Danh sách các nguồn thu thập số liệu Cơ cấu nhóm thuốc và giá trị sử dụng của các nhóm thuốc năm 2015 Cơ cấu tiêu thụ thuốc tại Bệnh viện theo nguồn gốc, Xuất xứ Cơ cấu các nhóm thuốc
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN THỊ THANH BÌNH
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN HỚN QUẢN - TỈNH BÌNH PHƯỚC
NĂM 2015
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA I
HÀ NỘI 2016
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRẦN THỊ THANH BÌNH
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC
ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN HỚN QUẢN - TỈNH BÌNH PHƯỚC
NĂM 2015
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH : TỔ CHỨC QUẢN LÍ DƯỢC
MÃ SỐ : CK 60720412
Người hướng dẫn Khoa học: GS.TS Nguyễn Thanh Bình
HÀ NỘI 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bài Luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và có hiệu quả của rất nhiều cá nhân và tập thể, của các thầy cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Thanh Bình - người thầy kính mến đã tận tình chỉ bảo tôi trong
suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài Nhân đây , tôi xin bày tỏ lòng biết ơnchân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, các Thầy, các
Cô Bộ môn Quản lý kinh tế dược của Trường Đại học Dược Hà Nội, đã ủng
hộ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi học tập nghiên cứu và hoànthành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, khoa Dược, Phòng tổ chức cán bộ, Phòng kế hoạch tổng hợp, Phòng tài chính kế toán của Trung tâm Y tếhuyện Hớn Quản - nơi tôi công tác đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn và hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, các bạn đồng nghiệp
và những người thân đã chia sẻ, động viên tôi vượt qua những khó khăn, trở ngại để tôi được yên tâm học và hoàn thành bản luận văn
DS TRẦN THỊ THANH BÌNH
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN 3
1.1 KHÁI QUÁT VỀ MỘT SỐ DANH MỤC THUỐC ĐANG SỬ DỤNG TẠI CAC CƠ SỞ Y TẾ 3
1.1.1 Sự ra đời của danh mục TTY 3 1.1.2 Khái niệm danh mục TTY 4 1.1.3 Các tiêu chí lựa chọn thuốc thiết yếu của WHO 4 1.1.4 Khái quát về Danh mục TTY ở Việt Nam 5 1.1.5 Khái quát về Danh mục thuốc chủ yếu tại các cơ sở khám, chữa bệnh 6 1.1.6 Khái quát về Danh mục thuốc bệnh viện 7
1.2 HỘI ĐỒNG THUỐC VÀ ĐIỀU TRỊ (HĐT&ĐT) 10
2.2.1 Chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng Thuốc và Điều trị 10 2.2.2 Vai trò Hội đồng Thuốc và Điều trị trong chu trình quản lý thuốc 11
1.3 THỰC TRẠNG CUNG ỨNG THUỐC TRONG CÁC BỆNH VIỆN NƯỚC TA HIỆN NAY VÀ HƯỚNG ĐI CỦA ĐỀ TÀI 11 1.4 TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC 16
1.4.1 Sơ đồ tổ chức, chức năng, nhiệm vụ củaTTYT Hớn quản - Bình Phước: 16 1.4.2 Khoa Dược TTYT huyện Hớn Quản: 18 1.4.3 Hội Đồng Thuốc và Điều Trị TTYT huyện Hớn Quản 21 1.5 MÔ HÌNH BỆNH TẬT CỦA BỆNH VIỆN 22
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 26
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 26 2.2.2 Thu thập số liệu 26 2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 27 Phân tích cơ cấu và tính phù hợp của DMT 27 2.2.4 Trình bày số liệu 29
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
PHÂN TÍCH TÍNH HỢP LÝ CỦA DANH MỤC THUỐC ĐÃ SỬ DỤNG NĂM 2015 30
3.1.Cơ cấu DMT theo nhóm tác dụng dược lý 30 3.2 Cơ cấu thuốc tiêu thụ theo nguồn gốc, xuất xứ 35 3.3 Cơ cấu thuốc theo phân loại tân dược - thuốc có nguồn gốc dược liệu 37 3.4 Tỷ lệ thuốc đơn thành phần và đa thành phần 38 3.5 Cơ cấu thuốc mang tên gốc và thuốc mang tên thương mại 39 3.6 Tỷ lệ thuốc uống, thuốc tiêm - tiêm truyền và các dạng bào chế khác 40 3.7 Cơ cấu DMT theo quy chế chuyên môn 41 3.8 Thuốc ngoài danh mục được sử dụng trong năm 2015 42 3.9 Cơ cấu nguồn kinh phí của TTYT 43 3.10 Phân tích danh mục thuốc theo phân loại ABC 44 3.10.1 Phân loại các nhóm thuốc ABC 44
Trang 53.10.2 Khoản mục thuốc trong nhóm A 47
a) Danh sách 10 thuốc có giá trị sử dụng cao nhất được thể hiện qua bảng sau: 47 b) Phân tích nhóm dược lý và giá trị sử dụng của những thuốc của nhóm A ta có bảng sau: 48 c) Phân tích VEN cho các thuốc nhóm A 49
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 53
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
`
Trang 6DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ADR: Asdverse Drug Reaction (Phản ứng có hại của thuốc) BVĐK: Bệnh viện đa khoa
HĐT&ĐT: Hội đồng Thuốc và điều trị
KHKT: Khoa học kỹ thuật
VEN: Vital, Essential, Non-essential
WHO : World Health Organization (Tổ Chức Y Tế Thế Giới)
Trang 7Danh sách các nguồn thu thập số liệu
Cơ cấu nhóm thuốc và giá trị sử dụng của các nhóm thuốc năm
2015
Cơ cấu tiêu thụ thuốc tại Bệnh viện theo nguồn gốc, Xuất xứ
Cơ cấu các nhóm thuốc theo phân loại tân dược- thuốc có nguồn gốc dược liệu
Tỷ lệ thuốc đơn thành phần và thuốc đa thành phần trong DMT
Tỷ lệ thuốc mang tên gốc -thuốc mang tên thương mại trong DMT
BV năm 2015
Tỷ lệ thuốc uống và thuốc tiêm trong DMT năm 2015
Cơ cấu DMT của TTYT huyện Hớn Quản năm 2015 theo quy chế chuyên môn
Danh sách thuốc ngoài Danh mục thuốc TTYT huyện Hớn Quản năm 2015
Cơ cấu nhóm thuốc ABC của Danh mục thuốc tiêu thụ năm 2015 Danh sách 35 thuốc thuộc nhóm A năm 2015
Cơ cấu nguồn kinh phí của Bệnh viện TTYT huyện Hớn Quản Kinh phí mua thuốc TTYT huyện Hớn Quản năm 2015
`
Trang 8Chu trình quản lý thuốc
Sơ đồ tổ chức TTYT huyện Hớn Quản
Quy trình xây dựng Danh mục thuốc TTYT huyện Hớn Quản năm 2015
Biểu đồ cơ cấu số lượng thuốc (Đơn chất và hợp chất) của các nhóm thuốc năm 2015
Biểu đồ tỷ lệ giá trị sử dụng các nhóm thuốc năm 2015 Biểu đồ cơ cấu tiêu thụ thuốc Bệnh viện theo nguồn gốc, xuất xứ
Biểu đồ cơ cấu thuốc Tân dược - Đông dược Biểu đồ cơ cấu số lượng danh mục của các nhóm A B C Biểu đồ cơ cấu giá trị của các nhóm A B C
Biểu đồ cơ cấu nguồn kinh phí của TTYT huyện Hớn Quản
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Các nghiên cứu đã cho thấy tình trạng sử dụng thuốc bất hợp lý xảy
ra tại nhiều nước trên thế giới Việc sử dụng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp
lý nói chung và trong Bệnh viện nói riêng đã và đang là vấn đề bất cập của nhiều quốc gia Đây cũng là một trong các nguyên nhân chính làm gia tăng chi phí cho người bệnh, giảm chất lượng chăm sóc sức khoẻ và uy tín của các
cơ sở khám chữa bệnh Theo một số nghiên cứu, kinh phí mua thuốc chiếmkhoảng 30% - 40% ngân sách ngành Y tế của nhiều nước, và phần lớn số tiền
đó bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả Tại các nước đang phát triển, 30%- 60% bệnh nhân sử dụng kháng sinh gấp 2 lần so với tình trạng cần thiết và hơn một nửa số ca viêm đường hô hấp trên điều trị kháng sinh không hợp clý Tại châu Âu, sự
đề kháng của phế cầu với penicillin tỷ lệ thuận với lượng kháng sinh được
sử dụng
Tại Việt Nam, với những chính sách mở cửa theo cơ chế thị trường
và đa dạng hoá các loại hình cung ứng thuốc, thị trường thuốc ngày càng phong phú cả về số lượng và chủng loại Theo số liệu của Cục quản lý Dược, hiện có khoảng 22.615 số đăng ký thuốc lưu hành còn hiệu lực, trong đó có 11.923 số đăng ký thuốc nước ngoài với khoảng 1000 hoạt chất và 10.692 số đăng ký thuốc sản xuất trong nước với khoảng 500 hoạt chất Điều này giúp cho việc cung ứng thuốc nói chung và cung ứng thuốc trong bệnh viện dễ dàng và thuận tiện hơn Tuy nhiên, nó cũng gây ra nhiều khó khăn, lúng túng trong việc chọn lựa, sử dụng thuốc chữa bệnh không chỉ với các bệnh viện mà ngay cả trong cộng đồng
1
Trang 10Để hạn chế tình trạng trên, Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo các quốc gia thành lập Hội đồng thuốc và Điều trị (HĐT&ĐT) tại các bệnh viện HĐT&ĐT là hội đồng được thành lập nhằm đảm bảo tăng cường độ an toàn và hiệu quả sử dụng thuốc trong các bệnh viện Thành viên của
HĐT&ĐT bao gồm các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế độ chăm sóc tốt nhất với chi phí phù hợp thông qua việc xác định xem loại thuốc thiết yếu nào cần phải cung ứng, giá cả và sử dụng hợp lý an toàn
Ngày 4/7/1997, Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành Thông tư số 08/BYT-TT hướng dẫn về việc tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng Thuốc và Điều trị ở bệnh viện và ngày 08/08/2013 Bộ Y tế Việt Nam ban hành Thông Tư 21/2013/BYT-TT Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị trong bệnh viện Chính vì vậy, tôi chọn đề tài
"Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Trung tâm Y tế huyện Hớn Quản tỉnh Bình Phước năm 2015" " với mục tiêu là Phân tích tính hợp lý
danh mục thuốc đã được sử dụng năm 2015 tại Trung tâm y tế Hớn Quản - Bình Phước
Trên cơ sở đó đề xuất một quy trình xây dựng DMT hợp lý và giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc hiệu quả cho Trung tâm y tế Hớn Quản - BìnhPhước những năm tiếp theo
Trang 11CHƯƠNGươ 1.TỔNG QUAN
1.1 KHÁI QUÁT VỀ MỘT SỐ DANH MỤC THUỐC ĐANG SỬ DỤNG TẠI CAC CƠ SỞ Y TẾ
1.1.1 Sự ra đời của danh mục TTY
Đầu những năm 70 của thế kỷ thứ XX, tình trạng sử dụng thuốc chưa hợp lý, an toàn tại tất cả các quốc gia trên thế giới, vì vậy đại hội đồng Y tế thế giới đã uỷ nhiệm cho WHO "xây dựng các giải pháp, mà qua đó WHO
có thể hỗ trợ trực tiếp các nước thành viên trong việc lựa chọn và mua với giá cả hợp lý, những TTY có chất lượng đã được xác định, phù hợp với nhu cầu của mỗi quốc gia" WHO khuyến cáo " Việc sử dụng thuốc hợp lý ngay
từ đầu tại các nước đang phát triển sẽ giúp các nước này tiết kiệm được ngân sách lãng phí do lạm dụng thuốc và sử dụng thuốc kém tác dụng" Năm 1975, khái niệm về TTY được hình thành từ đại hội lần thứ 28 của WHO Năm 1977, danh mục TTY (danh mục mẫu) đầu tiên được biên soạn
và xuất bản gồm 200 loại thuốc Tính đến năm 1999, danh mục TTY đã 10 lần bổ sung, sửa đổi và ban hành lại Sự thay đổi này ngoài mục đích cập nhật những thuốc mới còn nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân WHO còn ban hành danh mục ATC
(Antomical Therapeutic Chemical Classification) gồm 14 phân nhóm, phân loại theo giải phẫu - điều trị - hoá học nhằm tạo thuận lợi cho các quốc gia xây dựng danh mục TTY
Cho đến nay đã có hơn 150 quốc gia trên thế giới áp dụng danh mục TTY Số lượng tên thuốc có trong danh mục TTY của mỗi quốc gia trung bình là 300 thuốc Và vào tháng 3/2007 danh mục thuốc thiết yếu lần thứ
15 đã được ban hành bởi uỷ ban chuyên gia của WHO
3
Trang 121.1.2 Khái niệm danh mục TTY
Khái niệm về TTY là một khái niệm mang tính chất toàn cầu mà bất
kỳ quốc gia nào đều có thể áp dụng cho cả hệ thống nhà nước, tư nhân và các cấp khác nhau của hệ thống chăm sóc sức khỏe Danh mục TTY là trung tâm của chính sách quốc gia về thuốc và việc sử dụng danh mục TTY góp phần cải thiện chất lượng của việc chăm sóc sức khỏe và cải thiện đáng kể nguồn lực và chi phí về thuốc Theo WHO, để thực hiện cho việc chăm sóc sứckhoẻ ban đầu, chỉ cần 1USD TTY có thể đảm bảo chữa khỏi 80% các chứng bệnh thông thường của một người dân tại cộng đồng
Khái niệm danh mục TTY được thể hiện rõ trong chính sách quốc gia về thuốc như sau:
"Danh mục TTY là danh mục những loại thuốc thoả mãn nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho đa số nhân dân, những loại thuốc này luôn sẵn có với số lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp lý"
1.1.3 Các tiêu chí lựa chọn thuốc thiết yếu của WHO
WHO năm 1999 đã xây dựng một số tiêu chí lựa chọn thuốc như sau:
• Chỉ chọn những thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị,
độ an toàn thông qua các thử nghiệm lâm sàng và trên thực tế sử dụng rộng rãi tại các cơ sở khám chữa bệnh
• Thuốc được chọn phải sẵn có ở dạng bào chế đảm bảo sinh khả dụng, cũng như sự ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng nhất định
• Khi có hai hoặc nhiều hơn hai thuốc tương đương nhau về hai tiêu chí trên thì cần phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố như hiệu quả điều trị, độ an toàn, giá cả và khả năng cung ứng
• Khi so sánh chi phí giữa các thuốc cần phải so sánh tổng chi phí cho toàn bộ quá trình điều trị chứ không phải chi phí tính theo đơn vị của
Trang 13từng thuốc Khi mà các thuốc không hoàn toàn giống nhau thì khi
chọn cần phải tiến hành phân tích hiệu quả - chi phí
• Trong một số trường hợp, sự lựa chọn còn phụ thuộc vào một số yếu
tố khác như đặc tính dược động học hoặc cân nhắc những đặc điểm tại địa phương như trang thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng
• Thuốc thiết yếu nên được bào chế ở dạng đơn chất Những thuốc ở dạng đa chất phải có đủ cơ sở chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị của một nhóm đối tượng cụ thể và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, độ an toàn hoặc tiện dụng so với các thuốc
ở dạng đơn chất
• Thuốc nên được ghi theo tên gốc hoặc tên chung quốc tế (INN), tránh đề cập đến tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể
1.1.4 Khái quát về Danh mục TTY ở Việt Nam
Bắt nhịp cùng với các nước trên thế giới, năm 1985 Bộ Y tế đã ban hành DMT chủ yếu lần thứ I gồm 225 thuốc tân dược được xác nhận là an toàn và có hiệu lực Năm 1989 DMT tối cần và chủ yếu được ban hành lần thứ
II gồm 116 TTY, cùng một DMT gồm 64 thuốc tối cần, trong đó tuyến xã có
58 TTY và 27 thuốc tối cần [4] Danh mục TTY theo đúng thông lệ quốc tế được ban hành lần thứ III năm 1995 gồm có 225, TTY phân theo trình độ chuyên môn Để phát triển sử dụng thuốc y học cổ truyền ngày 28/07/1999,
Bộ Y tế đã ban hành danh mục TTY lần thứ IV với 346 thuốc tân dược, 81 thuốc y học cổ truyền, 60 cây thuốc nam, 185 vị thuốc nam, bắc
Danh mục TTY Việt Nam lần thứ V được ban hành kèm theo quyết định số 17/2005/QĐ-BYT ngày 01/07/2005 của Bộ Y tế bao gồm 355 tên thuốc của 314 hoạt chất tân dược; 94 DMT chế phẩm y học cổ truyền; danh
5
Trang 14mục cây thuốc nam và 215 danh mục vị thuốc, kèm theo bản hướng dẫn sử dụng danh mục TTY Việt Nam lần thứ V
Danh mục TTY là cơ sở pháp lý để xây dựng thống nhất các chính sách của Nhà nước về: đầu tư, quản lý giá, vốn, thuế liên quan đến thuốc phòng và cho người nhằm tạo điều kiện có đủ thuốc trong danh mục TTY Cơquan quản lý nhà nước xây dựng chủ trương, chính sách trong việc tạo điều kiện cấp số đăng ký lưu hành thuốc, xuất nhập khẩu thuốc Các đơn vị ngành y
tế tập trung các hoạt động của mình trong các khâu: xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất, phân phối, tồn trữ, sử dụng TTY, an toàn hợp lý phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân Các cơ sở kinh doanh thuốc của nhà nước và tư nhân phải đảm bảo danh mục TTY với giá thích hợp, hướng dẫn sử dụng an toàn, hợp lý, hiệu quả
1.1.5 Khái quát về Danh mục thuốc chủ yếu tại các cơ sở khám, chữa bệnh
Danh mục thuốc có vai trò quan trọng trong chu trình quản lý thuốc trong bệnh viện Vì thế nên bệnh viện có một danh mục các thuốc đảm bảo chất lượng, an toàn, hợp lý, hiệu quả, và kinh tế Danh mục thuốc chủ yếu được xây dựng trên cơ sở danh mục thuốc thuốc thiết yếu Việt Nam và
WHO hiện hành với các mục tiêu sau:
• Đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả;
• Đáp ứng yêu cầu điều trị cho người bệnh;
• Đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho người bệnh tham gia bảo hiểm y tế;
• Phù hợp với khả năng kinh tế của người bệnh và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm y tế
Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh đang được áp dụng tại Việt Nam hiện nay là danh mục được ban hành kèm Thông tư số 31/2011/TT-BYT ngày 11/07/2011 Bộ trưởng Bộ Y
Trang 15tế Hệ thống danh mục này bao gồm
900 mục thuốc tân dược (danh mục
này không ghi hàm lượng, nồng độ, thể tích, khối lượng gói, dạng đóng gói của từng thuốc được hiểu rằng bất kể hàm lượng, nồng độ, thể tích, khối lượng đóng gói, dạng đóng gói nào đều được BHYT thanh toán cho bệnh nhân); 57 mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu; 98 mục chế phẩm y học cổ truyền; 237 vị thuốc y học cổ truyền và kèm theo bảng hướng dẫn sử dụng
1.1.6 Khái quát về Danh mục thuốc bệnh viện
Căn cứ vào danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu và các qui định về sử dụng danh mục thuốc do Bộ Y tế ban hành, đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện (ngân sách nhà nước, thu một phần viện phí và bảo hiểm y tế) HĐT&ĐT có nhiệm vụ giúp giám đốc bệnhviện lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc bệnh viện theo nguyên tắc: "Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị
trong bệnh viện;
Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật;
Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp
dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị;
Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện;
Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ
Y tế ban hành;
Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước."( TT21/2013-TT - BYT)
"Danh mục thuốc bệnh viện là một danh mục thường xuyên cập nhật các thuốc và các thông tin liên quan tới thuốc đáp ứng yêu cầu lâm sàng của bác sĩ, dược sĩ, và các chuyên gia y tế khác trong chẩn đoán, phòng ngừa, điều trị bệnh hoặc cải thiện sức khỏe"
7
Trang 16Danh mục thuốc bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lí, an toàn, hiệu quả Danh mục thuốc bệnh viện được xây dựng hàng năm và có thể bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong danh mục thuốc bệnh viện trong các kỳ họp của HĐT&ĐT
1.1.6.1 Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng Danh mục thuốc tại bệnh viện:
Hội đồng thuốc và điều trị của Bệnh viện xây dựng các quy định cụ thể về:
1 Các tiêu chí lựa chọn thuốc để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện;
2 Lựa chọn các hướng dẫn điều trị (các phác đồ điều trị) làm cơ sở cho việc xây dựng danh mục thuốc;
3 Quy trình và tiêu chí bổ sung hoặc loại bỏ thuốc ra khỏi danh mục thuốc bệnh viện;
4 Các tiêu chí để lựa chọn thuốc trong đấu thầu mua thuốc;
5 Quy trình cấp phát thuốc từ Khoa Dược đến người bệnh nhằm bảo đảm thuốc được sử dụng đúng, an toàn;
6 Lựa chọn một số thuốc không nằm trong danh mục thuốc bệnh viện trong trường hợp phát sinh do nhu cầu điều trị;
7 Hạn chế sử dụng một số thuốc có giá trị lớn hoặc thuốc có phản ứng
có hại nghiêm trọng, thuốc đang nằm trong diện nghi vấn về hiệu quả
điều trị hoặc độ an toàn;
8 Sử dụng thuốc biệt dược và thuốc thay thế trong điều trị; 9
Quy trình giám sát sử dụng thuốc tại các khoa lâm sàng;
10 Quản lý, giám sát hoạt động thông tin thuốc của trình dược viên, công ty dược và các tài liệu quảng cáo thuốc.(TT 21/2013-TT_BYT)
Trang 171.1.6.2 Tiêu chí đánh giá, lựa chọn thuốc trong Danh mục thuốc tại bệnh viện:
Các tiêu chí lựa chọn thuốc trong Danh mục thuốc Bệnh viện bao gồm: Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng Mức độ tin cậy của các bằng chứng được thể hiện theo quy định
Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn định
về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định; Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về hai tiêu chí được quy định ở trên thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng;
Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào chế, cơchế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí - hiệu quả giữa các thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không
so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc;
Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất;
Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể
Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặctính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng (TT21/2013/BYT-TT)
1.1.6.3 Quy trình lựa chọn một số thuốc mới
9
Trang 18Căn cứ vào nhu cầu sử dụng thuốc của từng khoa lâm sàng trong điều trị, các khoa (Trưởng khoa) làm đề nghị bằng văn bản gửi cho thư kí Hội
đồng Thuốc và Điều trị
• Chỉ có bác sỹ, Trưởng khoa Dược mới có quyền yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ một dược phẩm
• Bản yêu cầu bằng văn bản gửi cho thư ký của HĐT&ĐT
• Thành viên HĐT&ĐT đánh giá thuốc bằng cách rà soát lại thông tin trong tài liệu và chuẩn bị một bản báo cáo viết
• Đưa ra những đề xuất cho danh mục
• Trình bày kết quả đánh giá tại cuộc họp của HĐT&ĐT
• HĐT&ĐT chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu kể trên
• Phổ biến quyết định của HĐT&ĐT đến tất cả các cá nhân có liên quan
Do sự gia tăng về chi phí điều trị và ngân sách dành cho thuốc hạn chế khiến cho hệ thống y tế không đủ khả năng cung cấp thuốc cho điều trị, vì vậy ở mỗi bệnh viện cần phải có một diễn đàn giữa bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng để trao đổi những vấn đề quan trọng trong bệnh viện Diễn đàn sẽ là nơi mà các bất đồng trong điều trị và vấn đề kinh tế được mang ra thảo luận và giải quyết
Vì vậy mà cần thiết phải có một HĐT&ĐT trong bệnh viện và các cơ sở y tế
để đảm bảo và tăng cường sử dụng thuốc hợp lý
2.2.1 Chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng Thuốc và Điều trị
Hội đồng có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện
Nhiệm vụ của Hội đồng Thuốc và Điều trị:
Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc trong bệnh viện Xây
dựng danh mục thuốc dùng trong bệnh viện
Trang 19Xây dựng và thực hiện các hướng dẫn điều trị
Xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc
Giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) và các sai sót trong điều trị
Thông báo, kiểm soát thông tin về thuốc.(TT 21/2013/BYT-TT)
2.2.2 Vai trò Hội đồng Thuốc và Điều trị trong chu trình quản lý thuốc
Trong chu trình quản lý thuốc ở bệnh viện HĐT&ĐT là tổ chức đứng ra điều phối quá trình cung ứng thuốc HĐT&ĐT thường phải phối hợpvới bộ phận mua thuốc và phân phối thuốc HĐT&ĐT không thực hiện chức năng mua sắm mà có vai trò đảm bảo xây dựng hệ thống danh mục và chính sách thuốc, bộ phận mua thuốc sẽ thực hiện theo yêu cầu của HĐT&ĐT Vai trò của HĐT&ĐT trong chu trình quản lý thuốc được thể
hiện theo hình sau:
NƯỚC TA HIỆN NAY VÀ HƯỚNG ĐI CỦA ĐỀ TÀI
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, ngành Công nghiệp Dược phẩm cũng đã có bước phát triển vượt bậc Trong những năm gần đây ngành Công nghiệp Dược tạo ra nhiều sản phẩm mới
Trang 20nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu phòng và chữa bệnh của nhân dân Ví dụ trong vài năm gần đây trên thế giới xuất hiện một số đại dịch lớn như
11
Trang 21SARS, cúm A/H5N1, cúm A/H1N1 một số nước đã kịp thời nghiên cứu,
sản xuất ra Vaccine và các thuốc đề phòng và điều trị bệnh chỉ trong thời gian ngắn Ở Việt Nam, thị trường dược phẩm cũng rất phong phú, có khoảng 1.500 hoạt chất với khoảng 18.000 mặt hàng năm 2008 và năm 2009 đã lên đến 22.000 sản phẩm Tuy nhiên, Công nghiệp Dược Việt Nam vẫn phát triển
ở mức trung bình - thấp, chưa sáng chế được thuốc mới và hiện chỉ có hơn 52% doanh nghiệp dược đủ tiêu chuẩn sản xuất thuốc Thuốc sản xuất trong nước chủ yếu là generic, không có giá trị cao, mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu thụ thuốc nội địa
Theo đánh giá của Bộ y tế: "Ngành Dược đã có những thành tích nổi
bật là đảm bảo nhu cầu về thuốc chữa bệnh cho nhân dân, khắc phục tình trạng thiếu thuốc trước đây" Năm 2009, tổng giá trị tiền thuốc sản xuất trong
nước đạt 831,250 triệu USD, tăng 16,18% so với năm 2008, đáp ứng được hơn 49% nhu cầu sử dụng thuốc của người dân Tiền thuốc bình quân đầu người năm 2009 đạt 19,77 USD, tăng 3,32 USD so với năm 2008 và tăng hơn 300%
so với năm 2001 Việt Nam đã sản xuất được 234/314 hoạt chất trong danh mục TTY, đủ nhóm tác dụng dược lý theo phân loại của WHO Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu thuốc với tổng giá trị năm 2009 gần 1,2 tỷUSD, tăng gần 27% so với năm 2008 Trong đó nhập khẩu thuốc thành phẩm là904,8 triệu USD, vaccine, sinh phẩm y tế là 59,6 triệu USD và nguyên liệu là 265,9 triệu USD
Qua báo cáo tổng kết công tác Dược năm 2008, triển khai kế hoạch năm 2009 của Cục Quản lý Dược, hầu hết các bệnh viện đã xây dựng DMT căn
cứ theo DMT chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh hiện hành Năm 2008, tổng giá trị mua thuốc tại các bệnh viện trên toàn quốc
là 12.322 tỷ đồng chiếm khoảng 50% tổng giá trị tiền thuốc sử dụng Tuy nhiên, từ kết quả phân tích đánh giá về cơ cấu DMT của một số bệnh viện cho thấy, hiện nay, việc xây dựng DMT của các bệnh viện còn
12
Trang 22nhiều vấn đề bất cập Thuốc đắt tiền, thuốc ngoại nhập, thuốc biệt dược,
thuốc không phải là TTY thường chiếm tỉ lệ cao trong DMT các bệnh viện nhất là các bệnh viện lớn Đặc biệt các thuốc kháng sinh luôn chiếm tỉ lệ cao trong các DMT bệnh viện (khoảng 56 - 58%) Nguyên nhân là do việc sử dụngtràn lan, lạm dụng kháng sinh phổ rộng, điều trị bao vây dẫn đến gia tăng các tác dụng không mong muốn và tình trạng kháng kháng sinh Hiện nay, thuốc kháng sinh đang được lựa chọn như một giải pháp phổ biến WHO vẫn khuyến cáo thực trạng kê đơn kháng sinh đáng lo ngại trên toàn cầu, tới mức trung bình 30-60% bệnh nhân được kê thuốc kháng sinh và tỉ lệ này cao gấp đôi so với nhu cầu lâm sàng Tại Bệnh viện Bạch Mai, số thuốc kháng sinh chiếm tỉ lệ 46,25%, nghĩa là theo đánh giá chuẩn của WHO đã có đến 1/2 số thuốc kháng sinh sử dụng thừa Số thuốc được kê không cần thiết này làm tăng chi phí y tế, tăng khả năng xuất hiện tác dụng phụ của thuốc và tình trạng kháng kháng sinh Tại một số cơ sở y tế, mức độ sử dụng kháng sinh cho bệnh nhân thậm chí gần như 100% Tại Bệnh viện Bạch Mai, khoa tai mũi họng: 100%, răng hàm mặt: 94%, khoa ngoại: 94%, khoa sản: 89% Tình trạng kết hợp nhiều loại kháng sinh cũng ở mức rất phổ biến
(41,91%) và đã xuất hiện những đơn thuốc kê kết hợp cùng lúc đến bốn loại kháng sinh Riêng chi phí dành cho kháng sinh đã lên mức gần 100 tỉ đồng, chiếm khoảng 1/3 ngân sách mua thuốc toàn viện Có thể nói, việc kê đơn, sử dụng thuốc không hợp lý đang còn phổ biến ở hầu hết các bệnh viện Tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc sử dụng năm 2008 chiếm 32,7% một phần cho thấy MHBT ở Việt Nam có tỷ lệ nhiễm các bệnh nhiểm khuẩn cao, mặt khác có thể đánh giá tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn còn phổ biến Các báo cáo về phản ứng có hại của thuốc từ các cơ sở y tế ngày càng nhiều,
số lượng báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR) năm 2005 là 854, năm
2006 là 1062 đến năm 2008 là 1778
Trang 23Hiện nay, do ảnh hưởng tiêu cực của một số hoạt động Marketing không lành mạnh dẫn đến trong DMT của các bệnh viện thường có quá nhiều tên thuốc khác nhau cho cùng một hoạt chất, đặc biệt là các thuốc kháng sinh, thuốc bổ (bổ gan, vitamin ), thuốc tăng cường sức đề kháng Điều này khiến cho người kê đơn dễ dàng lạm dụng kháng sinh (nhất là Cephalosporin thế hệ 3) và lạm dụng thuốc bổ, kê quá nhiều thuốc cho người bệnh, dẫn đến nhiều tương tác khi điều trị Từ đó gây khó khăn cho ngườimua thuốc, cấp phát thuốc và cho người giám sát sử dụng thuốc Mặt khác, việc truy cập trực tuyến thông tin thuốc trong phạm vi toàn cầu ở Việt Nam còn hạn chế dẫn đến khó khăn cho việc cập nhật thông tin thuốc Hoạt động quảng các cho thuốc sản xuất trong nước còn chưa thực sự phổ biến dẫn đến hạn chế cho việc lựa chọn thuốc nội vào DMT bệnh viện Việc giá thuốc tại thị trường Việt Nam có nhiều biến động trong thời gian gần đây cũng ảnh hưởng đến việc duy trì danh mục thuốc bệnh viện Giá của một số thuốc phê duyệt trúng thầu thấp hơn nhiều so với mặt bằng giá chung trên thị trường nênmột số đơn vị trúng thầu đã bỏ thầu không cung ứng thuốc, chịu phạt hợp đồng Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu điều trị bệnh viện lại phải bổ sung thuốc khác vào DMT bệnh viện Ngược lại, do DMT có quá nhiều chủng loại nên việc thuốc trúng thầu có được sử dụng hay không còn tuỳ vào lòng hảo tâm của các bác sĩ kê đơn Theo thống kê tại công ty Dược Vật tư y tế Tiền Giang, năm 2003 có 80/390 mặt hàng trúng thầu vào bệnh viện không bán được viên nào, chiếm tỉ lệ 21% Sáu tháng đầu năm 2004 cũng có 78/280 thuốc không bán được viên nào dù được tuyên bố trúng thầu
Qua khảo sát tình hình sử dụng thuốc nội năm 2006, 2007 ở 565 bệnh viện trong cả nước cho thấy, năm 2009, tỷ lệ thị phần giữa thuốc nội và thuốc ngoại là 50/50, đến tháng 6 năm 2010 là 46/54, thuốc nội chỉ chiếm 19-25% về giá trị tiền Kết quả khảo sát tại bệnh viện Phụ sản Trung
14
Trang 24ương cho thấy năm 2006 thuốc ngoại chiếm tỉ lệ 78,9%, thuốc nội 21,1%
mặc dù so với năm 2002 tỉ lệ thuốc nội trong DMT đã tăng từ 13,6% lên 21,1% Tại bệnh viện Châm cứu Trung ương tỉ lệ thuốc ngoại năm 2006 là 63,4%, năm 2007 là 65,6% Tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn - Hà Nội tỷ lệ thuốc nội tăng trong 3 năm, tỷ lệ thuốc nội năm 2006 là 28,5%, năm
2007 là 31,9%, đến năm 2008 đã là 33,4%
Việc xây dựng DMT trong bệnh viện còn chưa chú trọng nhiều đến nguyên tắc "ưu tiên chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước đạt chất lượng, thuốc của các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn thực hành sản xuất thuốc tốt (GMP)" Việc sử dụng thuốc nhập ngoại, thuốc biệt dược vẫn chiếm tỷ lệ cao Đặc biệt là những loại thuốc của một số công ty Dược phẩm phân phối độc quyền được sử dụng nhiều dẫn đến tình trạng hiện nay sửdụng thuốc ở các bệnh viện lớn thường vượt quá khả năng kinh tế của người bệnh và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm y tế Thống kê của Cục Quản lý dược - Bộ Y tế cho biết, tính đến hết năm 2009, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng ở Việt Nam đã lên tới hơn 1.696 triệu USD, tăng gần 19% so với năm
2008 Điều này có nghĩa, tiền thuốc đã tăng mạnh qua từng năm và phản ánhhai khía cạnh, một là số lượng người bệnh tăng lên, sử dụng thuốc nhiều hơn,
và hai là giá thuốc đã tăng cao và kéo theo chi phí bỏ ra mua cũng tăng theo Năm 2009, quỹ Bảo hiểm y tế bị thâm hụt xấp xỉ 2.000 tỷ đồng
Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hoạt động cung ứng thuốc bệnh viện Các đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu về 4 nội dung của chu trình cung ứng thuốc trong các bệnh viện như: Bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô, Bạch Mai, Phụ sản trung ương, Phụ sản Hà Nội, viện E, Viện 108, Bệnh viện Châm cứu trung ương, Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn
và đã sơ bộ cho thấy trong những năm gần đây, lĩnh vực cung ứng thuốc bệnh viện
đã được quản lý và chấn chỉnh ngày một tốt hơn Tuy
Trang 25nhiên, cung ứng thuốc trong bệnh viện nói chung và việc lựa chọn thuốc
nói riêng là vẫn còn là một vấn đề nan giải cần có những chấn chỉnh không chỉ từ phía các bệnh viện mà là của toàn ngành y tế
Trước những bất cập nói trên của các bệnh viện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mong muốn phân tích đưa những điểm đã đạt được và những điểm còn bất cập trong việc sử dụng và xây dựng Danh mục thuốc tại Trung tâm y tế Hớn Quản - Bình Phước
1.4.1 Sơ đồ tổ chức, chức năng, nhiệm vụ củaTTYT Hớn quản - Bình Phước:
Trung tâm Y tế huyện Hớn Quản trực thuộc Sở Y tế Bình Phước được thành lập năm 2009 là Trung tâm Y tế có giường bệnh, vừa thực hiện chức năng khám bệnh, chữa bệnh vừa thực hiện chức năng Y tế dự phòng Mặc dù mới thành lập, cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn, tuy nhiên Trung tâm cũng đã được trang bị đủ các trang thiết bị cơ bản: X-quang, Siêu âm, xét nghiệm huyết học, xét nghiệm hóa sinh, điện tâm đồ tại Trung tâm đã thực hiện đủ các chuyên khoa cơ bản Trung tâm là cơ sở khám chữa bệnh
và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong huyện và các địa phương lân cận trung tâm có những nhiệm vụ chính sau:
- Quản lý kinh tế trong bệnh viện
Sơ đồ mô hình tổ chức Trung tâm Y tế huyện Hớn Quản:
16
Trang 26Xét nghiệm - Giải phẫu bệnh Chẩn đoán hình ảnh
Dược Kiểm soát nhiễm khuẩn
Hội đồng tư vấn khoa học kỹ thuật
Các phòng chức năng
Tổ chức cán bộ Hành chính quản trị Tài chính
- Kế toán
Kế hoạch tổng hợp Điều dưỡng Vật tư - Trang thiết bị y tế
Hình 1.2: Sơ đồ tổ chức Trung tâm Y tế huyện Hớn Quản
Tổ chức đoàn thể: Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh
Trang 27Hội đồng tư vấn: Hội đồng Thuốc và Điều Trị, Hội đồng Khoa học
kỹ thuật (KHKT)
Trung tâm có đủ khoa, phòng cơ bản Tương đối phù hợp với cơ cấu
tổ chức của bệnh viện đa khoa hạng III tuyến huyện, nên đã đáp ứng yêu cầu điều trị của nhân dân trong huyện về các bệnh thông thường
1.4.2 Khoa Dược TTYT huyện Hớn Quản:
1.4.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của khoa Dược:
Chức năng :
Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cungứng đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý
Nhiệm vụ của khoa Dược:
- Lập kế hoạch, cung ứng thuốc bảo đảm đủ số lượng, chất lượng cho nhu cầu điều trị và thử nghiệm lâm sàng nhằm đáp ứng yêu cầu chẩn đoán, điều trị và các yêu cầu khác (phòng chống dịch bệnh, thiên tai, thảm họa);
- Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho nhu cầu điều trị và các nhu cầu đột xuất khác;
- Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị - Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc "Thực hành tốt quản lý thuốc" - Tổchức pha chế thuốc, hóa chất sát khuẩn, bào chế thuốc đông y,
sản xuất thuốc từ dược liệu sử dụng trong bệnh viện;
- Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về sử dụng thuốc,tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi, báo cáo thông tin liên
quan đến tác dụng không mong muốn của thuốc;
18
Trang 28- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong bệnh viện;
- Nghiên cứu khoa học và đào tạo, là cơ sở thực hành của các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học về dược;
- Phối hợp với khoa cận lâm sàng, lâm sàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá,giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, đặc biệt là sử dụng kháng
sinh và theo dõi tình hình kháng kháng sinh trong bệnh viện;
- Tham gia chỉ đạo tuyến;
- Tham gia hội chẩn khi có yêu cầu;
- Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc;
- Quản lý hoạt động của nhà thuốc bệnh viện theo đúng quy định;
- Thực hiện nhiệm vụ cung ứng, theo dõi, giám sát, kiểm tra, báo cáo
về vật tư y tế tiêu hao (bông, băng, cồn, gạc) đối với các cơ sở y tế chưa có phòng vật tư - thiết bị y tế và được người đứng đầu các cơ sở đó giao nhiệm vụ
1.4.2.2 Mô hình tổ chức khoa Dược:
Khoa Dược Trung tâm Y tế huyện Hớn Quản có tổng số biên chế 07 cán bộ với cơ cấu gồm: 01 trưởng khoa, 01 phó khoa và 05 DSTH Nhân lực khoa Dược chiếm 7.3% tổng số cán bộ của Trung tâm Trình độ chuyên môn cán bộ của khoa được thể hiện ở bảng sau:
Trang 29Bảng 1.1: Trình độ chuyên môn của CBNV khoa Dược:
STT Trình độ chuyên môn Số lượng Tỷ lệ %
Bộ máy tổ chức của khoa Dược được chia thành 3 tổ, bao gồm:
- Tổ Dược chính - Dược lâm sàng
- Tổ kho
- Tổ thống kê dược
20
Trang 30Sơ đồ bộ máy tổ chức
Trưởng khoa Dược
Tổ kho Tổ thống kê dược Tổ dược chính
Kho thuốc cấp điều trị ngoại trú
Kho vật tư
y tế tiêu hao
Dược chính
Dược lâm sàng- thông tin thuốc
Hình 1.3: Sơ đồ tổ chức khoa Dược TTYT huyện Hớn Quản
Tổ chức khoa phù hợp với mô hình của bệnh viện đa khoa tuyến huyện Các vị trí được bố trí cán bộ có trình độ chuyên môn phù hợp, phát huy được năng lực, kiến thức của cán bộ, nhân viên
1.4.3 Hội Đồng Thuốc và Điều Trị TTYT huyện Hớn Quản
1.4.3.1 Thành phần Hội đồng Thuốc và Điều Trị
HĐT & ĐT TTYT huyện Hớn Quản gồm 9 người, hoạt động theo chế
độ kiêm nhiệm, do Giám đốc bệnh viện ra quyết định thành lập, bao gồm:
+ Phụ trách chung: Giám đốc Trung tâm
+ Chủ tịch HĐT & ĐT: Giám đốc Trung tâm
Trang 31+ Phó Chủ tịch thường trực HĐT & ĐT: dược sĩ đại học, Trưởng
khoa Dược bệnh viện
+ Thư kí HĐT & ĐT: Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp
+ Ủy viên: các Trưởng khoa điều trị chủ chốt, Trưởng phòng Điều
dưỡng bệnh viện, Trưởng phòng Tài chính- kế toán
1.4.3.2 Chức năng Hội Đồng Thuốc & Điều Trị
HĐT & ĐT làm nhiệm vụ tư vấn thường xuyên cho Giám đốc về cung ứng, sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả Cụ thể hóa các phác đồ điều trị phù hợp với điều kiện của bệnh viện và mô hình bệnh tật
1.4.3.3 Nhiệm vụ Hội Đồng Thuốc & Điều Trị
- Xây dựng DMT phù hợp với mô hình bệnh tật bệnh viện và kinh phí thuốc, vật tư tiêu hao điều trị của bệnh viện;
- Giám sát thực hiện quy chế chẩn đoán bệnh, làm hồ sơ bệnh án và kê đơn điều trị, quy chế sử dụng thuốc và quy chế công tác khoa Dược;
- Theo dõi các phản ứng có hại của thuốc, đồng thời rút kinh nghiệm các sai sót trong sử dụng thuốc;
- Thông tin về thuốc, theo dõi ứng dụng thuốc mới trong bệnh viện;
- Xây dựng mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa dược sĩ, bác sĩ, và điều dưỡng, trong đó dược sĩ đóng vai trò tư vấn, bác sĩ chịu trách nhiệm về chỉ định, điều dưỡng là người thực hiện y lệnh
Mô hình bệnh tật của bệnh viện phụ thuộc vào đặc thù và chức năng của bệnh viện đó
Mộ hình bệnh tật của Trung tâm Y tế Huyện Hớn Quản năm 2015:
22
Trang 32Bảng 1.2 Mô hình bệnh tật của Trung tâm Y tế Huyện Hớn Quản
Tại khoa
Điều trị nội trú phòng khám
8 Bệnh của tai và xương chũm 663 1.227 34 1,612
9 Bệnh của hệ tuần hoàn 3.390 6,272 127 6.050
10 Bệnh của hệ hô hấp 25.478 47,142 934 44,497
11 Bệnh của hệ tiêu hóa 7.281 13,472 395 18,818
12 Bệnh của da và tổ chức dưới da 657 1,215 73 3,477 Bệnh của hệ thống cơ, xương và
mô liên kết
Trang 33Tại khoa
Điều trị nội trú phòng khám
16 Một số bệnh trong thời kì chu sinh 0,0 0,0 0,0 0,0
Dị dạng bẩm sinh, biến dạng của
Cromosom
Triệu chứng, dấu hiệu và phát hiện
18 bất thường cận lâm sàng,xét 37 0,068 7 0,333 nghiệm
Trang 34Nhận xét:
Phân chia MHBT của bệnh viện thành 2 mảng: Khám và điều trị ngoại trú với điều trị nội trú cho thấy:
Bệnh của hệ hô hấp có số lượng bệnh nhân khám ngoại trú cao nhất
(25.478 lượt bệnh nhân chiếm 47,142% số lượt bệnh nhân đến khám), sau đó đến các bệnh của hệ tiêu hóa (7281 lượt bệnh nhân chiếm 13,472% số lượt bệnh nhân đến khám), bệnh nội tiết và dinh dưỡng chuyển hóa (3916 lượt bệnh nhân chiếm 7,245%), bệnh của hệ tuần hoàn (3390 lượt bệnh nhân chiếm 6,272%), bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng (2099 lượt bệnh nhân chiếm 3,883%)
Điều trị nội trú: Bệnh của hệ hô hấp có số lượng bệnh nhân cao nhất, chiếm 44,497% tổng số người bệnh Bệnh của hệ tuần có số lượng bệnh nhân đứng thứ 2 chiếm 18.818%, bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng có số lượng % bệnh nhân điều trị cao thứ 3 chiếm 15,721% Sau đó đến các chương bệnh khác như: chửa, đẻ và sau đẻ (6.622), bệnh của hệ tiêu hóa (8,222%), bệnh của hệ thống cơ, xương khớp và mô liên kết (6, 049%) Một số bệnh có số lượng % bệnh nhân rất ít như: bệnh của da và tổ chức dưới da, bệnh của mắt và phần phụ, bệnh rối loạn tâm thần và hành vi Một số chương bệnh không có bệnh nhân điều trị nội trú như: Bệnh máu, cơ quan tạo máu và cơ chế miễn dịch, Một số bệnh trong thời kỳ chu sinh, Dị dạngbẩm sinh, biến dạng của Cromosom
Trang 35CươHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Hội đồng Thuốc và Điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Hớn Quản năm 2015, tập trung vào các hoạt động của HĐT&ĐT trong xây dựng danh mục thuốc Trung tâm
- DMT Trung tâm Y tế huyện Hớn Quản đã sử dụng trong năm 2015:
số lượng, giá thuốc, tên generic, tên biệt dược, nguồn gốc xuất xứ
Thời gian nghiên cứu từ 1/10/2015 tới 31/12/2015 tại Trung tâm Y tế huyện Hớn Quản
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài tiến hành phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu
Danh mục thuốc năm 2015
Danh mục thuốc tiêu thụ năm 2015
Mô hình bệnh tật năm 2015
Báo cáo tài chính năm 2015
Nguồn thông tin Khoa Dược Trung tâm Y tế huyện Hớn Quản
Khoa Dược Trung tâm Y tế huyện Hớn Quản
Phòng Kế hoạch tổng hợp Phòng Tài chính kế toán
26
Trang 362.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Phân tích cơ cấu và tính phù hợp của DMT
2.2.3.1 Phân tích cơ cấu DMT
Các số liệu sau khi được thu thập được đưa vào phần mềm Microsoft Excel để xử lý và phân tích theo các bước sau:
- Tổng hợp toàn bộ những dữ liệu về DMT đã sử dụng năm 2015 trên cùng một bản tính Excell: Tên thuốc (cả generic và biệt dược); Nồng độ, hàm lượng; đơn vị tính; đơn giá; số lượng sử dụng của từng khoa/phòng; nước sản xuất; nhà cung cấp
- Tổng hợp số liệu theo các chỉ số cần nghiên cứu:
• Xếp theo nhóm tác dụng dược lý
• Xếp theo nước sản xuất: đưa ra tỷ lệ thuốc nội/ngoại •
Xếp theo tên gốc/tên biệt dược/tên thương mại
• Xếp theo các thuốc đơn thành phần/ đa thành phần •
Xếp theo DMT nghiện, hướng thần/ thuốc thường •
Xếp theo DMT uống/tiêm
- Tính tổng SLDM, trị giá của từng biến số, tính tỷ lệ phần trăm giá trị
số liệu (nếu cần)
2.2.3.2 Phân tích ABC: là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng
thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách
Các bước tiến hành:
Bước 1: Liệt kê các sản phẩm: gồm N sản phẩm
Bước 2: Điền các thông tin sau cho mỗi sản phẩm:
• Đơn giá của từng sản phẩm: gi (i=1,2,3.N)
• Số lượng các sản phẩm: qi
Bước 3: Tính số tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm ci = gi x qi
Trang 37Tổng số tiền sẽ bằng tổng lượng tiền cho mỗi sản phẩm: C = ci
Bước 4: Tính giá trị % của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm chia cho tổng số tiền: pi = ci x100/C
Bước 5: Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần
Bước 6: Tính giá trị % tích luỹ của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm (k): bắt đầu với sản phẩm số 1 sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách
Bước 7: Phân hạng sản phẩm như sau:
• Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 - 80% tổng giá trị tiền (có k từ
2.2.3.3 Phân tích VEN: là phương pháp phổ biến giúp cho việc lựa chọn
những thuốc cần ưu tiên để mua và dự trữ trong bệnh viện theo các hạng mục: sống còn, thiết yếu và không thiết yếu
- Các thuốc sống còn (Vital - V): gồm các thuốc dùng để cứu sống người bệnh hoặc các thuốc thiết yếu cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản
- Các thuốc thiết yếu (Essential - E): gồm các thuốc dùng để điều trị cho những bệnh nặng nhưng không nhất thiết phải có cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản
- Các thuốc không thiết yếu (Non-Essential - N): gồm các thuốc dùng
để điều trị những bệnh nhẹ, có thể có hoặc không có trong DMT thiết yếu và không cần thiết phải lưu trữ trong kho
28