Tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt, từng bước tăng dần việc sử dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống Kho bạc Nhà nước là một yêu cầu cần thiết trong quản lý
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay ở rất nhiều nước trên thế giới, việc thanh toán không dùng tiền mặt đã trở nên quen thuộc với mỗi người dân, trong khi đó ở Việt Nam, Có thể dễ dàng nhận thấy thanh toán bằng tiền mặt hiện nay vẫn rất phổ biến trong nền kinh tế nước ta Khối lượng tiền mặt trong lưu thông hiện chiếm khoảng 12% trong tổng phương tiện thanh toán [8]
Tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt, từng bước tăng dần việc sử dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống Kho bạc Nhà nước là một yêu cầu cần thiết trong quản lý quỹ Ngân sách nhà nước nói riêng và thực hiện chính sách quản lý tiền tệ của Nhà nước nói chung
Thời gian qua, Nhà nước ta đã không ngừng đưa ra các biện pháp, các văn bản pháp quy nhằm phát huy tốt phương thức thanh toán không dùng tiền mặt Tuy nhiên tình trạng thanh toán không dùng tiền mặt vẫn còn nhiều hạn chế và gây nhiều phiền toái cho người sử dụng
Ngày 21/8/2007, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 138/2007/QĐ-TTg, về việc phê duyệt chiến lược phát triển kho bạc Nhà nước đến năm 2020 trong đó có nội
dung “Hiện đại hóa công tác thanh toán của Kho bạc Nhà nước trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại, theo hướng tự động hóa và tăng tốc độ xử lý các giao dịch; bảo đảm
dễ dàng kết nối, giao diện với các hệ thống ứng dụng khác; tham gia hệ thống thanh toán điện tử song phương, thanh toán điện tử liên ngân hàng, thanh toán bù trừ điện tử với các ngân hàng; ứng dụng có hiệu quả công nghệ, phương tiện và hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Đến năm 2020, về cơ bản Kho bạc Nhà nước không thực hiện giao dịch bằng tiền mặt; Nghiên cứu triển khai thực hiện mô hình thanh toán tập trung, theo hướng mọi giao dịch của ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính nhà nước đều được thực hiện qua tài khoản thanh toán tập trung”
Với những chủ trương, chính sách nêu trên việc thanh toán không dùng tiền mặt nếu được tổ chức và thực hiện tốt sẽ phát huy được tác dụng tích cực của nó Trong tương lai, theo đà phát triển của xã hội và theo nhu cầu của thị trường, thanh toán không dùng tiền mặt sẽ giữ một vị trí cực kỳ quan trọng trong việc lưu chuyển tiền tệ và trong thanh
Trang 2toán giá trị của nền kinh tế Thấy được tầm quan trọng của việc thanh toán không dùng
tiền mặt nên tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Giải pháp tăng sử dụng phương thức thanh
toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước Duyên Hải”.
Thanh toán không dùng tiền mặt đã trở nên phổ biến tại nhiều quốc gia, nhưng tại Việt Nam phương thức này vẫn còn nhiều hạn chế Để hoà nhập với xu thế chung cùng thế giới, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã xây dựng và phát triển đề án "Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006 - 2010 và tầm nhìn đến 2020" Tuy nhiên, để thực sự thành công, đi vào cuộc sống lại là điều không phải chuyện một sớm một chiều có thể thực hiện được Thanh toán không dùng tiền mặt là đề tài được công
bố dưới nhiều hình thức khác nhau ở Việt Nam và các nước trên thế giới như :
Kham Pha Panemalaythong (2012) Hoàn thiện và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc Quốc gia Lào, đã đưa ra được những vấn đề cơ bản về
TTKDTM Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc Quốc gia Lào, giải pháp hoàn thiện và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc Quốc gia Lào Tuy nhiên do chế độ, chính sách, cơ chế quản lý, vận hành của Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào hoàn toàn khác biệt với Việt Nam nên không thích hợp để áp dụng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Hoàng Phương Thủy (2012) Một số giải pháp nâng cao chất lượng thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên, nêu thực trạng quản lý TTKDTM và đưa ra giải pháp tuy nhiên tác giả chủ
yếu nghiên cứu lĩnh vực thanh toán trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, chưa đề cập đến lĩnh vực tài chính công
Mai Đăng Khuê (2015) Nâng cao tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt trong thu, chi qua Kho bạc Nhà nước Vĩnh Long, tác giả nêu ra thực trạng trong thanh toán
không dùng tiền mặt và đề xuất giải pháp cho Kho bạc Nhà nước Vĩnh Long Nghiên cứu giới hạn ở vấn đề về tỷ trọng trong thu chi, chưa đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề trong thanh toán
Lê Đình Hợp (2006) Nhìn lại quá trình đổi mới của hệ thống ngân hàng Việt
Trang 3Nam về lĩnh vực thanh toán và những vân đề của thời kỳ phát triển mới, tác giả nêu ra
những đổi mới về hoạt động và những vấn đề còn tồn tại trong TTKDTM trong thời kỳ
phát triển, hay Văn Tạo (2009) Thanh toán không dùng tiền mặt thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, đề xuất các giải pháp mở rộng TTKDTM Nhưng hai nghiên cứu trên
chủ yếu ở góc độ ngân hàng, chưa đi sâu vào lĩnh vực KBNN
3 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
+ Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại KBNN Duyên Hải
+ Về thời gian: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2013-2015
+ Về nội dung: Nghiên cứu chỉ tập trung vào vấn đề thanh toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước Duyên Hải
+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt
tại KBNN Duyên Hải
4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Mục tiêu tổng quát: Đề xuất giải pháp để Khách hàng tăng sử dụng phương thức
thanh toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc nhà nước Duyên Hải
- Mục tiêu cụ thể:
Mục tiêu cụ thể 1: Xây dựng, hệ thống các lý thuyết, khái niệm cần thiết cho nội dung chính của nghiên cứu, hỗ trợ cho nội dung chính
Mục tiêu cụ thể 2: Phân tích thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước Duyên Hải trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2015
Mục tiêu cụ thể 3: Đề xuất giải pháp nhằm tăng sử dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước Duyên Hải
- Đối tượng khảo sát: là các đơn vị sử dụng ngân sách, mở tại khoản giao dịch tại KBNN Duyên Hải
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 4Phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu dữ liệu định tính, thống kê, mô
tả, thống kê phân tích
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập chọn lọc từ
Ban lãnh đạo, các báo cáo tại Tổ Tổng hợp – Hành chính, Tổ kế toán qua các năm 2013,
2014, 2015 Từ các dữ liệu đã thu thập, kết hợp với cơ sở lý thuyết về thanh toán không dùng tiền mặt, tiến hành thống kê, phân tích số liệu Từ đó có nhận xét về tình hình sử dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước Duyên Hải
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Số liệu được thu thập bằng cách lập bảng
câu hỏi, bảng câu hỏi được in và gửi trực tiếp đến người được khảo sát, bao gồm câu hỏi
có cấu trúc đóng với các loại câu hỏi và câu trả lời đã liệt kê sẵn và câu hỏi mở để thu thập ý kiến của người được khảo sát
- Thang đo sử dụng trong nghiên cứu này là thang đo Likert năm mức độ:
1 Rất không đồng ý
2 Không đồng ý
3 Bình thường
4 Đồng ý
5 Rất đồng ý
- Các chỉ tiêu đo lường mức độ sử dụng phương thức TTKDTM qua KBNN Duyên Hải đó là t tr ng TTKDTM trên t ng doanh s thanh toán, c th thông qua các chổng doanh số thanh toán, cụ thể thông qua các chỉ ố thanh toán, cụ thể thông qua các chỉ ụ thể thông qua các chỉ ể thông qua các chỉ ỉ tiêu sau:
Tỷ trọng thu NSNN bằng các hình thức TTKDTM so với tổng thu trong đó có giá trị thu bằng tiền mặt theo từng năm
Tỷ trọng chi NSNN bằng các hình thức TTKDTM so với tổng chi NSNN trong đó có giá trị chi bằng tiền mặt theo từng năm
- Các tiêu chí đánh giá mức độ sử dụng phương thức TTKDTM qua KBNN Duyên Hải:
Tình hình thu, chi NSNN trên địa bàn huyện Duyên Hải
Tình hình chi trả cá nhân qua tài khoản tính đến ngày 31/12/2015
Số lượng chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt qua KBNN Duyên Hải từ
Trang 5năm 2013 đến năm 2015.
7 BỐ CỤC LUẬN VĂN
Luận văn gồm 3 phần:
Phần mở đầu
Phần nội dung: gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt
Chương 2: Thực trạng sử dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc Nhà nước Duyên Hải.
Chương 3: Đề xuất giải pháp
Phần Kết luận
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TOÁN KHÔNG
DÙNG TIỀN MẶT 1.1 Khái quát về thanh toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc nhà nước
1.1.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt.
TTKDTM là việc thực hiện chức năng thanh toán của tiền tệ, bằng cách trích chuyển trên tài khoản hoặc bù trừ qua ngân hàng và các tổ chức tài chính khác mà không phải sử dụng trực tiếp tiền mặt trong khoản thanh toán đó Khác với thanh toán bằng tiền mặt, TTKDTM qua kho bạc thể hiện sự phát triển của nền kinh tế và tính tiện lợi của phương tiện thanh toán trong khu vực công, đồng thời nó cũng phụ thuộc vào trình độ dân trí của mỗi quốc gia
1.1.2 Bản chất và đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt tại KBNN
1.1.2.1 Về bản chất
TTKDTM qua kho bạc cũng mang bản chất của TTKDTM nói chung đó là thể hiện sự vận động của vật tư hàng hoá và dịch vụ trong quá trình lưu thông, nhưng nói riêng về bản chất của TTKDTM qua kho bạc là nó thể hiện sự vận động của vật tư, hàng hoá và dịch vụ ở khu vực công trong quá trình lưu thông Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, khối lượng hàng hoá và dịch vụ trao đổi tăng, tất yếu cần phải có cách thức thu - chi ngân sách một cách hiện đại, hiệu quả và thuận tiện theo hướng an toàn, tiết kiệm, chống tham nhũng gây thất thoát NSNN
Thanh toán không dùng tiền mặt qua kho bạc là quan hệ thanh toán được thực hiện và tiến hành bằng cách trích NSNN từ tài khoản đơn vị này chuyển sang tài khoản của cá nhân, đơn vị khác hay ngược lại từ tài khoản của các cá nhân, đơn vị chuyển vào tài khoản của NSNN, hoặc bù trừ lẫn nhau giữa các đơn vị thông qua ngân hàng hay kho bạc
1.1.2.2 Đặc điểm
- Lĩnh vực vận động của tiền tệ chỉ gói gọn trong lĩnh vực tài chính công, trong các giao dịch thanh toán thì NSNN phải đóng vai trò ít nhất là một bên thanh toán hay thụ thưởng Với đặc điểm này thì ít nhất một bên tham gia thanh toán (mà chủ yếu là bên
Trang 7mua) nhất định phải mở tài khoản tại kho bạc Chính vì thế vấn đề kiểm soát của kho bạc trong thanh toán là bắt buộc (kiểm soát chi, kiểm soát tính chất đúng đắn của nội dung thanh toán, kiểm soát tính hợp pháp của chứng từ )
- Sự vận động của tiền tệ độc lập so với sự vận động của hàng hoá cả về thời gian
và không gian Đây là đặc điểm lớn nhất, nổi bật nhất trong thanh toán không dùng tiền mặt nói chung và TTHDTM qua kho bạc nói riêng
- Trong thanh toán không dùng tiền mặt qua kho bạc, vật môi giới là tiền mặt không xuất hiện như trong thanh toán bằng tiền mặt mà nó chỉ xuất hiện dưới hình thức tiền kế toán hay tiền ghi sổ, bút tệ và được ghi chép trên các chứng từ, sổ sách kế toán hay còn gọi
- Theo Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ, kênh TTKDTM mà kho bạc sử dụng chủ yếu thông qua hệ thống ngân hàng Ngoài kho bạc và đơn vị mua - bán, thì ngân hàng được xem là bên “thứ ba” không thể thiếu trong thanh toán ngoài hệ thống của KBNN Như vậy, công tác TTKDTM qua kho bạc phụ thuộc rất nhiều vào vai trò của ngân hàng
là cơ quan tổ chức và thực hiện các khoản thanh toán đối với các tổ chức, cá nhân không
có tài khoản tại kho bạc, ngân hàng thường là người đóng vai trò “kết thúc” quá trình thanh toán
Với những đặc điểm nêu trên, thanh toán không dùng tiền mặt nếu được tổ chức và thực hiện tốt sẽ phát huy được tác dụng tích cực của nó Trong tương lai, theo đà phát triển của xă hội và theo nhu cầu của thị trường, thanh toán không dùng tiền mặt sẽ giữ một vị trí cực kỳ quan trọng trong việc lưu chuyển tiền tệ và trong thanh toán giá trị của nền kinh tế
1.1.3 Lợi ích và khó khăn khi sử dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Kho bạc
1.1.3.1 Về lợi ích
Đối với hệ thống Kho bạc Nhà nước TTKDTM sẽ giảm chi phí cho hoạt động nghiệp vụ Ngân quỹ, tiền đề cho quá trình thực hiện chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020 (trở thành Kho bạc điện tử, Kho bạc không tiền mặt)
Trang 8Đối với cá nhân, tổ chức tham gia thanh toán sẽ có lợi nhiều hơn so với hình thức thanh toán bằng tiền mặt như nhanh hơn về thời gian, không tốn công kiểm đếm, tiết kiệm hơn do số tiền chính xác đến hàng đơn vị, hưởng giá trị chiết khấu đối với một số dịch vụ thanh toán và đặc biệt là đảm bảo an toàn về tiền, tài sản và tính mạng trong quá trình giao dịch, vận chuyển và cất giữ
Đối với nền kinh tế quốc dân TTKDTM qua kho bạc đã góp phần vào nỗ lực cung cấp ngày càng nhiều dịch vụ tài chính công cho người dân Thực hiện các chính sách quản
lý tiền tệ của Nhà nước, phòng chống tham nhũng, “rửa tiền”, giảm bớt khối lượng tiền mặt trong lưu thông Góp phần vào việc tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ
mô, bảo đảm an sinh xã hội mà Chính phủ đang thực hiện
1.2.3.2 Về khó khăn
Bên cạnh những lợi ích nêu trên, TTKDTM qua kho bạc hiện nay cũng còn ẩn
chứa một số bất lợi, như:
- Về đối tượng được mở tài khoản tại hệ thống KBNN là có giới hạn theo quy định, nhưng đối tượng mà NSNN có nhu cầu giao dịch trong nền kinh tế là rộng khắp Chính vì thế trong thực tế để có thể thực hiện giao dịch với NSNN thì phần lớn các trường hợp đối tượng tham gia phải chấp nhận giao dịch với cả 2 hệ thống đó là kho bạc và ngân hàng, điều này đồng nghĩa với việc họ phải chấp nhận 2 lần kiểm soát của 2 cơ quan khác nhau, gây sự chồng chéo, phiền hà, tốn thời gian không cần thiết
- Kênh thông tin của KBNN phục vụ cho việc quảng bá các dịch vụ tài chính công nói chung và sự tiện lợi của hình thức TTKDTM qua kho bạc nói riêng trên Internet chưa
có Từ đó dẫn đến việc còn nhiều tổ chức, cá nhân có nhu cầu và đủ điều kiện lại không biết để tiếp cận, sử dụng các hình thức TTKDTM qua kho bac
- TTKDTM qua kho bạc còn chưa đa dạng, chưa có nhiều kênh thanh toán phù hợp với sự phát triển mạnh mẽ của các hình thức thanh toán hiện đại hiện nay
1.1.4 Sự cần thiết của sử dụng phương thức TTKDTM
Trước hết, sự vận động của tiền tệ dưới hình thức thanh toán không dùng tiền mặt đáp ứng tốt hơn nhu cầu chuyển hóa giá trị của hàng hóa và dịch vụ so với dưới hình thức thanh toán bằng tiền mặt
Trang 9TTKDTM góp phần quản lý quỹ NSNN hiệu quả hơn, tập trung nhanh chóng các khoản thu NSNN, chi NSNN kịp thời và trực tiếp tới các đơn vị thụ hưởng ngân sách Thúc đẩy nhanh sự vận động của vật tư, tiền vốn trong nền kinh tế quốc dân, dẫn đến giảm chi phí sản xuất và lưu thông, tăng tích lũy cho quá trình tái sản xuất
Trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ, TTKDTM góp phần giảm thấp tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông, do đó tiết kiệm được chi phí lưu thông cho xã hội Mặt khác, TTKDTM còn tạo cho sự chuyển hóa thông suốt giữa tiền mặt và tiền chuyển khoản
TTKDTM tạo điều kiện để Nhà nước quản lý nền kinh tế và chỉ đạo thực hiện các chính sách kinh tế được tốt hơn, tạo những tiền đề kinh tế thuận lợi để Kho bạc kiểm soát chi NSNN hiệu quả hơn,
Nâng cao sức cạnh tranh cho ngân hàng qua việc nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán cho ngân hàng Tạo điều kiện cho Ngân hàng Trung ương tính toán và kiểm soát lượng tiền cung ứng cần thiết cho nền kinh tế.Tạo nguồn thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán Tạo nguồn vốn cho vay ngắn hạn
Sự cần thiết của TTKDTM còn thể hiện ở chỗ nó khắc phục được các nhược điểm sau của thanh toán bằng tiền mặt:
+ Chi phí lớn trong việc in ấn, vận chuyển, kiểm đếm, bảo quản và thanh toán + Làm cho một phần vốn của nền kinh tế không vận động v́ các chủ thể thanh toán luôn phải giữ tiền bên mình
+Làm cho Nhà nước gặp khó khăn trong việc kiểm soát tiền tệ dẫn đến các hoạt độngbuôn lậu, rửa tiền, tham ô, tham nhũng khó bị kiểm soát tức là tạo điều kiện cho sự phát triển của hoạt động kinh tế ngầm Không an toàn trong khi vận chuyển và bảo quản
1.2 Phương thức và đối tượng tham gia sử dụng phương thức TTKDTM tại KBNN
1.2.1 Các phương thức
1.2.1.1 Thanh toán qua tài khoản
♦Thanh toán qua KBNN
- Chuyển khoản nội bộ: là thanh toán chuyển khoản giữa tài khoản của KBNN với các tài khoản được mở trong cùng đơn vị KBNN
Trang 10-Thanh toán liên kho bạc điện tử: là thanh toán nội bộ trong cùng hệ thống phát sinh trên cơ sở các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt giữa các khách hàng có mở tài khoản ở các Kho bạc khác nhau trong cùng một hệ thống
♦Thanh toán qua hệ thống NHTM
-Thanh toán điện tử song phương tập trung: là hệ thống thanh toán bù trừ điện
tử trên phạm vi toàn quốc giữa hệ thống KBNN với từng hệ thống NHTM thông qua tài khoản của KBNN (Sở Giao dịch) tại Hội sở chính NHTM, theo đó: Các KBNN quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc KBNN tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (KBNN huyện) mở tài khoản thanh toán tại chi nhánh NHTM (thay thế cho tài khoản tiền gửi) để thực hiện thu, chi qua tài khoản này theo quy trình tương tự như quy trình thanh toán qua tài khoản tiền gửi Cuối ngày, toàn bộ thu - chi trên các tài khoản thanh toán của KBNN huyện được kết chuyển và cộng - trừ vào tài khoản của KBNN (Sở Giao dịch) tại Hội sở chính NHTM trong cùng hệ thống
-Thanh toán điện tử song phương: là hệ thống thanh toán điện tử thông qua tài khoản tiền gởi của KBNN huyện mở tại ngân hàng thương mại, nhưng theo nguyên tắc song phương có nghĩa là một KBNN huyện chỉ được mở tài khoản tiền gửi ở một ngân hàng thương mại, mọi giao dịch thanh toán qua ngân hàng của đơn vị KBNN
đó phải thông qua ngân hàng thương mại tương ứng nơi mà đơn vị KBNN huyện mở tài khoản tiền gởi Tài khoản tiền gửi có số dư theo hạm mức quy định của KBNN
-Thanh toán qua tài khoản chuyên thu: là hình thức NHTM trên địa bàn thu
hộ văn phòng KBNN cấp tỉnh các khoản nộp NSNN thông qua tài khoản chuyên thu, tài khoản chuyên thu chỉ được sử dụng để tập trung các khoản thu NSNN, không được sử dụng để thanh toán hoặc các mục đích khác Cuối ngày làm việc, toàn bộ số
dư trên tài khoản chuyên thu tại NHTM phải được chuyển về tài khoản tiền gửi của Văn phòng KBNN cấp tỉnh mở tại NHNN tỉnh
- Thanh toán bằng séc, KBNN thực hiện áp dụng hình thức thanh toán này đối với các khoản chi thông qua hệ thống ngân hàng Kho bạc viết séc giao cho khách hàng thực hiện rút tiền tại hệ thống ngân hàng thương mại Séc thường được áp dụng chi cho các trường hợp khách hàng thụ hưởng không có tài khoản tại kho bạc Nhà