BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC ADR TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC
(ADR) TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC
(ADR) TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tất cả sự kính trọng và tình cảm chân thành sâu sắc nhất, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới GS.TS Hoàng Thị Kim Huyền và PGS.TS Trần Văn Tuấn - người cô, người thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên, khích lệ và truyền đạt cho em những kiến thức quí báu trong nghiên cứu khoa học và trong cuộc sống
Em xin cảm ơn Ban Giám Hiệu trường đại học Dược Hà Nội, Ban giám đốc Trung tâm Thông tin thuốc và phản ứng có hại Quốc gia và Ban giám đốc Bệnh viện đ khoa trung ương Thái Nguyên đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho hoàn thành luận văn thạc sĩ
Cuối cùng tôi xin dành tất cả tình yêu thương và lòng biết ơn sâu nặng tới bố mẹ, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên và tiếp thêm nghị lực để tôi vững bước trên con đường học tập và nghiên cứu khoa học
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 3 tháng 5 năm 2016
Học viên Nguyễn Thị Thùy Dương
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 2
1.1.CẢNH GIÁC DƯỢC VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG THEO DÕI AN TOÀN CỦA THUỐC 2
1.1.1.Định nghĩa cảnh giác dược 2
1.1.2.Các biến cố có hại liên quan đến sử dụng thuốc 2
1.1.3.Hệ thống Cảnh giác dược tại Việt Nam 5
1.2.GIÁM SÁT PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC TRONG BỆNH VIỆN 8 1.2.1.Các đối tác tham gia giám sát phản ứng có hại của thuốc 8
1.2.2.Các phương pháp theo dõi phát hiện ADR 9
1.3 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO ADR 10
1.4 NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ THỰC HÀNH CỦA CÁN BỘ Y TẾ TRONG HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO ADR 11
1.5 TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN 12
PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2 Địa điểm – thời gian nghiên cứu 14
2.3 Phương pháp nghiên cứu 14
2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu 15
2.4.1 Phân tích hoạt động báo cáo ADR 15
2.4.2 Phân tích thực trạng nhận thức, thái độ, thực hành báo cáo ADR của cán bộ y tế trong hoạt động báo cáo ADR 17
2.5 Xử lý số liệu 18
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19
3.1 Phân tích hoạt động báo cáo ADR của bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên thông qua báo cáo gửi tới Trung tâm DI&&ADR Quốc gia giai đoạn 2011 – 2015 19
3.1.1 Thông tin về báo cáo 19
3.1.2 Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR 23
3.1.3 Thông tin về ADR 26
Trang 53.1.4 Đánh giá chất lượng báo cáo ADR của bệnh viện đa khoa trung ương
Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2015 29
3.2 Phân tích thực trạng nhận thức, thái độ, thực hành báo cáo ADR của cán bộ y tế và một số yếu tố liên quan đến hoạt động báo cáo ADR 31
3.2.1 Thông tin về cán bộ y tế được khảo sát 31
3.2.2 Nhận thức, thái độ của cán bộ y tế đối với hoạt động giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) 32
3.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động báo cáo ADR 41
3.2.4 Các biện pháp cải thiện hoạt động báo cáo ADR 41
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 43
4.1 Bàn luận về hoạt động báo cáo ADR của bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên thông qua báo cáo gửi tới Trung tâm DI&&ADR Quốc gia giai đoạn 2011 – 2015 43
4.1.1 Thông tin về báo cáo ADR 43
4.1.2 Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR 45
3.1.3 Thông tin về ADR 46
4.2 Bàn luận về nhận thức, thái độ và thực hành của cán bộ y tế trong hoạt động báo cáo ADR 48
4.2.1 Nhận thức, thái độ của cán bộ y tế đối với hoạt động giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) 48
4.2.2 Các biện pháp cải thiện hoạt động báo cáo ADR 50
KẾT LUẬN – ĐỀ XUẤT 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Phụ lục 1: SỔ THEO DÕI PHẢN ỨNG BẤT LỢI CỦA THUỐC (ADR) 8
QUY TRÌNH GIÁM SÁT ADR TẠI BỆNH VIỆN 8
Phụ lục 2 3
PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 3
PHỤ LỤC 3 10
PHỤ LỤC 4 18
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Số lượng và tỷ lệ báo cáo ADR nghiêm trong giai đoạn 2011 – 2015 20
Bảng 3.2 Đối tượng tham gia báo cáo ADR 22
Bảng 3.3 Các khoa phòng tham gia báo cáo ADR 22
Bảng 3.4 Lý do sử dụng thuốc nghi ngờ gây ADR phân loại theo ICD – 10 23
Bảng 3.5 Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng thuốc 25
Bảng 3.6 Các họ dược lý được báo cáo nhiều nhất 25
Bảng 3.7 Phân loại ADR theo tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng 26
Bảng 3.8 Các cặp thuốc-biểu hiện ADR được ghi nhận nhiều nhất 27
Bảng 3.9 Các ADR là shock hoặc phản ứng phản vệ 27
Bảng 3.10 Kết quả quy kết mối liên quan giữa thuốc nghi ngờ và ADR 28
Bảng 3.11 Phân loại mức độ nặng của ADR 29
Bảng 3.12 Điểm chất lượng báo cáo trung bình của bệnh viện ĐKTƯ Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2015 29
Bảng 3.13 Các thông tin bị thiếu trong báo cáo ADR 31
Bảng 3.14 Đặc điểm đối tượng tham gia khảo sát 32
Bảng 3.15 Nhận thức về sự an toàn của thuốc 32
Bảng 3.16 Tỷ lệ cán bộ y tế nhận thức đầy đủ về định nghĩa ADR 33
Bảng 3.17 Nhận thức về nguyên nhân gây ADR 33
Bảng 3.18: Tỷ lệ cán bộ y tế coi báo cáo ADR là trách nhiệm của mình 34
Bảng 3.19 Tỷ lệ cán bộ y tế coi báo cáo ADR là quan trọng 34
Bảng 3.20 Lý do cán bộ y tế cho rằng việc báo cáo ADR là quan trọng 35
Bảng 3.21 Nhận thức về các trường hợp ADR cần báo cáo 36
Bảng 3.22 Tỷ lệ cán bộ y tế đã gặp ADR 37
Bảng 3.23 Cách xử lý của cán bộ y tế khi gặp ADR 37
Bảng 3.24 Tỷ lệ cán bộ y tế đã báo cáo ADR 38
Bảng 3.25 Nơi cán bộ y tế lấy mẫu báo cáo ADR 38
Bảng 3.26 Thời gian thực hiện báo cáo ADR 39
Bảng 3.27 Nơi cán bộ y tế gửi báo cáo ADR 39
Trang 7Bảng 3.28 Những khó khăn mà cán bộ y tế gặp phải khi báo cáo ADR 40
Bảng 3.29 Các lý do khiến cán bộ y tế chưa báo cáo ADR 40
Bảng 3.30 Quy trình hướng dẫn báo cáo ADR của bệnh viện/khoa dược/khoa phòng điều trị 41 Bảng 3.31 Các biện pháp cải thiện số lượng và chất lượng báo cáo ADR 41
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Số lƣợng báo cáo ADR của bệnh viện đa khoa trung ƣơng Thái
Nguyên giai đoạn 2011 – 2015 19 Hình 3.2 Thời gian trì hoãn báo cáo ADR của bệnh viện ĐKTƢ Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2015 21 Hình 3.3: Đánh giá chất lƣợng báo cáo ADR của BV ĐKTƢ Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2015 30
Trang 9DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ADR : Phản ứng có hại của thuốc
BV : Bệnh viện
CBYT : Cán bộ y tế
DI&ADR : Thông tin thuốc và phản ứng có hại
ĐKTƢ : Đa khoa trung ƣơng
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc là con dao hai lưỡi Bên cạnh những lợi ích trong việc phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh của thuốc thì những phản ứng bất lợi của thuốc luôn là một thách thức cho các nhà điều trị Những phản ứng này ảnh hưởng đến quá trình điều trị bệnh, thậm chí có thể gây tử vong cho bệnh nhân Trên Thế giới đã có nhiều nghiên cứu chứng minh mối nguy hại của các phản ứng bất lợi của thuốc ảnh hưởng đến sức khỏe, kinh tế của người bệnh
Tại Việt Nam, một số biện pháp đã được áp dụng nhằm giám sát ADR trong bệnh viện, trong đó hình thức báo cáo ADR tự nguyện là hình thức phổ biến nhất nhờ tính đơn giản và dễ thực hiện Việc thu thập ADR cũng đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Y tế ban hành Vấn đề nổi cộm nhất trong công tác báo cáo ADR là hiện tượng báo cáo thiếu và báo cáo kém chất lượng Trong hệ thống báo cáo ADR tự nguyện tại Anh có đến 98% biến cố lâm sàng có liên quan đến dùng thuốc là không được báo cáo Một nghiên cứu tại các bệnh viện trọng điểm của Việt Nam (2011-2012) cho thấy có đến 65,5% báo cáo ADR thiếu thông tin [3] Do vậy, việc thúc đẩy báo cáo ADR cả về số lượng cũng như chất lượng là một nhiệm vụ trọng tâm trong công tác Cảnh giác dược, đòi hỏi những biện pháp thích hợp để đảm bảo hiệu quả
Tính tới thời điểm này các nghiên cứu về tình hình báo cáo ADR cũng như nhận thức của cán bộ y tế đối với hoạt động cảnh giác dược tại bệnh viện
đa khoa trung ương Thái Nguyên còn hạn chế, do đó chúng tôi tiến hành đề
tài “Phân tích thực trạng hoạt động báo cáo phản ứng có hại (ADR) của thuốc tại Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2015” với mục tiêu:
1 Phân tích hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên thông qua báo cáo gửi tới Trung tâm DI&ADR Quốc gia giai đoạn 2011 – 2015
2 Phân tích nhận thức, thái độ và thực hành của cán bộ y tế trong hoạt
động báo cáo ADR tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1.CẢNH GIÁC DƯỢC VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG THEO DÕI AN TOÀN CỦA THUỐC
1.1.1.Định nghĩa cảnh giác dược
Cảnh giác Dược (Pharmacovigilance), theo Tổ chức Y tế thế giới được định nghĩa là: “Môn khoa học và những hoạt động chuyên môn liên quan đến việc phát hiện, đánh giá, hiểu và phòng tránh tác dụng có hại hoặc các vấn đề khác liên quan đến thuốc”, là thành phần chủ đạo trong công tác theo dõi hiệu quả của thuốc, thực hành lâm sàng và các chương trình y tế công cộng [61] [66]
1.1.2.Các biến cố có hại liên quan đến sử dụng thuốc
1.1.1.1 Sai sót trong sử dụng thuốc
Sai sót trong sử dụng thuốc được định nghĩa là bất cứ biến cố có thể phòng tránh được nào gây ra hoặc dẫn đến việc sử dụng thuốc không hợp lý hoặc gây tác hại cho bệnh nhân trong khi việc điều trị đang được kiểm soát bởi các cán bộ y tế hoặc bệnh nhân Những biến có này có thể liên quan đến thực hành chuyên môn, thuốc, quy trình, hệ thống, bao gồm kê đơn, trình tự liên hệ, ghi nhãn sản phẩm, việc đóng gói, ghi danh mục, việc pha chế, phân phối, cấp phát thuốc, sử dụng thuốc, giáo dục bệnh nhân, giám sát bệnh nhân và sử dụng thuốc [67] Sai sót trong
sử dụng thuốc có thể gây ra hoặc không gây ra biến cố có hại của thuốc [27]
Châu Âu đưa ra một định nghĩa về sai sót trong sử dụng thuốc: “Một thất bại không có chủ đích trong quá trình điều trị bằng thuốc dẫn đến hoặc có nguy cơ dẫn đến tổn hại cho bệnh nhân” Định nghĩa này loại trừ các trường hợp dùng quá liều thuốc một cách cố ý, sử dụng off lable và lạm dụng thuốc [31] Hướng dẫn thực hành tốt cảnh giác dược (Good Pharmacovigillance Practice Guideline) của Cơ quan dược phẩm châu Âu (European Medicines Agency– EMA) định nghĩa về sai sót liên quan đến thuốc để sử dụng trong việc hệ thống báo cáo ca đơn lẻ ở châu Âu như sau: “Sai sót liên quan đến thuốc là bất cứ sai sót không chủ đích nào trong quá
Trang 12tế, bệnh nhân hoặc người tiêu dùng” [32] Định nghĩa này tập trung vào việc quản lý
và báo cáo biến cố bất lợi đối với sản phẩm y tế và không bao hàm toàn bộ các giai đoạn của quá trình sử dụng thuốc
Hậu quả của sai sót trong sử dụng thuốc: Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy các sai sót trong sử dụng thuốc đã gây ra từ 44 000 đến 98 000 ca tử vong không đáng
có mỗi năm và trên 1 triệu ca tổn thương khác [50] Cũng tại nước này, cơ quan quản lý công bố sai sót trong sử dụng thuốc là loại sai sót điều trị thường gặp nhất, riêng chi phí điều trị phát sinh cho những tổn thương có liên quan đến thuốc xảy ra trong quá trình nằm viện đã lên đến 3,5 tỷ đô-la Mỹ một năm, chưa kể đến thiệt hại
do giảm năng suất lao động và mất thu nhập của bệnh nhân cũng như những chi phí chăm sóc sức khỏe khác Ủy ban này cũng cho rằng các con số trên vẫn còn chưa đầy đủ [45] Trong một nghiên cứu về sai sót trong quá trình dùng thuốc tại Bệnh viện Đại học Aarhus, Đan Mạch đã phát hiện 1065 (43%) sai sót trong 2467 trường hợp có thể có sai sót Trong đó, gần 50% các lỗi trong liều và các quy định trong quá trình dùng thuốc bị gây ra bởi thiếu các bước trong qui định sử dụng thuốc Số lượng các lỗi có thể được giảm bằng cách thay đổi đơn giản các thủ tục hiện hành
hoặc bằng các công nghệ tự động trong quá trình dùng thuốc [41]
Tuy nhiên, theo WHO: “Trong vòng một thập kỷ trở lại đây chúng ta đã nhận
ra rằng các sai sót trong ngành y tế xảy ra không phải do các cán bộ y tế cố ý gây hại cho bệnh nhân, mà là do sự phức tạp của hệ thống quản lý y tế, khi mà kết quả điều trị thành công còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoài năng lực của các cán
bộ y tế.” [68]
Như vậy, sai sót trong sử dụng thuốc có thể phòng tránh được Do vậy việc
dự phòng, giảm thiểu nguy cơ liên quan đến thuốc trở thành mục tiêu quan trọng trong chính sách an toàn thuốc của mỗi quốc gia
1.1.1.2 Phản ứng có hại của thuốc
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 1972 đã đưa ra định nghĩa chính thức về phản ứng có hại của thuốc: “Phản ứng có hại của thuốc là một phản ứng độc hại, không được định trước và xuất hiện ở liều thường dùng cho người để phòng bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc chữa bệnh, hoặc làm thay đổi một chức năng sinh lý” Định
Trang 13nghĩa này không bao gồm những phản ứng do dùng sai thuốc, dùng sai liều, dùng liều cao, có chủ định hoặc vô tình [12], [44], [58], [63]
Hậu quả: Phản ứng có hại của thuốc (ADR) là lý do được báo cáo nhiều nhất trong số những biến cố có hại của thuốc trong thời gian nằm viện, với tỷ lệ gần 20% [39], [43] Tần suất xuất hiện ADR trong 6 tháng tại Bệnh viện Hoàng gia Liverpool, vương quốc Anh là 20%, với hậu quả 73% tổn thương nhẹ, 25% tổn thương trung bình, 2% tổn thương nặng, 0,2% tử vong Tại Mỹ hàng năm có 2,2 triệu ca ADR nặng trong những bệnh nhân nội trú tại Mỹ, trong đó có 106000 ca tử vong Gần 20% bệnh nhân nội trú trải qua ít nhất một ADR trong thời gian nằm viện, trong số này có đến trên 14% chịu hậu quả là tàn tật nghiêm trọng [24], [39]
1.1.1.3 Vấn đề về chất lượng thuốc
Thuốc kém chất lượng được chia thành hai loại: Thuốc không đạt tiêu chuẩn (không thỏa mãn về một trong các chỉ tiêu chất lượng về thành phần, độ tinh khiết hoặc các thông số dược học khác, không có mục đích lừa đảo) và thuốc giả (không
có dược chất, có dược chất không đúng hàm lượng, dược chất khác với dược chất ghi trên nhãn, mạo tên, kiểu dáng của thuốc đã đăng kí bảo hộ, có ý đồ lừa đảo) [6]
Mức độ của vấn đề chất lượng thuốc rất đáng kể và rất khó đánh giá WHO ước tính là có đến 10% dược phẩm thương mại trên thế giới – 25% là ở các nước đang phát triển – bao gồm thuốc giả [46], trong khi đó lên đến 25% của tất cả các loại thuốc được tiêu thụ tại các nước nghèo được cho là giả hoặc kém chất lượng, theo số liệu từ thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) [48] Đã có báo cáo về các loại thuốc không đạt tiêu chuẩn/giả trong gần như tất cả các loại kháng sinh bao gồm thuốc kháng sinh và các thuốc dùng để điều trị bệnh lao, sốt rét và HIV/AIDS Ở các nước đang phát triển, kháng sinh và các nhóm chống ký sinh trùng là các thuốc thiết yếu nhất, lại có tỉ lệ làm giả nhiều nhất Nhóm dược lý khác được báo cáo với tần số gần như bằng nhau Số báo cáo về thuốc kháng sinh giả cao gấp 8 – 10 lần và báo cáo về thuốc chống ký sinh trùng giả cao gấp 2 – 3 lần các so với các nhóm thuốc khác [53]
Hậu quả của vấn đề chất lượng thuốc: Thuốc kém chất lượng có thể làm
Trang 14những điều này có thể gây hại cho người bệnh (thông qua việc kéo dài thời gian bị bệnh hay mắc các bệnh do thuốc gây ra) [37] Thậm chí thuốc giả có thể gây tử vong số lượng lớn chẳng hạn như sự cố lớn nhất liên quan đến 2500 trường hợp tử vong ở Niger vào năm 1995 từ một chủng ngừa viêm màng não giả [60]
1.1.1.4 Sự cần thiết của cảnh giác dược
Phase I đến phase III của thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trên một số lượng bệnh nhân hạn chế (vài nghìn người), con số này rất nhỏ để có thể phát hiện
ra các ADR không thườn g gặp hoặc hiếm (tỉ lệ 1/10000), ngay cả khi chúng ở mức
độ nghiêm trọng Mặt khác, các thử nghiệm lâm sàng thường chỉ được tiến hành trên những đối tượng được chọn lựa và trong những điều kiện theo dõi nghiêm ngặt Trong khi đó, một khi thuốc được đưa ra thị trường, nó sẽ được sử dụng trên những nhóm đối tượng khác nhau, bao gồm những nhóm đối tượng có nguy cơ cao vàchưa được kiểm chứng an toàn trong các giai đoạn thử nghiệm do nguyên nhân đạo đức như: người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ có thai, bệnh nhân suy gan, suy thận,…và được sử dụng trong rất nhiều các điều kiện khác nhau Điều này có thể làm xuất hiện những phản ứng có hại (ADR) chưa được biết đến của thuốc trong các giai đoạn nghiên cứu trước đó Vì thế, các khảo sát ở giai đoạn sau khi thuốc được đưa ra thị trường, khi thuốc được sử dụng trên một số lượng rất lớn bệnh nhân,
sẽ cung cấp rất nhiều thông tin quan trọng về tính an toàn của thuốc
Mục đích của Cảnh giác Dược là để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và tăng cường sử dụng thuốc hợp lý thông qua việc thu thập, đánh giá và truyền thông các nguy cơ và lợi ích một cách hiệu quả, kịp thời Từ đó, giúp các cấp quản lý khác nhau trong hệ thống y tế đưa ra quyết định cần thiết
1.1.3.Hệ thống Cảnh giác dược tại Việt Nam [5]
Trang 15theo dõi và báo cáo cho người phụ trách cơ sở, cơ quan có thẩm quyền quản lý thuốc về các phản ứng có hại của thuốc”; “trong quá trình lưu hành thuốc, cơ sở sản xuất, phân phối thuốc phải theo dõi, báo cáo cho người phụ trách cơ sở và cơ quan
có thẩm quyền quản lý thuốc các phản ứng có hại của thuốc do cơ sở mình sản xuất, phân phối”
Đề án Quản lý nhà nước về Dược phẩm, An toàn vệ sinh thực phẩm, Mỹ phẩm giai đoạn 2006-2015 ban hành theo Quyết định số 154/2006/QĐ-TTg ngày 30 tháng 06 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ cũng nêu rõ cần “củng cố, kiện toàn
và đầu tư nâng cấp về tổ chức, cơ sở vật chất và trang thiết bị cho 2 trung tâm thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc tại thành phố Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh Thành lập 3 Trung tâm khu vực tại miền núi phía Bắc, Đà Nẵng và Cần Thơ”
Chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm
2020 và tầm nhìn đến năm 2030 ban hành theo Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ cũng nhấn mạnh quan điểm “Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả; đẩy mạnh hoạt động Dược lâm sàng và Cảnh giác dược” gắn liền với giải pháp “Tiếp tục hoàn thiện và triển khai tiêu chuẩn thực hành tốt kê đơn thuốc, thực hành tốt nhà thuốc và các chính sách liên quan đến hoạt động cảnh giác dược, thông tin, quảng cáo thuốc”
Trên thực tế, hoạt động liên quan đến Cảnh giác dược và giám sát tính an toàn của thuốc đã được triển khai tại Việt Nam từ năm 1994 trong khuôn khổ dự án SIDA “Hỗ trợ hệ thống quản lý Dược” do chính phủ Thụy Điển tài trợ Năm 1999, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Trung tâm giám sát thuốc toàn cầu Uppsala của Tổ chức Y tế Thế giới (Trung tâm WHO – UMC) Năm 2009, sự ra đời của Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc
đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hoạt động Cảnh giác dược tại Việt Nam Năm 2011, Trung tâm khu vực về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc bệnh viện Chợ Rẫy được thành lập Những đơn vị chuyên môn này cùng với Cục Quản lý dược, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh
Trang 161.1.3.2 Nhiệm vụ của hệ thống Cảnh giác dược Việt Nam
1 Thu thập và quản lý các báo cáo về các vấn đề liên quan đến tính an toàn của thuốc bao gồm: báo cáo phản ứng có hại của thuốc, báo cáo về sai sót liên quan đến thuốc và báo cáo nghi ngờ thuốc giả, thuốc kém chất lượng
2 Phối hợp các hoạt động khác liên quan đến thu thập báo cáo về các biến cố bất lợi của thuốc (từ chương trình tiêm chủng và các chương trình y tế quốc gia khác, các thử nghi ệm lâm sàng) và các hoạt động giám sát chủ động về biến cố bất lợi của thuốc
3 Phát hiện, thông báo kịp thời và xử lý tín hiệu về tính an toàn của thuốc (những biến cố bất lợi chưa biết hoặc chưa được mô tả đầy đủ liên quan đến một thuốc hoặc nhiều thuốc phối hợp)
4 Cung cấp thông tin về các biến cố bất lợi xảy ra liên quan tới chất lượng thuốc và hỗ trợ công tác quản lý chất lượng thuốc
5 Phát hiện và góp phần giảm thiểu các sai sót trong kê đơn, sao chép y lệnh, cấp phát và sử dụng thuốc
6 Đánh giá nguy cơ và quản lý nguy cơ liên quan đến thuốc
7 Truyền thông có hiệu quả các vấn đề an toàn thuốc bao gồm cả việc bác bỏ những thông tin sai lệch về độc tính của thuốc
8 Củng cố và phát triển hoạt động thông tin thuốc Cập nhật thông tin có được
từ hệ thống Cảnh giác dược vào các chính sách thuốc quốc gia, dược thư quốc gia và các hướng dẫn điều trị 33 CHƯƠNG 1 để mang lại lợi ích cho người bệnh và cộng đồng
1.1.3.3 Phạm vi hoạt động
Hoạt động Cảnh giác dược tại Việt Nam hiện nay tập trung vào việc theo dõi các vấn đề liên quan đến tính an toàn của thuốc, bao gồm thuốc hóa dược, vắc xin, sinh phẩm y tế dùng trực tiếp trên người, thuốc y học cổ truyền và thuốc có nguồn gốc dược liệu Các vấn đề liên quan đến tính an toàn của thuốc bao gồm phản ứng
có hại của thuốc, sai sót liên quan đến thuốc, các vấn đề về chất lượng thuốc (thuốc giả, thuốc kém chất lượng) Một số vấn đề khác liên quan đến thuốc như tính an
Trang 17toàn khi sử dụng thực phẩm chức năng và thiết bị y tế không nằm trong phạm vi của hướng dẫn này
1.2.GIÁM SÁT PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC TRONG BỆNH VIỆN 1.2.1.Các đối tác tham gia giám sát phản ứng có hại của thuốc
1.2.1.1.Hội đồng thuốc và điều trị
Theo WHO, một trong những chức năng của Hội đồng Thuốc và Điều trị là bảo đảm an toàn thuốc thông qua công tác theo dõi, đánh giá, trên cơ sở đó ngăn ngừa các ADR và sai sót trong điều trị Theo đó, Hội đồng Thuốc và Điều trị có trách nhiệm xử trí các ADR, gồm giám sát, đánh giá, báo cáo, xác định vấn đề và ngăn ngừa [36], [39]
Tại Việt Nam, Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị trong thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/2013 Trong thông
tư này, một trong những nhiệm vụ của đơn vị này là giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) và các sai sót trong điều trị, được quy định tại điều 8 Theo đó, hội đồng có những trách nhiệm sau:
- Xây dựng quy định phát hiện, đánh giá, xử trí, dự phòng ADR và các sai sót trong chu trình sử dụng thuốc tại bệnh viện từ giai đoạn chẩn đoán, kê đơn của thày thuốc, chuẩn bị và cấp phát thuốc của dược sĩ, thực hiện y lệnh và hướng dẫn sử dụng của điều dưỡng, sự tuân thủ điều trị của người bệnh nhằm bảo đảm an toàn cho người bệnh trong quá trình điều trị;
- Tổ chức giám sát ADR, ghi nhận và rút kinh nghiệm các sai sót trong điều trị trong bệnh viện;
- Triển khai hệ thống báo cáo ADR trong bệnh viện;
- Thông tin cho cán bộ y tế trong bệnh viện về ADR, sai sót trong sử dụng thuốc để kịp thời rút kinh nghiệm chuyên môn
- Cập nhật, bổ sung, sửa đổi danh mục thuốc của bệnh viện, hướng điều trị
và các qui trình chuyên môn khác dựa trên thông tin về ADR và sai sót trong sử dụng thuốc ghi nhận được tại bệnh viện
Trang 181.2.1.2.Khoa dược
Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10/06/2011 Quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện Theo quy định của thông tư này, trong các nhiệm vụ của khoa Dược có các nhiệm vụ thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về
sử dụng thuốc, tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi, báo cáo, thông tin liên quan đến tác dụng không mong muốn của thuốc và bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc "Thực hành tốt bảo quản thuốc"
Những nhiệm vụ này có liên quan trực tiếp đến việc tổ chức và qui trình hoạt động cảnh giác dược, trong đó khoa Dược là đơn vị đầu mối tổ chức triển khai các hoạt động này
1.2.1.3.Cán bộ y tế
Theo WHO, các cán bộ y tế có điều kiện tốt nhất để báo cáo các nghi ngờ về một ADR xảy ra ở bệnh nhân Tất cả cán bộ tham gia vào hệ thống chăm sóc sức khỏe đều tham gia báo cáo các ADR như một phần trong trách nhiệm chuyên môn của mình, ngay cả khi ADR bị nghi ngờ chưa có mối quan hệ rõ ràng với việc điều trị [56]
Điều 51, Luật Dược quy định: “Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cán bộ, cán bộ
y tế có trách nhiệm theo dõi và báo cáo cho người phụ trách cơ sở, cơ quan có thẩm quyền quản lý thuốc về các phản ứng có hại của thuốc” [21]
Thông tư 31 của Bộ Y tế ban hành ngày 20/12/2012 về hướng dẫn hoạt động dược lâm sàng trong bệnh viện quy định: Một trong những nhiệm vụ của dược sĩ lâm sàng là theo dõi, giám sát ADR và là đầu mối báo cáo các ADR tại đơn vị theo quy định hiện hành Tại khoa lâm sàng, dược sĩ lâm sàng ngoài xem xét các thuốc được kê đơn cho người bệnh về chỉ định, chống chỉ định… còn phải xem xét đến các ADR của thuốc [8]
1.2.2.Các phương pháp theo dõi phát hiện ADR
Có nhiều phương pháp dịch tễ đã được áp dụng trong Cảnh giác Dược để theo dõi và phát hiện những tín hiệu ADR mới Các thiết kế nghiên cứu trong dịch
Trang 19tễ dược học có thể được phân thành ba nhóm: “hình thành giả thuyết” (hypothesis – generation), “kiểm định giả thuyết” (hypot hesis – testing) và kết hợp hai loại trên
Hiện nay, Cảnh giác Dược áp dụng nhiều phương pháp dịch tễ học để phát hiện và theo dõi ADR Trong đó, báo cáo tự nguyện vẫn là phương pháp được áp dụng phổ biến và chủ đạo trên thế giới [9], [35], [49]
“Hệ thống báo cáo tự nguyện là hệ thống thu thập các báo cáo đơn lẻ về phản ứng có hại của thuốc và các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc, được các cán bộ y
tế cũng như các công ty sản xuất kinh doanh dược phẩm báo cáo một cách
tự nguyện về cơ quan có thẩm quyền quản lý về các phản ứng có hại của thuốc” [52], [55] Việc thu thập thông tin từ các báo cáo ADR tự nguyện giúp quy kết mối quan hệ giữa thuốc nghi ngờ và phản ứng xảy ra, từ đó giúp cơ quan quản lý đưa ra được quyết định phù hợp [53] Báo cáo tự nguyện về các ADR nghi ngờ đặc biệt có ích khi phát hiện những phản ứng hiếm và chậm do hệ thống có khả năng theo dõi trong suốt vòng đời của thuốc [55] Vì vậy việc báo cáo ADR trong bệnh viện đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát hiện các ADR của thuốc mới được đưa vào sử dụng, các ADR nghiêm trọng, các ADR có thể được phát hiện sớm [60]
Nguồn cung cấp báo cáo tự nguyện quan trọng nhất là các cán bộ y tế, bên cạnh đó những báo cáo từ bệnh nhân đang được nhiều quốc gia khuyến khích dù có những quan ngại về chất lượng của báo cáo ADR đến từ nguồn này Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định nhờ các hoạt động tăng cường Cảnh giác Dược cho cán bộ y tế trong bệnh viện như đào tạo tập huấn, cung cấp thông tin thuốc, phản hồi báo cáo… mà số lượng cũng như chất lượng báo cáo ADR đã ghi nhận cải thiện tích cực [28], [33], [42], [56]
1.3 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO ADR
Một hệ thống báo cáo ADR tự nguyện hoạt động có hiệu quả khi đảm bảo 2 yếu tố: số lượng và chất lượng báo cáo Hiện tượng số lượng báo cáo ít hơn thực tế
và chất lượng báo cáo thấp là một thách thức lớn của hệ thống báo cáo ADR tự nguyện ở khắp nơi trên thế giới
Trang 20Ở phạm vi mỗi báo cáo đơn lẻ, chất lượng báo cáo ảnh hưởng tới việc đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa thuốc và phản ứng xảy ra Khi số lượng báo cáo tăng lên, chất lượng mỗi báo cáo sẽ ảnh hưởng tới kết quả kết quả phân tích cơ sở dữ liệu sau này, bao gồm cả việc phát hiện tín hiệu
Vấn đề quản lý chất lượng nói chung đã được đặt ra là nhiệm vụ quan trọng của Cảnh giác dược và Dịch tễ dược học Trên thế giới, một số công cụ đã được đề xuất để đánh giá chất lượng các báo cáo tự nguyện về phản ứng có hại của thuốc đó là: phương pháp đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới và trung tâm giám sát UMC (Uppsala Monitoring Centre) với 3 phiên bản 1996, 2012, 2013 Ngoài ra, mỗi trung tâm Cảnh giác dược quốc gia lại có phương pháp thẩm định chất lượng báo cáo ADR riêng phù hợp với mô hình, đặc điểm ADR của từng quốc gia
Mỗi phương pháp đều có ưu điểm và hạn chế nhất định Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới và trung tâm giám sát UMC (Uppsala Monitoring Centre) năm 2013 (vigiGrade), đây là thang điểm có tính toàn diện cao, đơn giản trong thực hiện và tương đối phù hợp với đặc thù cơ sở dữ liệu của Việt Nam Áp dụng VigiGrade, báo cáo đã được đánh giá
sự đầy đủ các thông tin cần thiết để quy kết thành phản ứng có hại, cững như mức
độ hợp lý trong các thông tin báo cáo [1]
1.4 NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ THỰC HÀNH CỦA CÁN BỘ Y TẾ TRONG HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO ADR
Hạn chế trong nhận thức về tầm quan trọng của Cảnh giác Dược: Mặc dù đã được triển khai rộng rãi tại nhiều quốc gia, tại Việt Nam hoạt động báo cáo ADR đã thực hiện nhiều năm nay, vẫn còn bộ phận những cán bộ y tế chưa hiểu đầy đủ định nghĩa về ADR [20] Một số khác có tâm lý e ngại bị liên lụy hoặc bị quy kết trách nhiệm vì việc báo cáo của mình và vì vi phạm tính bảo mật bệnh án của bệnh nhân [26] Nhận thức của cán bộ y tế còn chưa đầy đủ về các trường hợp cần báo cáo ADR như chú trọng vào các ADR nghiêm trọng mà không báo cáo các ADR nhẹ [11], [20], các ADR đã được biết quá rõ [20]
Trang 21Khó khăn trong thực hành: Công tác đào tạo tập huấn về Cảnh giác Dược ở nhiều quốc gia vẫn chưa được triển khai rộng rãi đến nhân viên y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh Nhiều nơi nhân viên y tế không biết cách điền thông tin vào báo cáo và không biết gửi báo cáo ADR tới đâu [26]; Việc sử dụng thuốc trên một bệnh nhân nằm viện thường phức tạp dẫn đến khó xác định thuốc nghi ngờ gây ADR và khó xác định mức độ nghiêm trọng của phản ứng là lý do khiến nhiều cán bộ y tế chưa báo cáo ADR [11], [13], hoặc việc báo cáo ADR không ảnh phác đồ điều trị [20]
1.5 TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI
NGUYÊN [2]
Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên là bệnh viện đa khoa tuyến trung ương Năm 2015 bệnh viện được Bộ Y tế giao chỉ tiêu 969 giường kế hoạch, bệnh viện thực kê 1230 giường, công suất sử dụng giường bệnh tính theo giường kế hoạch đạt 115,1%, mặc dù số lượng bệnh nhân đông nhưng bệnh viện đảm bảo không có người bệnh nằm ghép sau 24 giờ Tổng số lượt bệnh nhân khám là 284.396 lượt/người/năm, bệnh nhân Bảo hiểm Y tế chiếm 47,3%, so với 2014 là 58,3% Tổng số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 46.461, đạt 118,7 % kế hoạch, ngày điều trị trung bình 8,7 ngày/lượt bệnh nhân Tổng số điều trị ngoại trú là 36.964 lượt
Năm 2015 Khoa Dược tổ chức 2 lớp tập huấn sử dụng thuốc cho bác sĩ và điều dưỡng, thực hiện giám sát sử dụng thuốc ở 12 khoa, đã phát hiện và xử lí kịp thời 22 trường hợp sử dụng kháng sinh chưa hợp lý, 1 trường hợp ghi sai danh pháp, 5 trường hợp liều dùng thuốc và 5 trường hợp thời điểm dùng thuốc chưa hợp lý… Tổ chức ghi nhận và báo cáo 21 trường hợp ADR gửi về Trung tâm ADR Quốc gia
Khoa dược bệnh viện đã xây dựng được "qui trình giám sát ADR tại bệnh viện", là một phần trong "sổ theo dõi phản ứng bất lợi của thuốc (ADR)" (phụ lục 1), được ban giám đốc bệnh viện ký quyết định yêu cầu thực hiện tới các khoa lâm
Trang 22Qui trình giám sát ADR tại bệnh viện; Phụ lục 1: Đối tượng bệnh nhân có nguy cơ cao gặp ADR; Phụ lục 2: Thuốc có nguy cơ cao gây ADR; Phụ lục 3: Một số biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng bất thường có thể liên quan đến phản ứng có hại của thuốc; Phụ lục 4: ADR nghiêm trọng; Quy trình giám sát sử dụng thuốc có nguy cơ xuất hiện phản ứng có hại; Mẫu báo cáo ADR của Bộ y tế Sổ theo dõi phản ứng bất lợi của thuốc là tài liệu tham khảo để các bác sĩ, điều dưỡng tại các khoa lâm sàng thực hiện việc giám sát, báo cáo ADR trong bệnh viện
Trang 23PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Tất cả các báo cáo ADR của bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên đã gửi tới trung tâm Thông tin thuốc và Phản ứng có hại Quốc gia giai đoạn
2011 – 2015
- Tất cả các bác sĩ, điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng do bốc thăm ngẫu nhiên để lựa chọn, dược sĩ tại khoa dược của bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Các báo cáo ADR không có thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR
- Tất cả các bác sĩ, điều dưỡng tại khoa lâm sàng, dược sĩ tại khoa dược của bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên không tình nguyện tham gia nghiên cứu
2.2 Địa điểm – thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm DI & ADR Quốc gia và bệnh viện
đa khoa trung ương Thái Nguyên
Thời gian: từ tháng 10/2015 đến tháng 03/2016
2.3 Phương pháp nghiên cứu
1 Mục tiêu 1: Phân tích hoạt động báo cáo ADR của bệnh viện đa khoa
trung ương Thái Nguyên thông qua báo cáo gửi tới Trung tâm DI&&ADR Quốc gia giai đoạn 2011 – 2015
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
Thời gian nghiên cứu: Từ 10/2015 – 2/2016
Phương pháp thu thập số liệu: Hồi cứu dữ liệu từ cơ sở dữ liệu về báo cáo ADR được lưu trữ tại Trung tâm DI & ADR Quốc gia giai đoạn 2011 – 2015
Trang 24Cấu trúc dữ liệu: gồm 3 phần chính thông tin về báo cáo, thông tin về thuốc nghi ngờ, thông tin về ADR Mỗi báo cáo có thể liên quan đến một hay nhiều thuốc với một hay nhiều ADR
2 Mục tiêu 2: Phân tích nhận thức, thái độ và thực hành của cán bộ y tế và
một số yếu tố liên quan đến hoạt động báo cáo ADR tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang không can thiệp thông qua bộ câu hỏi dành cho các đối tượng bác sĩ, điều dưỡng tại các khoa được bốc thăm ngẫu nhiên để lựa chọn khoa lâm sang và dược sĩ tại khoa dược
Cách chọn mẫu (khoa lâm sang) ngẫu nhiên: Viết tên 12 khoa lâm sàng lên
12 phiếu thăm sau đó bốc ngẫu nhiên 7 phiếu chọn ra 7 khoa lâm sàng
Thời gian nghiên cứu: tháng 2 – 3/2016
Phương pháp thu thập số liệu: bộ câu hỏi tự điền (Phụ lục 2)
Bộ câu hỏi được thiết kế bao gồm câu hỏi có nhiều lựa chọn, câu hỏi có/không, câu hỏi thăm dò
Bộ câu hỏi thăm dò bí mật tên người trả lời, không phân biệt giữa các khoa lâm sàng
Bộ câu hỏi được phát ra cho 100% đối tượng nghiên cứu tại 7 khoa lâm sàng (Khoa Tim mạch, Khoa Nội tiết – Hô hấp, Khoa Tiêu hóa – Tiết niệu – Huyết học lâm sang, Khoa Nhi tổng hợp, Khoa Lão khoa và bảo vệ sức khỏe, Khoa Thần kinh, Khoa tâm thần) được lựa chọn ngẫu nhiên bằng cách bốc thăm và khoa Dược
Cấu trúc dữ liệu: gồm 3 phần chính là thông tin về người được phỏng vấn, thông tin về nhận thức và thông tin về thái độ, thực hành của cán bộ y tế trong hoạt động báo cáo ADR
2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.1 Phân tích hoạt động báo cáo ADR
2.4.1.1 Thông tin về báo cáo:
- Số lượng báo cáo ADR của bệnh viện
Trang 25- Tỷ lệ báo cáo nghiêm trọng: các báo cáo ADR nghiêm trọng là các báo cáo
có ADR được phân loại ở mức độ 3 (phản ứng nặng yêu cầu nhập viện hoặc kéo dài thời gian nằm viện) và mức độ 4 (phản ứng gây tử vong hoặc đe dọa tính mạng) theo thang phân loại mức độ nghiêm trọng của ADR của Tổ chức
y tế Thế giới (WHO) [63] (Phụ lục 3)
- Thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR: là thời gian từ khi ADR xảy ra đến khi báo cáo ADR này được gửi về Trung tâm DI&ADR Quốc gia
- Đối tượng tham gia báo cáo ADR: Tỷ lệ báo cáo theo trình độ chuyên môn
- Các khoa phòng tham gia báo cáo ADR
2.4.1.2 Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR
Thuốc nghi ngờ gây ADR được phân loại theo hệ thống phân loại ATC Mã ATC là một hệ thống phân loại mà trong đó các hoạt chất được phân vào những nhóm khác nhay tương ứng với cơ quan hoặc hệ cơ quan mà chúng tác động cũng như những đặc tính điều trị, đặc tính dược lý và đặc tính hóa học của chúng [51]
- Tổng hợp báo cáo ADR theo lý do sử dụng thuốc: Sử dụng phân loại ICD 10 của WHO, lấy đến 3 ký tự [59]
- Các đường dùng thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo
- Các thuốc nghi ngờ được báo cáo nhiều nhất
2.4.1.3 Thông tin về ADR
Biểu hiện ADR được mô tả bằng bộ thuật ngữ WHO-ART 2012 (Adverse Reaction Terminology) [62] Mỗi biểu hiện ADR được chuẩn hóa ở mức PT (Prefered term) và mỗi PT được mã hóa bằng mã SOC (System Organ Classes – mã phân loại tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng) [62]
- Phân loại tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng
- Các biểu hiện ADR được ghi nhận nhiều nhất
- Phân loại theo mức độ nặng của ADR theo thang phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [64]
- Mức quy kết quan hệ nhân quả thuốc – ADR: là kết quả đánh giá của Hội đồng chuyên gia thẩm định theo thang điểm của WHO [69]
Trang 262.4.1.4 Chất lượng báo cáo ADR
Chất lượng báo cáo được đánh giá dựa trên cách tính điểm hoàn thành báo cáo theo thang điểm VigiGrade của hệ thống Documentation grading thuộc Trung tâm theo dõi Uppsala của Tổ chức Y tế thế giới WHO (Trung tâm WHO–UMC) [25]
Cách đánh giá điểm phạt của phương pháp VigiGrade (Phụ lục 4)
Điểm hoàn thành một báo cáo được tính bằng trung bình cộng điểm của các cặp thuốc – ADR trong báo cáo, với điểm hoàn thành báo cáo của một cặp thuốc – ADR được tính theo công thức:
Trong đó: C là điểm hoàn thành báo cáo
Ci điểm của từng cặp thuốc – ADR được tính theo công thức:
Ci = P1 x P2 x … x P9
Pi (P1, P2,…P9) điểm của từng nhóm thông tin Các báo cáo không có thông tin về thuốc nghi ngờ và/hoặc không có thông tin mô tả biểu hiện ADR thì xếp vào nhóm không đủ điều kiện đánh giá (0 điểm)
Điểm của báo cáo tính bằng phương pháp này thấp nhất là 0 và cao nhất là 1 Báo cáo có điểm > 0,8 được coi là báo cáo có chất lượng tốt, báo cáo có điểm ≤ 0,8 được coi là báo cáo có chất lượng kém
2.4.2 Phân tích thực trạng nhận thức, thái độ, thực hành báo cáo ADR của cán
bộ y tế trong hoạt động báo cáo ADR
2.4.2.1 Thông tin về đối tượng được khảo sát
- Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng tham gia khảo sát: giới tính, độ tuổi, trình độ chuyên môn, thời gian công tác
- Tỷ lệ cán bộ chuyên trách về cảnh giác dược
2.4.2.2 Nhận thức của cán bộ y tế về ADR và báo cáo ADR
- Nhận thức về phản ứng có hại của thuốc: đánh giá số lượng cán bộ y tế hiểu đúng về định nghĩa phản ứng có hại của thuốc theo định nghĩa của WHO
Trang 27- Nhận thức về tầm quan trọng của báo cáo ADR: các trường hợp ADR cần báo cáo và lý do việc báo cáo ADR là quan trọng
2.4.2.3 Thái độ và thực hành cáo cáo ADR của cán bộ y tế
- Tỷ lệ cán bộ y tế báo cáo từng gặp ADR, cách xử lý khi gặp ADR
- Tỷ lệ cán bộ y tế đã từng báo cáo ADR, thời gian báo cáo ADR, nơi gửi báo cáo ADR
- Các nguyên nhân khiến cán bộ y tế chưa báo cáo ADR
2.4.2.4 Một số yếu tố liên quan đến hoạt động báo cáo ADR
- Tính sẵn có của mẫu báo cáo ADR: nơi cán bộ y tế có thể lấy mẫu báo cáo ADR
- Qui trình hướng dẫn báo cáo ADR: qui trình hướng dẫn cụ thể việc báo cáo
Trang 28CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Phân tích hoạt động báo cáo ADR của bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên thông qua báo cáo gửi tới Trung tâm DI&&ADR Quốc gia giai đoạn
2011 – 2015
3.1.1 Thông tin về báo cáo
3.1.1.1 Số lượng báo cáo ADR
Số lượng báo cáo ADR của bệnh viện ĐKTƯ Thái Nguyên trong giai đoạn 2011 – 2015 là 119 báo cáo, số lượng cụ thể theo từng năm được thể hiện ở hình 3.1
Hình 3.1: Số lượng báo cáo ADR của bệnh viện đa khoa trung ương Thái
Nguyên giai đoạn 2011 – 2015
Nhận xét: Số lượng báo cáo ADR của bệnh viện Đa khoa trung ương Thái Nguyên được gửi tới trung tâm DI&ADR Quốc gia đã có sự tăng lên so với thời điểm năm 2011, 2012 (mỗi năm chỉ có 2 báo cáo ADR được gửi đi) tuy nhiên số lượng này lại giảm dần trong vòng 2 năm trở lại đây
Trang 293.1.1.2 Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng
Báo cáo ADR nghiêm trọng là các báo cáo có ADR đƣợc phân loại ở mức độ 3 (phản ứng nặng yêu cầu nhập viện hoặc kéo dài thời gian nằm viện)
và mức độ 4 (phản ứng gây tử vong hoặc đe dọa tính mạng) theo thang phân loại mức độ nghiêm trọng của ADR của Tổ chức y tế Thế giới (WHO) [63]
Số lƣợng và tỷ lệ báo cáo ADR nghiêm trong giai đoạn 2011 – 2015 của bệnh viện ĐKTƢ Thái Nguyên đƣợc thể hiện ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Số lƣợng và tỷ lệ báo cáo ADR nghiêm trong giai đoạn 2011 – 2015
Năm Số lƣợng báo cáo
nghiêm trọng
Số lƣợng báo cáo của BV
Tỷ lệ (%) (N=119)
3.1.1.3 Thời gian trì hoãn báo cáo
Thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR: là thời gian từ khi ADR xảy ra
đến khi báo cáo ADR này đƣợc gửi về Trung tâm DI&ADR Quốc gia Thời
gian trì hoãn báo cáo của bệnh viện đƣợc thể hiện ở hình 3.2
Trang 30Hình 3.2 Thời gian trì hoãn báo cáo ADR của bệnh viện ĐKTƯ Thái Nguyên
giai đoạn 2011 - 2015
Nhận xét: 2 báo cáo ADR năm 2011 sử dụng mẫu báo cáo cũ và đều không ghi về ngày gửi báo cáo nên không xác định được thời gian trì hoãn báo cáo Từ năm 2012 báo cáo có sự đầy đủ về thông tin hơn, thời gian trì hoãn báo cáo ADR của bệnh viện có sự giao động qua các năm và có sự giảm xuống trong những năm gần đây
3.1.1.4 Đối tượng tham gia báo cáo ADR
Đối tượng tham gia báo cáo ADR của bệnh viện ĐKTƯ Thái Nguyên được thống kê dựa trên thông tin về trình độ chuyên môn của người đã gửi báo cáo ADR Kết quả về tỷ lệ % của từng nhóm trình độ chuyên môn so với tổng số 119 lượt báo cáo được thể hiện ở bảng 3.2
Trang 31Bảng 3.2 Đối tượng tham gia báo cáo ADR
Nhận xét: Qua bảng 3.2 cho thấy đối tượng dược sĩ là nguồn nhân lực tham gia vào báo cáo ADR thường xuyên nhất với 86 lượt chiếm tỉ lệ 72,27%, trong khi
đó bác sĩ có 18 lượt gửi báo cáo ADR chiếm 15,13%, điều dưỡng là đối tượng cán
bộ y tế ít tham gia vào hoạt động báo cáo ADR nhất với 2 lượt báo cáo trong suốt 5 năm chiếm tỉ lệ 1,68% Tuy nhiên có tới 13 lượt báo cáo cán bộ y tế không ghi rõ trình độ chuyên môn hay chức vụ của mình khi gửi báo cáo đi
3.1.1.5 Các khoa phòng tham gia báo cáo ADR
Các khoa phòng tham gia báo cáo ADR của bệnh viện ĐKTƯ Thái Nguyên được thống kê dựa trên thông tin về khoa làm việc của người gửi báo cáo ADR Kết quả tỷ lệ số lượng báo cáo ADR của từng khoa so với tổng số 119 lượt báo cáo của bệnh viện được thể hiện ở bảng 3.3
Bảng 3.3 Các khoa phòng tham gia báo cáo ADR
N=119
3 Nội tiết – hô hấp (nội 3) 3 2,52
Nhận xét: Kết quả của bảng 3.3 cho thấy khoa dược là khoa tích cực nhất
Trang 32của khoa, ngoài ra chỉ có 5 khoa lâm sàng trên tổng số 12 khoa lâm sàng của bệnh viện với tần suất báo cáo rất thấp với tổng số 11 lượt báo cáo chiếm tỉ lệ 9,24% Trong khi đó số lượng báo cáo không có thông tin về khoa phòng của người báo cáo lên tới 22 lượt chiếm 18,49%
3.1.2 Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR
3.1.2.1 Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo lý do sử dụng thuốc
Lý do sử dụng thuốc nghi ngờ gây ADR được thống kê từ thông tin về "Lý
do sử dụng thuốc " (mục 13 trong mẫu báo cáo ADR), các lý do sử dụng thuốc ghi nhận trong báo cáo ADR được phân loại theo từ điển ICD – 10 […] Kết quả được thể hiện ở bảng 3.5
Bảng 3.4 Lý do sử dụng thuốc nghi ngờ gây ADR phân loại theo ICD – 10
Tỷ lệ lý do sử dụng thuốc nghi ngờ gây ADR được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa tần suất từng lý do dùng thuốc với tổng số lý do dùng thuốc được báo cáo Trong nghiên cứu có 110/119 báo cáo ADR có ghi lý do dùng thuốc nhưng có báo cáo ghi nhiều hơn 1 lý do dùng thuốc nên tổng số lý do dùng thuốc được báo cáo là
D50 – D89 Bệnh máu – cơ quan tạo
máu – cơ chế miễn dịch 2 1,79
E00 – E90 Bệnh nội tiết – dinh
dưỡng – chuyển hóa 3 2,68 G00 – G99 Bệnh của hệ thần kinh 3 2,68
H00 – H59 Bệnh mắt và phần phụ 6 5,36
I00 – I99 Bệnh của hệ tuần hoàn 7 6,25
Trang 33ho, mệt….)
Nhận xét: Kết quả ở bảng 3.4 cho thấy trong số các nguyên nhân dùng thuốc của bệnh nhân thì các bệnh hệ hô hấp gặp với tần suất cao nhất (20,54%), thứ hai là các nhiễm khuẩn – ký sinh trùng (14,29%), thứ ba là các bệnh đường tiết niệu – sinh dục (11,61%)
3.1.2.2 Phân loại thuốc gây ADR theo đường dùng thuốc
Tổng số có 135 lượt thuốc nghi ngờ gây ADR được ghi nhận Kết quả phân loại các thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng thuốc được thể hiện ở bảng 3.5
Trang 34Bảng 3.5 Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng thuốc
Nhận xét: Kết quả từ bảng 3.5 cho thấy đường tiêm, truyền tĩnh mạch có tần xuất gặp ADR cao nhất với 73 lượt (chiếm tỉ lệ 54,07%) sau đó là đường uống với
30 lượt (chiếm tỉ lệ 22,22%), các đường dùng còn lại chiếm tỉ lệ nhỏ dưới 30%
3.1.2.3 Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo nhóm thuốc
Các họ dược lý được báo cáo nhiều nhất được thống kê ở bảng 3.6
Bảng 3.6 Các họ dược lý được báo cáo nhiều nhất
Mã phân
Tỷ lệ % (N=135)
B03X Các thuốc chống thiếu máu 7 5,18
Trang 35Nhận xét: Qua bảng 3.6 cho thấy kháng sinh là nhóm thuốc được báo cáo nhiều nhất với 78 lượt (chiếm 57,78%) trong đó kháng sinh nhóm beta-lactam, các cephalosporin, carbapenem chiếm 28,15%
3.1.3 Thông tin về ADR
3.1.3.1 Phân loại ADR theo tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng
Báo cáo ADR được tổng hợp phân loại theo tổ chức cơ thể mà ADR gây ảnh hưởng theo mã phân loại SOC Kết quả được trình bày trong bảng 3.7
Bảng 3.7 Phân loại ADR theo tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng
Nhận xét: Theo kết quả của bảng 3.7 cho thấy ADR gặp tại da và mô dưới da
là nhiều nhất gồm các biểu hiện như ban đỏ, ngứa, nổi mẩn… chiếm 74,79% các trường hợp gặp phải ADR
Trang 363.1.3.2 Các cặp thuốc - biểu hiện ADR được ghi nhận nhiều nhất
Một thuốc có thể gây một hoặc một số ADR và một ADR có thể là hậu quả của một hay một số thuốc đƣợc sử dụng Thống kê có 215 cặp thuốc – ADR và những cặp phổ biến nhất đƣợc trình bày trong bảng 3.8
Bảng 3.8 Các cặp thuốc-biểu hiện ADR đƣợc ghi nhận nhiều nhất
Bảng 3.9 Các ADR là shock hoặc phản ứng phản vệ
Trang 373.1.3.3 Kết quả đánh giá mối liên quan giữa thuốc nghi ngờ và ADR theo thang diểm của Tổ chức y tế Thế giới (WHO)
Mối liên quan giữa thuốc và ADR đƣợc hội đồng chuyên gia đánh giá theo thang điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Do mỗi báo cáo có một hoặc nhiều thuốc và một hoặc nhiều ADR nên tổng số cặp thuốc – ADR đã đƣợc đánh giá là
215 cặp Kết quả quy kết mối liên quan giữa thuốc nghi ngờ và ADR đƣợc thể hiện
Nhận xét: Trong số 215 cặp thuốc nghi ngờ - ADR đƣợc đánh giá có 195 cặp thuốc – ADR phân loại ở 3 mức độ cao nhất ("chắc chắn", "có khả năng" và "có thể") chiếm 90,70% tổng số cặp thuốc - ADR đƣợc thẩm định
Do các cặp quan hệ (thuốc – ADR) có ý nghĩa khi đƣợc quy kết ở 3 mức
"chắc chắn", "có khả năng" và "có thể" nên dữ liệu đƣợc dùng để thống kê tiêu chí liên quan tới cặp thuốc – ADR là phân loại mức độ nặng của ADR sẽ bao gồm tất
cả các cặp thuốc - ADR đƣợc đánh giá ở 3 mức này tức 195 cặp thuốc – ADR
Trang 383.1.3.4 Phân loại mức độ nặng của ADR
Bảng 3.11 Phân loại mức độ nặng của ADR
3.1.4 Đánh giá chất lƣợng báo cáo ADR của bệnh viện đa khoa trung ƣơng Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2015
3.1.4.1 Điểm chất lượng báo cáo trung bình
Điểm chất lƣợng báo cáo trung bình của bệnh viện đƣợc đánh giá theo thang Vigigrade và tính giá trị trung bình, kiểm định sự khác biệt giữa các giá trị này qua các năm Kết quả đƣợc thể hiện ở bảng 3.12
Bảng 3.12 Điểm chất lƣợng báo cáo trung bình của bệnh viện ĐKTƢ Thái
Nguyên giai đoạn 2011 – 2015
Nhận xét: Điểm chất lƣợng báo cáo ADR trung bình của BV đều cao trên 0,8
và không có sự khác biệt giữa chất lƣợng báo cáo qua các năm vì p = 0,672 > 0,05
Trang 393.1.4.2 Đánh giá chất lượng báo cáo ADR
Đánh giá chất lượng báo cáo trung bình dựa trên số lượng báo cáo ADR có điểm ≥ 0,8 điểm (chất lượng tốt) và số lượng báo cáo có điểm < 0,8 điểm (báo cáo chất lượng chưa tốt) Kết quả thể hiện ở hình 3.3
Hình 3.3: Đánh giá chất lượng báo cáo ADR của BV ĐKTƯ Thái Nguyên giai
đoạn 2011 – 2015
Nhận xét: Điểm chất lượng báo cáo ADR của BV ĐKTƯ Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2015 đạt chất lượng khá tốt thể hiện qua số báo cáo có số điểm ≥ 0,8 điểm nhiều và chất lượng này được duy trì tốt qua các năm
3.1.4.3 Các thông tin bị thiếu trong báo cáo ADR
Các thông tin thường bị thiếu được thống kê trên 119 báo cáo ADR được BV gửi về trung tâm DI&ADR Quốc gia giai đoạn 2011 – 2015 được thống kê ở bảng 3.13 dưới đây
Trang 40Bảng 3.13 Các thông tin bị thiếu trong báo cáo ADR
N=119
Thông tin về bệnh
nhân
Giới tính của bệnh nhân 2 1,68
Thông tin về thuốc
nghi ngờ gây ADR
Ngày bắt đầu dùng thuốc 7 5,88 Ngày xuất hiện phản ứng 2 1,68 Thông tin về người
3.2 Phân tích thực trạng nhận thức, thái độ, thực hành báo cáo ADR của cán
bộ y tế và một số yếu tố liên quan đến hoạt động báo cáo ADR
3.2.1 Thông tin về cán bộ y tế được khảo sát
3.2.1.1 Đặc điểm đối tượng tham gia khảo sát
Số lượng bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ tham gia nghiên cứu là 152 người, trong đó có 62 bác sĩ, 64 điều dưỡng và 26 dược sĩ Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng khảo sát được thể hiện ở bảng 3.14 dưới đây