Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể tăng được sản lượng tạo thu nhập ổn định về kinh tế của khu rừng thông qua việc điều chỉnh diện tích cho phù hợp và sản lượng rừng trồng ổn định câ
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Quản lý rừng (QLR) bền vững là một trong những xu thế phát triển chung
của ngành Lâm nghiệp trên toàn Thế giới Trong xu thế này, QLR bền vững đã được nghiên cứu cụ thể hóa và đánh giá bằng các tiêu chuẩn, tiêu chí chung của Thế giới thông qua Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) và Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC)
Trong quá trình QLR hiện nay, các chủ rừng đều mong muốn tối đa hóa lợi nhuận một cách bền vững, đảm bảo lợi ích về kinh tế do các sản phẩm từ gỗ/lâm sản đem lại, đồng thời duy trì được một số dịch vụ khác từ rừng và đảm bảo giá trị bền vững về môi trường, xã hội mà không tác động nhiều đến cấu trúc rừng Với các mục tiêu đặt ra như vậy, việc giảm thiểu tác động xấu về diện tích, cấu trúc cũng như năng suất của rừng mà không ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế là một trong những điều kiện tiên quyết trong QLR
Bộ tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững của FSC là hành lang pháp lý cũng như một công cụ đang được nhiều quốc gia trên thế giới chấp nhận và tuân thủ Việc các chủ rừng phải làm để từng bước đáp ứng bộ tiêu chuẩn đó và nâng cao giá trị của rừng là một trong những thách thức lớn cần đảm bảo để hướng tới mục tiêu QLR bền vững Trong đó, việc xây dựng kế hoạch quản lý rừng là cần thiết đối với cả khu rừng đã được cấp và chưa được cấp chứng chỉ Khi được FSC cấp chứng chỉ, giá trị về sản phẩm được nâng cao và được chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới
Trong xu thế hội nhập hiện nay, ngành Lâm nghiệp Việt Nam đã và đang đóng góp ngày càng nhiều và có hiệu quả vào sự phát triển kinh tế - xã hội Ngành
đã xây dựng chiến lược và các kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn nhất định nhằm định hướng phát triển ngành lâu dài Trong những năm qua, ngành Lâm nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể: Diện tích rừng trồng mới tăng từ 50.000 ha/năm lên 200.000 ha/năm; Diện tích rừng tự nhiên được khoanh nuôi bảo
vệ phục hồi nhanh đã làm tăng đáng kể năng lực phòng hộ và bảo tồn đa dạng sinh học của rừng; Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng tăng khoảng 2.000.000 m3/năm,
Trang 2cung cấp một phần nguyên liệu cho công nghiệp giấy, mỏ, dăm gỗ xuất khẩu và củi đun, góp phần giảm sức ép vào rừng tự nhiên; Công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu phát triển rất mạnh trong những năm gần đây (sản phẩm gỗ xuất khẩu tăng từ 1,57 tỷ USD năm 2005 lên 7,1 tỷ USD năm 2015, ngành Lâm nghiệp tăng trưởng đột phá với giá trị sản xuất ước đạt 7,92%) (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2015) đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước và tạo cơ hội cho phát triển rừng trồng nguyên liệu công nghiệp
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Hòa Bình (Sau đây gọi tắt là Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình) thuộc Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước được thành lập năm 2008 trên cơ sở chuyển đổi từ Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình Cùng với sự nỗ lực trong công tác trồng rừng, quản
lý rừng và khai thác bền vững Công ty đã được Tổ chức Woodmark cấp Chứng chỉ rừng (CCR) FSC-FM/CoC năm 2013 Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình là một trong những công ty đi đầu trong việc chuyển đổi mục đích kinh doanh, từ khâu sản xuất tiêu thụ nhỏ lẻ manh mún với thị trường tiêu thụ hạn chế sang cơ chế sản xuất ổn định, bền vững phù hợp với nhu cầu gỗ nguyên liệu trong và ngoài nước Tuy nhiên, sản lượng hiện tại của Công ty khá thấp và không đồng đều giữa các Lâm trường, lượng tăng trưởng bình quân hàng năm chỉ đạt 9.52 m3 /ha/ năm Vấn đề đặt
ra là làm thế nào để có thể tăng được sản lượng tạo thu nhập ổn định về kinh tế của khu rừng thông qua việc điều chỉnh diện tích cho phù hợp và sản lượng rừng trồng
ổn định cân bằng, đây chính là một trong những thách thức lớn đối với Công ty Để giải quyết vấn đề này việc nghiên cứu điều chỉnh sản lượng rừng làm cơ sở cho việc lập kế hoạch QLR bền vững là cần thiết
Để góp phần giải quyết các vấn đề đang đặt ra cho sự phát triển của Công ty
nói riêng và việc QLR bền vững ở Việt Nam nói chung, luận án “Nghiên cứu điều chỉnh sản lượng rừng trồng làm cơ sở lập kế hoạch quản lý rừng theo tiêu chuẩn của Hội đồng quản trị rừng thế giới tại Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình” là cần thiết Nghiên cứu này đã được triển khai nhằm xác định thực trạng sản
xuất và kinh doanh của Công ty làm cơ sở cho việc điều chỉnh sản lượng rừng trồng Keo tai tượng về trạng thái cân bằng, ổn định về diện tích và trữ lượng; đồng thời
Trang 3đánh giá tác động môi trường, xã hội nhằm khắc phục các lỗi, từ đó lập kế hoạch QLR rừng trồng Keo tai tượng theo tiêu chuẩn QLR bền vững của FSC
2 nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
3 Mục tiêu nghiên cứu
4 Đối tƣợng nghiên cứu
- Các chính sách và tài liệu có liên quan đến Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững (QLRBV) của FSC áp dụng vào Việt Nam
- Rừng trồng sản xuất loài Keo tai tượng (Acacia mangium)
- Các hoạt động sản xuất, kinh doanh tác động đến kinh tế, môi trường, xã hội và đa dạng sinh học trong QLR Keo tai tượng của Công ty
5 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm: Diện tích rừng trồng Keo tai tượng thuộc địa phận quản lý của 3 Lâm trường trong CTLNHB gồm: Lâm trường Kỳ Sơn - Huyện Kỳ Sơn, Lâm trường Lương Sơn - Huyện Lương Sơn và Lâm trường Tu Lý - Huyện Đà Bắc
- Lĩnh vực:
Trang 4+ Sản lượng rừng: Đánh giá hiện trạng, năng suất rừng và cấu trúc rừng trồng Keo tai tượng
+ Quản lý rừng bền vững của Việt Nam kết hợp với bộ tiêu chuẩn của FSC; + Đánh giá tác động môi trường, tác động xã hội áp dụng phương pháp đánh
giá theo quy mô nhỏ (Đánh giá nội bộ)
6 Những đóng góp mới của luận án
- Xác định được một số cơ sở khoa học trong điều chỉnh sản lượng rừng trồng Keo tai tượng về trạng thái ổn định theo diện tích và theo trữ lượng phục vụ công tác quản lý rừng bền vững tại CTLNHB, tỉnh Hòa Bình
- Lập được kế hoạch điều chỉnh sản lượng rừng trồng Keo tai tượng cho 3 Lâm trường đại diện của CTLNHB trên cơ sở đảm bảo sản lượng rừng (SLR) cân bằng, ổn định, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, xã hội góp phần quản lý rừng bền vững tại CTLNHB, tỉnh Hòa Bình
7 Cấu trúc luận án
Luận án dài 126 trang đánh máy A4 được cấu trúc thành 4 chương (ngoài
phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và danh mục) như sau:
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu;
- Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu;
- Chương 3: Điều kiện cơ bản khu vực nghiên cứu;
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Ngoài ra còn có hệ thống 47 bảng biểu, 12 hình minh họa, 50 tài liệu tham khảo trong đó 32 tài liệu tiếng Việt, 13 tài liệu tiếng nước ngoài, 5 trang website có liên quan đến chủ đề nghiên cứu và phần phụ lục gồm các bảng biểu minh họa kết quả điều tra và tính toán
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Ở ngoài nước
1.1.1 Điều chỉnh sản lượng rừng
1.1.1.1 Giới thiệu chung về điều chế rừng
Điều chế rừng (forest management) xuất hiện và hình thành từ cuối thế kỷ 18
ở phương Tây Tùy theo quan điểm, góc độ kinh doanh lợi dụng rừng và trình độ kỹ thuật nên định nghĩa, hiểu biết về điều chế rừng một cách khác nhau
Điều chế rừng mang tính ứng dụng của việc tổ chức rừng dựa trên cơ sở quy luật phát triển sinh học của quần thể rừng để khai thác, nuôi dưỡng, bảo vệ, phục hồi tái sinh rừng… tác động theo hướng tích cực để phát triển rừng đến trạng thái cân bằng đảm bảo vốn rừng ổn định năng suất cao, phát huy tối đa tác dụng tổng hợp của rừng
Với quan điểm này, Rucareanu (1965) [43] đã định nghĩa điều chế rừng
là khoa học và thực tiễn về tổ chức rừng, phù hợp với nhiệm vụ quản lý kinh doanh rừng
Theo Jideich (Đức): “Điều chế rừng là sự sắp xếp theo thời gian và không gian tất cả các hoạt động sản xuất trong một khu rừng, sao cho có thể đạt được mục đích quản lý kinh doanh rừng” (dẫn theo Rucareanu, N, 1965 [43]) Thực chất thời gian và không gian là sự sắp xếp chủ yếu mà qua đó những công việc khai thác và nuôi dưỡng rừng được ấn định để đưa rừng về trạng thái phù hợp nhất với mục tiêu kinh tế
Quan điểm của các nhà Lâm nghiệp Pháp cho rằng: “Điều chế rừng là nghệ thuật thu hoạch sản phẩm và tái tạo lại rừng theo một nhịp điệu, nhằm đạt đến mục tiêu xác định đối với rừng” (Coliet, J 1975) [37], một quan điểm khác cho rằng điều chế rừng là một nghệ thuật quy định việc khai thác rừng, tính chất, thứ tự theo
lô khai thác để thỏa mãn nhu cầu hay cung cấp tài nguyên hàng năm Thực chất, thu hoạch hay khai thác là thuộc phạm vi sản xuất, nó phải được thực hiện theo những
kế hoạch đã được lập hay nói cách khác là điều chỉnh sản lượng rừng theo nhu cầu của con người
Trang 6Hiện nay có nhiều phương pháp điều chỉnh sản lượng rừng, theo đó phương pháp điều chỉnh lượng khai thác được sử dụng khá phổ biến
về trạng thái chuẩn Vì vậy, nó có thể lớn hoặc nhỏ hơn hay bằng lượng tăng trưởng
của rừng (Biolley, H 1920) [36]
a) Lượng khai thác hàng năm theo diện tích L s
Lượng khai thác theo diện tích chủ yếu được sử dụng với tính chất để kiểm tra hay trong trường hợp kinh doanh ở trình độ thấp, không yêu cầu độ chính xác cao hoặc trong trường hợp điều kiện lập địa của công ty tương đối đồng đều (rừng
có năng suất tương đối bằng nhau) (FSC, 2010) [39] Trong trường hợp này, lượng khai thác được tính theo công thức:
Ls = (1-1) (FSC, 2010) [39] Trong đó: S là diện tích rừng (ha);
r là chu kỳ hay luân kỳ tương ứng (năm)
Tỷ lệ này biểu thị độ lớn của diện tích chặt hàng năm
Một trong những mục đích chính của ấn định khai thác là bảo đảm thu hoạch một khối lượng gỗ hàng năm bằng nhau Điều kiện này chỉ được thỏa mãn khi:
- Rừng đồng tuổi, khai thác trắng, có điều kiện hoàn cảnh/cấp đất đồng nhất trên toàn bộ diện tích, nghĩa là năng suất rừng như nhau và đạt đến thành thục ở cùng tuổi
- Rừng chặt chọn, đòi hỏi rừng có trữ lượng như nhau ở tuổi khai thác và điều kiện địa hình cho phép khai thác với cường độ như nhau
Trang 7Trong trường hợp không đáp ứng các yêu cầu trên, cần xác định diện tích chặt hàng năm không bằng nhau, lượng khai thác được xác định theo diện tích và kiểm chứng lại bằng lượng khai thác theo thể tích
b) Lượng khai thác hàng năm theo thể tích L v
Lượng khai thác hàng năm theo thể tích biểu thị trực tiếp khối lượng sản phẩm thu hoạch Việc xác định nó khó hơn lượng khai thác theo diện tích, bởi vì các nhân tố dùng để xác định nó là tăng trưởng luôn biến đổi và khó xác định (Nguyễn Hồng Quân, Phạm Văn Điển, 2013) [22], (FSC, 2004) [40]
Theo nguyên lý chung thì lượng khai thác bằng lượng tăng trưởng, nhưng trong thực tế không hoàn toàn như vậy Đó cũng là điều mà nhà điều chế cần phải tính toán để xác định cho phù hợp và phải luôn coi nó như một công cụ để đưa rừng
về trạng thái chuẩn
Nếu vốn rừng có độ lớn chuẩn, độ lớn này cần được duy trì, lượng khai thác cần tương ứng với tăng trưởng của vốn rừng Ký hiệu Lv là lượng khai thác theo thể tích, C là lượng tăng trưởng hàng năm của rừng, có thể viết:
Nhưng nếu vốn rừng thực hiện khác với vốn rừng chuẩn, để chuẩn hóa nó lượng khai thác cần lớn hơn lượng tăng trưởng, khi vốn thực sự lớn hơn vốn chuẩn,
để loại trừ dần sự dư thừa, hoặc nhỏ hơn tăng trưởng để tích lũy vốn, khi vốn thực
sự nhỏ hơn vốn chuẩn Công thức chung của lượng khai thác theo thể tích là:
Trong đó Q biểu hiện sự chênh lệch giữa vốn thực và vốn chuẩn, nó có thể là dương hay âm, tùy thuộc vào trạng thái vốn rừng trong trường hợp giá trị tuyệt đối của Q quá lớn, việc loại trừ hay tích lũy không thể thực hiện ngay trong một năm
mà phải trong một thời gian nào đó Gọi a là thời gian cần thiết để loại trừ sự chênh lệch, mà không ảnh hưởng đến việc bảo đảm nguyên tắc sản xuất liên tục và không làm giảm năng suất của rừng, gọi Vc là vốn rừng chuẩn, Vt là vốn rừng thực thì lượng khai thác Lv có thể biểu thị bằng công thức:
Trang 8Công thức này được đề nghị từ thời kỳ đầu của điều chế rừng và được trình bày trong sách khoa học kỹ thuật dưới dạng công thức cameraliste, theo tên của phương pháp điều chế đầu tiên sử dụng Nó là tiền đề và cơ sở để suy ra nhiều công thức khác tương ứng với các phương pháp điều chế rừng
Hiện nay, đối với rừng đồng tuổi lượng khai thác không chỉ xác định theo thể tích hay theo diện tích mà theo cả diện tích và thể tích hay nói cách khác là dùng theo diện tích và kiểm tra theo thể tích
Chúng được kết hợp như vậy là vì việc xác định vốn rừng và tăng trưởng của rừng là rất khó và dễ mắc sai số, cho nên người ta thường xuất phát từ cách đơn giản là xác định lượng khai thác giai đoạn theo diện tích và sau đó tính lượng khai thác hàng năm theo thể tích Lượng khai thác hàng năm theo thể tích phụ thuộc hay
bị khống chế bởi lượng khai thác giai đoạn theo diện tích và lượng khai thác theo giai đoạn là một phương tiện kiểm tra sự lên tục trong suốt thời gian của chu kỳ
Ngoài ra còn có phương pháp vốn rừng dự phòng cũng được sử dụng trong điều chế rừng trong trường hợp vốn rừng đạt đến trạng thái chuẩn
Vốn rừng dự phòng
Trong rừng được điều chế, khi vốn rừng đạt đến trạng thái chuẩn thì có thể thu hoạch hàng năm một khối lượng gỗ không thay đổi và sự khai thác vượt quá khối lượng này đều dẫn đến giảm vốn rừng và năng suất rừng, mặt khác làm giảm
tỷ lệ các loại gỗ có giá trị, ngăn cản việc thỏa mãn nhu cầu thường xuyên và ổn định
về gỗ, hay phần nào làm rạn nứt mắt xích liên tục Qua tổ chức sản xuất cần phải dự phòng trước tình trạng này Biện pháp sử dụng ở đây là duy trì vốn rừng dự phòng
Vốn rừng dự phòng là một phần trong vốn rừng, không được đưa vào tính toán lượng khai thác và dùng để bù đắp sự mất mát đột xuất vốn rừng, trong trường hợp thiên tai, hay khi nhu cầu gỗ tăng, đòi hỏi phải khai thác lớn hơn lượng khai thác
Theo nhận định này, vốn rừng dự phòng có thể chia ra: Vốn dự phòng cố định và vốn dự phòng di động
a) Vốn dự phòng cố định:
Trang 9Được xây dựng trong một số lâm phần thành thục và xác định rõ ràng trên thực địa Những lâm phần này không được dự kiến trong kế hoạch khai thác mà để dành khai thác trong những trường hợp cần thiết
Đứng về mặt sản xuất, vốn dự phòng cố định không có lợi, vì trong trường hợp không có yêu cầu đột xuất về gỗ, vốn dự phòng không được khai thác, trong khi nó đã quá thành thục, năng suất rừng bị giảm, chất lượng rừng xấu Có thể giải quyết nhược điểm này bằng cách qua các định kì phúc tra sau từng giai đoạn, nếu rừng dự phòng không được khai thác, thì thay những lâm phần quá già bằng các lâm phần còn non hơn hoặc áp dụng vốn dự trữ linh động
b) Vốn dự phòng linh động:
Được xác định bằng cách ấn định một lượng khai thác nhỏ hơn mức chuẩn Cách tính toán có thể khác nhau, thường là xác định lượng khai thác hàng năm số % nhỏ hơn mức tăng trưởng rừng
Vốn dự phòng linh động có thể hình thành qua chấp nhận một chu kì dài hơn, chẳng hạn đối với một đơn vị sản xuất được xây dựng chuẩn, người ta xác định vốn dự trữ gấp 3 lần lượng khai thác hàng năm, trong trường hợp này khối lượng gỗ
có trong rừng ở 1 thời điểm là Vc + 3Lv, trong đó Vc là vốn rừng chuẩn, còn Lv là lượng khai thác hàng năm Tất nhiên vốn này có thể tương ứng với vốn rừng chuẩn của chính khu rừng ấy với một chu kì dài hơn (Nguyễn Hồng Quân, Phạm Văn Điển, 2013) [22]
1.1.1.2 Phân loại phương pháp điều chỉnh sản lượng
Phương pháp điều chỉnh sản lượng là cách ấn định khai thác gỗ trong một khu rừng, cụ thể là xác định lượng khai thác và kế hoạch hóa khai thác, nhằm thực hiện và duy trì khai thác chuẩn
Các phương pháp điều chỉnh sản lượng đã được hình thành theo ba quan điểm cơ bản:
- Quan điểm coi rừng là khối lượng gỗ được tích lũy qua tăng trưởng cây hay lâm phần Khối lượng này có đặc điểm là được tái tạo sau khai thác trong một thời gian nhất định Do đó đảm bảo được tính liên tục thông qua việc phân chia rừng theo năm hay giai đoạn để có thể khai thác hàng năm một lượng như nhau Còn thời
Trang 10gian để tất cả các diện tích trải qua khai thác có độ lớn đủ cho lâm phần có thể tái tạo và đạt lượng khai thác Những phương pháp dựa trên quan điểm này gọi chung là phương pháp phân chia
- Quan điểm dựa trên vai trò kinh tế của rừng Rừng không được coi là một kho dự trữ gỗ (như hầm mỏ) mà là một tư liệu sản xuất cho nên cần nuôi dưỡng, bảo vệ cải thiện nó, trên cơ sở đó mới có sản phẩm khai thác thường xuyên, ổn định
- Quan điểm coi rừng là tạo ra lợi nhuận đặc trưng cho sản xuất Điều chế rừng là đảm bảo rừng sản xuất ra nhiều lợi nhuận liên tục và cao nhất Những phương pháp dựa trên quan điểm này mang nặng tính chủ quan, việc áp dụng nó không mang lại hiệu quả và gây tổn thất đối với rừng, cho nên nó ít được quan tâm ngay cả đối với thế giới tư bản (Nguyễn Hồng Quân, Phạm Văn Điển, 2013) [22]
1.1.1.3 Các phương pháp điều chỉnh sản lượng
a) Phương pháp phân chia theo năm-phương pháp phân cúp:
Phân chia diện tích rừng thành diện tích hàng năm nhằm thỏa mãn không ngừng các nhu cầu về gỗ, đây là hình thức khai thác rừng được đề xuất lâu đời nhất và áp dụng ở Trung Âu từ thế kỉ XIV và đến năm 1600 nó trở thành nguyên tắc kinh doanh rừng ở nhiều nơi, thông qua các sắc lệnh và quy trình chính thức Phương pháp này còn tồn tại đến cuối thế kỉ XVIII như một hình thức duy nhất
về ấn định khai thác, cho cả rừng chặt trắng và rừng chặt chọn Sau đó phạm vi
áp dụng của phương pháp này bị thu hẹp dần, chỉ còn giá trị đối với rừng chồi là loại rừng hiện nay ít được áp dụng
b) Phương pháp phân chia theo giai đoạn - phương pháp phân khu:
- Phương pháp phân khu theo thể tích
Phương pháp này được hình thành vào cuối thế kỷ XVIII và thịnh hành ở Đức với nội dung được cụ thể hóa trong phương pháp điều chế cơ bản của G.L.Hartig Mục đích của phương pháp này là chuẩn hóa vốn rừng qua việc chia diện tích cấp rừng theo tuổi Khối lượng khai thác được xác định trong một giai đoạn nhất định hay trong một chu kỳ (J.L.F Batista và H.T.Z Docouto,1990) [35]
Trang 11Các lâm phần được gộp theo cấp tuổi, còn chu kỳ được chia thành các giai đoạn tương ứng với thời gian của cấp tuổi này Sau đó khối lượng thu hoạch được phân chia theo các giai đoạn sao cho đảm bảo tính liên tục
- Phương pháp phân chia khu theo diện tích - Phương pháp Cotta
Cotta cho rằng, xác định chính xác thể tích rừng để làm cơ sở tính lượng khai thác hàng năm là rất khó khăn và kết quả tốt chỉ có thể thu được khi chú ý đồng thời
cả diện tích (có ưu điểm là dễ đo tính) và cả thể tích (có ưu điểm là bảo đảm yêu cầu lâm sinh)
Theo quan điểm này, đầu tiên chia đều diện tích của lâm phần cho các giai đoạn, nếu điều kiện hoàn cảnh đồng nhất thì diện tích rừng của các giai đoạn bằng nhau, nếu không đồng nhất thì diện tích của các giai đoạn tỷ lệ nghịch với năng suất rừng Đây chính là kế hoạch chung về khai thác
Phương pháp Cotta gần giống với phương pháp phân chia giai đoạn theo thể tích, nhưng ở đây tiêu chuẩn để phân chia giai đoạn là diện tích, còn lượng khai thác hàng năm cũng được xác định theo thể tích, nhưng chỉ tính toán cho giai đoạn đầu
và công việc được lặp lại và cuối mỗi giai đoạn (dẫn theo Zieger; Erich,1928) [45]
Ngoài việc chú ý đến tuổi, đặc tính và trạng thái của lâm phần, giống như phương pháp phân khu theo thể tích, phương pháp này còn chú ý đến vị trí các lâm phần trong không gian (để bảo đảm liền khu, liền khoảnh) và chuẩn hóa rừng ngay trong chu kỳ đầu
- Phương pháp phân khu vĩnh viễn
Xuất pháp từ yêu cầu thấp về bảo vệ phòng chống gió hại, Parade đã đề nghị phương pháp đơn giản hơn, qua phân chia rừng thành phần bằng nhau, bằng số giai đoạn của chu kỳ và giới hạn của các giai đoạn duy trì mãi mãi
Việc lập kế hoạch chung về khai thác rất đơn giản
+ Chia chu kỳ theo giai đoạn
+ Chia rừng thành các khu
+ Chia các khu theo giai đoạn
Trang 12Phương pháp này nhằm chuẩn hóa vốn rừng, nhưng không chỉ áp dụng trong một chu kỳ Để tránh sự lãng phí, lâm phần có thể được chuyển từ khu này sang khu khác tương ứng với các giai đoạn trong các kế hoạch chung
Khác với phương pháp Cotta, kế hoạch chung nhằm đảm bảo áp dụng các biện pháp thích hợp để sắp xếp rừng theo thứ tự trong không gian Kế hoạch chung nhằm phân chia lâm phần theo giai đoạn thích hợp hơn so với sự phân chia trong các khu trên thực địa, để tránh lãng phí trong khai thác Khi phân chia các lâm phần theo giai đoạn, đòi hỏi diện tích các giai đoạn phải gần bằng nhau, tương ứng gần bằng độ lớn của khu tác nghiệp trên thực địa (dẫn theo Zieger; Erich, 1928) [45]
- Phương pháp phân khu linh động
Phương pháp này được hình thành từ phương pháp phân khu vĩnh viễn, qua thay đổi điều kiện xây dựng diện tích giai đoạn Diện tích giai đoạn không còn tính chất cố định, nó không cần phải xây dựng trong một lâm phần duy nhất, mà nó có thể cấu tạo bới các lâm phần từ nhiều phần rừng khác nhau (không cần liền khu, liền khoảnh) Xây dựng khu tác nghiệp được tiến hành qua kế hoạch chung về với tuổi và trạng thái lâm phần sao cho mỗi lâm phần được khai thác đúng tuổi thành thục của nó và bảo đảm một tỷ lệ không thay đổi giữa các giai đoạn Ở cuối mỗi giai đoạn, khu tác nghiệp được phúc tra lại và có thể thay đổi nếu cần theo tình trạng thực tế ở thời điểm đó (Học viện Lâm nghiệp Bắc Kinh 1966) [12]
- Phương pháp phân khu duy nhất
Khi không chú ý đến việc tạo ra một vị trí nhất định của các cấp tuổi trong không gian và nguyên tắc liên tục có thể được thực hiện trong một khu rừng trong giai đoạn n người ta khai thác một diện tích s, tính toán theo biểu thức:
Phương pháp chỉ chú ý đến xây dựng một khu độc nhất để khai thác và tái sinh trong giai đoạn đầu
- Phương pháp phân khu hỗn hợp
Phương pháp này đã kết hợp ưu điểm của phương pháp phân khu theo thể tích (là bảo đảm liên tục chặt chẽ) với việc bố trí các cấp tuổi theo không gian của
Trang 13các phương pháp phân khu theo diện tích Tính liên tục được đảm bảo qua việc ấn định khai thác diện tích và thể tích rừng trong các giai đoạn càng bằng nhau càng tốt (Biolley, H 1920) [36]
Trên quan điểm như vậy, phương pháp đã giảm bớt tính bằng nhau chặt chẽ
về thể tích cũng như về diện tích, nó giải quyết hài hòa giữa nhu cầu kinh tế và nhu cầu đưa rừng về trạng thái chuẩn
Đầu tiên lâm phần được chia theo giai đoạn với diện tích bằng nhau Sau đó tính toán khối lượng sản phẩm của 2 - 3 giai đoạn đầu, trong tính toán chú ý đến khả năng của các lâm phần non
Nếu khối lượng tương ứng của các giai đoạn không chênh nhau nhiều (không quá 20%) thì coi như có thể chấp nhận kế hoạch chung Trong trường hợp ngược lại phải chuyển đổi các lâm phần từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, cho đến khi thu được một tình trạng thích hợp cả về khối lượng và về diện tích
c) Phương pháp chuẩn hóa vốn rừng:
- Phương pháp chuẩn hóa vốn cấu trúc rừng
Quan điểm phân chia để đảm bảo tính liên tục đã tồn tại trong một thời gian dài và sau này, coi lâm phần không chỉ biểu thị gỗ khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu
xã hội mà còn là một tư liệu sản xuất ra gỗ Vậy nên muốn sử dụng hợp lý rừng cần xuất phát từ tái tạo và nuôi dưỡng rừng (dẫn theo Nguyễn Hồng Quân, Phạm Văn Điển, 2013 [22])
Phương pháp tăng trưởng chỉ thị là tăng trưởng thường xuyên hàng năm của một khu rừng được cấu tạo từ các lâm phần có cùng tổ thành, cùng cấp đất và độ đầy giống với các lâm phần thực và các cấp tuổi có diện tích bằng nhau Chính xác hơn là tăng trưởng của một khu rừng tương ứng với một khu rừng thực về độ lớn của phân bố diện tích theo loài và theo cấp sản xuất, nhưng khác về cấu trúc theo tuổi
- Phương pháp chuẩn hóa độ lớn vốn rừng
Phương pháp Cameraliste (Áo): Quan điểm đảm bảo tính liên tục bằng việc đưa rừng về trạng thái chuẩn, lần đầu tiên được cụ thể hóa trong một sắc lệnh năm
1788 của Triều đình quốc tế ở Viên Sắc lệnh đã nêu lên những quy tắc xác định giá
Trang 14trị một khu rừng trên cơ sở thu hoạch những sản phẩm một cách liên tục Sau này, dựa trên ý tưởng chuẩn hóa vốn rừng, năm 1811 Andre’ đã xây dựng phương pháp điều chế với tên gọi là phương pháp Cameraliste (IUCN, 1980) [33]
- Phương pháp chuẩn hóa độ lớn vốn rừng theo cấp tuổi hay cấp đường kính Phương pháp này đầu tiên được xây dựng cho rừng chặt chọn sau đó được phát triển, áp dụng cho cả rừng đồng tuổi, phương pháp này là dựa vào độ lớn vốn rừng chuẩn theo cấp tuổi dể tính toán lượng khai thác
- Phương pháp chuẩn hóa tăng trưởng vốn rừng
Bất cứ sự chặt tỉa nào cũng gây ra sự thay đổi trong mối quan hệ giữa cây với cây, giữa cây với điều kiện hoàn cảnh Dựa vào biến đổi này con người
có thể tác động vào rừng qua chặt tỉa để cải thiện các điều kiện nói trên nhằm kích thích sự phát triển của rừng, làm tăng độ lớn và cải thiện sản xuất rừng (Biolley, H 1920) [36]
Khi các biện pháp can thiệp lâm sinh vào một lâm phần được đánh giá bằng hiệu quả của nó đối với mục đích sản xuất đã được xác định theo kế hoạch Trên thực tế trong cùng một cách thức tác động ở mỗi nơi, mỗi điều kiện hoàn cảnh thu được các kết quả khác nhau Vậy nên, để đánh giá cần biện pháp đánh giá chất lượng của các biện pháp lâm sinh thông qua tăng trưởng và năng suất của rừng
a) Quy luật phân bố số cây theo đường kính:
Qui luật phân bố số cây theo cỡ kính (N/D) là một trong các chỉ tiêu quan trọng nhất của cấu trúc rừng và đã được nghiên cứu khá đầy đủ từ cuối thế kỷ trước Qui luật phân bố số cây theo cỡ đường kính được biểu thị khác nhau như phân bố thực nghiệm N/D, phân bố số cây theo cỡ tự nhiên, và bằng phương pháp biểu đồ hay bằng phương pháp giải tích Để nghiên cứu và mô tả quy luật cấu trúc đường
Trang 15kính thân cây hầu hết các tác giả tìm các phương trình toán học dưới nhiều dạng
phân bố xác suất khác nhau
Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của Meyer (1934), (Prodan,
1965) [42] Các tác giả này đã mô tả phân bố số cây theo cỡ đường kính của rừng tự
nhiên bằng phương trình Meyer có dạng:
N = k.e-αdi (1.6) (Prodan, 1965) [42] J.L.F Batista và H.T.Z Docuto (J.L.F Batista và H.T.Z Docouto 1990) [35]
trong khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Maranhoo - Brazin đã dùng hàm Weibull mô
phỏng phân bố N/D Hàm có dạng:
F(x)= x-1.e-.x^ (1.7)
Qua nghiên cứu thấy được là phân bố N/D ban đầu thường có dạng lệch trái,
phạm vi phân bố hẹp, đường cong phân bố nhọn
Tóm lại, nghiên cứu định lượng cấu trúc N/D, các tác giả có xu hướng dựa
vào dãy tần số lý thuyết để mô tả phân bố N/D và ứng dụng của nó Đồng thời, bằng
phương pháp giải tích, các tác giả đã lựa chọn được nhiều hàm toán học để mô
phỏng qui luật cấu trúc thích hợp
b) Quy luật tương quan giữa đường kính tán và đường kính tại vị trí 1,3m
Tán cây rừng là một bộ phận quyết định đến sinh trưởng cũng như tăng
trưởng của cây rừng Qua nghiên cứu nhiều tác giả đã đi đến kết luận giữa đường
kính tán và đường kính thân cây có mối quan hệ mật thiết như nghiên cứu của
Zieger; Erich (1928), Comer, O.A.N (Zieger; Erich 1928) [45]; Tuỳ theo loài cây và
các điều kiện khác nhau, mối liên hệ này được thể hiện khác nhau nhưng phổ biến
nhất là dạng phương trình đường thẳng:
DT = a + b.D1.3 (1.8) [45]
c) Quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính:
Đây cũng là quy luật cơ bản và quan trọng trong hệ thống các quy luật cấu
trúc lâm phần Qua nghiên cứu nhiều tác giả cho thấy, chiều cao tương ứng với mỗi
cỡ đường kính luôn tăng theo tuổi
Trang 16Curtis.R.O [35] đã mô phỏng quan hệ chiều cao với đường kính và tuổi theo
dạng phương trình:
Logh = d + b1.1/d + b2.1/A + b3.1/dA (1.9)
Tại từng tuổi nhất định dùng phương trình:
Logh = b0 + b1.1/d (1.10)
Các tác giả như: Hohenadl; Krenn; Michailoff; Naslund, M; Anoutchin, NP;
Eckert, Munller và V.Soest, J (dẫn theo Lê Khắc Côi, 2009) [9] đã đề xuất dùng các
phương trình dưới đây:
h = a.bd; logh = a + b.logd (1.11)
h = a.(1 – e-bd) (1.12)
h = a + b.logd (1.13)
Hai dạng phương trình được sử dụng nhiều nhất để biểu thị đường cong
chiều cao là phương trình Parabol và Logarit
1.1.2 Quản lý rừng bền vững
1.1.2.1 Khái niệm về Quản lý rừng bền vững
Trong những năm gần đây, QLRBV đã trở thành một nguyên tắc đối với
quản lý kinh doanh rừng đồng thời cũng là một tiêu chuẩn mà quản lý kinh doanh
rừng cần đạt được
Nhiều định nghĩa QLRBV được đưa ra, tuy nhiên hai định nghĩa phổ biến và
được công nhận rộng rãi nhất đó là của ITTO và trong tiến trình Hensinki
Theo ITTO (2004) “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm
phần ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ
ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn
mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của
rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự
nhiên và xã hội” (FSC, 2010) [39]
Theo tiến trình Hensinki (1995) “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng
và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học,
năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng trong quá trình thực hiện và trong
tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương,
Trang 17cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác”
(FSC, 2004) [40]
Các định nghĩa đều tập trung vào các vấn đề chính là: QLR ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra, bảo đảm bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội Các yếu tố của QLRBV là: (i) Có khuôn khổ chính sách và pháp lý; (ii) Sản xuất lâm sản bền vững; (iii) Bảo vệ được môi trường; (iv) Đảm bảo lợi ích con người; (v) Đối với rừng trồng, có các cân nhắc áp dụng cụ thể phù hợp
Tổ chức Lâm nghiệp Hoa Kỳ đã xây dựng được một chương trình của Trung tâm rừng hộ gia đình được cam kết duy trì các khu rừng, khu vực đầu nguồn và nơi
cư trú phù hợp thông qua năng lực của đơn vị quản lý tư nhân đã thành lập hệ thống rừng trang trại tại Hoa Kỳ (ATFS) năm 1941 [46]
FSC được thành lập năm 1993 từ 25 quốc gia khác nhau trên thế giới bao gồm 130 thành viên (đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản, các ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ) Nhiệm vụ của FSC là thúc đẩy việc QLR trên thế giới một cách hợp lý về mặt môi trường, có ích
về mặt xã hội và có thể thực hiện được về mặt kinh tế [46]
1.1.2.2 Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của FSC
Bộ tiêu chuẩn (bao gồm cả các nguyên tắc và tiêu chí) của FSC về QLRBV (FSC P&C) được xây dựng bởi các tổ chức phi chính phủ có tham vấn với các cơ
quan chuyên môn và nhà sản xuất Chúng được xây dựng để đưa ra cơ sở cho việc xây dựng các tiêu chuẩn sử dụng chứng chỉ rừng một cách tự nguyện Bộ tiêu chuẩn được phát triển để áp dụng cho tất cả các loại rừng và được thể hiện thông qua những tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn vùng
Bộ tiêu chuẩn FSC gồm 10 nguyên tắc: 9 nguyên tắc áp dụng cho toàn bộ các loại rừng, trong khi nguyên tắc 10 cụ thể cho QLR trồng (FSC, 2012) [14]
Tầm quan trọng của Bộ tiêu chuẩn này là giảm thiểu những tác động tiêu cực của tất cả các hoạt động Lâm nghiệp đối với môi trường, phát huy tối đa các lợi ích
về mặt xã hội và duy trì các giá trị bảo tồn quan trọng của rừng (SFMI, 2007) [32] Thực hiện QLRBV trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của FSC và được FSC chấp nhận, cấp CCR QLRBV sẽ đảm bảo được các lợi ích sau:
Trang 18- Một là, sản phẩm gỗ sẽ được lưu thông trên toàn thế giới và bán với giá cao
- Hai là, rừng cùng với môi trường sinh thái và xã hội có liên quan đến rừng
sẽ được giữ gìn, bảo vệ và phát triển tốt hơn
Hiện nay FSC đang tiến hành điều chỉnh lại các tiêu chuẩn QLRBV đề phù
hợp với tình hình mới và yêu cầu mới trong QLR (chủ yếu thống nhất các chỉ số
trong tiêu chuẩn QLRBV và thay đổi tiêu chuẩn 10 từ quy định dành riêng cho
“rừng trồng” thành tiêu chuẩn về “Tổ chức thực hiện QLRBV”) (RainForest
Alliance, 2009) [25]
1.1.2.3 Chứng chỉ rừng
Theo Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO, 1991) chứng chỉ là sự cấp giấy
xác nhận một sản phẩm, một quá trình hay một dịch vụ đã đáp ứng các yêu cầu nhất
định CCR có 2 phần là chứng chỉ quản lý rừng (FM) và chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về CCR, nhưng đều bao hàm
hai nội dung cơ bản: Đánh giá độc lập chất lượng QLR theo một bộ tiêu chuẩn quy định; Cấp giấy chứng chỉ có thời hạn (Theo Nguyễn Ngọc Lung, 2009) [17]
Năm 1999, Hội đồng PEFC (Programme for the Endorsement of Forest Certification - Chương trình phê duyệt các quy trình CCR) PEFC là một tổ chức độc lập, phi Chính phủ, phi lợi nhuận Các hoạt động của PEFC là thúc đẩy quản lý rừng bền vững thông qua việc chứng nhận độc lập bởi bên thứ ba PEFC đưa ra cơ chế đảm bảo với những người thu mua sản phẩm gỗ và giấy rằng họ đang xúc tiến công tác QLRBV [47]
Một trong những động lực quan trọng của CCR là thâm nhập thị trường tiêu thụ sản phẩm rừng đòi hỏi có chứng chỉ, vì vậy CCR thường gắn với chứng chỉ CoC
- xác nhận sản phẩm có nguồn gốc từ rừng được chứng chỉ Chủ rừng được chứng chỉ theo quy trình nào thì được cấp giấy chứng chỉ và các sản phẩm làm ra được mang nhãn mác của quy trình đó Hiện nay trên thế giới có 2 quy trình CCR quốc tế
lớn là Hội đồng quản trị rừng (FSC) và Chương trình phê duyệt các quy trình CCR (PEFC), chiếm trên 60% diện tích rừng được chứng chỉ của thế giới (GFA
consulting Group, 2013) [41]
Trang 19FSC là tổ chức uy tín nhất và chứng chỉ FSC được mọi thị trường chấp nhận, kể các Bắc Mỹ, và Tây Âu FSC được thành lập vào tháng 10/1993 tại Toronto - Canada bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 26 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, đại diện các ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ FSC cấp chứng chỉ QLRBV cho rừng ôn đới, nhiệt đới, rừng tự nhiên, rừng trồng và đang
mở rộng ra rừng sản xuất lâm sản ngoài gỗ (IUCN, 1980) [33], (Ngọc Thị Mến (dịch), (2008) [18])
FSC xây dựng 10 tiêu chuẩn cho QLRBV Từ các tiêu chuẩn đó, các quốc gia, khu vực tham gia vào tiến trình QLRBV và CCR sẽ xây dựng các bộ tiêu chuẩn quốc gia riêng để đánh giá sao cho phù hợp với các điều kiện cụ thể của mình Các
bộ tiêu chuẩn này cần phải được sự phê chuẩn của FSC trước khi được sử dụng để đánh giá cấp CCR tại quốc gia hoặc khu vực đó (FSC, 2010) [39]
1.1.3 Lập kế hoạch quản lý rừng
Kế hoạch QLR thuộc nguyên tắc 7 trong 10 nguyên tắc QLR của FSC, là nguyên tắc có liên quan tới các nguyên tắc khác và gần như xuyên suốt trong tất cả các hoạt động QLR của đơn vị xin cấp CCR
1.1.3.1 Các vấn đề liên quan khi lập kế hoạch quản lý rừng
Hướng tới các mục tiêu thực hiện QLRBV cần xác định các vấn đề liên quan trong lập kế hoạch, triển khai và thực hiện các hoạt động quản lý rừng: Kế hoạch khai thác gỗ và lâm sản; Kế hoạch các công việc liên quan đến phục hồi rừng; Kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và các khu vực có giá trị bảo tồn cao
- Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm; Kế hoạch về tài chính; Kế hoạch phụ khác
- Những yêu cầu mới phù hợp với tình hình thực tế để thực hiện kế hoạch QLR; Phân tích, đánh giá hiệu quả kế hoạch QLR và điều chỉnh
1.1.3.2 Các chỉ số cần đạt được trong kế hoạch quản lý rừng
- Trong kế hoạch QLR cần linh hoạt và sẽ được điều chỉnh nhằm kết hợp các kết quả giám sát hoặc các thông tin khoa học kỹ thuật mới, cũng như đáp ứng những thay đổi về môi trường và kinh tế - xã hội nhằm từng bước hoàn thiện cho phù hợp với tình hình thực tế
Trang 20- Bản kế hoạch bao gồm các giải pháp khắc phục những yếu kém đã được phát hiện qua các cuộc khảo sát, chi tiết hàng năm sẽ điều chỉnh cho phù hợp
- Bản báo cáo đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch hàng năm phải được lưu trữ song song với bản kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương
- Cập nhật thường xuyên hệ thống cơ sở dữ liệu, áp dụng những ứng dụng công nghệ mới liên quan đến QLR Danh sách những công nghệ mới đã được áp dụng trong quá trình QLR
- Nâng cao năng lực của cán bộ, công nhân và người lao động thông qua đào tạo định kỳ theo nhu cầu sử dụng của chủ rừng Xây dựng kế hoạch đào tạo, lưu trữ danh mục lớp, số lượng người tham gia đào tạo, tập huấn
- Tổ chức giám sát, kiểm tra chéo công việc của các bên liên quan tham gia vào quá trình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch QLR tại địa phương
- Thông báo rộng rãi và công khai những nội dung cơ bản của kế hoạch QLR tại đơn vị mình quản lý [50]
1.2 Ở trong nước
1.2.1 Điều chỉnh sản lượng rừng
Rừng Việt Nam tồn tại hai loại chủ yếu khác nhau về nguồn gốc, trạng thái cấu trúc cũng như các sản phẩm hình thành, đó là rừng trồng (thường là thuần loài, đồng tuổi) và rừng tự nhiên (thường là hỗn loài, khác tuổi) Tương ứng với nó là các phương thức khai thác khác nhau: Rừng trồng thuần loài, đều tuổi thường áp dụng phương thức khai thác trắng; Rừng tự nhiên hỗn loài, khác tuổi thường áp dụng phương thức khai thác chọn theo cấp kính hay khai thác chọn thô
1.2.1.1 Các phương pháp điều chỉnh sản lượng rừng áp dụng cho rừng thuần loài, đều tuổi
Sản lượng rừng hàng năm tính theo trữ lượng sẽ bằng tổng lượng tăng trưởng bình quân của rừng
Sản lượng rừng hàng năm tính theo diện tích sẽ bằng sản lượng hàng năm tính theo diện tích chia cho trữ lượng lợi dụng bình quân/ha
Trang 21Trong phương pháp này sản lượng tính toán không được vượt quá lượng tăng trưởng của rừng Khi rừng có cấu trúc không đều theo cấp tuổi nếu chúng ta căn cứ vào lượng tăng trưởng để khống chế SLR sẽ rất bất hợp lý, để hạn chế cần tích lũy cây rừng thành thục không cần thiết hoặc khai thác sớm vào các cây rừng chưa đạt thành thục
Phương pháp độ thành thục:
Sản lượng rừng hàng năm tính theo diện tích và tính theo trữ lượng bằng diện tích và trữ lượng rừng thành thục và rừng quá thành thục chia cho số năm của một cấp tuổi Trong phương pháp này sản lượng hàng năm chỉ tính cho những lô rừng thành thục nhưng sản lượng khai thác chỉ ổn định trong một cấp tuổi
Phương pháp tuổi rừng:
Sản lượng rừng khai thác hàng năm tính theo diện tích và tính theo trữ lượng bằng diện tích và trữ lượng rừng gần thành thục, rừng thành thục và rừng quá thành thục chia cho số năm 2 cấp tuổi Phương pháp này sẽ tính toán cho sản lượng hàng năm ổn định dài hơn 2 cấp tuổi
Phương pháp tính tình trạng rừng:
Sản lượng khai thác hàng năm tính theo diện tích và tính theo trữ lượng bằng
tổng diện tích và tổng trữ lượng của rừng tính theo tình trạng rừng (bị sâu bệnh, bị
nguy hại ) chia cho số năm cần khai thác hết diện tích và trữ lượng này Trong
phương pháp này là sản lượng khai thác thường được dùng để tính cho rừng sinh trưởng kém
1.2.1.2 Các phương pháp điều chỉnh sản lượng rừng áp dụng cho rừng tự nhiên hỗn loài, khác tuổi
Tính theo lượng tăng trưởng bình quân: Sản lượng khai thác hàng năm tính
theo trữ lượng bằng tổng lượng tăng trưởng bình quân của rừng Trong phương
pháp này sản lượng khai thác chỉ được tính bằng lượng tăng trưởng của rừng
Tính theo năm hồi quy: Sản lượng khai thác hàng năm tính theo trữ lượng
bằng tổng trữ lượng cây thành thục và cây quá thành thục chia cho năm hồi quy,
Trang 22hoặc cộng với tổng trữ lượng cây quá thành thục chia cho định kỳ chặt Trong
phương pháp này thường ưu tiên khai thác cho những cây quá thành thục
1.2.1.3 Cấu trúc rừng
a) Quy luật phân bố số cây theo đường kính (N-D):
Vũ Tiến Hinh (1990, 2012) [11] cho thấy, có thể dùng phân bố Weibull với hai tham số để biểu thị phân bố N-D cho những lâm phần thuần loài, đều tuổi như Thông đuôi ngựa, Thông nhựa, Mỡ và Bồ đề
Nguyễn Ngọc Lung (1999), Nguyễn Hồng Quân (2008) [21] khi nghiên cứu phân bố số cây theo cỡ đường kính đã thử nghiệm 3 hàm phân bố: Poisson, Charlier, Weibull cho rừng Thông ba lá ở Việt Nam và rút ra kết luận: Hàm Charlier kiểu A là hàm phù hợp nhất
b) Quy luật tương quan giữa đường kính tán với đường kính ngang ngực:
Vũ Đình Phương (1985) (dẫn theo Vũ Tiến Hinh, 2012) [11] đã khẳng định
mối liên hệ mật thiết giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực; mối liên hệ mật thiết giữa đường kính tán và chiều cao ngang ngực được thể hiện qua phương trình: DT = a+b D1,3
c) Quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính:
Khi sắp xếp cây rừng cùng một lúc theo hai đại lượng đường kính ngang
ngực (D 1.3 ) và chiều cao cây (H) sẽ được quy luật phân bố hai chiều và có thể định
lượng thành quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây, quy luật kết cấu căn bản này cũng được nhiều tác giả nghiên cứu
Vũ Tiến Hinh (1990, 2012) [11] dùng phương trình h = a + b.logd, xác lập
quan hệ H/D cho các loài Mỡ, Sa mộc, Thông đuôi ngựa
1.2.2 Quản lý rừng bền vững
Trong quá trình phát triển lâm nghiệp, quan niệm “Quản lý rừng bền vững” ở
Việt Nam mới được hình thành từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 20 Từ
đó đến nay, vấn đề QLRBV luôn là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam Mặt khác, việc chuyển đổi từ QLR truyền thống sang QLRBV hiện nay đang được thúc đẩy bởi một công cụ thị trường
là “Chứng chỉ rừng”
Trang 231.2.2.1 Các hoạt động về quản lý rừng bền vững
Hoạt động của Tổ công tác quốc gia (NWG) về QLRBV:
Tổ công tác quốc gia bước đầu tiến hành tuyên truyền tập huấn đào tạo về
QLR bền vững với sự hỗ trợ và cộng tác của Quỹ rừng nhiệt đới (TFT), GIZ thông
qua các hội nghị cấp tỉnh, cấp quốc gia, cấp vùng Tiếp đó hỗ trợ xây dựng kế hoạch hoạt động và lộ trình thực hiện QLR bền vững trong Chiến lược phát triển Lâm nghiệp
Trên cơ sở đánh giá kết quả thực tiễn, NWG tiến hành các khảo sát nhằm xem xét tính khả thi của bộ tiêu chuẩn quốc gia đang dự thảo, đồng thời đánh giá trình độ quản lý của các đơn vị
Một số hoạt động về CCR đang triển khai:
Tính đến năm 2015, toàn quốc đã có 169.704,3 ha rừng đạt chứng chỉ quản
lý rừng bền vững, trong đó diện tích rừng tự nhiên đạt chứng chỉ là 102.249,6 ha, diện tích rừng trồng đạt chứng chỉ là 67.280,4 ha Trong giai đoạn vừa qua có nhiều
Tổ chức quốc tế hỗ trợ các Chương trình Dự án triển khai các hoạt động liên quan
đến CCR: Điều tra xây dựng kế hoạch QLRBV tại huyện Kon Plong (Kontum) 2000
- 2002 do JICA tài trợ; Hỗ trợ công ty Hà Nừng, Công ty Sơ pai (Gia Lai) do WWF Đông Dương tài trợ; Chương trình Lâm nghiệp của GTZ (nay là GIZ) hỗ trợ 5 công
ty quốc doanh quản lý rừng tự nhiên là Ma Đrak và Nam Nung (Đắc Lắk) kết quả
đã lan rộng ra 3 công ty khác tại Quảng Bình, Ninh Thuận, Yên Bái; Kế hoạch hỗ trợ CCR và tiếp thị của TFT tại Việt Nam hỗ trợ từng phần và cho từng đơn vị quản
lý rừng như tại Công ty Trường Sơn (Long Đại, Quảng Bình), Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn (Hà Tĩnh), hành lang vùng đệm 2 Vườn quốc
gia Kôn Kai Kinh và Kông Cha Răng; Dự án Phát triển ngành Lâm nghiệp hỗ trợ cấp CCR theo nhóm hộ (Lê Khắc Côi, 2009) [8]
CCR đang là cơ hội và thách thức cho ngành Lâm nghiệp Việt Nam trong việc xuất khẩu các mặt hàng gỗ:
Công ty TNHH rừng trồng Quy Nhơn (QPFT) với 9.781 ha đất lâm nghiệp
phân bố tại 8 huyện của tỉnh Bình Định Hiện tại Công ty QPFT khai thác gỗ từ rừng trồng mỗi năm 60.000 m3, chủ yếu là gỗ Keo lá tràm, Keo tai tượng, Keo lai
Trang 24và Bạch đàn trắng Trong tương lai, dự kiến khối lượng gỗ khai thác ổn định vào khoảng 120.000 m3, chủ yếu là gỗ Keo lai (FSC, 2009) [13] Bên cạnh việc bán gỗ với giá cao doanh nghiệp cũng đã thay đổi thái độ với rừng và môi trường
Tổng công ty Giấy Việt Nam, với sự hỗ trợ của Viện QLRBV&CCR, cùng với sự cố gắng của tập thể cán bộ công nhân viên, trong 4 năm từ 2008-2012 Tổng công ty đã được tổ chức Rainforest Alliance đến đánh giá và cấp Chứng chỉ rừng
FM - CoC theo nhóm cho 7 Công ty: Xuân Đài, Đoan Hùng, Sông Thao, Yên Lập, Thanh Hòa, Cầu Ham và Tam Thắng (Đỗ Thị Ngọc Bích, 2009) [5]
Năm 2011, Công ty Lâm nghiệp Bến Hải, Quảng Trị đã ký kết hợp đồng hợp tác đầu tư trồng rừng, phát triển lâm nghiệp bền vững với Công ty Tài chính Lâm nghiệp - Đức Theo đó, hai bên cùng nhau hợp tác đầu tư trồng rừng thâm canh kỹ thuật cao, khoanh nuôi xúc tiến làm giàu rừng tự nhiên nghèo kiệt với diện tích hợp tác đầu tư lên đến 1.000 ha; phát triển Lâm nghiệp theo hướng bền vững, tạo sản phẩm lâm nghiệp chất lượng cao, sản xuất chế biến gỗ đạt tiêu chuẩn Quốc tế cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước Bên cạnh đó, việc hợp tác này sẽ tạo thêm nhiều việc làm ổn định và tăng thu nhập cho lao động địa phương, tăng nhanh độ che phủ của rừng, góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thủy, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học Đây cũng là doanh nghiệp đầu tiên của ngành Lâm nghiệp miền Trung thực hiện liên doanh liên kết với nước ngoài trong phát triển sản xuất kinh doanh Lâm nghiệp theo hướng bền vững
về kinh tế, xã hội, môi trường, hướng đến chứng chỉ CO2 để được tham gia thị trường Carbon (GFA consulting Group, 2013) [41]
Tính đến nay số doanh nghiệp Việt Nam được cấp chứng chỉ theo các dạng
khác nhau tăng dần (Chứng chỉ FM, CoC, CW- Control Wood) cả nước đã có trên
200 doanh nghiệp, đã chứng tỏ rằng các doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của CCR và đang chủ động thích ứng với những đạo luật mới về xuất khẩu gỗ vào thị trường Mỹ và EU (FSC, 2009 [13])
Hiện tại, Việt Nam đã đàm phán thành công FLEGT-VPA (Forest Law Enforcement, Governance and Trade - Tăng cường thực thi luật Lâm nghiệp, quản
lý và thương mại lâm sản; VPA (Voluntary Partnership Agreement - Thỏa thuận đối
Trang 25tác tự nguyện) Tuy nhiên, doanh nghiệp hiện nay còn gặp nhiều khó khăn trong việc chứng minh nguồn gốc gỗ từ nguồn nguyên liệu trong nước và nguồn nguyên liệu nhập khẩu Ngoài ra, khi yêu cầu các giấy tờ chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp khi thu mua gỗ trong dân một phần do nhận thức của người dân, một phần do thói quen lưu trữ hồ sơ hạn chế của người dân và sự thiếu thống nhất về các yêu cầu giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của gỗ Đây là một trong những thách thức cần quan tâm trong thời kỳ hội nhập vào thị trường gỗ chứng chỉ
1.2.2.2 Một số công trình nghiên cứu về quản lý rừng bền vững
Công trình nghiên cứu về Xây dựng các bước đánh giá QLRBV để cấp CCR theo tiêu chuẩn của FSC Công trình nghiên cứu cấp Bộ NN&PTNT quản lý, Trường Đại học Lâm nghiệp là cơ quan chủ trì Đề tài tiến hành nghiên cứu từ sau
những năm 2000 (Vũ Nhâm, 2007) [20]
Đã có nhiều nghiên cứu về Xây dựng các bước đánh giá QLRBV để cấp CCR theo tiêu chuẩn của FSC trên cơ sở thực tế QLRBV ở Việt Nam nói chung và Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình nói riêng; Vũ Nhâm (2007) [20] đã thực hiện đề tài nghiên cứu và xây dựng được “Hướng dẫn tổ chức đánh giá rừng theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia” nhằm hỗ trợ cho 10 Lâm trường thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT ký cam kết thực hiện phương án QLRBV: Đánh giá QLR, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tại Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tại Công ty Lâm nghiệp Di Linh, tỉnh Lâm Đồng; Lập kế hoạch QLR theo nguyên tắc QLRBV của FSC tại Công ty Lâm nghiệp Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa; Lập kế hoạch QLR theo nguyên tắc QLRBV của FSC tại Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn, tỉnh Phú Thọ Lại Hữu Hoàn (2003): Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững tại xã Hương Lộc, huyện Nam Động, tỉnh Thừa Thiên Huế; Lê Văn Hùng (2004): Nghiên cứu cơ sở và thực tiễn làm căn
cứ đề xuất các giải pháp quy hoạch quản lý rừng bền vững tại Lâm trường Ba Rền, Công ty lâm nghiệp Long Đại, tỉnh Quảng Bình; Nguyễn Tiến Thành (2007): Quy hoạch kinh doanh rừng theo tiêu chuẩn QLRBV tại Lâm trường Yên Sơn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Ngoài ra cũng có một số nghiên cứu có liên quan đến
Trang 26QLRBV tại Hòa Bình: Nghiên cứu cơ sở điều chỉnh sản lượng rừng trồng phục vụ cho lập Kế hoạch quản lý rừng bền vững cho một số Lâm trường, xí nghiệp tại Hòa Bình Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại trong việc nghiên cứu đánh giá ở quy mô nhỏ, chưa đảm bảo tính liên vùng Lập phương án QLRBV trên cơ sở cho điểm theo các tiêu chí của FSC, còn thiếu các dẫn liệu về khoa học để làm căn
cứ điều chỉnh sản lượng cho Công ty và khu vực nghiên cứu
Các kết quả nghiên cứu đã giúp cho các chủ rừng nâng cao được nhận thức
về QLRBV cũng như sơ bộ đánh giá được những khiếm khuyết trong QLR để có giải pháp khắc phục và duy trì được CCR
Thực hiện lộ trình đàm phán Hiệp định đối tác tự nguyện (VPA/FLEGT) với Liên minh Châu Âu (EU), Bộ NN&PTNT (Cục Lâm nghiệp) đã phối hợp với các
Bộ, ngành, Hiệp hội xây dựng định nghĩa gỗ và các sản phẩm gỗ hợp pháp của Việt nam Định nghĩa gỗ hợp pháp được xây dựng dựa trên quy định của pháp luật Việt Nam và tham khảo các quy định của các nước trong khối ASEAN và EU (Vũ Văn
Mễ, 2009) [19]
1.2.2.3 Tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững
Xây dựng Bộ tiêu chuẩn QLRBV quốc gia (1998-2007)
Dựa trên cơ sở 10 nguyên tắc và 55 tiêu chí của FSC, Tổ công tác quốc gia
thuộc Hội khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam (nay là Viện QLRBV và CCR)
đã hoàn thành dự thảo tiêu chuẩn quốc gia với 15 chỉ số phản ánh các đặc thù của Việt Nam, song vẫn đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của FSC (Trần Văn Con, Nguyễn Huy Sơn … ,2008) [7]
Hiện nay Tổng cục Lâm nghiệp đã ban hành xây dựng Bộ nguyên tắc và Bộ bằng chứng QLRBV của Việt Nam trên cơ sở đảm bảo tính thống nhất các Bộ tiêu chuẩn của các Tổ chức quốc tế đang cấp CCR ở Việt Nam với 10 nguyên tắc, 15 tiêu chí và 151 chỉ số và chủ rừng có thể tự quyết định lần chọn loại CCR QLRBV của Việt Nam hoặc của các tổ chức Quốc Tế (Bộ NN&PTNT, 2014) [3]
1.2.2.4 Chứng chỉ rừng
Năm 1995 sau khi Việt Nam ra nhập ASEAN, nhu cầu về hợp tác QLRBV trở thành nội dung được quan tâm, tiến tới xây dựng được một bộ nguyên tắc
Trang 27chung cho khối Để đẩy nhanh tiến trình này các nước thành viên tự hình thành một tổ chức để xúc tiến quá trình cho quốc gia và khu vực (dẫn theo Trần Văn Con, 2006) [6]
Trong bối cảnh Lâm nghiệp Việt Nam hiện nay, QLRBV là định hướng chiến lược quan trọng nhằm phát huy tối đa tiềm năng của ngành góp phần đóng góp vào nền kinh tế quốc dân, cải thiện đời sống người dân vùng rừng núi, bảo tồn
đa dạng sinh học và hệ sinh thái rừng Nhận thức rõ điều này, Nhà nước đã và đang từng bước hoàn thiện khuôn khổ thể chế chính sách và thúc đẩy các hoạt động thực tiễn để QLR được bền vững (Bộ NN&PTNT, 2011) [2], (Gil C Saguiguit, 1998) [24] Qua đó thể hiện lộ trình CCR theo các giai đoạn sau:
- Xây dựng Bộ tiêu chuẩn QLRBV quốc gia (1998 - 2007): Hoàn thành bản
dự thảo tiêu chuẩn Quốc gia với 158 chỉ số đặc thù của Việt Nam, trên cơ sở 10 nguyên tắc và 55 tiêu chí của FSC Tuy nhiên, vẫn đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của FSC (Bộ NN&PTNT, 2014) [3]
- Tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cho chủ rừng và cho các bên
liên quan và cho cộng đồng dân cư bằng nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là các vùng khó khăn và có nguy cơ xâm hại rừng cao
- Nâng cao năng lực và nghiệp vụ: Từng bước tập huấn tự đánh giá năng lực quản lý của chủ rừng, cán bộ Lâm nghiệp Tự đánh giá ưu, khuyết điểm trong QLR
và tự xây dựng dược phương án khắc phục theo 1 quy trình thống nhất của FSC do Viện QLRBV và các tổ chức được FSC uỷ quyền cấp
- Đánh giá chất lượng quản lý của từng khu rừng (2008 - 2010); Chủ rừng tự
đánh giá hiện trạng mỗi đơn vị QLR của mình, dựa vào các tiêu chuấn của FSC Phân loại trình độ quản lý tốt, trung bình và kém để xây dựng phương án khắc phục mọi yếu kém cho mỗi đơn vị và để lập mạng lưới các khu rừng xin cấp chứng chỉ
- Tổ chức mạng lưới các mô hình QLRBV tự nguyện (2006 - 2015) Đánh
giá năng lực của các tổ chức đơn vị tự nguyện trong cả nước tiếp tục lộ trình tự đánh giá
- Cấp chứng chỉ rừng (2008 - 2020) Hiện tại chỉ có 5 tổ chức chuyên môn
được FSC uỷ quyền cấp chứng chỉ FSC trong thời hạn 5 năm Những đơn vị đủ tiêu
Trang 28chuẩn giai đoạn 2004 - 2010 sẽ được cấp CCR trước Khoảng 30% đơn vị trong
mạng lưới tự nguyện 2 (giai đoạn 2011 - 2015) sẽ được cấp CCR và khoảng 20% đơn vị mới bổ sung vào mạng lưới tự nguyện 3 (giai đoạn 2016 - 2020) sẽ được cấp
CCR tiếp theo [47], [50]
1.2.3 Lập kế hoạch quản lý rừng
QLRBV có yêu cầu bắt buộc chủ rừng phải xây dựng kế hoạch QLR và kế hoạch phải thể hiện được những nội dung chính trong nguyên tắc 7, nhưng để phù hợp với hệ thống và quy trình quản lý rừng ở Việt Nam, kế hoạch QLR đã được xây dựng theo khung nội dung sau: Mục tiêu QLR của chủ rừng cần được xác định trên
cơ sở nghiên cứu, đánh giá các điều kiện cơ bản, đánh giá tình hình QLR các năm trước; Từ mục tiêu đã xác định tiến hành quy hoạch sử dụng đất, phân bổ đất đai cho phát triển các loại rừng trong địa bàn quản lý của chủ rừng
Bước 4: Kế hoạch trồng rừng, trồng lại rừng
Bước 5: Kế hoạch khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh và làm giàu rừng
Bước 6: Kế hoạch bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và khu rừng có giá trị bảo tồn cao
Bước 7: Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng
Bước 8: Kế hoạch giám sát, đánh giá
Bước 9: Kế hoạch nhân lực và đào tạo
Bước 10: Kế hoạch vốn đầu tư và huy động vốn
Dự tính được hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường và hiệu quả xã hội sau khi thực hiện kế hoạch Đối với rừng tự nhiên sản xuất KHQLR cần xây dựng kế hoạch tổng thể cho cả luân kỳ, trong đó chi tiết cần xây dựng cụ thể cho một thời gian giãn cách giữa 2 lần khai thác trên cùng một địa điểm
Trang 29Tại Việt Nam nhận thức về QLRBV hay CCR còn hạn chế Các lợi ích từ quản lý và bảo vệ rừng chưa hấp dẫn người dân sống trong vùng rừng cùng với đó
là thiếu cơ chế khuyến khích hưởng lợi từ các lợi ích quản lý bảo vệ rừng đối với người dân sống trong vùng đệm Chi phí đánh giá để đạt tiêu chuẩn CCR lại quá cao, cao hơn so với giá bán gỗ đã được cấp chứng chỉ Tuy nhiên với lợi ích trong tương lai gần, QLRBV là xu thế tất yếu đối với các đơn vị kinh doanh trong Lâm nghiệp
CCR đang từng bước thay đổi giá trị của hàng hoá đem lợi ích đến không chỉ cho doanh nghiệp chế biến lâm sản mà cả những đơn vị trồng rừng cũng được hưởng nhiều quyền lợi khi có được chứng nhận này Những khó khăn trở ngại nêu trên trở thành những thách thức đối với các nhà Lâm nghiệp trong quá trình chuyển đổi QLR theo hướng bền vững mà trong đó nghiên cứu để tìm tòi một phương pháp lập kế hoạch QLRBV là bước ban đầu rất quan trọng (WWF, 2005) [15]
1.2.4 Một số hoạt động của Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình tại địa phương
Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Hoà Bình là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, được chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước (Công ty Lâm nghiệp Hoà Bình) theo Quyết định số 444/QĐ-BNN-ĐMDN ngày 01/02/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Công ty có một số định hướng và hoạt động trong thời gian tới như sau:
- Đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định phục vụ cho các nhà mày chế biến ván nhân tạo tại huyện Cao Phong và cung cấp gỗ cho các nhà máy của Tổng công ty
- Quy hoạch và khai thác sử dụng tài nguyên đất đai được giao đồng thời phát triển và mở rộng quy mô của dự án trên cơ sở liên doanh liên kết với các tổ chức, cá nhân có quỹ đất và có đủ năng lực để tổ chức trồng rừng kinh tế
- Từ 1998-2008 Công ty đã trồng mới được 12.500 ha Từ nay đến năm 2020
sẽ tổ chức trồng mới khoảng 18.000 ha rừng (Giai đoạn 2009 – 2015 tổ chức trồng 8.500 ha; Giai đoạn 2016 – 2020 tổ chức trồng 9.500 ha) bằng các dòng Keo, Bạch Đàn được tuyển chọn và tạo giống bằng phưong pháp nhân hom và nuôi cấy mô tế bào có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao
Trang 30- Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, lao động từ đó đưa ra các mô hình trồng rừng, mức đầu tư cho từng mô hình hợp lý, đưa năng suất rừng trồng đạt sản lượng bình quân từ 120 – 150m3/ha/chu kỳ
- Liên doanh liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước để trồng rừng và chế biến các sản phẩm Nông Lâm nghiệp, dịch vụ vật tư kỹ thuật và đời sống trong khu vực
1.3 Thảo luận
Trên thế giới lượng khai thác gỗ trên cơ sở SLR đã trở thành nội dung trọng tâm trong QLR và đã hình thành các phương pháp điều chỉnh SLR để đưa về trạng thái ổn định Các phương pháp điều chỉnh SLR phát triển từ đơn giản đến phức tạp,
từ lúc chỉ điều chỉnh theo diện tích đến điều chỉnh theo trữ lượng và cao hơn là tính phối hợp diện tích với trữ lượng và hướng cấu trúc rừng theo mô hình ổn định, mô hình chuẩn
Ở trong nước nhận thức về điều chỉnh SLR, các phương pháp điều chỉnh SLR cho đến thời điểm này vẫn mang tính truyền thống, tách rời với yêu cầu của các yếu tố môi trường, xã hội, bảo tồn đa dạng sinh học Trong thực tế điều chỉnh SLR còn ít được coi trọng, chủ yếu do các yếu tố cấu thành nên SLR còn chưa được giải quyết đầy đủ Lượng khai thác và đối tượng khai thác chủ yếu phụ thuộc vào các quy định của Nhà nước và biến đổi của thị trường
Quản lý rừng bền vững đã và đang được ứng dụng rộng rãi tuy nhiên các doanh nghiệp kinh doanh rừng trồng nhận thức chưa đầy đủ về quản lý rừng bền vững Các vấn đề liên quan đến quản lý rừng bền vững ít được coi trọng cùng với
đó là chi phí để thực hiện CCR còn cao và Bộ tiêu chuẩn QLRBV chưa được FSC công nhận
Việc lập kế hoạch quản lý rừng ở Việt Nam nói chung và của Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình nói riêng cũng còn nhiều bất cập như nội dung kế hoạch QLR mới
đưa ra một “khung chung” các vấn đề cơ bản để lập KHQLR, chưa đề cập cụ thể
cho từng loại rừng có chức năng khác nhau và do các chủ QLR khác nhau
Nội dung kế hoạch QLR cần được đơn giản hóa hơn và cụ thể hơn cho các chủ rừng QLR với chức năng khác nhau có thể áp dụng được
Trang 31Sản lượng khai thác rừng trồng cung cấp nguyên liệu chưa ồn định và cân bằng do diện tích trồng hàng năm luôn không được điều chỉnh bằng nhau Còn thiếu các nghiên cứu cấu trúc rừng làm cơ sở khoa học và lý luận phục vụ cho đề xuất các biện pháp kỹ thuật (điều chỉnh sản lượng, diện tích ổn định) trong quản lý rừng được bền vững và hiệu quả
Kế hoạch khai thác rừng là kế hoạch then chốt trong các kế hoạch QLR và việc điều chỉnh sản lượng khai thác rừng theo hướng ổn định cũng đã trở thành nội dung trung tâm trong các hoạt động thực hiện kế hoạch khai thác rừng của các đơn
vị chủ rừng Vậy nên việc sắp xếp và bố trí được một sản lượng khai thác rừng ổn
định và cân bằng trong chu kỳ kinh doanh thông qua áp dụng một phương pháp điều chỉnh SLR phù hợp là việc cần thiết Trên cơ sở đó làm nền tảng cho việc lập kế hoạch QLRBV theo tiêu chuẩn QLR của Hội đồng FSC Qua đây chúng tôi xác định sẽ là “kim chỉ nam” xuyên suốt trong quá trình tiến hành nghiên cứu của luận
án: “Nghiên cứu điều chỉnh sản lượng rừng trồng làm cơ sở lập kế hoạch quản lý
rừng theo tiêu chuẩn của Hội đồng quản trị rừng thế giới tại Công ty Lâm nghiệp
Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình”
Trang 32Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Đánh giá hiện trạng rừng trồng eo tai tượng tại ông ty Lâm nghiệp òa Bình
- Diện tích và phân bố không gian của rừng trồng Keo tai tượng
- Cấu trúc rừng trồng Keo tai tượng
- Trữ lượng và sinh trưởng rừng trồng Keo tai tượng
- Đánh giá xu hướng phát triển rừng trồng Keo tai tượng
2.1.2 Điều chỉnh sản lượng rừng trồng Keo tai tượng của Công ty về trạng thái cân bằng, ổn định
- Nghiên cứu mục đích kinh doanh rừng trồng Keo tai tượng
- Nghiên cứu diện tích bình quân cần trồng và khai thác hàng năm
- Nghiên cứu xác định trữ lượng và hiệu chỉnh trữ lượng giữa điều tra thực tế với Biểu sản lượng rừng trồng
- Điều chỉnh sản lượng rừng trồng Keo tai tượng tính theo diện tích về trạng thái cân bằng, ổn định trong chu kỳ kinh doanh
- Điều chỉnh sản lượng rừng trồng Keo tai tượng tính theo trữ lượng về trạng thái cân bằng, ổn định trong chu kỳ kinh doanh
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của phương án điều chỉnh sản lượng rừng trồng Keo tai tượng
2.1.3 Đánh giá hoạt động quản lý rừng trồng Keo tai tượng của Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình theo tiêu chuẩn quản lý rưng bền vững
- Tác động môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học
- Tác động xã hội
2.1.4 Lập kế hoạch quản lý rừng trồng Keo tai tượng
- Cơ sở xây dựng phương án lập kế hoạch quản lý rừng trồng Keo tai tượng
- Kế hoạch khắc phục tồn tại trong hoạt động quản lý rừng trồng Keo tai tượng
- Kế hoạch thực hiện điều chỉnh sản lượng rừng trồng Keo tai tượng trong lập kế hoạch quản lý rừng
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 332.2.1 Quan điểm và phương pháp luận nghiên cứu
Quản lý rừng bền vững là một phương thức quản lý rừng tiên tiến nhằm đáp ứng yêu cầu mới về quản lý rừng trên thế giới Chứng chỉ rừng là kết quả các hoạt động của quản lý rừng bền vững đó đạt chuẩn Nó được coi như là giấy thông hành cho các sản phẩm gỗ đạt chứng chỉ để tham gia vào thị trường gỗ quốc tế Vì vậy quản lý rừng nhằm đạt được chứng chỉ rừng không chỉ là yêu cầu, mà cũng là mục đích và điều kiện quan trọng của các cơ sở sản xuất kinh doanh gỗ Để đáp ứng được tính ổn định trong hoạt động quản lý rừng, Công ty không những tuân thủ các quy định của FSC mà còn duy trì sản lượng khai thác gỗ ổn định để bảo đảm việc cung cấp gỗ một cách liên tục và lâu dài Bằng việc điều chỉnh sản lượng và diện tích rừng trồng Keo tai tượng theo hướng ổn định qua từng chu kỳ kinh doanh, hướng tới mục tiêu phát triển rừng trồng có năng suất cao để đảm bảo cung cấp lâu dài nguồn nguyên liệu có chứng chỉ FSC cho thị trường Góp phần thực hiện chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 và đóng góp vào việc bảo vệ môi trường và cải thiện thực trạng kinh tế - xã hội của các cộng đồng dân cư địa phương một cách bền vững
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích các tài liệu thứ cấp
Trong quá trình thực hiện luận án đã kế thừa:
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình chung (thuận lợi và khó khăn ) của các huyện, xã nằm trong ranh giới các Lâm trường và Công ty
- Hiện trạng quản lý sử dụng tài nguyên rừng, tình hình quản lý rừng của Công ty Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng của Công ty và của các Lâm trường trong năm 2015, bản đồ kế hoạch quản lý rừng
- Phân tích các báo cáo đánh giá hàng năm của Công ty và các Lâm trường trực thuộc, các báo cáo có liên quan về tình hình quản lý rừng của Công ty Báo cáo đánh giá tổng kết hàng năm của huyện và xã
2.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Luận án đã xây dựng mẫu phiếu phỏng vấn bao gồm 10 chỉ tiêu khác nhau
có liên quan đến các nội dung nghiên cứu
Trang 34Đối tượng phỏng vấn: Hạt kiểm lâm, phòng Tài nguyên và Môi trường, các
hộ thành viên tham gia trồng rừng của Công ty và người dân địa phương sống trong vùng Mỗi cơ quan phỏng vấn 01 người đại diện cho cơ quan và phỏng vấn 30
người dân theo phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên (trong đó có 15 người không
tham gia sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp và 15 người đang tham gia sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp thuộc Công ty)
Nội dung phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn các câu hỏi liên quan đến các nội dung nghiên cứu bao gồm:
- Năng suất và cấu trúc của rừng;
- Sản lượng hàng năm của rừng;
- Việc sử dụng tài liệu FSC trong hoạt động sản xuất;
- Mục tiêu quản lý rừng bền vững của Công ty;
- Vốn đầu tư và lợi nhuận của Công ty, mức lương bình quân;
- Quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch phát triển của Công ty
Thông qua các câu hỏi phỏng vấn và số liệu cung cấp từ các đối tượng phỏng vấn, luận án tiến hành tổng hợp thông tin thu thập được theo từng nội dung nghiên cứu và xử lý số liệu trên các phần mềm thống kê Ngoài ra, việc phỏng vấn còn được xem xét và chắt lọc thông tin thông qua số liệu kiểm chứng thực tế
2.2.2.3 Khảo sát và thu thập số liệu tại hiện trường
Phương pháp xác định và lựa chọn số lượng Lâm trường:
Bước 1: Xác định số lượng Lâm trường và chọn Lâm trường tiến hành khảo sát
Đề tài sử dụng Công thức (2.1) của (Vũ Tiến Hinh, 2012) [11] để tiến hành lựa chọn số lượng lâm trường khảo sát và thu thập số liệu:
X = K x Y (2.1)
X: số dung lượng mẫu cần khảo sát;
Y: tổng số dung lượng mẫu có trong tổng thể
K là hệ số (có thể là 0,2; 0,6; 0,8 hoặc 1) phụ thuộc vào tổng dung lượng
mẫu có trong tổng thể
Trên cơ sở tổng số lượng mẫu có trong tổng thể càng nhiều thì hệ số càng bé
Cụ thể tại Công ty có 7 Lâm trường nên đề tài lấy hệ số bằng 1 thay vào công thức
Trang 35(2.1) ta được X = 7Lâm trường Kết quả đề tài tài lựa chọn được 3 Lâm trường làm dung lượng mẫu để tiến hành khảo sát
Luận án lựa chọn 3 Lâm trường đại diện cho Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình
là Lâm trường Lương Sơn, Lâm trường Kỳ Sơn và Lâm trường Tu Lý trên cơ sở khảo sát các tiêu chí
Bước 2: Các tiêu chí xác định công ty khảo sát:
Chọn mẫu (Lâm trường) tiến hành khảo sát trên cơ sở sử dụng các tiêu chí:
- Đảm bảo tính đại diện các loại rừng (rừng tự nhiên, rừng trồng, diện tích
đất có thể trồng rừng) Trong Luận án được xác định là diện tích rừng trồng Keo tai
tượng của các Lâm trường trong Công ty
- Tổng hợp các hoạt động quản lý rừng (chăm sóc rừng, trồng rừng mới, các
biện pháp bảo vệ rừng, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, )
- Kết quả quản lý rừng tốt đảm bảo các hoạt động đại diện cho Công ty (hoàn
thành kế hoạch: trồng rừng, khai thác, chăm sóc )
Trên cơ sở các tiêu chí đã được xác định, đề tài tiến hành khảo sát 7 đơn vị, Lâm trường của CTLNHB để lựa chọn ra 03 Lâm trường nghiên cứu chi tiết như sau:
Bảng 2.1: Lựa chọn Lâm trường khảo sát theo các tiêu chí đã xây dựng
TT Lâm trường
Tiêu chí
Quyết định chọn
Đại diện các loại rừng
Các hoạt động quản lý rừng
Kết quả quản lý rừng tốt
Phương pháp phúc tra năng suất rừng và điều chỉnh sản lượng rừng trồng
- Xác định số lượng ô mẫu điển hình:
Trang 36Căn cứ vào diện tích theo từng năm trồng Keo tai tượng tại 03 Lâm trường (bảng 2.2) Luận án tiến hành lập ở mỗi Lâm trường 12 ô tiêu chuẩn
Bảng 2.2: Diện tích trồng Keo tai tượng của 03 Lâm trường theo cấp tuổi
áp dụng từ tuổi 4 đến tuổi 7 Như vậy tổng số ô mẫu cần phúc tra được xác định của
cả 3 Lâm trường là 36 OTC (bố trí đều cho 03 Lâm trường và trên các tuổi rừng khác nhau) Diện tích ô tiêu chuẩn là 1000 m2, ô hình chữ nhật với chiều dài cạnh là
20 x 50 m Căn cứ vào kết quả điều tra đề tài tiến hành điều chỉnh trữ lượng hướng tới tính ổn định cho các chu kỳ kinh doanh tiếp theo
- Vị trí ô mẫu: Nhằm thể hiện đại diện cho lâm phần trồng Keo tai tượng, các
ô mẫu được bố trí ở các vị trí khác nhau đảm bảo tính khách quan đại diện
- Xác định nhóm phúc tra, đánh giá năng suất rừng trồng: Nhóm gồm 3 người có chuyên môn về Lâm nghiệp và có kinh nghiệm trong công tác Điều tra
- Phương pháp đo đếm trong OTC:
Trên ô tiêu chuẩn đo toàn bộ tầng cây cao, xác định các chỉ tiêu sinh
trưởng D 1.3, Hvn và xác định cấp phẩm chất của cây Phẩm chất cây trong OTC
được chia thành 3 cấp độ tốt (a), trung bình (b) và xấu (c) Trong đó, cây tốt là
những cây sinh trưởng nhanh, thân thẳng, tán lá cân đối, không gãy ngọn, không cong queo, không sâu bệnh; cây trung bình là những cây sinh trưởng trung bình,
Trang 37tán lá đều, hình thái cân đối, không gãy ngọn, không cong queo, không sâu bệnh; cây xấu là những cây sinh trưởng kém, tán lá bị lệch, cong queo, sâu bệnh
Đường kính ngang ngực (D1.3) được đo bằng thước kẹp kính cho tất cả các cây, đơn vị tính là cm hoặc đo chu vi bằng thước dây rồi tra bảng ra đường kính
Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) bằng thước đo cao Blumeleiss
Kết quả được sử dụng để tra thể tích thân cây (Vcây)
Số liệu đo trong ô được thống kê vào bảng 2.3
Bảng 2.3: Phiếu điều tra
Lâm trường: Khoảnh: Lô: Vị trí: Tuổi: Người đo: Ngày đo:
Nghiên cứu cấu trúc rừng
- Phân bố số cây theo cỡ đường kính cây (N-D 1.3 )
Trong luận án này tác giả sử dụng hàm phân bố Weibull để mô tả quy luật cấu trúc N/D rừng Keo tai tượng Luận án sử dụng phân bố Weibull để nghiên cứu
vì đây là phân bố xác suất cho phép mô phỏng phân bố thực nghiệm có dạng giảm, lệch trái, lệch phải và đối xứng
Phân bố Weibull là phân bố xác suất của biến ngẫu nhiên liên tục với miền giá trị (0 đến +) Hàm mật độ có dạng:
F(x)= ..x-1.e-.x (2.2) (Vũ Tiến Hinh, 2012) [11] Trong đó và là hai tham số của phân bố Weibull Khi các tham số của Weibull thay đổi thì dạng đường cong phân bố cũng thay đổi theo Tham số đặc trưng cho độ nhọn, tham số đặc trưng cho độ lệch của phân bố (Vũ Tiến Hinh, 2012) [11]
Nếu = 1 phân bố có dạng giảm;
=3 phân bố có dạng đối xứng;
Trang 38
Từ các cặp tham số và , tiến hành tính toán tần số lý thuyết flt và kiểm tra
sự phù hợp của phân bố Weibull bằng tiêu chuẩn Khi bình phương (2)
Nội dung của phương pháp như sau:
Sử dụng tiêu chuẩn 2với các mức ý nghĩa = 0,05 để kiểm tra sự phù hợp của phân bố lý thuyết so với phân bố thực nghiệm theo công thức:
f
f f
Sử dụng tiêu chuẩn χ2 để xác định mức độ phù hợp của phân bố Weibull mô
tả phân bố N-D1,3 thực nghiệm Khi χn2 tính toán < χ052 tra bảng, phân bố lý thuyết
sẽ được chấp nhận
- Tương quan giữa chiều cao cây với đường kính cây (H vn -D 1.3 )
Trong luận án này tác giả chọn phương trình để mô phỏng mối quan hệ giữa
Trang 39chiều cao với đường kính cây (Vũ Tiến Hinh, 2012) [11]
Hvn = a + b*log(D1.3) (2.5)
Người ta đánh giá tương quan này bằng hệ số R: Nếu: 0 < R <0.3 tương quan yếu;
0.3 < R <0.5 tương quan vừa phải;
0.5 < R <0.7 tương quan tương đối chặt;
0.7 < R <0.9 tương quan rất chặt
Mối tương quan giữa chiều cao với đường kính có hệ số R càng chặt thì
chứng tỏ hai nhân tố đường kính và chiều cao có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
Đồng thời 2 chỉ tiêu kích thước đường kính và chiều cao đều phát triển một cách
cân đối
- Tương quan giữa đường kính tán và đường kính 1.3m (D T - D 1.3 )
Trong luận án chọn phương trình thể hiện mối tương quan giữa đường kính
tán với đường kính cây rừng (Vũ Tiến Hinh, 2012) [11]
DT = a + b.D1.3 (2.6)
Mô hình hóa các cấu trúc trên được xử lý theo chương trình phần mềm SPSS
trong máy tính
Xác định thể tích của cây
Biểu sản lượng rừng trồng Keo tai tượng (trong tập Biểu điều tra kinh doanh
rừng trồng của 14 loài cây chủ yếu do Bộ NN&PTNT ban hành - 2003) (Bộ
NN&PTNT 2003, [4]) cần hiệu chỉnh vì có sự chênh giữa số liệu sản lượng rừng tra
trong biểu với số liệu sản lượng rừng tính từ đo thực tế Trong biểu Thể tích hai
nhân tố, đường kính và chiều cao cây được nghiên cứu và lấy giá trị trung bình làm
tròn trong từng cấp kính Do đó, khi tra thể tích cây đo được ở các Lâm trường sử
dụng biểu tra cũng phải lấy giá trị làm tròn Chẳng hạn, các cây đo có cỡ đường kính
4,5 cm đến 5,4 cm thuộc cỡ kính 5 trong biểu thể tích hai nhân tố đối với loài Keo tai
tượng Hiệu chỉnh này có tác dụng hạn chế sự sai sót từ số liệu đo chuyển sang tính
toán trữ lượng của các Lâm trường
Công thức xác định Vf (Vũ Tiến Hinh, 2012) [11]
Trang 40Vf = Vb*(D21.3 đo*Hđo)/(D21.3 biểu*H biểu) (2.7)
Trong đó: Vf: thể tích cây;
Vb: Thể tích tra theo biểu hai nhân tố;
D1.3 đo:Đường kính đo thực tế của cây ở vị trí 1.3m;
Hđo: Chiều cao vút ngọn của cây;
D1.3 biểu: Đường kính cây theo biểu tương ứng;
H biểu: Chiều cao cây theo biểu tương ứng
Sản lượng/ha biểu được tính bằng trữ lượng/ha tra trong Biểu sản lượng rừng trồng Keo tai tượng trên cấp đường kính tương ứng với kết quả đo đếm thực tế
Phương pháp phúc tra và giám sát năng suất rừng trồng Keo tai tượng
Tính Vcây: Căn cứ vào D1.3 và Hvn tra trong biểu Thể tích 2 nhân tố lập cho
Keo tai tượng (trong tập Biểu điều tra kinh doanh rừng trồng của 14 loài cây chủ
yếu do Bộ NN&PTNT ban hành - 2003) (Bộ NN&PTNT, 2003), [4] sẽ được V cây
tương ứng Kết quả ghi vào cột 7 trong Phiếu điều tra
Tính trữ lượng/ô tiêu chuẩn (Mô) được tính theo công thức:
Mô = n
1
Tính trữ lượng/ha (Mha): Mha = Mô x 10
Kết quả phúc tra năng suất ghi vào bảng 2.4
Bảng 2.4: Biểu mẫu phúc tra lượng tăng trưởng bình quân