu vực sông Hậu2
4.2.1.4 Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Sở NN&PTNT)
Sở NN&PTNT có ban giám đốc và các đơn vị thuộc sở Có hơn 10 đơn vị chuyên môn về lâm nghiệp, nông nghiệp, v.v trong sở Đơn vị được coi là có liên quan nhiều nhất đến quản lí vùng ven biển là: Chi cục kiểm lâm (CCKL) Trước 2007, Sở NN&PTNT có Nông trường 30/4 đặt tại Huyện Cù Lao Dung Nông trường này giải thể trong năm 2007 và diện tích đất của nông trường hiện được UBND huyện quản lí Sở NN&PTNT cũng chịu trách nhiệm quản lí rừng đặc dụng; giám sát thực hiện chương trình phục hồi rừng (chương trình 5 triệu ha rừng)
4.2.1.5 Chi cục kiểm lâm (CCKL)
CCKL chịu trách nhiệm bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn Theo Nghị định 39 của Chính phủ (1994)
CCKL trực thuộc UBND của tỉnh có rừng
Nghị định 39 (1994) cũng qui định CCKL là cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh việc thực hiện chức
năng quản lí nhà nước về quản lí và bảo vệ rừng tại địa phương Thực hiện các chủ trương chính sách về quản lí và bảo vệ rừng, CCKL có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
Nắm tình hình tài nguyên rừng, việc quản lí rừng, bảo vệ rừng ở địa phương Đề xuất với Sở NN&PTNT kế hoạch, biện pháp tổ chức chỉ đạo thực hiện việc quản lí, bảo vệ tốt tài nguyên rừng và lâm sản ở địa phương;
Tổ chức thực hiện các chính sách, chế độ, thể lệ, qui chế, qui tắc của Nhà nước về quản lí rừng, quản lí lâm sản ở địa phương;
Trực tiếp chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm thực hiện công tác quản lí, bảo vệ, tuần tra rừng, kiểm tra, thanh tra và xử lí theo thẩm quyền các vi phạm về quản lí rừng, bảo vệ rừng, quản lí lâm sản
Trang 37Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục về quản lí bảo vệ rừng và vận động nhân dân bảo vệ, phát triển vốn rừng Hướng dẫn chỉ đạo việc xây dựng lực lượng và hoạt động của lực lượng quần chúng bảo vệ rừng ở cơ sở;
Quản lí tổ chức, biên chế, kinh phí, trang bị, bồi dưỡng nghiệp vụ và xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật cho lực lượng Kiểm lâm ở địa phương theo hướng dẫn của Bộ NN&PTNT;
Phát hiện và đề xuất với Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh xử lí những qui định của các cấp chính quyền và các cơ quan trong tỉnh có những nội dung trái với pháp luật và các qui định của Nhà nước về quản lí rừng và bảo vệ rừng
Phối hợp với UBND huyện xây dựng phương án, kế hoạch quản lí rừng,bảo vệ rừng trên địa bàn huyện và chỉ đạo thực hiện tốt các phương án, kế hoạch đó
Năm 2007, CCKL tỉnh Sóc Trăng có 33 cán bộ nhân viên (Hình 5), trong đó:
Ban giám đốc: 03
Phòng Tổng hợp: 07
Phòng Pháp chế – thanh tra và tuyên truyền: 04
Phòng quản lí và bảo vệ rừng: 06
Hạt kiểm lâm huyện:
o Hạt kiểm lâm Huyện Vĩnh Châu: 09 Gồm 1 trụ sở hạt với 1 hạt trưởng và 2 kiểm lâm viên và 3 trạm kiểm lâm, mỗi trạm 2 kiểm lâm viên (trong đó có 1 trưởng trạm)
o Hạt kiểm lâm Huyện Long Phú: 04 Gồm 1 trụ sở hạt với 1 hạt trưởng và 2 kiểm lâm viên
và 1 trạm kiểm lâm với 1 kiểm lâm viên (cũng là trưởng trạm)
o Hạt kiểm lâm Huyện Cù Lao Dung: 06 Gồm 1 trụ sở hạt và 2 trạm kiểm lâm Trạm kiểm lâm Xã An Thạnh Nam nằm gần trụ sở hạt, do đó cả 3 kiểm lân viên và 1 kiểm lâm hợp đồng đóng tại trụ sở hạt Trạm kiểm lâm còn lại đặt tại xã An Thạnh Ba gồm 1 trưởng trạm và 1 kiểm lâm hợp đồng
Tỉ lệ diện tích rừng (ha)/cán bộ kiểm lâm từ 230 ở huyện Cù Lao Dung đến 258 ở huyện Long Phú và
337 ở huyện Vĩnh Châu Nhìn chung, tỉ lệ này thấp hơn tiêu chuẩn trung bình cho rừng phòng hộ (1.000 ha/người) theo Quyết định 186/2006 và Nghị định 119/2006 của Thủ tướng Cơ cấu của CCKL năm 2007 được trình bày trong Hình 5
Hình 5: Cơ cấu tổ chức của Chi cục Kiểm Lâm
Tổ bảo vệ rừng (TBVR):
Để hỗ trợ công tác bảo vệ rừng ngập mặn, TBVR được thành lập nhằm theo dõi các vi phạm lâm luật
và báo cáo cho trạm hay trụ sở hạt kiểm lâm địa phương Thành viên của TBVR là các hộ có đất ngay bìa rừng Các hộ này được hỗ trợ 50.000 đồng/ha/năm nhờ dự án WB Hiện tại, có 7 TBVR ở huyện Long Phú và 13 TBVR gồm 93 hộ ở huyện Vĩnh Châu Tại huyện Cù Lao Dung, không có TBVR do
Đội kiểm lâm cơ động
Phòng pháp chế thanh tra, tuyên truyền
3 hạt kiểm lâm huyện (3 trụ sở
và 6 trạm kiểm lâm)
Trại giống cây lâm nghiệp chất lượng cao
Trang 38rừng ngập mặn ven biển đã được giao cho Nông trường 30/4 và đồn biên phòng 416 để bảo vệ Các TBVR được thành lập theo ấp, mỗi tổ có một tổ trưởng chịu trách nhiệm báo cáo các vi phạm (khai thác trái phép) đến trạm kiểm lâm gần nhất Mỗi hộ chịu trách nhiệm tuần tra theo dõi một diện tích rừng nhất định (trung bình 1-10 ha), tương ứng với ranh giới đất sản xuất của hộ đó Mỗi tổ gồm 7-17
hộ Dự án WB trang bị cho mội hộ tham gia TBVR một số trang thiết bị tuần tra (như xe đạp, áo mưa
và đèn pin) TBVR có thể cho phép việc thu hái củi khô
Thỏa thuận khác giữa kiểm lâm và cộng đồng địa phương
Có 4 hộ ở xã An Thạnh Nam có hợp đồng với Hạt kiểm lâm huyện Cù Lao Dung khai thác lá dừa nước từ rừng ngập mặn kể từ 2007 Thực tế các hợp đồng này đã được ký kết từ năm 2004 giữa các
hộ này và Nông trường 30/4 trước đây Các hộ này trả một khoảng tiền 1 triệu đồng/năm để khai thác
lá dừa nước trong một diện tích rừng ngập mặn xác định
Trong các chương trình phục hồi rừng, kiểm lâm cũng có hợp đồng trồng rừng với người dân trong các huyện Tại huyện Long Phú và Cù Lao Dung, người dân ký hợp đồng cung cấp cây giống và có
người thành lập vườn ươm cho cây bần (Sonneratia sp.) Ở Huyện Vĩnh Châu, do không có nguồn
giống đước, kiểm lâm phải mua giống đước từ Cà Mau Công việc trồng rừng được thực hiện thông qua hợp đồng ký với người dân địa phương Những người có hợp đồng trồng rừng sẽ thuê nhân công địa phương vận chuyển và trồng cây giống trên bãi bồi ven biển Các vườn ươm giống bần tại huyện Cù Lao Dung và Long Phú do người dân địa phương quản lí Chủ vườn ươm thuê nhân công tại địa phương và mua trái bần do người dân đi thu hái từ rừng phòng hộ để lấy hạt để ươm
4.2.1.6 Sở thủy sản
Sở thủy sản trước đây thuộc Bộ thủy sản và sau này trực thuộc Bộ NN&PTNT Sở thủy sản là cơ quan quản lí nhà nước cấp tỉnh tham mưu cho UBND tỉnh, chịu trách nhiệm quản lí tài nguyên thiên nhiên nước mặn, nước lợ và nước ngọt, bao gồm các khu vực nuôi trồng thủy sản (bãi bồi không thuộc phạm vi quản lí của Sở thủy sản) Ban giám đốc gồm 1 giám đốc và 3 phó giám đốc Sở có 3 đơn vị chức năng, gồm 125 cán bộ nhân viên
Trung tâm khuyến ngư với các trạm khuyến ngư ở các huyện, có 3-5 nhân viên ở mỗi trạm
nhằm thực hiện các dự án khuyến ngư, bao gồm các hoạt động tuyền truyền và huấn luyện
kỹ thuật cho người dân Ở cấp huyện, trạm khuyến nông hợp tác với cán bộ thủy lợi vận hành
hệ thống cống theo lịch và thời vụ nuôi tôm Trạm khuyến ngư Long Phú thường quan trắc chất lượng nước, bao gồm độ mặn Hai huyện Long Phú và Vĩnh Châu được trang bị máy UBNDR để xét nghiệm virus, nhưng lại thiếu kỹ năng và nhân lực vận hành nên ít hoạt động Tại văn phòng ở tỉnh cũng có một máy UBNDR và có khả năng thực hiện xét nghiệm ELISA Theo phỏng vấn, Trung tâm này có khả năng phát hiện sự xuất hiện của một số bệnh tôm và thông báo cho người dân thông qua phương tiện thông tin đại chúng (radio và TV)
Cảng cá Trần Đề;
Chi cục quản lí chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm chịu trách nhiệm về chất lượng sản
xuất tôm (phân tích kiểm tra mẫu tôm từ thương lái và nhà máy chế biến về kháng sinh và vi sinh), tiêu chuẩn chất lượng trong chế biến tôm, quản lí nước thải và điều kiện làm việc của công nhân trong các xí nghiệp chế biến và kiểm tra sản phẩm dùng trong nuôi tôm (chủ yếu các trại tôm thương mại), chất lượng tôm bột, thức ăn và sản phẩm khác cho tôm
Chi cục quản lí và bảo vệ nguồn lợi thủy sản chịu trách nhiệm giám sát khai thác nguồn lợi
thủy sản trong toàn tỉnh Chi cục cũng chịu trách nhiệm kiểm soát các phương tiện đánh bắt trái phép, như lưới cá có mắc lưới nhỏ hơn qui định
Văn phòng gồm 4 bộ phận (kế hoạch, quản lí tổng hợp, thanh tra và tổ chức hành chính)
Về sự phát triển nuôi tôm trong tỉnh, ông Phạm Hữu Lai, Phó giám đốc Sở thủy sản cho rằng nuôi tôm
Trang 39tương lai Theo ông thì nuôi tôm bán công nghiệp và quảng canh có tính bền vững cao hơn và do đó nên được phát triển Sở thủy sản đã hỗ trợ 60 trang trại tôm tham gia tập huấn ở Cà Mau về thực hành quản lí tốt (GMP - Good Management Practices) trong nuôi tôm
4.2.2 Các thành phần thể chế cấp xã và ấp
Ở cấp xã, rừng phòng hộ được bảo vệ bởi các trạm kiểm lâm Nhằm nâng cao hiệu quả, các trạm kiểm lâm được hỗ trợ bởi TBVR ở các ấp Nhưng lực lượng kiểm lâm không có trách nhiệm và cũng không có ảnh hưởng lên qui hoạch sử dụng đất Kiểm lâm chỉ chịu trách nhiệm quản lí rừng và không hợp tác với các ban ngành khác về giao đất
UBND xã chịu trách nhiệm về giao đất UBND tỉnh và huyện đóng vai trò quyết định trong giao đất, chủ yếu cho các trang trại tôm công nghiệp; UBND xã cũng có tiếng nói quan trọng trong việc này Ở cấp xã và ấp, trách nhiệm bảo vệ rừng và bãi bồi được phân bổ như sau:
Kiểm tra và thi hành pháp luật
Tuần tra được thực hiện bởi kiểm lâm như đã nói ở trên và có thể kết hợp với tuần tra của bộ đội biên phòng Các trạm kiểm lâm báo cáo là họ tuần tra hàng ngày và cũng hợp tác với bộ đội biên phòng đóng tại địa phương Đối với kiểm lâm tại huyện Vĩnh Châu, mối quan ngại chính là nhận thức còn thấp của dân về lợi ích của rừng và tình trạng kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn khiến người dân phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên Những người sử dụng tài nguyên tại rừng phòng hộ xung yếu không thể đóng thuế vì thu nhập quá thấp Sự mở rộng hoạt động nuôi tôm vào rừng là một trong những đe dọa chính đến rừng Các kỹ thuật đánh bắt như sử dụng xịp cua có thể gây ảnh hưởng đến cây rừng mới trồng
Năm 2007 có hơn 10 trường hợp khai thác gỗ trái phép được ghi nhận, chủ yếu là trong dịp lễ của người Khmer Ở các huyện khảo sát, những người vi phạm sẽ bị cảnh cáo Nếu vi phạm lặp lại thì kiểm lâm có thể bắt giữ phương tiện vận chuyển, búa và tang vật Ở huyện Long Phú có khoảng 10
vụ khai thác gỗ trái phép và ở huyện Cù Lao Dung có 1 vụ bị xử lí Ngoài ra, một số trường hợp khai thác đồm độp trong rừng ngập mặn được ghi nhận ở huyện Long Phú và Vĩnh Châu
Các TBVR tuần tra trong khu vực được giao và thông báo cho kiểm lâm những vi phạm Ở huyện Vĩnh Châu, những khu rừng được giao cho các công ty nuôi tôm và Sở công an thì việc bảo vệ rừng
là trách nhiệm của chủ rừng
Quản lí rừng
Hiện tại, kiểm lâm chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc quản lí rừng ngập mặn trong toàn tỉnh, không tính bãi bồi Trước đây, rừng ngập mặn ở xã An Thạnh Nam được quản lí bởi 2 người bảo vệ của Nông trường 30/4 Ở xã An Thạnh Ba, dự án WB ký hợp đồng tuần tra bảo vệ rừng với Bộ đội biên phòng cho đến năm 2007, nhưng bộ đội biên phòng không chịu trách nhiệm quản lí rừng
Trang 404.2.3 Sử dụng đất
4.2.3.1 Trường hợp Nông trường 30/4 ở huyện Cù Lao Dung
Tình trạng sử dụng đất hiện tại ở các xã khảo sát (An Thạnh Nam và An Thạnh Ba) ở huyện Cù Lao Dung có thể được xem là kết quả của sự thành lập Nông trường 30/4 để quản lí đất do nhà nước quản lí Nông trường 30/4 được thành lập năm 1987 đã có một sự qui hoạch sử dụng đất rất chặt chẻ cho diện tích đất được giao là 4.212 ha Khoảng 1.100 ha rừng ngập mặn được nông trường quản lí chiếm hầu hết diện tích rừng ngập mặn hiện có lúc bấy giờ ở huyện Cù Lao Dung Hệ thống đê và kênh mương được xây dựng nhằm thực hiện kế hoạch phát triển nông nghiệp và thủy sản Một diện tích lớn rừng ngập mặn được chặt bỏ đề hình thành hệ thống kênh mương và ruộng lúa, ao tôm Lúa được xem là nông sản chính của nông trường Hầu hết các hộ hiện sống ở xã An Thạnh Nam và rất nhiều hộ ở An Thạnh Ba đã di cư đến từ tỉnh Trà Vinh sau khi thành lập nông trường Trong khi đó, hầu hết các ao tôm với vốn đầu tư cao được xây dựng bởi nông trường và một số người hợp đồng Nhiều người trong số này sống ở thị xã Sóc Trăng Tài nguyên thiên nhiên như cua, cá, v.v trong rừng ngập mặn cũng như ở bãi bồi do nông trường quản lí khai thác Người dân có thể khai thác nếu
có hợp đồng khai thác Nông trường được tuyên bố giải thể vào ngày 31 tháng 3, 2007 Hầu hết đất thuộc nông trường nay được huyện quản lí và có khoảng 140 ha do UBND xã An Thạnh Nam quản lí Mặc dù qui hoạch sử dụng đất cho diện tích đất của nông trường hiện đang được các cấp tỉnh và huyện xem xét, những người đã có hợp đồng trước đây với nông trường được tiếp tục nuôi tôm cho đến khi hợp đồng hết hiệu lực Trong khi đó, những diễn biến gần đây về đất đai trước đây thuộc nông trường đã tạo ra một số căng thẳng và mâu thuẩn ở xã An Thạnh Nam
4.2.3.2 Giao đất ở huyện Vĩnh Châu
Trong huyện hiện có các diện tích đất rừng lớn được giao cho các công ty nuôi tôm Ví dụ, tại xã Vĩnh Tân, tỉnh đã giao 165 ha cho một công ty nuôi tôm Ở xã Vĩnh Hải, hơn 500 ha đất có rừng được giao cho các nông trường thuộc tỉnh ủy và huyện ủy hiện được cho các trang trại tôm tư nhân thuê lại Sở Công An đã được giao 145 ha đất rừng ở thôn Giồng Nổi sử dụng để nuôi thủy sản Các ví dụ cho thấy có mối quan hệ giữa chính quyền địa phương (cấp xã và ấp) với cấp cao hơn trong vấn đề giao đất Các quyết định giao đất có thể góp phần gây ra căng thẳng giữa dân địa phương và người được giao đất cũng như bất cập giữa các cấp chính quyền
4.2.3.3 Bãi bồi và quản lí bãi bồi
Điều 80 của Luật đất đai (2003) qui định: Đất bãi bồi ven sông, ven biển thuộc địa phận xã, phường,
thị trấn nào thì do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn đó quản lí Đất bãi bồi ven sông, ven biển thường xuyên được bồi tụ hoặc thường bị sạt lở do Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quản lí và bảo vệ theo qui định của Chính phủ Tuy nhiên, tất cả các lãnh đạo xã và cán bộ huyện được phỏng vấn đều cho rằng họ không quản lí bãi bồi và nguồn lợi thủy sản ở bãi bồi Có thể
đã thiếu một nhận thức về trách nhiệm liên quan đến quản lí bãi bồi Tuy nhiên, UBND xã cũng hợp tác với các cơ quan khác khi cần thiết Mặc dù thường hợp tác với kiểm lâm xử lí vi phạm lâm luật, nhưng UBND xã không trực tiếp tham gia quản lí và phát triển rừng ngập mặn
Mặc dù trách nhiệm của UBND xã và huyện trong quản lí bãi bồi đã được qui định theo Luật đất đai (2003), hiện vẫn chưa có một cơ chế kiểm soát sự khai thác tài nguyên thiên nhiên trên bãi bồi Do
đó, tài nguyên thiên nhiên hiện được khai thác không kiểm soát Những người khai thác chủ yếu đến
từ các tỉnh lân cận: Trà Vinh, Bến Tre, Bạc Liêu và Cà Mau và đông hơn người địa phương nhiều lần theo người dân phản ánh, điều này diễn ra trên toàn bờ biển của tỉnh Sóc Trăng, đặc biệt là ở bãi bồi thuộc huyện Cù Lao Dung: ít nhất có 400-500 chiếc ghe cào nghêu từ nơi khác hoạt động hàng ngày trong tháng 2-6