Tình hình phát sinh chất thải nguy hại nông nghiệp ở Việt Nam Chất thải nguy hại từ hoạt động nông nghiệp chủ yếu do thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu và việc quản lý, sử dụng phân
Trang 1Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội
Khoa Môi Trường Môn Kiểm soát chất thải nguy hại
TIỂU LUẬN
TÌM HIỂU VỀ NGUỒN CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ CÁC LOẠI CHẤT THẢI NGUY HẠI TỪ VIỆC SỬ DỤNG HÓA CHẤT NÔNG NGHIỆP
Hà Nội – 2014
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nông nghiệp là một trong số những ngành quan trọng trong nền kinh tế ở Việt Nam, bơi lẽ Việt Nam vẫn đang là một nước nông nghiệp Hằng năm, ngành sản xuất nông nghiệp đem lại nhiều lợi ích kinh tế nước ta Cụ thể là
Trang 4ngành sản xuất nông nghiệp đạt 261,7 nghìn tỉ đồng chiếm 17.69% tổng doanh thu của cả nước
Tuy nhiên, để đạt được con số trên thì ngành sản xuất nông nghiệp cũng đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại từ việc sử dụng hóa chất nông nghiệp như: thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), phân bón hóa học và các loại bao bì đựng hóa chất bảo vệ thực vật… Những sản phẩm này được sử dụng từ cách đây rất lâu (khoảng những năm 40 của thế kỉ 20) và sử dụng với số lượng không hề nhỏ ( hơn 33.000 tấn/năm vào năm 1995) Điều này dẫn đến việc gia tăng của chất thải nguy hại trong ngành sản xuất nông nghiệp ngày càng lớn kéo theo đó là những vẫn đề về ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng
Hình Chất thải nguy hại từ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Trang 5TỔNG QUAN.
1 Khái niệm về chất thải nguy hại
Chất thải nguy hại là những chất thải ( dạng rắn, lỏng, bán rắn và khí ) chứa những yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, dễ ăn mòn, gây ngộ độc
hoặc đặc tính nguy hại khác (theo Luật BVMT 2005).
Chất thải nguy hại là những chất mà do bản chất và tính chất của chúng có khả năng gây hại đến sức khỏe con người và/ hoặc môi trường, những chất này yêu cầu các kỹ thuật xử lý đặc biêt để loại bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại
của nó ( Định nghĩa về CTNN của Canada).
Ngoài chất phóng xạ và chất thải y tế, chất thải nguy hại là chất thải (dạng rắn, lỏng, bán rắn – semisolid và các bình chứa khí) mà do hoạt tính hóa học, độc, nổ, ăn mòn hoặc các đặc tính khác, gây nguy hại hoặc có khả năng nguy hại đến sức khỏe con người hoặc môi trường bởi chính bản than chúng hay
khi được tiếp xúc trực tiếp với chất thải khác (Chương trình môi trường của
Liên Hợp Quốc 12/1985)
Chất thải nguy hại là những chất có chưa các chất hoặc hợp chất mang một
trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp(dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính nguy hại khác) hoặc tương tác tới các chất khác gây nguy hại đến môi trường và sức khỏe con người
2 Tình hình phát sinh chất thải nguy hại nông nghiệp ở Việt Nam
Chất thải nguy hại từ hoạt động nông nghiệp chủ yếu do thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu và việc quản lý, sử dụng phân bón hoá học và các loại bao bì ở nước ta, thuốc BVTV đã được sử dụng từ những năm 40 của thế kỷ trước để phòng trừ các loại dịch bệnh Vào những năm cuối của thập kỷ 80, số lượng thuốc BVTV sử dụng là 10.000 tấn/năm, thì khi bước sang những năm của thập kỷ 90, số lượng thuốc BVTV đã tăng lên gấp đôi (21.600 tấn vào năm 1990), thậm chí tăng lên gấp ba (33.000 tấn/năm vào năm 1995) Diện tích đất canh tác sử dụng thuốc BVTV cũng tăng theo thời gian từ 0,48% (năm 1960) đến nay là 100% Đến những năm gần đây, việc sử dụng thuốc BVTV đã tăng lên đáng kể cả về khối lượng lẫn chủng loại, với hơn 1.000 loại hoá chất
BVTV đang được lưu hành trên thị trường (Theo thống kê của bộ Công
nghiệp)
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Môi trường, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan từ năm 2000 đến năm 2005, mỗi năm Việt Nam sử dụng
khoảng 35.000 đến 37.000 tấn hoá chất bảo vệ thực vật, đến năm 2006, tăng đột biến lên tới 71.345 tấn và đến năm 2008 đã tăng lên xấp xỉ 110.000 tấn Thông thường, lượng bao bì chiếm khoảng 10% so với lượng thuốc tiêu thụ, như vậy năm 2008 đã thải ra môi trường 11.000 tấn bao bì các loại
Trang 6Đồng bằng sông Cửu Long đang là khu vực có lượng chất thải nguy hại phát sinh chủ yếu nhất Do là vùng có nền kinh tế nông nghiệp phát triển nhất trên cả nước Điều này kéo theo việc sử dụng một lượng lớn các loại thuốc BVTV và phân bón hóa học dẫn tới việc phát sinh chat thải nguy hại ngày càng nhiều Ước tính hằng năm bình quân lượng chất thải nguy hại phát sinh từ các việc sử dụng thuốc BVTV lên tới hàng trăm tấn Trung bình môi vụ lúa lượng vỏ trai thuốc BTVT khoảng 300g/ha, phun xịt các loại thuốc ít nhất 5 lần/vụ trong khi diện tích sản xuất lúa tính vào khoảng 70.000ha/vụ Tính trong ba vụ lúa thì lượng chất thải nguy hại sẽ tăng từ 5-7 tấn
3 Một số chất thải nguy hại ở ngày nông nghiệp
Chất thải nguy hại của ngành nông nghiệp chủ yếu là các loại bao bì có dùng để đựng, chứa các loại thuốc BVTV và phân bón hóa học Trên thị trường hiện nay có rất nhiều nhóm thuốc BVTV có độc tính khá mạnh và ảnh hưởng tới con người và môi trường Điển hình là một số loại thuốc có gốc thủy ngân như: Ceresan, Falisan, DDT rất độc đối với người và gia sức Thuốc không có gốc thủy ngân: Arasan, Spegon, Captan ít độc cho người và gia súc Ngoài ra, còn có dung dịch thuốc tìm, Formandehyde, Delfin WG (32BIU), An huy 8000 IU/mg WP, Crymax 35WP; Xentari 35 WDG, Aztron 35000DF … được sử dụng khá rộng rãi Các loại thuốc này được đựng trong bao bì, sau khi sử dụng xong, bao bì sẽ được thải trực tiếp ra môi trường gây ảnh hưởng tới con người và môi trường xung quanh
Hình Bao bì thuốc bảo vệ thực vật
Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam năm 2004, các hoạt đông nông nghiệp mỗi năm phát sinh một lượng khá lớn chất thải nguy hại, gồm các loại thuốc trừ sâu, bao bì và thùng chứa thuốc trừ sâu, trong đó có nhiều
Trang 7loại thuốc trừ sâu đã bị cấm sử dụng, tồn lưu từ trước đây hoặc bị tịch thu đang được lưu giữ tại các kho chờ xử lý
ĐẶC TRƯNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI NGUY HẠI.
1. Các đặc trưng của chất thải nguy hại nông nghiệp.
Đặc trưng chủ yếu của chất thải nguy hại trong ngành sản xuất nông nghiệp chủ yếu là tính độc Tính độc của các chất thải nguy hại này tạo nên do sự tồn đọng của các thành phần hóa học có trong thuốc BVTV và phân bón hóa học Nhiều loại thuốc BVTV có chứa thành phần của thủy ngân, asen, chì tạo nên đặc tính cực độc cho chất thải sau khi sử dụng và được tích lũy với một lượng lớn trong môi trường Một số loại chất thải khác có chứa thành phần hóa học như: các halogen, Pyrethroid, Cacbamat, Clor hữu cơ, Phốt pho hữu cơ … có tác dụng độc ngay khi tiếp xúc trực tiếp
Một số thành phần hóa học có trong chất thải nguy hại có khả năng tan tốt trong nước làm giảm nồng độ độc hại Bên cạnh đó vẫn còn một số thành phần khi tan trong nước có khả năng phát tán và tăng tính độc
Các loại bao bì ni-lông chứa thuốc BVTV, phân bón hóa học được thải ra có khả năng khó phân hủy trong môi trường (từ 500 – 1.000 năm) Một số thành phần hóa học trong chất thải có thể tồn lưu lại trong đất, cơ thể động - thực vật với một hàm lượng nhỏ
2. Ảnh hưởng tới môi trường và sinh vật.
Chất thải nguy hại từ các hoạt động sử dụng các hóa chất BVTV, phân bón hóa học với một hàm lượng lớn sẽ ảnh hưởng tới môi trường (đất, nước, không khí) Các chất thải nguy hại này có khả năng khuếch tán mạnh nhờ các yếu tố tự nhiên như: mưa, nhiệt độ, độ ẩm, gió … và tích tụ lại với một lượng lớn sẽ gây ô nhiễm môi trường và sức khỏe của người dân
Ngoài ra, các chất thải nguy hại có khả năng tồn lưu lâu trong môi trường đất và nước có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể sinh vật Tính độc của chú được thể hiện qua thành phần chất thải và con đường tiếp xúc (trực tiếp hoặc gián tiếp)
Các loài sinh vật sống trong môi trường đất và nước có thể bị ảnh hưởng nếu hàm lượng chất thải quá lớn Điều này làm ảnh hưởng tới hệ sinh thải, phá vỡ cấu trúc của hệ sinh thái, gây ô nhiễm môi trường Các hoạt động sản xuất, sinh hoạt và sức khỏe của con người khu vực đó cũng sẻ bị ảnh hưởng nặng nề Xa hơn nữa là hoạt động sản xuất nông nghiệp có thể bị ảnh hưởng kéo theo ảnh hướng tới nền kinh tế quốc doanh
Trang 8Hình Phát tán hoạt tính của chất thải nông nghiệp nguy hại ra môi trường
• Môi trường đất: Sự rửa trôi của nước mưa hoặc các nguồn nước khác qua các lớp chất thải sẽ cuốn theo các thành phần hóa học trong đó Sau đó ngấm vào trong đất, làm hư hại đến đất trồng và đất canh tác
• Môi trường nước: ngồi nước mặt và nước ngầm sẽ đều bị ảnh hưởng bởi sử sói mòn và rửa trôi đất có nhiễm các thành phần nguy hại trong chất thải Ngoài ra, lượng hóa chất dư thừa cũng được người dân đổ thải ra sông ngòi học đổ trực tiếp xuống dưới đất Nguồn nước khi bị ô nhiễm sẽ rất dễ gây ra các loại bệnh cho con người sống xung quanh
Hình Ô nhiễm nước mặt do chất thải nông nghiệp (ảnh minh họa)
Trang 9• Môi trường không khí: mùi hóa chất từ các chai lọ, bao bì đựng hóa chất BVTV, hóa chất hữu cơ bay hơi vào không khí gây ô nhiễm tới môi trường và sức khỏe của những người xung quanh
Các loài sinh vật sống trong môi trường đất và nước có thể bị ảnh hưởng nếu hàm lượng chất thải quá lớn Điều này làm ảnh hưởng tới hệ sinh thải, phá vỡ cấu trúc của hệ sinh thái, gây ô nhiễm môi trường Các hoạt động sản xuất, sinh hoạt và sức khỏe của con người khu vực đó cũng sẻ bị ảnh hưởng nặng nề Xa hơn nữa là hoạt động sản xuất nông nghiệp có thể bị ảnh hưởng kéo theo ảnh hướng tới nền kinh tế quốc doanh
QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI CỦA NGÀNH NÔNG NGHIỆP
1. Công tác quản lý chất thải nông nghiệp nguy hại hiện nay.
• Thu gom và phân loại tại nguồn:
Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành nông nghiệp, công nghiệp… vấn đề ô nhiễm môi trường do sử dụng tùy tiện các loại hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) đang trở nên nghiêm trọng Trong thời gian qua công tác tổ chức thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý các loại hóa chất, vỏ bao bì hóa chất BVTV tồn lưu đã bị cấm sử dụng, quá hạn và hỏng đã được nhiều tỉnh, thành phố thực hiện như: Nghệ An, Tuyên Quang, Vĩnh Long
• Xử lý chất thải nông nghiệp có tính nguy hại
Ngày 22 tháng 4 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 64/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Cho đến nay đã có 12/15 kho thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng đã được xử lý không còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chiếm 80%; 03 kho thuốc bảo vệ thực vật đang triển khai xử lý ô nhiễm triệt để, chiếm 20% Tuy nhiên trên thực tế cho thấy nhiều kho chứa thuốc bảo vệ thực vật tuy đã được xử lý, xây hầm bê tông chôn thuốc tồn lưu, nhưng nhiều điểm có hiện tượng lún sụt, mùi thuốc bảo vệ thực vật bốc lên khi thời tiết thay đổi gây ô nhiễm môi trường Số lượng các kho thuốc bảo vệ thực vật được xử lý chỉ chiếm 5% trong tổng số 240 điểm hóa chất tồn lưu cần được ưu tiên xử lý từ nay tới năm 2015, nếu không sẽ tiếp tục phát tác ô nhiễm nặng nề tới môi trường sống và sức khỏe của người dân
2. Đề xuất giải pháp quản lý chất thải nông nghiệp.
• Tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức của nông dân
Tổ chức các đợt tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người nông dân, trong việc quản lý các chất thải nguy hại từ hoạt động sử dụng các loại
Trang 10hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón hóa học, thông qua nhiều hình thức khác nhau: loa đài, báo chí hoặc truyền miệng… Giải pháp này giúp người nông dân nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của công tác quản lý chất thải nguy hại Từ đó, họ sẽ không phát thải bừa bãi các chất thải và có thể tự phân loại các chất thải sau khi sử dụng
• Xây dựng kho chứa chất thải nguy hại trung gian tại địa phương Điều này sẽ giúp công tác quản lý các chất thải nguy hại trở lên dễ dàng hơn Do sau môi lần sử dụng các hóa chất BVTV, người nông dân có thể phân loại và đóng gói các bao bì chứa hóa chất sau khi sử dụng xong rồi chuyển tới kho chứa này Sau đó, các công ty môi trường chỉ cần đến đó thu gom và đem
về xử lý Vì vậy sẽ tránh được tình trạng xả thải bừa bãi sau khi sử dụng của người dân
• Thực hiện giám sát môi trường tại khu vực chứa chất thải nguy hại Giám sát và quan trắc môi trường là một trong những công tác quan trọng trong việc quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn các vùng sản xuất nông nghiệp Hoạt động quan trắc môi trường giúp chúng ta theo dõi được chất lượng môi trường, từ đó đánh giá các tác động xấu có thể xảy ra đối với môi trường xung quanh và đưa ra các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm trong khu vực
Công tác quan trắc, giám sát môi trường có thể được thực hiện với tần xuất 2-3 lần/năm ở cả ba môi trường đất, nước ( nước mặt, nước ngầm) và không khí xung quanh Đồng thời phải có sự phối hợp tạo điều kiên của chính quyền và nhân dân tại địa phương
• Tích cực sử dụng các chế phẩm sinh học than thiện với môi trường Hiện này, các nhà khoa học đang nghiên cứu và sản xuất ra các loại chế phẩm sinh học như: phân bón và thuốc bảo vệ thực vật có thành phần than thiện với môi trường Các chế phẩm này đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là chế phẩm sinh học có đặc tính điều tiết tăng trưởng nhằm bảo vệ môi trường và bảo vệ phẩm chất nông sản ở mực độ an toàn lâu dài cho người sử dụng
Trang 11KẾT LUẬN
Nông nghiệp là một trong các ngành kinh tế trọng điểm của nước ta Sản xuất nông nghiệp không chỉ đem lại lợi ích kinh tế mà còn giải quyết được việc làm cho bà con nông dân Cung cấp sản lượng lúa gạo xuất khẩu và tăng trường nền kinh tế quốc gia
Tuy nhiên, bên cảnh đó các hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng đã thải
ra môi trường không ít chất thải, đặc biệt là chất thải nông nghiệp nguy hại Chất thải nguy hại từ sản xuất nông nghiệp chủ yếu là: các loại bao bì đựng hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón hóa học và các hóa chất dư thừa sau và hết hạn sử dụng.Các chất thải này có đặc tính độc hại khá mạnh, nếu thải ra ngoài môi trường sẽ gây ô nhiễm nghiêm trọng tới môi trường (đất, nước, không khí), tới sức khỏe con người và toàn xã hội
Vì vậy, chúng ta cần có những giải pháp nhằm quản lý và xử lý các chất thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp này một cách tối ưu nhất Đảm bảo chất lượng về môi trường, tạo điều kiện thuật lợi cho người nông dân có thể canh tác tốt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
http://www.gree-vn.com/pdf/CHUONG_5_CTNH.pdf
http://luanvan.net.vn/luan-van/bao-cao-moi-truong-quoc-gia-2011-chat-thai-ran-61616/
http://dl.vnu.edu.vn/bitstream/11126/4190/1/01050000946.pdf
http://vi.wikipedia.org/wiki/Thu%E1%BB%91c_tr%E1%BB%AB_s
%C3%A2u#C.C3.A1c_lo.E1.BA.A1i_thu.E1.BB.91c_tr.E1.BB.AB_s.C3.A2u_n.C 3.B4ng_nghi.E1.BB.87p
http://chatthainguyhai.net/index.asp?newsid=1250&PageNum=5