1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1

43 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện tại, các công ty nuôi cá lồng biển ở quy mô lớn có số lượng hạn chế và đều do nước ngoài đầu tư, do đó có thể thấy rằng, lý do chính cho sự thiếu sự quan tâm đầu tư từ các nhà đầu t

Trang 1

Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá lồng biển của Viện

Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1

Hợp phần 1 dự án SRV-11/0027

Tác giả: Niels Svennevig, Cố vấn kĩ thuật cho RIA1

1 Mục đích và ý tưởng kinh doanh

1.1 Mục đích

Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam đã có tham vọng thúc đẩy sản lượng cá biển nuôi khi xem xét về vị trí địa lý lý tưởng của Việt Nam từ thị trường hải sản (theo nhu cầu), khí hậu, đường bờ biển dài, một khuôn khổ pháp lý thuận lợi và chi phí sản xuất trong nước tương đối thấp Năm 1999, mục tiêu của ngành thủy sản là sản xuất được 200,000 tấn cá biển nuôi vào năm 2010 đã không đạt được Sự điều chỉnh mục tiêu sản lượng nuôi năm

2010 là 50,000 – 70,000 tấn cá biển và năm 2015 nuôi 200,000 tấn khó hoàn thành Tuy nhiên, mục tiêu này đột nhiên gần như hoàn thành vào năm 2010 Có khả năng là do

sự sụt giảm mạnh trong việc nuôi tôm năm 2010 bởi sự xuất hiện của EMS (hội chứng tử vong sớm), nhiều ao nuôi tôm đã bỏ trống ở khu vực sông MeKong Các ao nuôi tôm đã thả giống cá chẽm đặc biệt là cá chẽm châu Á và sản lượng đã đạt ước tính 75,000 tấn cá biển nước lợ (nuôi ao) trong năm 2011, từ con số “không” trong năm 2010 (FAO FishStatJ) Năm 2012 sản lượng nuôi ao giảm xuống còn 45,000 tấn Tuy nhiên theo số liệu thông kê mới nhất của FAO, năm 2012 ước đạt 75,000 tấn và trong năm 2013 sản lượng ước đạt 80,000 tấn Tuy nhiên, ước tính sau này không phản ánh chính xác thực tế khi sản xuất không có kế hoạch đã đẩy giá bán cá xuống khoảng 30,000 – 60,000 đồng/kg thấp hơn nhiều so với chi phí sản xuất Đồng thời việc kiểm soát dịch bệnh EMS tốt hơn do đó các ao chuyển trở lại nuôi tôm do có lợi nhuận cao hơn

Sản lượng cá biển đạt được năm 2010 chỉ là tạm thời khi mà sản xuất bắt nguồn từ các ao nước lợ và do đó không thực sự là các tư liệu của việc sử dụng nguồn tài nguyên biển Đây là phạm vi chủ yếu được khuyến khích bởi định hướng của chính phủ

Trong cùng thời gian đó, sản lượng cá biển (nuôi lồng) thực sự khá trì trệ và thấp hơn nhiều so với mục tiêu 2015 trở về trước Trong năm 2010, sản lượng cao nhất là 7,100 tấn trong khi năm 2013, ước tính đạt dưới 5,100 tấn bởi vì sản lượng cá giò giảm xuổng 645 tấn

Trang 2

Mục tiêu mới nhất năm 2011 dự kiến năm 2020 sản lượng cá biển là 200,000 tấn, sản lượng tăng hàng năm khoảng 15% có nghĩa là năm 2014 sản lượng đạt khoảng 85.000 tấn, cái đó là rất khó để đạt được

Các lĩnh vực nuôi trồng thủy sản khác ở Việt Nam như tôm, cá tra, ngao đã đạt được sản lượng lớn, rất gần với mục tiêu đề ra Một câu hỏi được đặt ra là tại sao nghề nuôi cá biển

ở Việt Nam vẫn chưa phát triển

Nuôi cá biển ở Việt Nam có truyền thống nuôi ở quy mô nông hộ, với sự tập trung vào qui mô sản sản xuất nhỏ cho các loài cá có giá cao cho thị trường cá tươi sống Ngược lại sản xuất tôm, cá tra và ngao; nuôi cá biển quy mô nhỏ đã không đủ chi phí để nuôi các loài, có thể nhắm đến phân khúc thị trường cá tươi lớn/ ướp lạnh và đông lạnh; nói cách khác để sản xuất một sản phẩm có chất lượng phù hợp, giá thành sản xuất đủ thấp để sản phẩm xâm nhập chuỗi giá trị gia tăng và thị trường thế giới

Để có thể có các loài cá nuôi phù hợp cho chuỗi cá tươi lạnh hoặc chế biến nói cách khác các thị trường “an ninh lương thực/hàng hóa” khu vực/toàn cầu lớn hơn; hiệu quả sản xuất của các loài có giá trị trung bình phải đi kèm nhưng điều này cần “hiệu quả quy mô nuôi”, đó là quy mô phải lớn hơn, vận chuyển tốt hơn và do đó đầu tư lớn hơn quy mô nông hộ

Do đó, phát triển nuôi cá biển công nghiệp ở Việt Nam cần phải đầu tư Tuy nhiên đến nay, các nhà đầu tư Việt Nam vẫn đang do dự do đã có một số nỗ lực nhằm phát triển nuôi cá biển quy mô công nghiệp ở Việt Nam nhưng vẫn chưa thành công

Hiện tại, các công ty nuôi cá lồng biển ở quy mô lớn có số lượng hạn chế và đều do nước ngoài đầu tư, do đó có thể thấy rằng, lý do chính cho sự thiếu sự quan tâm đầu tư từ các nhà đầu tư khu vực tư nhân ở Việt Nam là do vấn đề rủi ro trong tỉ suất lợi nhuận, do giá thành đầu vào cao, thiếu chiến lược rõ ràng cho các cá biển giá trị trung bình, thiếu chuyên gia và công nhân địa phương lành nghề; cũng như nuôi biển được coi như là một sản xuất sinh học không thể dự đoán trước lại do thiếu sự hiểu biết về vấn đề cơ bản, nguyên tắc nuôi hiện đại

Để nuôi trồng thủy sản thành công và bền vững cần phải giảm thiểu nguy cơ mất mùa và thu nhập Do đó, vấn đề quản lý rủi rõ là phương pháp tiếp cận xuyên suốt đặc biệt ở nuôi cá biển công nghiệp, hiện đại bởi vì đầu tư lớn trong thiết bị, đặc biệt là vốn lưu động

1.2 Ý tưởng kinh doanh của trang trại trình diễn

Trang 3

Người châu Á “ nhìn thấy là tin tưởng” là ý tưởng cơ bản đằng sau việc thiết lập và hoạt động của hợp phần trang trại trình diễn của dự án thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 (RIA1) được chính phủ Na Uy tài trợ Hai hợp phần khác của dự án có thể đảm bảo sự thành công trong Kĩ thuật của Trang trại trình diễn thông qua các mục tiêu nghiên cứu và phát triển để đào tạo công nhân lành nghề, cuối cùng là việc thiết lập đầu mối để các bên liên quan (Diễn đàn công nghệ nuôi trồng thủy sản) như các nhà đầu tư, ngành công nghiệp hỗ trợ (dịch vụ, trại sản xuất giống, thức ăn và thiết bị) cũng như để phổ biến các thành tựu sản xuất và kinh tế của trang trại trình diễn

Mục đích của của trang trại trình diễn

 Trước tiên là chứng minh rằng phương pháp tiếp cận nuôi cá lồng biển quy mô công nghiệp là có lợi nhận và các vấn đề rủi ro có thể được giảm thiểu thông quan quản lí rủi ro Cơ sở vật chất là thước đo để sản xuất ít nhất lên đến 150 tấn, đây là một sản lượng sản phẩm đủ để các nhà đầu tư xem xét cách tiếp cận trong “quy mô đầy đủ” (xem các phần dưới liên quan đến tính toán điểm hòa vốn)

 Thứ hai là để cung cấp các cơ sở đào tạo thực hành cho việc đào tạo công nhân nuôi trồng lành nghề và cán bộ quản lý sản xuất, những người có khả năng vận hành và quản lý có trách nhiệm và chuyên nghiệp trong cơ sở sản xuất được đầu tư lớn Việc đào tạo được thiết kế chủ yếu cho các công dân Việt - tuy nhiên khi không có những trang trại trình diễn ở vùng nhiệt đới có chức năng tương tự thì có thể kỳ vọng rằng nhu cầu từ các nước nhiệt đới khác sẽ xuất hiện Các khóa đào tạo phối hợp với một trường dạy nghề có sẵn cho các cá nhân và các công ty, các công ty phải trả toàn bộ chi phí Trang trại trình diễn cũng sẽ hỗ trợ giáo dục hàn lâm bằng cách cho sinh viên tham quan học tập, làm luận án hoặc sinh viên thực tập

 Thứ ba: chức năng như một cơ sở thử nghiệm/ nghiên cứu (tài liệu và trình diễn) cho các loài mới, thức ăn mới, các vaccines và thiết bị hoặc tiếp cận sản xuất Một cơ sở có thể thực hiện các dự án cho doanh nghiệp và chính phủ được tiến hành bởi các chuyên gia và nhân viên lành nghề/chuyên nghiệp với việc sử dụng tiếp cận sản xuất quy mô lớn

 Thứ tư là cung cấp dịch vụ chuyên gia/ tư vấn về nuôi thương phẩm cá lồng biển nhiệt đới để hỗ trợ các nhà đầu tư Việt Nam trong việc thiết lập kế hoạch kinh doanh và xây dựng trang trại bao gồm lựa chọn địa điểm và tập huấn cho công nhân

Trong các phần ở dưới sẽ trình bày rõ hơn các yếu tổ khác nhau của ý tưởng kinh doanh

Trang 4

 Trang trại trình diễn

o Các loài nuôi- tiêu chí

o Trình diễn và tài liệu

o Vấn đề kinh tế trong sản xuất

o Những rủi ro và quản lý rủi ro

 Các khóa tập huấn

o Kế hoạch tập huấn

o Thực hành

 Thử nghiệm và khảo nghiệm (Nghiên cứu và Phát triển), các dịch vụ và tư vấn

 Diễn đàn công nghệ nuôi trồng thủy sản

1.3 Các kịch bản phát triển

Trang trại trình diễn và quy mô công nghiệp là cơ sở duy nhất cho một nghiên cứu trong vùng nhiệt đới

Trong ngắn hạn (1-4 năm – trong thời gian dự án triển khai)

Trang trại trình diễn dần dần đạt được điểm hòa vốn, thể hiện tính khả thi về kinh

tế nói cách khác không phụ thuộc kinh phí của dự án Tương tự, trong thời gian này trang trại cung cấp ngày càng nhiều người tập huấn về nuôi cá biển quy mô công nghiệp và từng bước gần như các học viên là được tài trợ tài chính từ các nguồn khác hơn là từ kinh phí của dự án Cơ sở vật chất của trang trại trình diễn ngày càng được sử dụng nhiều để thực hiện các thử nghiệm và tư liệu dẫn chứng cho các ngành và chính phủ Tăng số lượng cán bộ của RIA1 có chuyên môn trong vấn đề nuôi cá biển quy mô công nghiệp và có khả năng trợ giúp cho các đối tượng có nhu cầu với năng lực thực sự

Chính sách trung hạn (4-5 năm)

Sau khi dự án kết thúc, Trang trại trình diễn sẽ thay đổi từ một “Hoạt động của dự án” thành một “Trung tâm nuôi cá biển nhiệt đới” thuộc dịch vụ nuôi cá biển của RIA1- Các công ty nuôi trồng và ngành công nghiệp cung cấp

Điều này cũng là chiến lược rút lui ngắn hạn của hợp phần

Trung tâm nuôi cá biển nhiệt đới sẽ cung cấp chuyên môn về công nghệ nuôi thương phẩm qui mô lớn của các loài cá nhiệt đới cho khu vực tư nhân và công cộng ở Việt Nam Trong viễn cảnh 5-10 năm sau, Trung tâm sẽ tham gia nhiều dự

án phát triển trong khu vực tư nhân và khu vực công cộng trong khu vực nhiệt đới nói chung

2 Địa điểm và trang thiết bị

Trang 5

Trang trại trình diễn thuộc Vịnh Vân Phong, phía bắc của tỉnh Khánh Hòa, miền Nam Việt Nam Trang trại được bảo vệ trước những đợt gió mùa Đông Nam mạnh với sức gió lớn nhất 5 km bằng một bán đảo ở phía bắc Tuy nhiên, sức gió là không phù hợp các lồng bè gỗ truyền thống trong thời gian gió mùa hoạt động, trong khi nó không gây ra rủi ro cho lồng nhựa

Vùng nuôi có khí hậu nhiệt đới với nhiệt độ dao động trong khoảng 25-290C Độ sâu tại kích thước bè nuôi 200m x 500 m dao động trong khoảng 20 -22m và do đó có độ dốc nhẹ nhưng không phải là vấn đề với việc chằng buộc Không có tác động của sông suối tới độ mặn hoặc độ đục, điều đó có nghĩa là hạn hàu bám, trong khi đó sẽ có rất nhiều sinh vật bám bẩn khác Lưới có thể được dùng lên đến 3 tháng mà không cần thay đổi tùy thuộc vào kích thước lưới và mùa vụ

Trang trại trình diễn là nằm trong khu vực có 2 trại lớn nhất, hiện đại về nuôi cá lồng biển ở Việt Nam – Hiện tại, công ty Hoa Kỳ đầu tư Autralis sản xuất cá chẽm (cá chẽm châu á) 1,200 - 1500 tấn và Trang trại nuôi cá biển Việt Nam- trước kia Na Uy đầu tư, hiện tại rao bán bởi các nhà đầu tư Ba Lan, với sản lượng sản xuất giảm nhiểu chủ yếu là cá chim và cá giò

Hình 1: Bản đồ vịnh Vân Phong, Khánh Hòa nhìn thấy vùng nuôi của dự án

Trang 6

Hình 2: Vùng biển có diện tích 200 x500m và 1,000m2 trên bờ

Trong khu vực vịnh cùng có hoạt động nghiên cứu và phát triển nuôi cá ngừ do Viện Nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng Khu vực vịnh cũng có khoảng 100 hộ nuôi biển đặc biệt

là tôm hùm (xem hình 2)

Tất cả những điều này có nghĩa rằng Trang trại trình diễn nằm trong trung tâm của vùng phát triển nuôi biển công nghiệp, điều đó làm tương lai của trang trại về hoạt động dịch

vụ là rất triển vọng

Trang 7

Hình 3: Sơ đồ của trang trại trình diễn Neo lồng được thiết kế và kích thước bởiViện nghề cá và Nuôi trồng thủy sán SINTEF Na Uy

cho các điều kiện tương tự

Hình 4: Hệ thống neo của trang trại Vùng nuôi của Trang trại chính chứa 10 đơn vị (hình 10)

o Tám lồng tròn nhựa HDPE để nuôi thương phẩm có chu vi 60m/đường kính 19,1

m cùng độ sâu của lưới là 8 m do đó mỗi lồng chứa khoảng 2,300 m3 khi hình dạng lí tưởng

o Bè nuôi được thiết kế 12 ô nhựa HDPE hình vuông dùng để ương và lồng thử nghiệm có kích thước 5 x5x5 m

o Một nhà nổi bằng gỗ (lưu giữ, chỗ ở và trông giữ qua đêm)

200m

Barge

3m 15m

5kg

4.0 Tonnes

280 litter

Trang 8

Khu vực bè nuôi tới các cơ sở trên bờ (hình 2) cũng được giao cho trang trại để tránh các rủi ro trong giao thông đường biển, bè nuôi và nhà nổi sẽ được chuyển tới gần bờ nhường

vị trí cho 2 lồng chìm từ một dự án của chính phủ, do đó có công suất trang trại nâng lên

10 lồng có chu vi 60 m

Tất cả các lồng nuôi được trang bị lưới 2 lớp, với lớp lưới bên ngoài có mắt lưới to hơn

để ngăn chặn cá nhồng Ngoài ra, cá mập gần như không thấy xuất hiện trong vùng vịnh

Hình 5: Lồng 60m nuôi cá chim trong lúc cho ăn

Hình 6: Nhìn tổng quan về trang trại; nhà nổi, vùng đất liền trên đảo

Trang 9

Cơ sở vệ tinh trên bờ (hình 1, 2, 6 và 7) nằm trên bãi biển cát trắng trên hòn đảo gần đó

và cách bè nuôi khoảng 100 m Diện tích của cơ sở khoảng 1000 m2 và có thiết bị như làm sạch lưới và khu vực sửa chữa với bể lắng; nhà kho; phòng họp/phòng học và 4 phòng ở của nhân viên/khách/học viên, nhà vệ sinh/phòng tắm và nhà bếp Nước ngọt được thu thập từ một con lạch tạm thời đi qua khu vực này từ những ngọn đồi có rừng, trong khi trong nước vào mùa khô sẽ mang từ đất liền bằng thuyền

Hình 7: Cơ sở vật chất ở vùng trên bờ Đầu năm 2015, công trình xây dựng còn lại của cơ sở vệ tinh là một cầu cảng với một đường trượt, có thể sử dụng cho các tàu ghé qua có độ dài hơn 18m Cầu cảng được dùng cho thuyền vận chuyển/làm việc của trang trại trình diễn

Trang 10

Hình 8: Tàu sắt với cần cẩu thủy lực được đòng tại nhà máy đóng tàu Nha Trang

Tàu thép có thể mang trong tải 30 tấn Nó được trang bị một cần cẩu thủy lực, rất cần thiết cho việc đặt neo lồng và thay lưới cũng như bốc/dỡ thùng nhựa lớn khi thu hoạch

cá Khu vực boong tàu là lớn hơn một chút so với các tàu nhôm catamaran kiểu dáng Na

Uy, được sử dụng tại các công ty Marine Farms Vietnam và quan trọng là giá thành tàu sắt chỉ bằng ¼ giá của tàu Catamaran Một ưu điểm hơn của tàu sắt đó là không đòi hỏi phải có vào một cảng tàu/bến tàu, chỉ có một đường trượt rẻ tiền do đó phù hợp với cơ hạ tầng ven biển tại Việt Nam

Các cơ sở chính trên bờ nằm trên khu vực được thuê bên cạnh cảng muối Hòn Khói (Hình 1), cách bè nuôi khoảng 19 km theo thướng Đông Nam Cơ sở chính có 2 kho lưu giữ đã được nâng cấp để lưu giữa thức ăn, lưới và một nhà làm văn phòng, phòng ăn, nhà tắm và 2 phòng ngủ

Vùng nuôi trên biển và cơ sở trên bờ đã được tỉnh Khánh Hòa cho thuê miến phí đến hết năm 2017 Sau đó thời gian này, các hợp đồng thuê này có thể sẽ bị hủy bỏ cho mục đích công lớn hơn Ngoài các trường hợp này hợp đồng thuê có chể được gia hạn

Trang 11

Do những điều kiện thuê đất, việc lắp đặt hạ tầng tại vùng nuôi trên biển và cơ sở vệ tinh trên bờ được thiết kế để dễ dàng tháo dỡ, ngoài một khu vực để làm vệ sinh lưới và tàu Tổng đầu tư trang thiết bị, tàu, xe bán tải và công trình xây dựng là khoảng 550,000 USD hoặc 11.55 tỉ VNĐ Chi phí về đầu tư và kinh phí trang thiết bị được đăng trên diễn đàn công nghệ nuôi trồng thủy sản

3 Các hoạt động

Các hoạt động/sản phẩm của trang trại trình diễn theo kế hoạch kinh doanh

3.1 Trang trại trình diễn

Ưu tiên hàng đầu của trang trại trình diễn là việc chứng minh rằng phương pháp tiếp cận nuôi cá biển quy mô công nghiệp là có lợi nhuận và các vấn đề rủi ro có thể được giảm thiểu thông quan quản lý rủi ro

 Trang trại trình diễn

o Các loài nuôi thử nghiệm

o Tính toán kính tế trong sản xuất/ điểm hòa vốn

o Rủi ro và quản lí rủi ro

o Trình diễn và tư liệu minh chứng0

3.1.1 Các loài dự kiến nuôi

Những tiêu chí hội tụ để một loài nuôi đủ điều kiện cho nuôi cá lồng biển quy mô lớn nói chung và cho trang trại trình diễn nói riêng?

Tiêu chí thị trường là nếu bất cứ thứ gì là quan trọng nhất

 Đầu tiên loài đó cần có thị phần lớn

o Nghĩa là: Một thị trường mà không phản ứng tiêu cực nếu được cung cấp một khối lượng hàng hóa lớn 50 tấn trong một chuyến hàng

o Không có loài cá biển nhiệt đới nào có thị trường toàn cầu lớn nhưng nó ít nhất có thị trường trong nước hoặc khu vực Nếu thậm chí không có vùng thị trường, nó sẽ tiêu tốn một nguồn của hoạt động (thời gian và tiền bạc) cho công ty giới thiệu sản phẩm mới trong thị trường không nên được đánh giá thấp yếu tố đó– trừ khi nó là một sản phẩm rất cạnh tranh về giá – tuy nhiên loài cá biển được nuôi không so sánh với loài cá nước ngọt nuôi

 Loài đó nên có phân khúc thị trường thịt cá trắng phù hợp cho kinh doanh hoặc cá tươi ướp đá hoặc một số sản phẩm đông lạnh (khúc, phi lê…) Điều này cũng có nghĩa là loài cá đó phải có giá trị trung bình với chi phí sản xuất thấp để có khả năng thêm chi phí giá trị gia tăng

Trang 12

 Loài nuôi đó nên có các cách tiêu thụ linh hoạt trên thị trường- đa dạng về kích cũng như sản phẩm hoặc có như cầu như sản phẩm sashimi

Chỉ tiêu về sinh học của loài

 Loài đó có chỉ tiêu sinh học phù hợp với nuôi lồng quy mô lớn như bơi tự do và có tập tính sống quần đàn, tốc độ lớn tốt, thích nghi với nguồn thức ăn và chuyển hóa thức ăn tốt

 Loài đó nên có vòng đời khép kín tức là các trại giống có khả năng sản xuất một

số lượng con giống lớn – trong cả năm

 Loài đó ít bị strees và có cấu trúc da không dễ bị xây xước khi khi bắt tay hoặc quá trình xử lý (tránh dể dàng bị nhiễm bệnh)

Không phải bất kì loài cá nhiệt đới nào cũng thực sự đáp ứng được tất cả các chỉ tiêu trên

và tiêu chí lựa chọn loài có thể khác nhau ví dụ vùng Caribe và Đông Nam Á

Trong bối cảnh của Trang trại trình diễn, điều quan trọng là loài nuôi đó đã được biết/có sẵn và dễ dàng được thị trường khu vực/địa phương chấp nhận bởi vì Trang trại trình diễn cần thể hiện các kết quả trong mục tiêu ngăn hạn và không có năng lực tài chính và thời gian để làm quy mô lớn hoặc nỗ lực tiếp thị đầy rủi ro Tương tự như vậy với các mục tiêu, các nhà đầu tư địa phương dễ dàng hơn để đánh giá thành tựu nuôi khi họ cũng đánh gian được tiềm năng thị trường từ kinh nghiệm của chính họ Do đó thực sự có một số loài nuôi được nhắm tới đáp ứng được các sự kết hợp của các yêu tố trên

o Cá cam (Seriola spp) ví dụ cá cam sọc (Seriola dumerili)

o Cá Đù, bao gồm cá mullaway/southern meagre/cob (Argyrosomus japonicus)

o Cá tráp, bao gồm cá tráp (Sparus sarba)

Trang 13

3) Cá ngừ, vây vàng và mắt to (Thunnus albacores và T obesus)

Chỉ có 4 loài đầu tiên sẽ được đề cập chi tiết dưới đây Các loài khác có tiềm năng cho nuôi quy mô lớn nhưng hoặc chưa được thử nghiệm nuôi quy mô lớn ở Việt Nam hoặc thị trường chưa phát triển Do đó những loài đó không được coi là tối ưu cho trang trại trình diễn, nhưng có thể với một nhà đầu tư tư nhân nếu họ đã tính toán được rủi ro trong kinh doanh

Cá chim vây vàng

Cá chim vây vàng là loài được chọn đầu tiên cho trang trại trình diễn với các lý do sau:

2 loài cá chim đã được nuôi ở Đông Nam Á Cá chim vây dài Trachinotus blochiii là một

trong những loài cá bản địa của Đông Nam Á phân bố ở tất cả các vùng từ miền bắc Nhật Bản đến mũi phía nam của Châu Phi và xuống tận Autralia Nó là loài cá nuôi phổ biến

do loài này đẻ trứng quanh năm

Loài vây ngắn (FAO: permit) Trachinotus flacatus được đưa từ vùng biển nhiệt đới Tây

Đại Tây Dương, (Caribe) đến Đài Loai cuối những năm 1980 Không có ghi nhận chính thức nào khi nó được chuyển đến; tuy nhiên có những ghi nhận về con giống được xuất khẩu thường xuyên tới Singapore ít nhất là từ năm 1992 Cá chim vây ngắn thường bị đặt

sai tên La Tinh (ở Trung Quốc) như derbio, Tranchinotus ovantus hoặc T.bailonii tuy

nhiên cả hai loài không được nuôi (và có sự xuất hiện khác nhau) Vây vàng trong từ tiếng anh bản xứ cũng được gọi là cá chim vây vàng (Trung quốc) hoặc cá chim vàng (Malaysia và Singapore) Cá chim vây ngắn là được người nuôi ưa chuộng nhiều ở Đông

Na Á do tốc độ sinh trưởng của loài này nhanh hơn

Một số yếu chỉ tiêu sinh học chủ yếu

Cá trưởng thành sống trong các hang có cát, rạn san hô, ăn động vật thân mềm, cua, tôm

và cá nhỏ; Cá nhỏ thường di chuyển vào bờ hoặc vào các đầm nước lợ trong đó có ít kẻ thù ăn thịt hơn và có nhiều thức ăn hơn Sau đó, cá giống thường được bắt gặp sống thành đàn đặc biệt trong các vùng ảnh hưởng của sóng dọc theo các bãi cát, nơi chúng có thể ăn động vật không xương sống ở đáy do bị xới lên khi có tác động của những đợt sóng Do

đó, cá chim vây vàng là đặc biệt thích nghi với môi trường cát thô và có tốc độ bơi nhanh

và có lớp vảy nhỏ, khỏe điều đó giúp da chúng khó bị phá hủy

Lớp vảy khỏe có thể là một đặc tính nuôi quan trọng giúp chúng ít nhạy cảm cới tác nhân gây bệnh Những đặc tính khác như khả năng chịu biến động độ lớn của độ mặn, nhiệt độ

Trang 14

(150C) Tuy nhiên do chúng có tập tính hoạt động nhiều nên dường như chúng chỉ sinh trưởng khi có hàm lượng oxy cao tức là phụ thuộc vào dòng chảy và nồng độ oxy trong nước, mật độ sinh khối nên dưới 15 kg/ m3 đối với cá lớn và lớn nhất là 5kg đối với cá nhỏ - nhưng thậm chí mật độ sinh khối nên dưới 10 kg/m3 cho cá lớn Nếu theo những khuyến cáo này thì sẽ có tỷ lệ chết thấp, ngoài tỷ lệ tử vong ban đầu khi thả cá ở cỡ 3,5cm (hình 9 và 10) Cá chim vây vàng cũng biết đến như là loài có thành phần thức ăn công nghiệp cần ít bột cá so với các loài cá biển ví dụ cá giò do đó Hiệp hội Đậu tương Hoa Kỳ đã sử dụng cá chim vây vàng như một loài thử nghiệm trong một vài nước Đông Nam Á cho thấy những lợi ích cho việc thay thế bột cá bằng bột đậu tương

Sự khác biệt giữa hai loài

Loài vây dài có tốc độ lớn chậm hơn một chút (1-2 tháng) so với loài vây ngắn nếu cỡ cá thương phẩm là 500 – 600 g Điều này không quan trọng ở vùng biển nhiệt đới Nha Trang hoặc Đài Loan nhưng trong vùng biển cận nhiệt đới của Trung Quốc đại lục nhiệt

độ thường giảm xuống dưới 15 0

C trong mùa đông nên cá ngừng sinh trưởng Khi những người nuôi nhắm vào cỡ nuôi 500-600 g bán vào Tết nguyên đán/mùa tết, điều đó rất khó đạt được nếu nuôi loài vây dài và thường họ phải bán với cỡ bé hơn 400g Nếu nuôi loài vây ngắn cá đạt cỡ cá ít nhất 500g

Nếu mục tiêu sản xuất cỡ cá lớn hơn cho làm phi-lê như 1-1.5 kg, loài vây ngắn là loài đặc biệt quan trọng ở khu vục biển nhiệt đới Nha Trang vì nó có tốc độ lớn tốt và tỉ lệ FCR tốt hơn ở cỡ cá này Sự khác biệt này cũng dễ dàng thấy được khi nhìn vào sự phát triển của FCR (FCR tỉ lệ chuyển hóa thức ăn, tiêu tốn bao nhiêu kg thức ăn để nuôi được 1kg cá) cao hơn ở loài vây dài so với loài vây ngắn Điều này liên quan tới cỡ cá ở thời điểm phát dục Loài vây ngắn có tuổi phát dục ở khối lượng lớn hơn 4 kg , cỡ cá lớn nhất

có thể là 36 kg, trong khi loài vây dài cớ phát dục là 1,5 kg (25-30 cm) với cỡ cá tối đa là

4 kg Cùng chung với các loài cá khác, về tốc độ sinh trưởng chậm và FCR trở nên cao hơn sau khi thành thục sinh dục

Trang 15

Hình 1: Tỷ lệ tử vong trong năm 2014 của cá chim vây ngắn tại các Trang trại trình diễn

Hình 2: Tỷ lệ tử vong trong năm 2014 của cá chim vây dài tại các Trang trại trình diễn

Ở Hình 11 và 12 dưới đây thể hiện tăng trưởng và FCR cộng dồn trong vụ nuôi 2014 của loài vây ngắn và loại vây dài Do cá chim vây ngắn được lựa chọn thu hoạch từ tháng 2

Trang 16

Mort-(trên 500g), các số liệu tăng trưởng từ tháng 2 năm 2015 không đại điện cho tăng trưởng sinh học thực tế Chỉ có số liệu cá chim vây dài không bị ảnh hưởng với vụ thu hoạch

Để cho các nhà đầu tư tiềm năng thấy sinh trưởng sinh học thực tế của 2 loài, Trang Trại trình diễn đang thực hiện thử nghiệm cả 2 loài được thả cũng thời gian và mỗi loài được cho ăn 3 loại thức ăn có sẵn trên thị trường Trong thí nghiệm này, không thực hiện thu hoạch và do đó số liệu thể hiện tăng trưởng sinh học thực sự và FCR có thể sẽ được sử dụng trong các nghiên cứu khả thi của các công ty trong trường hợp mục tiêu của họ hoặc

là loài hoặc các kích cỡ cá khác nhau so với thí nghiệm của trang trại trình diễn Kết quả của thí nghiệm dự kiến sẽ có cho năm 2016- trong bản cập nhật kế hoạch kinh doanh

Hình 11: Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn tích lũy và tăng trưởng của cá chim vây ngắn nuôi tại trang

trại trình diễn

100 200 300 400 500 600 700 800

Trang 17

Hình 11: Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn tích lũy và tăng trưởng của cá chim vây dài năm 2014 tại

trang trại trình diễn Kích cỡ cá thương phẩm 500-600 g có thể được nuôi trong khoảng 7-10 tháng tùy theo

loài, thời gian thả giống và mức độ cho ăn

Sản xuất cá giống

Cá chim vây dài thực sự là loài cá vùng nhiệt đới và có thể đẻ quanh năm, trong khi cá chim vây ngắn dường như có một khoảng hạn chế sinh sản ở các vùng nhiệt đới, tức là chỉ sinh sản từ tháng Hai đến tháng Tư hàng năm Ở một số nước như Indonesia và Philippines họ chỉ có thể cho đẻ cá chim vây dài, vì cá chim vây ngắn 'phải' nhập từ Đài Loan nơi có nhiệt độ thấp Ở Việt Nam, cả hai loài đều được sản xuất tại các trại sản xuất giống, nhưng cá chim vây ngắn chỉ sinh sản khi có nhiệt độ nước thấp hơn và đôi khi ví

dụ Vũng Tàu cá không đẻ trứng Trong nuôi cá biển công nghiệp, con giống phải có quanh năm và việc mở rộng giai đoạn đẻ trứng là cần thiết đối với cá chim vây ngắn để loài này có được đầy đủ tiềm năng nuôi công nghiệp

50 100 150 200 250 300 350 400 450 500

Trang 18

Hình 3: Cá chim vây ngắn (FAO: permit) Trachinotus falcatus

Hình 4: Cá chim vây dài Trachinotus blochii

Ngoài hạn chế về mùa vụ sinh sản của loài vây ngắn, việc sản xuất giống cá chim không gặp phải khó khăn về cá bộ mẹ thành thục Ở Việt Nam có nhiều trại sản xuất giống cá chim ở Khánh Hòa, Vũng Tàu và khu vực phía bắc có trại ở Hải Phòng và Vinh của RIA1 Hầu hết các trại mua trứng từ các trang trại khác sau đó ấp nở và ương lên cá giống

Trang 19

Hình 5và 16: sản xuất cá giống tại Khanh Hoa

Hầu hết cá giống của Trang trại trình diễn có nguồn gốc từ trại ương của Trường Đại học Nha Trang – Khánh Hòa Trại giống đó sản xuất cả loài vây ngắn và loài vây dài

Với trang thiết bị đơn giản và hạn chế (hình 15, 16) - bao gồm cả hạn chế về nguồn nước

- trại giống trong các hình trên có thể sản xuất 3 đợt cá chim vây ngắn, 11 đợt cá chim vây dài trong 1 năm- và nếu theo nhu cầu mỗi đợt có thể sản xuất lên đến 400,000 con giống cỡ 3,5 cm (1,5 tháng tuổi)

Giá cá giống rất đa dạng- đặc biệt với loài vây ngắn vì vấn đề nguồn cung và nhu cầu thực tế

Trứng của loài vây ngắn được bán với giá 17,000,000 VNĐ/ kg (800 USD) trong khi đó giá trứng loài vây dài là 15,000,000 VNĐ/ kg (700USD) và mỗi 1kg trứng tương đương khoảng 1 triệu trứng

Giá của cá giống đối với loại vây dài 1,110 VND/ cm và cá vây ngăn 1300 đồng/cm với

cỡ cá giống bình thường là 3.5 cm/con

Việc cung cấp cá chim vây là đầy đủ ở Việt Nam trong khi đó nhiều nhà cung cấp cấp và những trang trại lớn chọn nhập khẩu cá giống của loài vây ngắn từ Trung quốc/Đài Loan

Sản lượng sản xuất

Những năm gần đây, dựa vào số liệu thống kê người ta đánh giá không cao tầm quan trọng của cá chim Số liệu thống kê của FAO công bố năm 2013 chỉ có khoảng 55 tấn nhập từ Hongkong và được coi là tổng sản lượng sản toàn cầu, nhưng công bố của FishStatJ tháng 4 năm 2013 cho thấy tầm quan trọng của cá chim trở nên rõ ràng Số liệu

đã được điều chỉnh lại cho năm 2007 bởi vì các thông số đã được làm trong “marine fish

Trang 20

nei” bởi Trung quốc (bảng 1) Tuy nhiên cá chim phải được đánh giá cao do các nước sản xuất chinh không chi tiết sản lượng - bao gồm cả Đài Loan (một nhà sản xuất lớn), Indonesia, Malaysia và Việt Nam Vì vậy sản lượng được ước tính bởi các tác giả có thể

đã vượt qua 150.000 tấn và do đó cá chim có thể là loài cá biển nuôi quan trọng nhất ở Đông Nam Á!

Bảng 1: Sản lượng cá chim nuôi toàn cầu theo số liệu của FAO FishStatJ

Có thể cá nuôi ở vùng Caribe thật sự là loài cá chim Florida bởi loài vây ngắn là không được sản xuất giống ở Châu Mỹ – mặc dù cá chim vây ngắn là loài bản địa và đã chứng

tỏ thành công ở Đông Nam Á Cá chim Florida không có tốc độ phát triển nhanh hoặc kích cỡ lớn; và thường thu hoạch ở cỡ khoảng 500g, FCR và tỉ lệ chết được ghi nhận là quá cao cho sự thành công của loài này Tuy nhiên, giá cá thị trường rất cao trong khi nguồn cung hạn chế

Theo FAO FishStatJ, cá chim sản xuất ở Trung Quốc được đăng kí với tên là Trachinotus

ovatus, đây là nhầm lẫn bởi vì loài này là loài phân bố ở Đông Đại Tây Dương có chút

giống với loài cá chim nhưng chưa được nuôi trồng Có thể sự nhầm lẫn bắt nguồn từ các trại giống Đài Loài cung cấp hàng triệu con giống cho Trung quốc đại lục trong những

năm 1990 Loài vây ngắn có tên là T.falcatus được chuyển đến Đài Loan những năm

1980

Sự tăng trưởng của sản lượng cá chim toàn cầu (bảng 1) là một tín hiệu tích cực cho phát triển thị trường Cá chim có khả năng sản xuất được sản lượng cao hơn cá chẽm châu á, loài nuôi mà hiện nay vẫn được nuôi quy mô lớn ở Đông Nam Á

Trong những năm tới, cá chim vây vàng được dự báo trở thành loài nuôi quan trọng ở Đông Nam Á, bởi vì có sự nuôi sẽ tăng lên đối với cả quy mô lớn và quy mô nhỏ Ở Trung Quôc có một số trang trại đã có báo cáo sản xuất hơn 15,000 tấn/ mỗi trại

Trang 21

Cũng theo ghi nhận của FIS E-mail Newsletter (tháng 7/2013) Cục nghề cá và nguồn lợi thủy sản Philippin (BFAR) đã quyết định phát triển nuôi cá chim vây vàng quy công nghiệp cho xuất khẩu trong vòng 5 năm tới, ghi nhận mức độ chấp nhận cao từ thị trường

Mỹ và Châu Âu Để thực hiện điều này, BFAR sẽ tăng cường hỗ trợ cho các khu vực nuôi cá chim vây vàng như khu 4 A và khu 11

Chất lượng thị trườngg

Kế hoạch kinh doanh này sẽ không trình bày các nghiên cứu đầy đủ về thị trường bởi vì một nghiên cứu về thị trường sẽ được thực hiện với chuyên gia tư vấn bên ngoài, tuy nhiên một số chất lượng thị trường sẽ được trình bày:

Cá chim vây vàng là một loài phổ biển trong khai thác thủy sản nhưng với qui mô nhỏ Trong khu vực này, ước tính có khoảng 5% cá khai thác thuộc họ cá Khế Carangidae, là

cá chim vây vàng, trong khi họ cá khế chiếm khoảng 10-15% sản lượng khai khác ven

bờ Điều đó có nghĩa là thì trường cá chim nuôi có khả năng không bị thách thức bởi cá khai thác từ tự nhiên- như những gì đã xảy ra với cá tuyết đại tây dương

Ngược lại, ở một số thị trường cá chim nuôi đang thay thế một số loài cá đánh bắt tự

nhiên như loài cá chim trắng (Pampus argentus) trong thị trường cá tươi sốngở Trung

quốc, Đài Loan, Malaysia, Singapore Do cá chim trắng không được giữ sống ở thị trường Hàn Quốc cá chim trắng đang được thay thế bằng sản phẩm đông lạnh từ Indonesia Tại Nhật Bản sản phẩm cá chim phile còn da đang thay thế cho các sản phẩm

sashimi của cá Caranx vinctus và đang trở nên đắt đỏ

Chất lượng thịt của 2 loài cá chim là tương tự nhau tuy nhiên theo thông tin cá chim vây ngắn có được ưa chuông ở Trung Quốc còn loại vây dài được ưa chuộng tại Đài Loan Thông tin này không có bất kì trích dẫn nào do đó nó cũng phản ánh loài nào được nuôi phổ biến ở hai khu vực

Các sản phẩm thương mại của cá chim

Tại Đài Loan và Hồng Kong thị trường cá chim vây vàng phát triển trước tiên với việc buôn bán cá sống như loài cá sống có giá trị trung bình nhắm tới các nhà hàng hải sản bình dân cũng như phân khúc thị trường nội địa qua hệ thống siêu thị lớn Đó là một sự thay thế cho cá chim trắng (Pampus argentus) đánh bắt, khó có thể bán ở dạng cá sống

Do đó cá chim vây vàng ở Malaysia, Singpore, Trung Quốc vẫn được gọi là cá chim vàng

Trong những thập kỉ qua, cá chim đã xâm nhập vào thị trường hải sản đông lạnh nội địa trong các nước Đông Nam Á, đó có thể là lý do để phát triển sản lượng cá nuôi (Bảng 1)

Ngày đăng: 15/07/2016, 23:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Bản đồ vịnh Vân Phong, Khánh Hòa nhìn thấy vùng nuôi của dự án - Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1
Hình 1 Bản đồ vịnh Vân Phong, Khánh Hòa nhìn thấy vùng nuôi của dự án (Trang 5)
Hình 2: Vùng biển có diện tích 200 x500m và 1,000m 2   trên bờ - Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1
Hình 2 Vùng biển có diện tích 200 x500m và 1,000m 2 trên bờ (Trang 6)
Hình 3: Sơ đồ của trang trại trình diễn - Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1
Hình 3 Sơ đồ của trang trại trình diễn (Trang 7)
Hình 5: Lồng  60m nuôi cá chim trong lúc cho ăn - Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1
Hình 5 Lồng 60m nuôi cá chim trong lúc cho ăn (Trang 8)
Hình 7: Cơ sở vật chất ở vùng trên bờ - Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1
Hình 7 Cơ sở vật chất ở vùng trên bờ (Trang 9)
Hình 8: Tàu sắt với cần cẩu thủy lực được đòng tại nhà máy đóng tàu Nha Trang - Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1
Hình 8 Tàu sắt với cần cẩu thủy lực được đòng tại nhà máy đóng tàu Nha Trang (Trang 10)
Hình 1: Tỷ lệ tử vong trong năm 2014 của cá chim vây ngắn tại các Trang trại trình diễn - Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1
Hình 1 Tỷ lệ tử vong trong năm 2014 của cá chim vây ngắn tại các Trang trại trình diễn (Trang 15)
Hình 11: Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn tích lũy và tăng trưởng của cá chim vây dài năm 2014 tại - Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1
Hình 11 Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn tích lũy và tăng trưởng của cá chim vây dài năm 2014 tại (Trang 17)
Hình 3: Cá chim vây ngắn (FAO: permit) Trachinotus falcatus. - Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1
Hình 3 Cá chim vây ngắn (FAO: permit) Trachinotus falcatus (Trang 18)
Hình 4: Cá chim vây dài Trachinotus blochii - Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1
Hình 4 Cá chim vây dài Trachinotus blochii (Trang 18)
Hình 5và 16: sản xuất cá giống tại Khanh Hoa - Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1
Hình 5v à 16: sản xuất cá giống tại Khanh Hoa (Trang 19)
Hình  6: Cá chim vây dài, tươi ở chợ ban buôn tại Đài Bắc, Đài Loan. Ghí chú: bụng cá - Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1
nh 6: Cá chim vây dài, tươi ở chợ ban buôn tại Đài Bắc, Đài Loan. Ghí chú: bụng cá (Trang 22)
Hình 7:  Cá chim vây dài sản xuất tại Vịnh  Sarangani, Mindanao, Philippines. Round fish – - Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1
Hình 7 Cá chim vây dài sản xuất tại Vịnh Sarangani, Mindanao, Philippines. Round fish – (Trang 23)
Hình 20: Cá Hồng Mỹ sống tại nhà hàng Hải sản Ngoại ô ở Shenzhen, Trung quốc - Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1
Hình 20 Cá Hồng Mỹ sống tại nhà hàng Hải sản Ngoại ô ở Shenzhen, Trung quốc (Trang 29)
Hình 21: Cá giò – Rất có thể được nuôi bằng cá tạp - Kế hoạch kinh doanh của trang trại nuôi cá biển công nghiệp - RIA1
Hình 21 Cá giò – Rất có thể được nuôi bằng cá tạp (Trang 31)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w