Suy hô hấp cấp là một trong những tình huống thường gặp trong cấp cứu, có thể gây nguy hiểm tính mạng cho bệnh nhân nhanh chóng nếu không điều trị kịp thời. Đây cũng là một trong những tình trạng gây căng thẳng nhất cho bệnh nhân. Nhân viên y tế thì bị áp lực đòi hỏi phải chẩn đoán nhanh nguyên nhân suy hô hấp cấp để đưa ra phương pháp điều trị phù hợp. Tuy nhiên, khám lâm sàng đơn thuần với độ nhạy và độ chuyên thấp nên độ chính xác trong chẩn đoán không cao. Các phương tiện cận lâm sàng thường được dùng như X quang phổi thì không thể giúp chấn đoán nhanh, độ chính xác cũng không cao và có nguy cơ nhiễm xạ cho một số đối tượng nhạy cảm. Các xét nghiệm thì phải chờ đợi lâu và độ chính xác cũng chưa đạt. Các phương tiện cao cấp như CT scan, MRI thì chi phí cao, mất nhiều thời gian và không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được trong HSCC. Từ năm 1989, bác sĩ Lichtenstein D (khi đó còn là bác sĩ nội trú tại khoa ICU bệnh viện François Jardin) đã bắt đầu nghiên cứu về siêu âm tại giường để đánh giá toàn bộ cơ thể trên những bệnh nhân nằm hồi sức, đặc biệt là siêu âm phổi. Cùng với sự phát triển của y học hiện đại, siêu âm phổi ngày nay đã trở thành cực kì hữu ích trong chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nhân nặng cần hồi sức cấp cứu. Siêu âm phổi tại giường đã chứng minh chính là phương tiện cực kì hữu ích trong tình huống trên với thời gian chẩn đoán nhanh, tại giường, độ chính xác cao và không gây hại. Hội nghị đồng thuận giữa nhóm hồi sức của hiệp hội các bác sĩ lồng ngực Hoa Kỳ và hội hồi sức Pháp đã khuyến cáo siêu âm phải là phần bắt buộc trong các chương trình đào tạo bác sĩ hồi sức cấp cứu, đặc biệt là siêu âm phổi 11. Tại Việt Nam, hiện nay siêu âm phổi gần như vẫn chưa được áp dụng trong chẩn đoán cấp cứu tại giường. Harrison, sách nội khoa kinh điển của các bác sĩ nội khoa, sách xuất bản năm 1992 trang 1043 có viết “The air is an important barrier to use the ultrasound for lung study” (Khí là rào cản siêu âm), hay “Ultrasonography is not usefull to evaluation of the lung tissue” (Harrison’s 2001. p1454) (siêu âm không có ích để đánh gia mô phổi), hay Harrison 2005 trang 1506 có đoạn “Because ultrasound energy is rapidly dissipated in air, ultrasound imaging is not useful for evaluation of the lung paraenchyma” (năng lượng sóng siêu âm thì nhanh chóng tan trong khí nên siêu âm không hữu ích trong đánh giá nhu mô phổi). Chính những điều trên nên đa số các bác sĩ vẫn quan điểm “khí là kẻ thù của siêu âm”, siêu âm không hữu ích trong đánh giá bệnh lý phổi, trừ bệnh lý liên quan dịch màng phổi.
Trang 1GIÁ TRI CỦA SIÊU ÂM PHỔI TẠI GIƯỜNG TRONG CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN SUY HÔ
Dấu phổi trượt (lung sliding), dấu bờ biển (seashore sign), đường A (A-line) ở phổi bình thường
Dấu hình tứ giác (quad sign) và dấu hình sin (sinusoid sign) trong tràn dịch màng phổi Dấu nát vụn (shred sign), và dấu dạng mô (tissue-like sign) trong đông đặc phổi Dấu khí ảnh nội phế quản động (dynamic air bronchogram) được sử dụng để chẩn đoán hội chứng động đặc do viêm phổi (Khí ảnh nội phế quản tĩnh là dấu hiệu của xẹp phổi)
Đường B (B-line) trong hội chứng mô kẽ
Mất dấu phổi trượt trên M-mode tạo thành dấu tầng bình lưu (stratosphere sign): giúp hướng đến những nguyên nhân làm cản trở sự trượt lên nhau của màng phổi thành và màng phổi tạng Nguyên nhân cần nghi ngờ là tràn khí màng phổi
Dấu điểm phổi (lung point) giúp khẳng định có tràn khí màng phổi
Trong nghiên cứu BLUE protocol, siêu âm phổi tại giường thực hiện trong thời gian
<3 phút có độ nhạy và độ đặc hiệu từ 90% đến 100% trong chẩn đoán nguyên nhân gây ra suy hô hấp cấp (tiêu chuẩn vàng là chẩn đoán bằng CT và chẩn đoán khi xuất viện) Điều này đã cho phép siêu âm phổi tại giường có thể được xem là "tiêu chuẩn vàng" tại giường hợp lý cho các bệnh nhân nặng
Trang 2Phù phổi, thuyên tắc phổi, viêm phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính - hen phế quản,
và tràn khí màng phổi tạo ra những profile chuyên biệt trên siêu âm Ví dụ: Phù phổi tạo
ra đường B, có dấu phổi trượt 2 bên phổi, được gọi là "B-profile."
Ứng dụng siêu âm phổi kết hợp với siêu âm tim đơn giản trong cấp cứu (tìm tràn dịch màng tim, dấu dãn thất phải) tạo thành FALLS protocol trong chẩn đoán nguyên nhân tụt huyết áp cấp Protocol này giúp tìm kiếm tuần tự nguyên nhân gây suy tuần hoàn cấp như: sốc tắc nghẽn, sốc do tim, sốc giảm thể tích và sốc phân phối Trong FALLS-protocol dấu đường B trên siêu âm phổi cũng là công cụ trong đánh giá đáp ứng bù dịch
2 protocol trên của "cha đẻ siêu âm phổi" Lichtenstein DA đã sử dụng máy siêu âm trắng đen đơn giản (không Doppler) sản xuất năm 1992, và một đầu dò cong nhỏ (microconvex) 5Mhz duy nhất Đầu dò microconvex 5Mhz được tác giả cho là đầu dò hoàn hảo nhất trong siêu âm hồi sức cấp cứu Ngoài siêu âm phổi, đầu dò này có thể giúp khảo sát toàn bộ những tổn thương của cơ thể trong bệnh cảnh cần hồi sức cấp cứu như: siêu âm mắt trong đánh giá tăng áp lực nội sọ -bong võng mạc, siêu âm tim đơn giản trong đánh gia chèn ép tim cấp, tăng áp phổi cấp, rối loạn vận động thành tim, siêu âm đo kích thước tĩnh mạch chủ dưới trong đánh giá đáp ứng bù dịch, siêu âm tìm dịch -tổn thương tạng ổ bụng trong chấn thương, siêu âm huyết khối tĩnh mạch trong đánh giá nguy cơ thuyên tắc phổi,
Trang 3MỤC LỤC
Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2 TỔNG QUAN VỀ SIÊU ÂM PHỔI 3
2.1 Trang thiết bị 3
2.1.1 Đầu dò phù hợp 3
2.1.2 Máy siêu âm phù hợp 5
2.2 Phân vùng siêu âm 6
2.3 Các mặt cắt trong siêu âm phổi 7
2.4 Các nguyên lý cơ bản của siêu âm phổi 8
Chương 3 CÁC DẤU HIỆU QUAN TRỌNG TRONG SIÊU ÂM PHỔI 9
3.1 Dấu con dơi (bat sign) 9
3.2 Dấu phổi trượt (Lung sliding) 9
3.3 Dấu bờ biển (seashore sign) 10
3.4 Mất dấu phổi trượt (No lung sliding) 11
3.5 Dấu tầng bình lưu (Stratosphere sign) 12
3.6 Điểm phổi (lung point) 12
3.7 Đường A (A line) 13
3.8 Đường B (B line) 14
3.9 Các dấu hiệu của tràn dịch màng phổi 15
3.9.1 Dấu hình tứ giác (quad sign) 15
3.9.2 Dấu hình sin (sinusoid sign) 16
3.9.3 Dấu soi gương (mirror sign) 16
3.9.4 Dấu cột sống (spine sign) 17
3.10 Dấu đông đặc phổi 18
Trang 43.10.1 Dấu nát vụn (Shred sign) 18
3.10.2 Dấu dạng mô (tissue-like sign) 18
3.10.3 Air bronchogram (Khí phế quản đồ) 19
Chương 4 SIÊU ÂM TẠI GIƯỜNG CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN SUY HÔ HẤP CẤP THEO BLUE PROTOCOL (BEDSIDE LUNG ULTRASOUND IN EMERGENCY) 20
4.1 Đối tương nghiên cứu 20
4.2 Tiêu chuẩn loại trừ 20
4.3 Phương tiện 20
4.4 Cách tiến hành nghiên cứu 20
4.5 Kết quả 21
4.6 Độ chính xác của bác sĩ không phải chuyên gia về siêu âm thực hiện BLUE protocol 23
4.7 Siêu âm huyết khối tĩnh mạch sâu tại giường trong cấp cứu 24
Chương 5 (bonus) Chẩn đoán nguyên nhân sốc bằng siêu âm tại giường (FALLS protocol) 26
Chương 6 KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 5Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy hô hấp cấp là một trong những tình huống thường gặp trong cấp cứu, có thể gây nguy hiểm tính mạng cho bệnh nhân nhanh chóng nếu không điều trị kịp thời Đây cũng
là một trong những tình trạng gây căng thẳng nhất cho bệnh nhân Nhân viên y tế thì bị áp lực đòi hỏi phải chẩn đoán nhanh nguyên nhân suy hô hấp cấp để đưa ra phương pháp điều trị phù hợp Tuy nhiên, khám lâm sàng đơn thuần với độ nhạy và độ chuyên thấp nên
độ chính xác trong chẩn đoán không cao Các phương tiện cận lâm sàng thường được dùng như X quang phổi thì không thể giúp chấn đoán nhanh, độ chính xác cũng không cao và
có nguy cơ nhiễm xạ cho một số đối tượng nhạy cảm Các xét nghiệm thì phải chờ đợi lâu
và độ chính xác cũng chưa đạt Các phương tiện cao cấp như CT scan, MRI thì chi phí cao, mất nhiều thời gian và không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được trong HSCC
Từ năm 1989, bác sĩ Lichtenstein D (khi đó còn là bác sĩ nội trú tại khoa ICU bệnh viện François Jardin) đã bắt đầu nghiên cứu về siêu âm tại giường để đánh giá toàn bộ cơ thể trên những bệnh nhân nằm hồi sức, đặc biệt là siêu âm phổi
Cùng với sự phát triển của y học hiện đại, siêu âm phổi ngày nay đã trở thành cực kì hữu ích trong chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nhân nặng cần hồi sức cấp cứu Siêu âm phổi tại giường đã chứng minh chính là phương tiện cực kì hữu ích trong tình huống trên với thời gian chẩn đoán nhanh, tại giường, độ chính xác cao và không gây hại
Hội nghị đồng thuận giữa nhóm hồi sức của hiệp hội các bác sĩ lồng ngực Hoa Kỳ và hội hồi sức Pháp đã khuyến cáo siêu âm phải là phần bắt buộc trong các chương trình đào tạo bác sĩ hồi sức cấp cứu, đặc biệt là siêu âm phổi [11]
Tại Việt Nam, hiện nay siêu âm phổi gần như vẫn chưa được áp dụng trong chẩn đoán cấp cứu tại giường Harrison, sách nội khoa kinh điển của các bác sĩ nội khoa, sách xuất bản năm 1992 trang 1043 có viết “The air is an important barrier to use the ultrasound for lung study” (Khí là rào cản siêu âm), hay “Ultrasonography is not usefull to evaluation of the lung tissue” (Harrison’s 2001 p1454) (siêu âm không có ích để đánh gia mô phổi), hay Harrison 2005 trang 1506 có đoạn “Because ultrasound energy is rapidly dissipated
in air, ultrasound imaging is not useful for evaluation of the lung paraenchyma” (năng lượng sóng siêu âm thì nhanh chóng tan trong khí nên siêu âm không hữu ích trong đánh giá nhu mô phổi) Chính những điều trên nên đa số các bác sĩ vẫn quan điểm “khí là kẻ thù của siêu âm”, siêu âm không hữu ích trong đánh giá bệnh lý phổi, trừ bệnh lý liên quan dịch màng phổi
Trang 6Chuyên đề này mong muốn sẽ góp phần thay đổi quan điểm trên và góp phần giúp các bác sĩ muốn tìm hiểu và áp dụng siêu âm phổi trong thực hành lâm sàng, đặc biệt trong môi trường hồi sức cấp cứu đầy căng thẳng và quá tải như Việt Nam hiện nay
(tác giả của chuyên đề này có bài soạn Powerpoint với nhiều video minh họa, bạn đọc nào có nhu cầu thì xin liên hệ trực tiếp)
Trang 7Chương 2 TỔNG QUAN VỀ SIÊU ÂM PHỔI
2.1 Trang thiết bị phù hợp cho siêu âm trong HSCC và siêu âm phổi: 2.1.1 Đầu dò phù hợp:
Đối với một bác sĩ chuyên khoa HSCC chuẩn quốc tế hiện nay, ngoài siêu âm phổi, bác sĩ HSCC còn phải biết siêu âm gần như toàn bộ các cơ quan trong cơ thể có liên quan đến vấn đề cấp cứu Ví dụ: siêu âm mắt trong đánh giá áp lực nội sọ, bong võng mạc; siêu
âm tim đánh giá rối loạn vận động vùng, chèn ép tim cấp, thuyên tắc phổi cấp; siêu âm mạch máu đo kích thước tĩnh mạch chủ dưới trong đánh giá đáp ứng bù dịch; siêu âm tìm dịch -tổn thương tạng ổ bụng trong chấn thương; siêu âm huyết khối tĩnh mạch trong đánh giá nguy cơ thuyên tắc phổi; siêu âm hướng dẫn thủ thuật: mở khí quản, chọc dịch màng bụng, màng phổi, đặt CVC,… Bệnh nhân nhập vào cấp cứu có thể tổn thương nhiều cơ quan, việc siêu âm nhiều cơ quan mà phải thay đổi nhiều đầu dò siêu âm rõ ràng là không thích hợp để đồng thời thỏa các tiêu chí: nhanh, chính xác, kinh tế
Với mục tiêu tìm kiếm hình ảnh chẩn đoán, không cần thiết hình ảnh đẹp, Lichtenstein cho rằng đầu dò cong nhỏ (microconvex) 5Mhz chính là đầu dò hoàn hảo nhất trong siêu
âm hồi sức cấp cứu Ngoài siêu âm phổi, đầu dò này có thể giúp khảo sát toàn bộ những tổn thương của cơ thể trong bệnh cảnh cần hồi sức cấp cứu
Trang 8Hình 2.1 Tần suất bệnh, mức độ nặng của bệnh theo vùng cơ thể và khả năng khảo sát tương ứng với đầu dò tim, bụng, mạch máu và đầu dò cong nhỏ 5Mhz [9]
Trang 9Hình 2.2 Độ sâu của các cơ quan cần khảo sát trong HSCC và độ sâu có thể khảo
sát của các loại đầu dò [9]
2.1.2 Máy siêu âm phù hợp:
Siêu âm phổi chỉ cần máy siêu âm trắng đen với kĩ thuật đơn giản Trong Blue protocol, tác giả sử dụng máy siêu âm trắng đen Hitachi-405 sản xuất năm 1992 và 1 đầu
dò duy nhất microconvex 5Mhz để tìm 5 nhóm nguyên nhân suy hô hấp cấp, kể cả đánh giá huyết khối tĩnh mạch chi Điều quan trọng là máy siêu âm trong cấp cứu cần nhỏ gọn, bánh xe đẩy chắc chắn để dễ dàng di chuyển đến giường bệnh
Trang 10Hình 2.3 Máy siêu âm phù hợp trong siêu âm phổi [9]
2.2 Phân vùng siêu âm:
Siêu âm phổi được qui ước phân mỗi bên ngực làm 6 vùng: vùng trước trên –vùng trước dưới, vùng bên trên –vùng bên dưới, vùng sau trên –vùng sau dưới Các vùng này được giới hạn bởi 3 đường dọc là đường cạnh ức, đường nách trước, đường nách sau và một đường nằm ngang qua khoang liên sườn 5
Hình 2.4 Phân vùng siêu âm phổi
Trang 112.3 Các mặt cắt trong siêu âm phổi: có 2 mặt cắt
Mặt cắt theo chiều dọc: đầu dò đặt vuông góc với 2 xương sườn và cắt dọc qua 2
xương sườn
Hình 2.5 Mặt cắt dọc Mặt cắt theo chiều ngang: đặt đầu dò dọc theo các khoang liên sườn
Hình 2.6 Mặt cắt ngang
Trang 122.4 Các nguyên lý cơ bản của siêu âm phổi:
Siêu âm phổi vẫn tuân theo nguyên tắc: “khí không thể thấy trên siêu âm”, “khí là kẻ thù của siêu âm” Vì thế siêu âm phổi chủ yếu là phân tích những ảnh giả (artifact), khi thấy “bạn của siêu âm” trong siêu âm phổi là có bất thường
Nguyên tắc cần nhớ: Ảnh giả (artifact) được tạo ra khi đi qua 2 mặt phân cách có trở kháng âm khác nhau Tùy theo mức độ trở kháng khác nhau, ảnh giả tạo ra sẽ khác nhau tương ứng với bệnh lý khác nhau
Các nguyên lý cơ bản [8]:
1 Siêu âm phổi dùng máy 2D, đơn giản là phù hợp nhất
2 Lồng ngực là nơi khí và nước trộn lẫn vào nhau
3 Phổi là cơ quan có thể tích lớn nhất cơ thể
4 Mọi dấu hiệu đều xuất phát từ phổi màng phổi
5 Dấu hiệu siêu âm phổi dựa trên phân tích ảnh giả
6 Hầu hết các dấu hiệu là động
7 Hầu hết các dấu hiệu cấp tính của lồng ngực đều liên quan đến bề mặt
Trang 13Chương 3 CÁC DẤU HIỆU QUAN TRỌNG TRONG SIÊU ÂM PHỔI
3.1 Dấu con dơi (bat sign): mốc giải phẫu quan trọng
Đặt đầu dò theo chiều dọc, cắt ngang qua 2 xương sườn Hai xương sườn cho hình ảnh hai bóng lưng trên siêu âm, kết hợp với hình ảnh đường sáng nằm giữa, bên dưới (chính là đường màng phổi) tạo thành hình ảnh tựa như con dơi đang dang cánh Phía trên đường màng phổi là lớp cơ gian sườn, cơ thành ngực, lớp mỡ dưới da và da (theo thứ tự
từ trong ra ngoài) Khi không có bệnh lý, sóng siêu âm không thể đi vượt quá màng phổi (vì dưới màng phổi chủ yếu là khí trong phế nang) nên hình ảnh phía dưới đường màng phổi là ảnh giả (là hình ảnh soi gương của thành ngực)
Hình 3.1 Dấu con dơi [9]
Hinh 3.2 Các cấu trúc giải phẫu trên siêu âm phổi 3.2 Dấu phổi trượt (Lung sliding): tạo ra do màng phổi thành và màng phổi tạng trượt lên nhau theo chu kỳ hô hấp hít vào- thở ra
Nhận biết:
Trang 14 Nhận diện 2 đường sáng và bóng lưng của 2 xương sườn 2 bên
Đường sáng trắng nằm giữa và phía dưới (khoảng 0.5-1.5cm, tùy bệnh nhân)
2 đường sáng của 2 xương sườn chính là đường màng phổi
Khi màng phổi thành và màng phổi tạng trượt lên nhau sẽ tạo ra ảnh giả nhìn giống đuôi sao chổi: những tia sáng trắng tăng âm phát ra từ đường màng phổi, di chuyển theo chu kì hô hấp
Hình 3.3 Dấu phổi trượt
Ý nghĩa: đây không phải dấu của bệnh lý Dấu này cho biết màng phổi thành và màng phổi tạng trượt lên nhau bình thường, giúp loại trừ 100% không có TKMP tại vùng khảo sát
3.3 Dấu bờ biển (seashore sign): cũng có ý nghĩa tương tự như dấu phổi trượt nhưng khảo sát ở chế độ M-mode
Phía dưới đường màng phổi trên 2D là những ảnh giả di động nên trên mode không phải là những đường thẳng nằm ngang mà thay vào đó là hình ảnh những chấm nhỏ li ti nhìn giống như bãi cát mịn trên bờ biển
Trang 15M-Hình 3.4 Dấu bờ biển
Ý nghĩa: tương tự dấu phổi trượt, đây là hình ảnh của màng phổi trượt lên nhau bình thường
3.4 Mất dấu phổi trượt (No lung sliding):
Tạo ra khi có bệnh lý làm ngăn cản sự trượt lên nhau của màng phổi thành và màng phổi tạng như: tràn khí màng phổi (nguyên nhân cần đặc biệt chú ý), dính màng phổi
do dịch tiết trong viêm phổi, xơ dính màng phổi, tràn dịch màng phổi, ngưng thở, thông khí kém (thở máy lưu lượng thấp),…
Nhận biết:
Nhận diện bóng lưng xương sườn 2 bên
Đường màng phổi không thấy di chuyển, không có hình ảnh đuôi sao chổi di chuyển bên dưới
Trang 16Hình 3.5 Mất dấu phổi trượt trong tràn khí màng phổi [13]
(Sóng siêu âm khi xuyên qua thành ngực –màng phổi thành thì bị ngăn cản bởi lớp khí trong khoang màng phổi nên không thể khảo sát được sự trượt lên nhau của màng phổi thành và màng phổi tạng)
3.5 Dấu tầng bình lưu (Stratosphere sign): đây chính là hình ảnh của mất dấu phổi trượt khi khảo sát trên M-mode
Khi có bất kì nguyên nhân nào ngăn cản sự trượt lên nhau của màng phổi thành và màng phổi tạng sẽ cho dấu này
Nhận biết:
Nhận diện đường màng phổi
Vì các cấu trúc trên siêu âm lúc này là bất động nên M-mode cho ra hình ảnh những đường nằm ngang Chúng ta có thể tưởng tượng giống như hình ảnh của tầng bình lưu, giống dấu mã vạch (Bar Code) hay là bờ biển nhưng không thấy bãi cát mà chỉ có sóng biển
Hình 3.6 Hình dấu tầng bình lưu (hay còn gọi là dấu mã vạch) [12]
3.6 Điểm phổi (lung point): phát hiện khi khảo sát vùng tiếp giáp giữa vùng tràn khí màng phổi và vùng có sự trượt bình thường của màng phổi thành lên màng phổi tạng Dấu này giúp chẩn đoán TKMP với độ đặc hiệu 100%
Trang 17Hình 3.7 Dấu điểm phổi
Ebrahimi và cộng sự [4] nghiên cứu xem xét tổng hợp 4209 nghiên cứu từ các nguồn như Pudmed, Cochrane, Embase, … đánh giá độ chính xác của siêu âm phổi so với X-quang phổi trong chẩn đoán tràn khí màng phổi Kết quả: siêu âm có độ nhạy 89%, độ đặc hiệu 99%, so với X-quang có độ nhạy 46%, độ đặc hiệu 100% (p <0.001)
3.7 Đường A (A line):
Trong tình trạng không bệnh lí, sóng siêu âm xuyên qua thành ngực, chạm vào màng phổi sẽ bị phản hồi ngược trở lại đầu dò (do phổi bình thường thì phía dưới là khí trong phế nang) tạo ra ảnh giả là đường A Đường A chính là ảnh giả của đường màng phổi
Trang 18Hình 3.8 Đường A
Ý nghĩa: đường A là hình ảnh bình thường của phổi Không có đường A là bất thường, nhưng đường A vẫn có thể gặp trong 1 số bệnh lý
ABsence A line = ABnormol: Không có đường A nghĩa là khí bên dưới màng phổi
đã được thay thế bằng chất dẫn truyền âm Ví dụ trong phù phổi, dập phổi, viêm phổi, u, …
3.8 Đường B (B line): hình ảnh của hội chứng mô kẽ
Trong hội chứng mô kẽ, dịch tích tụ trong khoảng mô kẽ giữa các phế nang, nặng hơn dịch tích tụ trong các phế nang Sóng âm khi đến màng phổi, gặp dịch tích tụ trong
mô kẽ, phế nang sẽ bị giữ lại Sóng âm di chuyển tới lui và phản hồi liên tục trong hỗn hợp khí- dịch dẫn đến hiệu ứng cộng hưởng, tạo ra sóng B
Hình 3.9 Cơ chế tạo ra đường A và đường B
Tiêu chuẩn chẩn đoán đường B khi thỏa đủ 4 đặc điểm sau: