CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬNI. Một số nguyên tắc cơ bản trong hệ thống thương mại đa biênII. Khái niệm và vai trò của chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa1. Khái niệm:2. Vai trò của chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóaIII. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU IV. Những thuận lợi trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU TRONG ĐIỀU KIỆN THAM GIA VÀO WTO ...I. Chính sách mặt hàng xuất khẩuII. Chính sách thị trườngIII. Các công cụ thực thi chính sách 1. Chính sách khuyến khích thu hút FDI cho xuất khẩu2. Chính sách thuế quan IV. Đánh giá thực trạng chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường EU CHƯƠNG III. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG EUKẾT LUẬN
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
BÀI TẬP CÁ NHÂN
MÔN: KINH TẾ QUỐC TẾ
Đề tài:
CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU TRONG
ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP WTO
Giáo viên hướng dẫn : T.S Nguyễn Hiệp
Sinh viên thực hiện : VƯƠNG TIẾN LÊN
Đà Nẵng, tháng 06 năm 2016
Trang 2MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Một số nguyên tắc cơ bản trong hệ thống thương mại đa biên
II Khái niệm và vai trò của chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa
1 Khái niệm:
2 Vai trò của chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa
III Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách xuất khẩu hàng hóa của Việt Namsang thị trường EU
IV Những thuận lợi trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY XUẤT KHẨUHÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU TRONG ĐIỀU KIỆN
THAM GIA VÀO WTO
I Chính sách mặt hàng xuất khẩu
II Chính sách thị trường
III Các công cụ thực thi chính sách
1 Chính sách khuyến khích thu hút FDI cho xuất khẩu
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đang trở thành một xu thế khách quan; Các quốc gia, dân tộc không còn cách lựa chọn nào khác là hội nhập để cùng tồn tại và phát triển Là một quốc gia đi lên từ xuất phát điểm thấp, Việt Nam sớm nhận thức được tầm quan trọng và yêu cầu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã thể hiện quyết tâm thực hiện tự do hoá thương mại và coi đây là ưu tiên hàng đầu trong chương trình cải cách của mình Việt Nam đã đạt được nhiều thỏa thuận trong đàm phán thương mại song phương, đa phương với các đối tác chiến lược như Hoa Kỳ, EU và đặc biệt là sự kiện Việt Nam đã kết thúc thành công tốt đẹp trong đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới - WTO và trở thành thành viên của tổ chức này năm 2007 Tham gia WTO, Việt Nam đã ký kết các thỏa thuận trong điều chỉnh chính sách thương mại với lộ trình được xác định Trong bối cảnh mới của quốc tế và điều kiện kinh tế trong nước cần phải có chính sách thúc đẩy xuất khẩu hợp lý để tăng cường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường quốc tế nói chung và đặc biệt là thị trường xuất khẩu trọng điểm và chủ lực của Việt Nam - thị trường EU nói riêng
Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU đang được chi phối bởi quá trình đàm phán về Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EU (VE FTA) đang diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các cam kết với WTO đã và đang có những tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước nói chung cũng như hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang EUnói riêng
Liên minh Châu Âu là một đối tác truyền thống lớn nhất và tiềm năng đối với hàng hoá xuất khẩu Việt Nam Với 28 quốc gia thành viên, dân số trên 500 triệu người, GDP đạt khoảng 15 nghìn tỷ USD (chiếm 27% GDP thế giới), chiếm 45%thương mại và 47% đầu tư trực tiếp ra toàn cầu1 Trong những năm qua, trước khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá vào EU luôn có những bước phát triển qua từng giai đoạn Tuy nhiên, trong thời gian qua các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là những rào cản kỹ thuật ngày càng gay gắt từ thị trường này Hơn nữa, từ khi là thành viên của WTO, Việt Nam phải thực hiện những cam kết gia nhập như mở cửa thị trường hàng hoá, cắt giảm thuế xuất nhập khẩu, làm
Trang 4cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam giảm đi khả năng cạnh tranh về giá với các đối thủ khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan… đối với thị trường EU Một số mặt hàng như da giày của Việt Nam không còn được hưởng hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập GSP của EU Cùng với đó là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến cho nhiều nền kinh tế của các thành viên EU rơi vào tình trạng suy thoái, làm suy giảm cầu đối với hàng nhập khẩu của EU, dẫn tới hệ quả là thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam tại EU bị ảnh hưởng trong khi các yêu cầu đối với hàng hoá nhập khẩu vào EU ngày càng được nâng lên
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, hệ quả tất yếu dẫn đếnthu nhập của người dân các nước bị suy giảm, thất nghiệp gia tăng, đầu tư đình trệ…khiến cho thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam bị thu hẹp, trong khi cạnh tranhthì ngày càng gay gắt
Trước bối cảnh quốc tế và quốc gia hiện tại Việt Nam đã nhanh chóng đẩy nhanh tiến trình cải cách thể chế, cơ chế, chính sách kinh tế phù hợp với chủ trương, định hướng của Ðảng và Nhà nước; chủ động xây dựng các quan hệ đối tác mới, tham gia vào các vòng đàm phán mới, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế song phương, khu vực và đa phương Tuy nhiên, một trong những vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là sau gần tám năm Việt Nam gia nhập WTO, Việt Nam cần phải nghiên cứu, tổng kết một cách khoa học và có hệ thống về chính sách xuất khẩu sang EU -một trong những thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn nhất của Việt Nam đã và đang thực thi trên cả hai phương diện: những điểm hợp lý, những bất cập và nguyên nhân.Hơn nữa, Việt Nam và EU đã và đang trong quá trình đàm phán để ký Hiệp địnhthương mại tự do, đang cùng nhau tìm ra một hướng đi nhằm giải quyết bế tắc trongvòng đàm phán Doha của Tổ chức Thương mại thế giới
Một trong các vấn đề đang nổi lên là làm thế nào để có một hệ thống chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường EU trong điều kiện tham gia vào WTO một cách hữu hiệu Góp phần giải quyết các vấn đề này cả về phương diện lý luận và thực tiễn, tác giả quyết định lựa chọn vấn đề
“Chính sách thúc đẩy hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU trong điềukiện gia nhập WTO” làm đề tài bài tập nhóm 5 – Lớp K31.KPT.ĐN
Trang 5CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I Một số nguyên tắc cơ bản trong hệ thống thương mại đa biên
(1) Thương mại không có sự phân biệt đối xử: Nguyên tắc này thể hiện ở hainguyên tắc: đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia
Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN): "Tối huệ quốc" có nghĩa là "nước (được) ưu đãi nhất", "nước (được) ưu tiên nhất" Nội dung của nguyên tắc này thực chất
là việc WTO quy định rằng, các quốc gia không thể phân biệt đối xử với các đối tácthương mại của mình
Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT): "Ðối xử quốc gia" nghĩa là đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nước ngoài và sản phẩm nội địa Nội dung của nguyên tắc này làhàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sản xuất trong nước phải được đối xử côngbằng, bình đẳng như nhau
(2) Thương mại ngày càng tự do hơn (từng bước và bằng con đường đàm phán):
Ðể thực thi được mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư, mở cửa thị trường, thúc đẩy trao đổi, giao lưu, buôn bán hàng hoá, việc tất nhiên là phải cắtgiảm thuế nhập khẩu, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan (cấm, hạn chế, hạn ngạch, giấyphép )
Trên thực tế, lịch sử của GATT và sau này là WTO đã cho thấy đó chính là lịch
sử của quá trình đàm phán cắt giảm thuế quan, rồi bao trùm cả đàm phán dỡ bỏ các hàngrào phi thuế quan, rồi dần dần mở rộng sang đàm phán cả những lĩnh vực mới nhưthương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ
Tuy nhiên, trong quá trình đàm phán, mở cửa thị trường, do trình độ phát triển củamỗi nền kinh tế của mỗi nước khác nhau, "sức chịu đựng" của mỗi nền kinh tế trướcsức ép của hàng hoá nước ngoài tràn vào do mở cửa thị trường là khác nhau, nói cáchkhác, đối với nhiều nước, khi mở cửa thị trường không chỉ có thuận lợi mà cũng đưa lạinhững khó khăn, đòi hỏi phải điều chỉnh từng bước nền sản xuất trong nước
Vì thế, các hiệp định của WTO đã được thông qua với quy định cho phép các nước thành viên từng bước thay đổi chính sách thông qua lộ trình tự do hoá từngbước Sự nhượng bộ trong cắt giảm thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quanđược thực hiện thông qua đàm phán, rồi trở thành các cam kết để thực hiện
Trang 6(3) Dễ dự đoán nhờ cam kết, ràng buộc, ổn định và minh bạch: Ðây là nguyên tắcquan trọng của WTO
Mục tiêu của nguyên tắc này là các nước thành viên có nghĩa vụ đảm bảo tính
ổn định và có thể dự báo trước được về các cơ chế, chính sách, quy định thươngmại của mình nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, kinh doanh nước ngoài
có thể hiểu, nắm bắt được lộ trình thay đổi chính sách, nội dung các cam kết về thuế, phithuế của nước chủ nhà để từ đó doanh nghiệp có thể dễ dàng hoạch định kế hoạch kinhdoanh, đầu tư của mình mà không bị đột ngột thay đổi chính sách làm tổn hại tới kếhoạch kinh doanh của họ
Nói cách khác, các doanh nghiệp nước ngoài tin chắc rằng hàng rào thuế quan,phi thuế quan của một nước sẽ không bị tăng hay thay đổi một cách tuỳ tiện Ðây là nỗlực của hệ thống thương mại đa biên nhằm yêu cầu các thành viên của WTO tạo ramột môi trường thương mại ổn định, minh bạch và dễ dự đoán
Về các thoả thuận cắt giảm thuế quan:
Bản chất của thương mại thời WTO là các thành viên dành ưu đãi, nhânnhượng thuế quan cho nhau Song để chắc chắn là các mức thuế quan đã đàm phán phảiđược cam kết và không thay đổi theo hướng tăng thuế suất, gây bất lợi cho đối tác củamình, sau khi đàm phán, mức thuế suất đã thoả thuận sẽ được ghi vào một bản danhmục thuế quan Ðây gọi là các mức thuế suất ràng buộc
Về các biện pháp phi thuế quan:
Biện pháp phi thuế quan là biện pháp sử dụng hạn ngạch hoặc hạn chế định lượng khác như quản lý hạn ngạch Các biện pháp này dễ làm nảy sinh tệ nhũngnhiễu, tham nhũng, lạm dụng quyền hạn, bóp méo thương mại, gây khó khăn chodoanh nghiệp, làm cho thương mại thiếu lành mạnh, thiếu minh bạch, cản trở tự dothương mại Do đó, WTO chủ trương các biện pháp này sẽ bị buộc phải loại bỏ hoặcchấm dứt
(4) Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn:
Trên thực tế, WTO tập trung vào thúc đẩy mục tiêu tự do hoá thương mại song trong rất nhiều trường hợp, WTO cũng cho phép duy trì những quy định về bảo
hộ Do vậy, WTO đưa ra nguyên tắc này nhằm hạn chế tác động tiêu cực của các biện
Trang 7pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hoặc các biện pháp bảo hộkhác.
(5) Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế bằng cách dành ưu đãi hơn cho cácnước kém phát triển nhất:
Các nước thành viên, trong đó có các nước đang phát triển, thừa nhận rằng tự
do hoá thương mại và hệ thống thương mại đa biên trong khuôn khổ của WTO đóng gópvào sự phát triển của mỗi quốc gia Song các thành viên cũng thừa nhận rằng, các nướcđang phát triển phải thi hành những nghĩa vụ của các nước phát triển
Trong khi đó, hiện số thành viên của WTO là các nước đang phát triển và các nướcđang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế chiếm hơn 3/4 số nước thành viên của WTO
Do đó, WTO đã đưa ra nguyên tắc này nhằm khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế
ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi bằng cách dành cho nhữngnước này những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt để đảm bảo sự tham gia sâu rộnghơn của các nước này vào hệ thống thương mại đa biên
II Khái niệm và vai trò của chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa
1 Khái niệm:
“Chính sách thúc đẩy xuất khẩu là một hệ thống các quan điểm, đường lối, thểchế hóa của Nhà nước, các quy định hướng dẫn, khuyến khích và tăng cường mặt hàng
và thị trường xuất khẩu cho phù hợp với các quy định và cam kết quốc tế hiện hành.”
2 Vai trò của chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa
Chính sách xuất khẩu định hướng cho hoạt động xuất khẩu phù hợp với mongmuốn mà Nhà nước theo đuổi Vai trò định hướng của chính sách xuất khẩu thể hiệntrong việc Nhà nước ban hành các quy định điều chỉnh tăng cường các hoạt động xuấtkhẩu sao cho đạt được mục tiêu mà Nhà nước đề ra Mục tiêu đó là khuyến khích hoạtđộng xuất khẩu phát triển - cũng có nghĩa là hoạt động xuất khẩu sẽ nhận được những
ưu đãi của Nhà nước như việc quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ hoạtđộngxuất khẩu phát triển với các mục tiêu, các biện pháp của chính sách cũng có vaitrò định hướng cho hoạt động xuất khẩu Vì biện pháp của chính sách xuất khẩu có tácđộng thúc đẩy, cân bằng hay kìm hãm rất lớn đến hoạt động xuất khẩu Chính sáchthúc đẩy xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước tham gia tốt hơnvào quá trình phân công lao động quốc tế: có thể thực hiện quá trình chuyên môn hoá
Trang 8sâu hơn đồng thời tăng khả năng mở rộng sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu, mởrộng thị trường, mở rộng quan hệ hợp tác với đối tác nước ngoài Chính sách xuất khẩucần được tạo lập trong môi trường pháp lý thuận lợi thể hiện trong sự thống nhất cao
độ giữa mục tiêu thực hiện và sự phong phú đa dạng của các biện pháp thực thi chínhsách; Chính sách xuất khẩu góp phần phát huy những mặt tốt của nền kinh tế thịtrường đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực của nó Chính sách xuất khẩu cần thểhiện được vai trò của mình trong việc sử dụng các công cụ biện pháp để hạn chếnhững biểu hiện không lành mạnh trong sản xuất kinh doanh có thể xảy ra bằng chínhsách thuế, chính sách ưu đãi đặc biệt…
Thông qua việc xây dựng và thực hiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu đúng đắn sẽgóp phần thực hiện quá trình huy động và phân bổ nguồn lực của quốc gia như tàinguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực cho quá trình phát triển kinh tế quốc tế nói chung vàxuất khẩu nói riêng Điều đó thể hiện ở việc chính sách khuyến khích xuất khẩu mặthàng chế biến đòi hỏi nguồn nhân lực phải đáp ứng đủ cho hoạt động sản xuất hàng xuấtkhẩu, đồng thời phân bổ đội ngũ cán bộ công chức hợp lí trong việc thực thi các chínhsách xuất khẩu; Chính sách thúc đẩy của mỗi quốc gia góp phần vào việc xây dựng vàphát triển các ngành công nghiệp, các lĩnh vực kinh tế mới với trình độ công nghệ vàsức cạnh tranh ngày càng cao, phát huy tốt hơn lợi ích quốc gia
III Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế toàn cầu biến động phức tạp cùng với sựthay đổi lớn của giá năng lượng, lương thực và nhiều loại nguyên liệu khác Sự khủnghoảng của hệ thống tài chính toàn cầu ở cấp độ rộng, kinh tế thế giới đã trải qua nhữngnăm đầy khó khăn và sóng gió Đặc biệt bối cảnh kinh tế thế giới những năm gần đâycho thấy nền kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng không cao, chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn,phức tạp và khó lường, hậu quả của khủng hoảng kinh tế toàn cầu sẽ còn tiếp tục diễnbiến phức tạp Chính phủ của hàng loạt các quốc gia phải cắt giảm chi tiêu công, tỷ lệthất nghiệp cao trong điều kiện giá cả tăng khiến cho người tiêu dùng cũng đồng loạtphải cắt giảm chi tiêu, xu hướng này sẽ kéo dài có tác động tiêu cực đến phát triểnkinh tế
Dưới tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, EU nói riêng và các quốc gia trênthế giới nói chung đang đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và điều chỉnh các
Trang 9thể chế kinh tế trên quy mô toàn cầu Vị thế của các nước trong nền kinh tế thế giới sẽ
có thay đổi, vị thế siêu cường của Hoa Kỳ sẽ bị giảm, vai trò của EU, Trung Quốctrong nền kinh tế thế giới và thương mại toàn cầu sẽ tăng lên Khu vực Châu Á - TháiBình Dương tiếp tục phát triển năng động và đang hình thành nhiều hình thức liên kết,hợp tác đa dạng hơn, đáng chú ý là việc đàm phán ký kết Hiệp định đối tác chiến lượcxuyên Thái Bình Dương (TPP) với mức độ mở cửa và hợp tác cao hơn Quá trình quốc
tế hoá sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng; việc tham gia vàomạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã hình thành yêu cầu đối với các nềnkinh tế Việt Nam đang tích cực đẩy nhanh tiến trình đàm phán nhằm ký kết Hiệp địnhthương mại tự do với EU đã mở ra những cơ hội mới cho hàng hóa xuất khẩu của ViệtNam trên thị trường EU
Bối cảnh quốc tế đóng vai trò quan trọng chi phối việc đề xướng và thực thi chínhsách cải cách mở cửa kinh tế ở Việt Nam; Trước hết, những biến động lớn trên thế giớitạo ra áp lực cải cách lớn đối với Việt Nam: nếu không thực hiện cải cách mở cửa, hòamình vào trào lưu phát triển chung của thế giới thì Việt Nam sẽ mãi ở trong tình trạnglạc hậu, đóng cửa, và ngày càng tụt hậu so với các quốc gia khác Bên cạnh đó, nhữngbiến động đó cũng tạo ra động lực lớn đối với Việt Nam trong việc tiến hành cải cách
mở cửa, Việt Nam có thể tập trung nguồn lực cho xây dựng kinh tế; thực hiện chuyểnđổi cơ cấu ngành nghề theo hướng khai thác những lợi thế của đất nước, tận dụng ưuthế của những nước đi sau trong việc thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, từ đó đẩymạnh phát triển kinh tế, rút dần khoảng cách về kinh tế kỹ thuật, công nghệ với cácnước phát triển trên thế giới; Nhận thức và nắm bắt kịp thời xu thế biến động của môitrường quốc tế nên Việt Nam đã thành công trong chiến lược phát triển kinh tế của đấtnước Bên cạnh đó việc hoạch định chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam cầnquan tâm đến các nhân tố riêng có của thị trường EU để điều chỉnh chính sách cho phùhợp với thực tế: (1) Các tiêu chuẩn đối với hàng hoá nhập khẩu vào EU rất khắt khe:Quyền lợi của người tiêu dùng và vấn đề bảo vệ môi trường được Chính phủ các nước
EU quan tâm hàng đầu bảo vệ nhà sản xuất và việc làm truyền thống Do vậy, những
hệ thống rào kỹ thuật mới đã ra đời thay thế cho các biện pháp bảo vệ truyền thốngnhư là thuế quan và hạn ngạch Hàng hoá Việt Nam muốn vào được thị trường này thìphải vượt qua hệ thống các rào cản kỹ thuật đó của EU, được cụ thể hoá bởi các tiêuchuẩn của sản phẩm: chất lượng, sức khoẻ và an toàn, tiêu chuẩn về môi trường và vấn
đề trách nhiệm xã hội
Trang 10IV Những thuận lợi trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU
Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của EU dành cho các nước đangphát triển đã có từ năm 1971 Ngày 25/10/2012 Nghị viện châu Âu và Ủy ban châu
Âu đã ban hành Quy định số 978/2012, có hiệu lực từ 01/01/2014 và thực hiệntrong 10 năm tới, thay thế Chương trình GSP thực hiện theo Quy định số 732/2008 đãhết hiệu lực từ 31/12/2013 Quy chế GSP mới của EU có nhiều thuận lợi cho xuất khẩucủa Việt Nam và được các doanh nghiệp xuất khẩu rất quan tâm
GSP của EU phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO), cho phép có ưu đãi ngoại lệ ngoài quy chế Tối huệ quốc (MFN) của WTO đốivới các nước đang phát triển Chương trình này chỉ nhằm mục đích tạo ưu đãi chothương mại hàng hóa, mà không giải quyết các khó khăn hay vấn đề khác tại các nướcđang phát triển
Theo Quy định số 978/2012, có 90 nước được hưởng GSP, trong đó:
Nhóm GSP tiêu chuẩn có 41 nước, trong đó có Việt Nam (Phụ lục II) Theo phânloại thu nhập mới nhất của WB, Việt Nam hiện được coi là nước có thu nhập trungbình-thấp, do đó nằm trong diện được hưởng GSP tiêu chuẩn
Thỏa thuận chung (nhóm GSP tiêu chuẩn): Giảm thuế nhập khẩu cho các nước thụ hưởng, gồm tất cả các nước đang phát triển có nhu cầu và có mức thunhập đầu người từ trung bình trở xuống theo tiêu chí phân loại thu nhập củaNgân hàng Thế giới (WB)
Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có trong danh mục các mặt hàng đượchưởng GSP như: hàng dệt may, giầy dép, đồ gỗ, rau quả, thực phẩm chế biến… Tuynhiên, đa số các mặt hàng này đều trong diện nhạy cảm (S), nên chỉ được giảm thuếnhập khẩu Đặc biệt, các mặt hàng dệt may, nông sản, thủy sản còn phải tuân theo cácđiều khoản phòng vệ và giám sát khá chặt chẽ của EU đối với số lượng nhập khẩu(Phần II và Phần III của Quy định số 978/2012)
Doanh nghiệp Việt Nam trước khi xuất khẩu sang thị trường EU cần tìm trongPhụ lục V của Quy định số 978/2012 để xem sản phẩm của mình (theo mã HS 6 số và
mã CN 8 số) có được hưởng GSP hay không và thuộc loại không nhạy cảm (NS) haynhạy cảm (S), để biết hàng của doanh nghiệp sẽ được miễn thuế, hay chỉ được giảmthuế nhập khẩu vào EU
Trang 11Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU
Sau gần 3 năm đàm phán và ngày 2/12/2015, đã tuyên bố kết thúc đàm phán giữaViệt Nam và Liên minh Châu Âu, EVFTA sẽ sớm được ký kết, làm thủ tục phê chuẩnhiệp định và đi vào thực thi cam kết Việt Nam và EU đều mong muốn hoàn tất quátrình phê chuẩn trong thời gian sớm nhất để Hiệp định có thể có hiệu lực ngay từ đầunăm 2018
Trong tuyên bố chung hai bên vừa ký kết nêu rõ: EVFTA cùng với Hiệp định Đốitác và Hợp tác (PCA) sẽ sớm được phê chuẩn, sẽ đem lại lợi ích cho cả hai bên đồngthời giúp tăng cường hơn nữa mối quan hệ vững chắc và lâu dài hiện nay Hiệp địnhnày cũng sẽ mang lại cơ hội đáng kể cho các hoạt động kinh doanh, đầu tư và tạo thêmviệc làm tại Việt Nam và EU Hiệp định sẽ xóa bỏ hầu như toàn bộ thuế quan đối vớihàng hóa trao đổi giữa Việt Nam và EU
EVFTA là một hiệp định thương mại mang tính toàn diện, chất lượng và đảm bảocân bằng lợi ích của cả Việt Nam và EU Hiệp định bao gồm các lĩnh vực: các biệnpháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, dịch
vụ và đầu tư, mua sắm của Chính phủ, quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm cả chỉ dẫn địa lý,doanh nghiệp nhà nước, thương mại và phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng nănglực Hiệp định cũng bao gồm cách tiếp cận mới, tiến bộ hơn về bảo hộ đầu tư và giảiquyết tranh chấp đầu tư
Về xuất nhập khẩu, EVFTA có cam kết mở cửa thị trường mạnh mẽ, Việt Nam
và EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với hơn 99% số dòng thuế Đối với rất ít số dòngthuế còn lại, hai bên sẽ dành cho nhau hạn ngạch thuế quan hoặc cắt giảm thuế quanmột phần EVFTA được giới chuyên môn kỳ vọng sẽ là một cú hích quan trọng, giúp
mở rộng hơn nữa thị trường cho hàng xuất khẩu, đặc biệt là những sản phẩm mà haibên có thế mạnh như dệt may, giày dép, nông thủy sản, đồ gỗ của Việt Nam và máymóc, thiết bị, ô tô, đồ uống có cồn, một số loại nông sản của EU
Đối với dệt may, giày dép và thủy sản (trừ cá ngừ đóng hộp và cá viên) của ViệtNam, EU sẽ xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu cho các sản phẩm của Việt Nam trongvòng 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực Với cá ngừ đóng hộp, EU đồng ý dànhcho Việt Nam một lượng hạn ngạch thuế quan thỏa đáng
Với mặt hàng gạo, EU dành cho Việt Nam một lượng hạn ngạch đáng kể đối vớigạo xay xát, gạo chưa xay xát và gạo thơm Gạo nhập khẩu theo hạn ngạch này đượcmiễn thuế hoàn toàn Riêng gạo tấm, thuế nhập khẩu sẽ được xóa bỏ theo lộ trình Đốivới sản phẩm từ gạo, EU sẽ đưa thuế nhập khẩu về 0% trong vòng 7 năm
Trang 12Toàn bộ các sản phẩm rau củ quả, rau củ quả chế biến, nước hoa quả khác, túixách, vali, sản phẩm nhựa, sản phẩm gốm sứ thủy tinh… về cơ bản sẽ được xóa bỏthuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực.
Đối với xuất khẩu của EU, cam kết của Việt Nam đối với các mặt hàng chính như
ô tô, xe máy, Việt Nam cam kết sẽ đưa thuế nhập khẩu về 0% sau từ 9 tới 10 năm,riêng xe máy có dung tích xy-lanh trên 150 cm3 có lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu là 7năm Rượu vang, rượu mạnh, bia, thịt lợn và thịt gà: Việt Nam đồng ý xóa bỏ thuếnhập khẩu trong thời gian tối đa là 10 năm
Theo Bộ Công Thương, EU hiện là đối tác thương mại lớn thứ 2 và là một tronghai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Kim ngạch thương mại hai chiều ViệtNam-EU đã tăng từ 17,75 tỷ đô la Mỹ vào năm 2010 lên 36,8 tỷ đô la Mỹ năm 2014.Trong 6 tháng đầu năm 2015, tổng thương mại hai chiều đạt 19,4 tỷ đô la Mỹ, tănghơn 11% so với cùng kỳ năm 2014 Trong đó, xuất khẩu sang EU đạt 14,9 tỷ đô la vànhập khẩu từ EU đạt 4,5 tỷ đô la Đặc điểm nổi bật trong cơ cấu xuất nhập khẩu giữaViệt Nam và EU là tính bổ sung rất lớn, ít mang tính cạnh tranh đối đầu trực tiếp Cácnhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang EU là giày dép, dệt may, cà phê, đồ
gỗ, hải sản
Trong lĩnh vực đầu tư, theo số liệu thống kê, EU cũng là nhà đầu tư lớn vào ViệtNam Tính đến hết 6 tháng đầu năm 2015, đã có 23 trong số 28 nước EU đầu tư vàoViệt Nam với hơn 2.100 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 38,4 tỷ
đô la Mỹ Các nhà đầu tư EU đã có mặt tại hầu hết các ngành kinh tế quan trọng củaViệt Nam, tập trung nhiều nhất vào công nghiệp, xây dựng và một số ngành dịch vụ.EVFTA được kỳ vọng sẽ giúp thúc đẩy luồng vốn đầu tư với các dự án chấtlượng cao của EU và cả các đối tác khác vào Việt Nam, Việt Nam có cơ hội trở thànhđịa bàn trung chuyển, kết nối cho hoạt động thương mại và đầu tư của EU trong khuvực Điều này sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hìnhtăng trưởng theo hướng tích cực của Việt Nam
Bên cạnh đó, các cam kết liên quan đến mua sắm của Chính phủ, bảo hộ sở hữutrí tuệ cũng sẽ mở ra cơ hội cho cả hai bên tiếp cận thị trường của nhau, đảm bảo lợiích tổng thể, cân bằng
Trang 13CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU TRONG ĐIỀU KIỆN
THAM GIA VÀO WTO
Thực hiện chính sách đổi mới, quá trình cải cách kinh tế toàn diện của ViệtNam đã thực sự đem đến một giai đoạn thay đổi sâu sắc về môi trường chính sách vàđịnh chế phục vụ cho phát triển kinh tế Chỉ trong một thời gian ngắn, Việt Nam
đã tiến hành thay đổi căn bản cơ chế quản lý kinh tế và nỗ lực để đạt được các nềnmóng định chế của một nền kinh tế thị trường Trong số các chính sách kinh tế đemlại những thành tựu vượt bậc của Việt Nam, nhóm chính sách thúc đẩy hoạt độngxuất khẩu hàng hoá đã đóng một vai trò khá quan trọng Hoạt động thương mại quốc tếnói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng của Việt Nam đã tăng trưởng khôngngừng, đem lại thu nhập, việc làm và tạo nền tảng cho sự chuyển dịch cơ cấu nềnkinh tế
I Chính sách mặt hàng xuất khẩu
Mục tiêu chính sách mặt hàng: Xây dựng và nâng cao chất lượng cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu phù hợp với lợi thế của quốc gia Trong địnhhướng phát triển xuất khẩu, Bộ Công Thương tập trung vào 2 hướng chính:
Thứ nhất: tập trung phát triển những mặt hàng lớn vì các mặt hàng này tăngtrưởng sẽ tạo ra giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn, giải quyết nhiều lao động và cácvấn đề xã hội khác (thủy sản, cà phê, gạo…) Thứ hai: tập trung vào các mặthàng có kim ngạch xuất khẩu tuy chưa lớn nhưng vừa qua có tốc độ tăng trưởngnhanh, có tiềm năng, không bị hạn chế hoặc chưa bị hạn chế về thị trường, hạnngạch
Trong giai đoạn 2010 - 2015, tiếp tục xuất khẩu hàng hóa có lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động Đồng thời chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu từ sảnphẩm thô, sơ chế sang xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu có giá trị cao thông qua pháttriển công nghệ chế biến, gắn vùng nguyên liệu với công nghiệp chế biến Lựa chọnmặt hàng kinh doanh có nhiều triển vọng, có thế mạnh của Việt Nam như gạo, càphê, cao su, hạt điều, thuỷ sản, dệt may Việt Nam phải đầu tư cải tiến công nghệsản xuất hàng xuất khẩu để nâng cao chất lượng, tăng cạnh tranh, cải tiến mẫu mã,giảm giá thành và giá xuất khẩu Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, nên tậptrung vào công nghệ bảo quản và công nghệ chế biến cho các mặt hàng thủy sản,
Trang 14cà phê, gạo, xuất khẩu trước hết phải đảm bảo tiêu dùng trong nước, đảm bảocác cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: (1)Nhóm hàng khoáng sản, nhiên liệu: Để tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường,trong những năm tới kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng khoáng sản, nhiên liệuxuống (2) Nhóm hàng nông lâm thủy sản: Giá trị xuất khẩu các mặt hàng nàytrong những năm gần đây có xu hướng tăng lên Đây là những mặt hàng chịunhiều tác động của thị trường thế giới Kim ngạch xuất khẩu của nhóm mặt hàngnày đang có xu hướng tăng nhanh Tóm lại, do đã có quá trình phát triển lâu dài, đãkhai thác phần lớn tiềm năng nên hoạt động xuất khẩu nông, lâm, thủy sản củaViệt Nam những năm qua có xu hướng tăng trưởng chậm lại về khối lượng, nhưngvẫn gia tăng nhanh về giá trị do giá cả thế giới có xu hướng tăng lên.
Việc gia nhập WTO đã đặt ngành xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trước những thời cơ và thách thức mới Để các mặt hàng này thực sự trở thành thếmạnh của xuất khẩu Việt Nam, về lâu dài cần phát triển theo hướng: nâng caodần chất lượng sản phẩm, gia tăng hàm lượng chế biến, đẩy mạnh hoạt động xâydựng và quảng bá thương hiệu, phát triển hạ tầng pháp lý (3) Nhóm hàng chếbiến: Đây là nhóm hàng gồm nhiều mặt hàng chủ lực như: dệt may, giày dép, sảnphẩm cơ khí, sản phẩm nhựa, gỗ, điện tử, thủ công mỹ nghệ,… Có thể phânnhóm hàng này thành hai nhóm nhỏ: (1) Hàng chế biến chính: thủ công mỹ nghệ, dệtmay, da giày, thực phẩm chế biến, hóa phẩm tiêu dùng, sản phẩm gỗ, sản phẩm
cơ khí, vật liệu xây dựng (2) Hàng chế biến cao bao gồm: điện tử, linh kiện máytính, phần mềm
Trước tiên là dệt may và da giày: Tình hình xuất khẩu dệt may, da giày của Việt Nam trong gần 8 năm gần đây luôn ổn định Tốc độ tăng trưởng bình quân củangành dệt may là 23%, da giày là 15,3% Hai ngành này có chung đặc điểm là sửdụng nhiều lao động, phù hợp với lợi thế lao động giá rẻ ở Việt Nam Nhữnghạn chế của các ngành này là phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu của nước ngoài(60%-70%), hao phí điện năng lớn Hai là Sản phẩm gỗ: Các sản phẩm gỗ gia tăng giátrị xuất khẩu một cách đều đặn trong những năm gần đây Trong gần 8 năm qua, giátrị xuất khẩu tăng gấp hơn 6 lần Gia nhập WTO mở ra những thuận lợi và cả khókhăn cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu sang thị trường EU Ba là Máy tính và linhkiện điện tử: Ngành xuất khẩu hàng điện tử và linh kiện máy tính đang ngày càng
có vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam, tốc độ tăng trưởng xuất
Trang 15khẩu bình quân của mặt hàng này trong 6 năm qua đạt khoảng 29%, cao nhất trong sốcác mặt hàng chủ lực.
Như vậy, vấn đề nan giải đối với các sản phẩm chế biến: dệt may, da giày, sảnphẩm gỗ, sản phẩm nhựa… là nguồn nguyên, phụ liệu phần lớn phải nhập khẩu từnước ngoài Do vậy, giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu chưa cao, các doanhnghiệp chưa thực sự chủ động trong việc kí kết các hợp đồng, nhiều sản phẩm chếbiến còn mang tính chất gia công
Bảng 2.1: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào EU trước gia nhậpWTO
Đơn vị: triệuUSD
Nguồn: Tổng cục hải quan
Qua bảng số liệu cho thấy, trước khi gia nhập WTO, Việt Nam xuất khẩu vào EUvới những mặt hàng chủ yếu vẫn là giày dép, dệt may, thuỷ sản, cà phê Các mặt hàngnày thường xuyên chiếm trên 50% đến 80% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thịtrường EU
Giai đoạn 2002 đến nay là giai đoạn khó khăn, thử thách đối với hàng xuất khẩu Việt Nam vì EU đang cắt giảm dần ưu đãi thuế quan đối với hàng xuất khẩu củacác nước đang phát triển và đã kết thúc giai đoạn 2 thực hiện GSP vào cuối 2004.Hơn nữa, thời kỳ này Việt Nam ở vào thế bất lợi trong cuộc cạnh tranh giành giật thịtrường với hàng xuất khẩu của Trung Quốc cũng như các nước ASEAN khác
Bảng 2.2: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào EU sau gia nhập WTO
Trang 16Đơn vị: triệu USD
Mặt hàng 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Giày dép 2176.3 2500 1948 2226.2 2587.2 2632.8 2964.1 Dệt may 1487.6 1800 1603 1883.5 2522.7 2412.7 2730.2 Thủy sản 911.5 1140 1050.5 1137.1 1318.3 1087.9 1099.5
Cà phê 878.9 820 813.1 696.6 1031.3 1247.4 1330.2
Đồ gỗ 621.2 791.8 550.2 626.1 594.1 634.6 575.6 Điện tử vi tính 415.2 456 415.7 576.9 784.3 1519.7 2618.3 Thủ công 119.3 143.2 154 156.8 152.8 139.8 140.1 Sản phẩm
Nguồn: Tổng cục hải quan
Từ năm 2005 đến thời điểm sau gia nhập WTO của Việt Nam, ngoài những mặthàng có kim ngạch xuất khẩu lớn như Giày dép, dệt may, thủy sản, cà phê thì kim ngạch
đồ gỗ và điện tử vi tính đã được tăng lên đáng kể
Thứ nhất, giày dép: EU là thị trường nhập khẩu giày dép lớn thứ 2 trên thế giớisau Hoa Kỳ, nhu cầu nhập khẩu những năm gần đây khoảng trên 36 tỷ USD/năm.Trong những năm vừa qua, giày dép Việt Nam xuất khẩu vào EU tăng trưởng nhanh vềkhối lượng và kim ngạch xuất khẩu Đến nay, EU vẫn là thị trường lớn nhất tiêu thụ giàydép của Việt Nam với doanh thu năm 2012 đạt 2,63 tỉ USD, tăng 32,78% so với năm
2006 và chiếm 36,3% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam Năm
2013 đạt 2,96 tỉ USD, tăng 35,78% so với năm 2007 và chiếm 36,23% tổng kimngạch xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam Đây là một nỗ lực rất lớn của ngành dagiày Việt Nam trong bối cảnh chịu nhiều sức ép hơn về thuế và các rào cản so với một
số nước như Brazil, Indonesia đặc biệt từ ngày 6 tháng 10 năm 2006, EU áp thuếchống bán phá giá giày mũ da sản xuất tại Việt Nam xuất khẩu sang EU là 10% Mặcdầu vậy, 2009 được coi là một năm khó khăn của giày da Việt Nam khi xuất khẩu sangthị trường EU bởi bắt đầu từ năm 2009, EU đã bãi bỏ GSP với giày da Việt Nam, khi đóthuế suất từ 4,5% lên 8% đối với giày mũ da; từ 7,5 - 8% lên 11,5% đối với giày giả da
và từ 11,5% lên 17% đối với giày vải
Thứ hai, dệt may: Tiếp theo sau là hàng dệt may với mức tăng kỷ lục, năm
2012 đạt trên 2,4 tỷ USD gấp 4,4 lần năm 2002 và tăng 94,84% so với năm 2006, tức
Trang 17là trước khi gia nhập WTO Điều này có được là nhờ quyết định thoả thuận Việt Namgia nhập WTO với EU để bỏ hạn ngạch dệt may vào thị trường EU ngày01/01/2005 Năm 2013, kim ngạch dệt may của Việt Nam vào EU đạt trên 2,73 tỷUSD gần gấp đôi năm 2007 và tăng gấp 1,14 lần so với năm 2012 Tuy nhiên, phần lớnkhối lượng hàng dệt may của Việt Nam xuất sang EU là hàng gia công
Thứ ba, thuỷ sản: EU là thị trường tiêu thụ thuỷ sản lớn trên thế giới, nhập khẩunhiều nhất philê cá đông lạnh: chủ yếu là cá tuyết, cá tuyết vàng, cá tra, sau đólà tômđông lạnh, cá ngừ Hàng năm, kim ngạch nhập khẩu khoảng 40 tỷ USD Kim ngạch xuấtkhẩu thuỷ sản của Việt Nam vào EU chỉ đạt khoảng 2,7% tổng kim ngạch nhậpkhẩu thủy sản của EU - Thuỷ sản hiện là mặt hàng xuất khẩu thứ 3 của nước ta vào thịtrường EU Trong năm 2011, xuất khẩu thuỷ sản nước ta vào EU tiếp tục tăng mạnhđạt trên 1,31 tỷ USD tăng 44,63% với năm 2007 - năm đầu tiên Việt Nam gia nhậpWTO Năm 2012, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU giảm 17,48%
so với năm 2011, thay vào đó là kim ngạch mặt hàng điện tử vi tính năm 2012 tăng lênđến 93,77% so với 2011 Năm 2013, một năm đầy khó khăn và thử thách với cácdoanh nghiệp Việt Nam tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang
EU vẫn đạt 1,099 tỷ USD, đây là con số đáng mừng trong so với năm 2012 kimngạch mặt hàng này còn giảm mạnh Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu mặt hàng nàyđến năm 2020 đạt 3,0 tỷ USD Tuy tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sảncủa Việt Nam sang EU khá nhanh nhưng tốc độ tăng trưởng không ổn định và còn cách
xa tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam Nguyên nhân do nguồn nguyên liệu chưa ổnđịnh, hàng thuỷ sản chưa đáp ứng tốt tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh thực phẩm của
EU và còn bị sức ép cạnh tranh từ phía Thái Lan Thời gian qua, Việt Nam chủ yếuxuất khẩu nguyên liệu và sản phẩm sơ chế nên hiệu quả xuất khẩu thấp Trong thờigian tới, Việt Nam cần chú trọng xuất khẩu sản phẩm đảm bảo đáp ứng tiêu chuẩncủa EU, tăng cường xuất khẩu sản phẩm qua chế biến, có giá trị gia tăng cao
Thứ tư, cà phê: EU là thị trường tiêu thụ lớn nhất đối với cà phê Việt Nam, chiếm tỷ trọng khoảng 45% trong xuất khẩu của Việt Nam Với cà phê thì hiện nay EU
là thị trường tiêu thụ cà phê xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam chiếm tỷ trọng khoảng50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của nước ta Năm 2007 xuất khẩu cà phêđạt trên 878,7 triệu USD, tăng gấp gần 6 lần so với năm 2002 và tăng trên 63% so vớinăm 2006 Kết quả này có được một phần lớn là do giá cà phê năm 2007 tăng mạnh trênthị trường thế giới; Tuy nhiên, tình hình xuất khẩu cà phê năm2008, 2009, 2010 của Việt
Trang 18Nam vào thị trường EU lại giảm mạnh Nguyên nhân của tình trạng này là do khủnghoảng kinh tế thế giới và kinh tế Châu Âu đã tác động giảm tổng cầu nhập khẩu cà phê
và giá cà phê thế giới trong những năm này có xu hướng giảm, đồng thời sản lượngsản xuất cà phê trong nước cũng suy giảm Từ năm 2011, kim ngạch xuất khẩu cà phêlại có xu hướng tăng trở lại, tăng 48% so với năm 2010, năm 2012 kim ngạch xuất khẩu
cà phê tiếp tục tăng mạnh đạt 1.247,7 triệu USD, gấp 2,32 lần năm 2006 - Năm trước khiViệt Nam gia nhập WTO Năm 2013 kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam sang EUđạt 1,33 triệu USD, tăng gần gấp 2 lần năm 2007 Phấn đấu, kim ngạch xuất khẩu đếnnăm 2020 đạt 1.600 triệu USD
Thứ năm: Sản phẩm gỗ là mặt hàng có tiềm năng phát triển do EU là thị
trường tiêu thụ đồ gỗ lớn nhất thế giới Đồ gỗ của Việt Nam đã thâm nhập được vào hầu hết các nước EU trong đó những nước nhập khẩu chính là Anh, Pháp, Đức, Đan Mạch Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu đến năm 2020 đạt 1.800 triệu USD
II Chính sách thị trường
Mục tiêu chính sách thị trường: Trong giai đoạn đổi mới sau gia nhập WTO, Việt Nam hướng tới xây dựng được thị trường trọng điểm và khai thác tốt hơn các thịtrường tiềm năng như Đức, Anh, Pháp, Hà Lan và hướng vào một số thị trường có kimngạch xuất khẩu tăng nhanh trong những năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO
Mô hình chính sách: Thực hiện chính sách đổi mới cùng với các cam kết gia
nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành hoạt động thương mại quốc tế với xu hướng đa dạng hoá thị trường, từng bước gắn liền nền kinh tế nước ta với thị trường quốc tế theonguyên tắc đảm bảo độc lập, chủ quyền dân tộc, an ninh quốc gia và cùng có lợi
Nội dung chính sách: Chính sách thị trường của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới thực hiện đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu Bên cạnh những khó khăn như xuấtphát điểm của nền kinh tế thấp, đang trong quá trình chuyển đổi, nền kinh tế thị trường
ở giai đoạn sơ khai, các yếu tố cơ bản, đồng bộ của một thị trường chưa phát triển đầy đủ, nước ta có những lợi thế riêng về tài nguyên và lao động
Trong số các thị trường chủ lực của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam bao gồm, các nước Châu Á (như Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông), Châu Âu (chủ yếu là các nước EU), các nước Bắc Mỹ (Hoa Kỳ, Canada), Châu Đại Dương (Australia) thì thị trường EU luôn đạt tốc độ tăng trưởng caotrong những năm qua Hoạt động xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường
Trang 19EU trong những năm qua đã có những đóng góp đáng kể làm tăng kim ngạch xuấtkhẩu hàng hoá của nước ta; Liên minh Châu Âu luôn là một đối tác lớn, truyền thống vàđầy tiềm năng của Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EUtăng đều qua các năm trong giai đoạn 2002 - 2013 với tỷ lệ tăng trung bình cho cả giaiđoạn đạt trên 20%.
Về giày dép, Bộ Công thương chỉ đạo phải đẩy mạnh nghiên cứu thị trường, xúc tiến xuất khẩu vào các thị trường có tiềm năng, trong đó tập trung vào thịtrường Hoa Kỳ, EU Về thuỷ sản sẽ phát triển ổn định nguồn nguyên liệu, bảo đảm chấtlượng, vệ sinh an toàn thực phẩm; đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường trọng điểm nhưHoa Kỳ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc Về gỗ, Bộ Công thương sẽ tăng cường chỉ đạocông tác thông tin, xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, giúp các doanh nghiệp tổchức nhập khẩu gỗ nguyên liệu, bảo đảm nguồn cung ứng cho sản xuất hàng xuất khẩu
Để nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất nhập khẩu, cơ chế chính sách cần có sự nhấtquán và ổn định trong thời gian dài, giúp các doanh nghiệp xây dựng định hướng đầu
tư và phát triển; cần hỗ trợ trực tiếp cho việc thực hiện các mục tiêu xuất khẩu về mặthàng và thị trường; các chính sách khuyến khích phải đến đúng đối tượng, tập trung vàođúng mặt hàng, đúng thị trường và đúng chủ thể cần khuyến khích; xây dựng chính sáchkhuyến khích phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, các mặt hàng có kim ngạchnhỏ, có tiềm năng và tốc độ tăng trưởng cao Những giải pháp xúc tiến thương mại
và phát triển thị trường ngoài nước cần tiếp tục tập trung chuyên nghiệp hóa hoạt độngxúc tiến thương mại, phát triển thương hiệu, nghiên cứu sàn giao dịch, thương mại điệntử; thực hiện chương trình và thành lập Quỹ Xúc tiến thương mại trọng điểm quốcgia; xây dựng giải pháp chuyển đổi cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu; nâng cao tráchnhiệm và hiệu quả hoạt động của các Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài; tăng cườngcung cấp thông tin thị trường ngoài nước
Về phía nhà nước, cần tiến hành các hoạt động Thương mại quốc tế theo quan điểm mở cửa (đa dạng hoá thị trường, từng bước gắn liền nền kinh tế nước ta vớithị trường quốc tế theo nguyên tắc đảm bảo độc lập, chủ quyền dân tộc, an ninh quốcgia và cùng có lợi) Nhà nước đề ra các chính sách, chiến lược nhằm quy hoạch,xây dựng các dự án sản xuất hàng hoá xuất khẩu trên cơ sở đánh giá đúng tiềm năng
và lợi thế của từng vùng Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại: Chính phủ cần
hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm thông tin về thị trường xuất khẩu
Trang 20Về phía doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường nước ngoài để nắm bắt cơ hội kinh doanh, xuất khẩu những hàng hóa thịtrường cần Các doanh nghiệp có thể nghiên cứu chính sách thương mại, mở văn phòngđại diện, thành lập cơ quan xúc tiến thương mại tại các thị trường xuất nhập khẩu lớn,đào tạo đội ngũ nhân viên marketing giỏi Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần
có phương pháp tiếp cận tốt các kênh phân phối thông qua các tập đoàn kinh tế lớn ởthị trường EU - thông qua các tập đoàn kinh tế; Đa dạng hoá thị trường và trong mộtthị trường cần đa dạng hoá mặt hàng (tránh tình trạng khi hàng xuất khẩu của nước tatăng lên đạt đến một quy mô nhất định thì các nước nhập khẩu lại dựng lên hàng rào
kỹ thuật)
Đáng chú ý, trong quan hệ buôn bán với EU, Việt Nam giữ vị thế xuất siêu liêntục với quy mô khá cao (năm 2012 đạt trên 11,5 tỷ USD, quý I/2013 đạt 2,9 tỷ USD) -Đây là một kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh suy thoái toàn cầu hiện nay Theo
cơ cấu thị trường các nước thành viên EU thì Đức, Anh, Hà Lan, Pháp, Bỉ, Italia là cácthị trường xuất khẩu hàng hoá lớn nhất và xuất siêu của Việt Nam qua nhiều năm từgiai đoạn 2002 tới nay Trong khi đó thì các nước như Áo, Thụy Điển, Ai Len, Bồ ĐàoNha, Đan Mạch chưa phải là các thị trường tiêu thụ lớn của Việt Nam, tuy nhiên cũng
đã có tăng trưởng tốt trong thời gian qua
Các thị trường mới nổi như Hy Lạp và Tây Ban Nha có được mức tăng trưởng khácao Đối với 12 nước thành viên gia nhập sau của EU thì xuất khẩu của ta vào một sốnước có gia tăng như Slovakia, Slovenia, Látvia, Hungari, Cộng Hoà Séc… Nhưng một
số nước tuy có gia tăng lớn trong kim ngạch xuất khẩu nhưng vẫn còn rất nhỏ bé
Chính sách thị trường xuất khẩu của Việt nam vào EU trong thời gian qua vẫn chú trọng tập trung thị trường như: Đức, Anh, Hà Lan, Pháp, Bỉ Đặc biệt từ năm
2007 - Việt Nam đã gia nhập vào WTO đến nay, Đức vẫn là thị trường xuất khẩu lớnnhất của Việt Nam tại EU với kim ngạch xuất khẩu năm 2012 đạt 4,095 tỷ USD cao gấp2,2 lần năm 2007 - Đây là kết quả rất đáng khích lệ trong khi kinh tế Đức rơi vào suythoái sâu tại Châu Âu vào thời gian này; Xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thịtrường các nước EU đều tăng, tuy nhiên với tốc độ chậm
EU vốn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, khi kim ngạch tăng với tốc độ cao qua các năm (năm 2012 cao gấp 5,8 lần năm 2002) Trong bối cảnh EUvướng vào khủng hoảng nợ công, người dân “thắt lưng buộc bụng”, làm cho nhu cầu