CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU Vùng nghiên cứu nằm trong vùng Tây Bắc Việt Nam đã có một quá trình nghiên cứu địa chất lâu dài ở nhiều mức độ khác nhau. Phần tổng quan về vùng nghiên cứu được tác giả tổng hợp từ các báo cáo điều tra địa chất khu vực 1, 2, 7. 1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên 1.1.1. Vị trí địa lý và diện tích nghiên cứu Khu vực nghiên cứu thuộc địa phận huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Phía tây bắc và đông bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía tây giáp huyện Phong Thổ (Lai Châu), phía nam giáp huyện Sa Pa và thành phố Lào Cai . Trong vùng có sông Hồng chảy qua, là ranh giới giữa Bát Xát với Trung Quốc ở phía đông bắc (Hình 1.1.). Vùng nghiên cứu thuộc tờ bản đồ F4852B (Bát Xát) hệ tọa độ VN2000 được giới hạn bởi các điểm có tọa độ địa lý như sau: 23°43’03’’ đến 22°30’03’’ vĩ dộ bắc, 103°44’54’’ đến 103°59’54’’ kinh độ đông. 1.1.2. Đặc điểm địa hình Khu vực nghiên cứu thuộc vùng có địa hình đồi núi, địa hình phân cắt mạnh mẽ. Hầu hết địa hình thuộc cánh đông bắc phức nếp lồi Hoàng Liên Sơn và thuộc phía tây nam đứt gãy sông Hồng. Đồi núi trong vùng phát triển theo hướng Tây Bắc Đông Nam, hình thành 3 bậc địa hình: Địa hình thấp: chiếm phần nhỏ diện tích của vùng bao gồm các thung lũng và lòng sông Hồng. Đại bộ phận có độ cao từ 50 100m, độ dốc trung bình 10 20°.
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢN VẼ, SƠ ĐỒ 3
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU 8
1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 8
1.1.1 Vị trí địa lý và diện tích nghiên cứu 8
1.1.2 Đặc điểm địa hình 8
1.1.3 Sông suối………9
1.1.4 Khí hậu 10
1.2 Đặc điểm kinh tế nhân văn 10
1.2.1 Dân cư 10
1.2.2 Giao thông 11
1.2.3 Đời sống văn hóa xã hội 11
1.3 Lịch sử nghiên cứu địa chất vùng 12
1.3.1 Giai đoạn trước 1954 12
1.3.2 Giai đoạn sau 1954 13
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN KHU VỰC LÙNG THÀNG VÀ VÙNG LÂN CẬN 15
2.1 Đặc điểm địa chất vùng 15
2.1.1 Địa tầng 15
2.1.2 Magma 24
2.2 Kiến tạo 27
Trang 22.2.1 Kiến tạo 27
2.2.2 Nếp uốn 28
2.2.3 Đứt gãy 29
2.3 Địa mạo……… 30
2.4 Khoáng sản 31
2.4.1 Khoáng sản kim loại 31
2.4.2 Khoáng sản không kim loại 33
CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ ĐỊA CHẤT KHỐNG CHẾ QUẶNG HÓA ĐỒNG KHU VỰC LÙNG THÀNG 35
3.1 Vị trí địa lý……….35
3.2 Địa tầng 36
3.3 Magma 39
3.4 Kiến tạo 44
3.5 Đặc điểm quặng hóa đồng Lùng Thàng 47
3.6 Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu trúc địa chất đối với khoáng hóa đồng Lùng Thàng 52
3.6.1 Yếu tố địa tầng 52
3.6.2 Yếu tố magma 53
3.6.3 Yếu tố kiến tạo 54
KẾTLUẬN……… 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… … 58
Trang 3DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢN VẼ, SƠ ĐỒ
ST
T
1 Hình 1.1 Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu
2 Hình 2.1 Sơ đồ địa chất khu vực Bát Xát – Lào Cai
3 Hình 3.1 Sơ đồ địa chất khối Lùng Thàng
4 Hình 3.2 Đá phiến thạch anh 2 mica tập 2 hệ tầng
Sin Quyền
36
5 Hình 3.3 Gneis biotit tập 2 hệ tầng Sin Quyền 37
8 Hình 3.6 Diorit bị biến đổi kali hóa có chứa quặng 41
9 Hình 3.7 Rìa tiếp xúc với khối xâm nhập, đá biến chất
của hệ tầng Sin Quyền đá có dấu hiệu bị thạchanh hóa, clorit hóa và epidot hóa đá có màu lục
Trang 413 Hình 3.11 Diorit bị biến dạng dịch trượt phát triển hiện
tượng thạch anh tái kết tinh tập hợp hạt nhỏphân dải định hướng dịch trượt trái
16 Hình 3.14 Pyrotin (Pyr) cộng sinh cùng chalcopyrite (Chp) 50
17 Hình 3.15 Pyrit (Py) hạt tha hình trong các lổ hổng của đá 51
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đồng là kim loại cơ bản có lịch sử sử dụng lâu đời nhất, sản lượng tiêuthụ hàng năm trên thế giới rất cao và có vai trò ý nghĩa rất quan trọng trongđời sống cũng như sự phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật trong thờiđiểm hiện tại và tương lai
Những nghiên cứu đã tiến hành cho thấy tồn tại một đới tạo khoáng đồng
có giá trị công nghiệp cao phân bố dọc theo rìa đông bắc đới Phan Si Pan.Trong đới đã phát hiện được một loạt các mỏ quặng đồng có trữ lượng lớnnhư: Sin Quyền, Vi Kẽm, Tả Phời và một loạt các điểm quặng đồng có tiềmnăng khác như: Nậm Chạc, Trịnh Tường, Suối Thầu, Lùng Thàng, Lũng Pô…Kết quả khảo sát gần đây trong điểm quặng đồng Lùng Thàng đã phát hiệnđược 03 thân quặng chủ yếu nằm ở phần vòm và rìa tiếp xúc của khối xâmnhập với đá biến chất vây quanh Mặc dù vậy đến thời điểm hiện tại chưa cónhững nghiên cứu chi tiết về đặc điểm thạch địa hóa của khối xâm nhập LùngThàng, đặc điểm quặng hóa đồng và các yếu tố địa chất khống chế quặng hóatrong khu vực này Vì vậy nghiên cứu đặc điểm địa chất và các yếu tố khốngchế quặng hóa đồng khu vực Lùng Thàng là vấn đề cấp thiết đặt ra nhằm địnhhướng cho công tác điều tra, đánh giá khoáng sản trong khu vực
Trong thời gian thực tập, thu thập tài liệu để hoàn thành đồ án tốt nghiệp,tác giả đã tham gia thực địa cùng với các nhà địa chất Liên đoàn Bản đồ Địachất miền Bắc khảo sát quặng hóa đồng rìa đông đới Phan Si Pan, cùng thầyhướng dẫn khảo sát và nghiên cứu quặng hóa đồng khu vực Suối Thầu, PhìnNgan, Lùng Thàng và mối quan hệ của của chúng với hoạt động magma
Trang 6Neoproterozoi khu vực trong khuân khổ đề tài cấp Bộ Tài nguyên và Môitrường “Nghiên cứu cấu trúc khống chế quặng hóa đồng dải Sin Quyền –Lũng Pô phục vụ tìm kiếm quặng ẩn sâu” Từ những kết quả nghiên cứu của
mình, tác giả đã lựa chọn đồ án tốt nghiệp với tiêu đề : “Đặc điểm và các yếu
tố địa chất khống chế quặng hoá đồng khu vực Lùng Thàng Bát Xát Lào Cai”.
-2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đồ án.
Mục tiêu: Nghiên cứu làm rõ đặc điểm địa chất và các yếu tố địa chấtkhống chế quặng hóa đồng khu vực Lùng Thàng - Bát Xát - Lào Cai
Để hoàn thành được mục tiêu đặt ra, đồ án đã hoàn thành các nhiệm vụnghiên cứu sau:
- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc địa chất khu vực Lùng Thàng, huyệnBát Xát, tỉnh Lào Cai
- Nghiên cứu đặc điểm quặng hóa đồng khu vực Lùng Thàng
- Xác lập các yếu tố địa chất khống chế quặng hóa đồng khu vực nghiêncứu
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp thực địa
- Khảo sát các điểm lộ: Tại mỗi điểm tiến hành mô tả và ghi hình vết vết
lộ, đo vẽ các cấu tạo địa chất (đứt gãy, nếp uốn), mô tả các hiện tượng biếnđổi đá vây quanh và đặc điểm quặng hóa
- Thu thập các loại mẫu: Trong công tác thực địa, các loại mẫu thu đượcchủ yếu là mẫu quặng chứa khoáng hóa đồng và mẫu đá vây quanh
3.2 Phương pháp trong phòng
- Tổng hợp các loại tài liệu
- Phân tích các mẫu lát mỏng và mẫu khoáng tướng dưới kính hiển vi
- Tổng kết tài liệu và hoàn thành đồ án tốt nghiệp
Trang 74 Nội dung đồ án
Sau thời gian xử lý, tổng hợp tài liệu trong phòng tác giả đã hoànthành đồ án tốt nghiệp của mình với cấu trúc gồm 03 chương không kể mởđầu và kết luận:
Chương 1: Tổng quan về vùng nghiên cứu
Chương 2: Đặc điểm địa chất và khoáng sản khu vực Lùng Thàng vàvùng lân cận
Chương 3: Các yếu tố địa chất khống chế quặng hóa đồng khu vựcLùng Thàng
Do thời gian, trình độ và kinh nghiệm có hạn nên đồ án không thể tránhkhỏi những hạn chế và thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiếnđóng góp và phê bình của quý thầy cô giáo và các bạn để đồ án của tác giảđược hoàn thiện hơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, tỉ mỉ củaTS.Trần Mỹ Dũng và các thầy cô giáo trong Bộ môn Địa Chất, Khoa Địachất, Trường Đại học Mỏ - Địa chất đã tạo điều kiện cho tác giả học tập,nghiên cứu và hoàn thành bản đồ án này Tác giả xin chân thành cảm ơn sựgiúp quý báu và hướng dẫn tận tình của KS Vũ Đình Tải và các nhà địa chấtLiên đoàn Bản đồ Địa chất miền Bắc trong quá trình tác giả thực tập tại Liênđoàn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2016Sinh viên thực hiện
Trang 8Trần Vân Anh
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU
Vùng nghiên cứu nằm trong vùng Tây Bắc Việt Nam đã có một quá trìnhnghiên cứu địa chất lâu dài ở nhiều mức độ khác nhau Phần tổng quan vềvùng nghiên cứu được tác giả tổng hợp từ các báo cáo điều tra địa chất khuvực [1], [2], [7]
1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý và diện tích nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu thuộc địa phận huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Phíatây bắc và đông bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía tây giáp huyệnPhong Thổ (Lai Châu), phía nam giáp huyện Sa Pa và thành phố Lào Cai Trong vùng có sông Hồng chảy qua, là ranh giới giữa Bát Xát với Trung
Quốc ở phía đông bắc (Hình 1.1.) Vùng nghiên cứu thuộc tờ bản đồ
F-48-52-B (F-48-52-Bát Xát) hệ tọa độ VN2000 được giới hạn bởi các điểm có tọa độ địa lýnhư sau: 23°43’03’’ đến 22° 30’03’’ vĩ dộ bắc, 103°44’54’’ đến 103°59’54’’kinh độ đông
1.1.2 Đặc điểm địa hình
Khu vực nghiên cứu thuộc vùng có địa hình đồi núi, địa hình phân cắtmạnh mẽ Hầu hết địa hình thuộc cánh đông bắc phức nếp lồi Hoàng LiênSơn và thuộc phía tây nam đứt gãy sông Hồng
Đồi núi trong vùng phát triển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, hìnhthành 3 bậc địa hình:
Trang 9- Địa hình thấp: chiếm phần nhỏ diện tích của vùng bao gồm các thunglũng và lòng sông Hồng Đại bộ phận có độ cao từ 50 - 100m, độ dốc trungbình 10 - 20°.
- Địa hình đồi núi trung bình: chiếm gần hết diện tích vùng nghiên cứugồm núi cao 200 - 500m, độ dốc trung bình 30 ¸ 45° Đồi núi có xu hướngthấp dần về phía đông nam và bị phân cắt mạnh mẽ bởi các suối trong vùng(chảy theo hướng tây bắc - đông nam và gần bắc nam)
- Địa hình đồi núi cao: nằm ở phía tây nam khu vực gồm các núi cao hơn500m với độ dốc lớn hơn 45° Toàn bộ vùng núi cao bị mạng sông suối phâncắt địa hình hiểm trở
Các vùng đồi núi vùng này nối tiếp nhau hợp thành dải kéo dài theohướng tây bắc - đông nam cùng hướng với sông Hồng tạo thành địa hình củakhu vực
1.1.3 Sông suối
Sông Hồng là sông lớn nhất vùng bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc
Ở phụ cận Lào Cai độ sâu lòng sông +71,32m, lòng sông rộng 80¸100m Lưulượng nước nhỏ nhất mùa khô 100m3/s, lưu lượng nước lớn nhất vào mùamưa 2900m3/s, lưu lượng nước trung bình 100¸120m3/s
Suối Ngòi Phát là suối lớn nhất trong vùng Bát Xát Suối bắt nguồn từ vùngnúi cao phía tây nam có nước quanh năm Suối có lưu lượng nước nhỏ nhất3,5m3/s (25/8/1968), lớn nhất 266m3/s (11/6/1963), lưu lượng trung bình30¸50m3/s
Trang 10Ngoài ra trong vùng còn một số suối nhỏ khác như suối Cốc Mỳ… vớimực nước biến đổi theo mùa.
Nhìn chung hệ thống suối của vùng thường có độ dốc lớn, uốn lượn, trắcdiện ngang có hình chữ “V”, số ít dạng chữ “U” và theo lòng suối có nhiềuthác ghềnh, nhất là các suối chảy trên địa hình núi cao
- Độ ẩm không khí: độ ẩm tương đối trung bình năm biến đổi khôngnhiều, độ ẩm lớn nhất vào tháng 5 là 86,8%, tháng khô nhất là tháng 11 là84,3%
- Gió: thổi theo hướng nam và đông nam chiếm ưu thế cả năm Vận tốcgió trung bình là 1,3m/s, trung bình tháng cao nhất là 20,6m/s
1.2 Đặc điểm kinh tế nhân văn
1.2.1 Dân cư
Bát Xát là một huyện vùng núi với dân số là 70.015 người (2009) Dân
cư của vùng khá thưa thớt, bao gồm các dân tộc: Kinh, Mông, Dao, Tày, Thái,Dáy, Xạ Phang, Xá Phó, Hoa… Trong đó người Kinh sống tâp trung ở các thị
Trang 11trấn, thị xã và các thung lũng bằng nghề trồng trọt, buôn bán nhỏ và ít côngchức nhà nước Các dân tộc khác sống rải rác thành các làng bản, phần lớntrên sườn các dãy núi và số ít sống ở các thung lũng nhỏ bằng nghề phátnương trồng rẫy, khai thác lâm sản và trồng cây dược liệu.
1.2.3 Đời sống văn hóa xã hội
Đời sông của nhân dân trong vùng tuy đã được cải thiện song còn ở mứcthấp Kinh tế lâm nghiệp là thế mạnh của vùng nhưng còn tản mạn, thiếu sựtập trung khai thác và quản lý Tình trạng thiếu đói trong nhân dân vẫn còntồn tại, nhất là các làng bản trên các vùng núi cao
Công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế của vùng đang được thực hiệnqua các chương trình 327, 135…tới tận các bản vùng sâu, vùng xa Ngoài mỏđồng Sin Quyền đã hoạt động từ lâu thì một số nghành công nghiệp đangđược đầu tư phát triển như: điện, giao thông, công nghệ chế biến, sản xuất vậtliệu xây dựng, khai thác khoáng sản và đặc biệt là thương mại và du lịch trong
Trang 12nội địa cũng như giao lưu quốc tế Các cơ sở văn hoá, y tế, giáo dục đangtừng bước được mở mang và nâng cao, tuy nhiên tỷ lệ người chưa biết chữcòn khá cao, trình độ dân trí thấp cũng như các phong tục lạc hậu còn khá phổbiến trong nhân dân, nhất là ở vùng núi cao.
Tóm lại, đặc điểm tự nhiên và kinh tế của vùng rất thuận lợi cho công tácnghiên cứu địa chất Trong vùng có ưu thế dân cư và lực lượng lao động tạichỗ dồi dào Vùng nghiên cứu đầy đủ thuận lợi công tác địa chất và khai tháckhoáng sản
1.3 Lịch sử nghiên cứu địa chất vùng
Lịch sử nghiên cứu địa chất trong vùng đã có nhiều các công trìnhnghiên cứu địa chất và khoáng sản của các nhà địa chất trong và ngoài nước
từ đầu thế kỷ XX đến nay Lịch sử nghiên cứu địa chất trong vùng cũng đượcchia thành hai giai đoạn:
1.3.1 Giai đoạn trước 1954
Nghiên cứu địa chất trong thời kỳ này do người Pháp tiến hành với cáccông trình như sau:
Năm 1917, Lantenois G nghiên cứu kiến tạo vùng Lào Cai – Sa Pa songkhông có tài liệu gì để lại
Năm 1921, Dussault L và Jacob Ch Công bố “Báo cáo nghiên cứu địachất Bắc trung bộ và Bắc bộ” đã coi granit và gneis của vùng này có tuổi giànhất
Năm 1931, Sở Địa chất Đông dương xuất bản tờ “Địa chất Cao Bằng” tỷ
lệ 1:500.000 Các tác giả đã gộp chung granit với tầng đá biến chất cổ và xếptuổi Tiền Cambri Riêng các đá magma được phân chia thành granit, đá màulục và ryolit Nhìn chung bản đồ này còn sơ lược
Trang 13Năm 1937, Fromaget J công bố công trình nghiên cứu địa chất phần TâyBắc và Thượng Lào kèm theo bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.000, trong đó códiện tích phần phía tây của vùng.
1.3.2 Giai đoạn sau 1954
Trong giai đoạn này liên tục các đoàn 1, đoàn 17, đoàn 135 cùng với cácchuyên gia và cố vấn của Tổng cục Địa chất đã thành lập Bản đồ địa chất tờLào Cai tỷ lệ 1:200.000, khảo sát nghiên cứu sơ bộ và kiểm tra lại khoáng hóa
từ Lào Cai tới Lũng Pô Trong đó, tập trung nhiều ở Thùng Sáng, TrịnhTường, Sin Quyền, Vi Kẽm, Lũng Pô…
Năm 1960, Đoàn địa chất 135 khảo sát ven bờ sông Hồng vùng Lào Cai,
đã phát hiện các bất thường phóng xạ ở gần bản Vị Kẽm, Sin Quyền
Năm 1961, Đoàn địa chất 5 bắt đầu tìm kiếm vùng Thùng Sáng đã pháthiện các vết lộ quặng ở suối Lũng Pô, Nậm Chạc, Nậm Giang, sau đó mởrộng tìm kiếm đến vùng Sin Quyền Công tác tìm kiếm đạt kết quả tốt Năm
1967 hoàn thành tờ bản đồ địa chất 1:25.000 vùng Lũng Pô - Lào Cai baotrùm lên diện tích vùng mỏ đồng Sin Quyền
Năm 1963, Đoàn 5 tiến hành thăm dò sơ bộ khoáng sàng Sin Quyền(thân quặng giữa, đông) và tìm kiếm tỉ mỉ thân quặng tây và Cốc Mỳ - ViKẽm
Năm 1973, Đoàn 5 kết thúc thăm dò tỉ mỉ khoáng sàng Sin Quyền vàđang tìm kiếm tỉ mỉ các điểm quặng quanh vùng III, V, suối Thầu, Nậm Chạc,Nậm Mít và Phìn Ngan
Năm 1975, Đoàn 5 đã hoàn thành báo cáo địa chất về kết quả thăm dò tỉ
mỉ quặng đồng Sin Quyền và năm 1981 - 1982 nộp báo cáo thăm dò sơ bộphân vùng V
Trang 14Năm 1999, Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam đã lập Báo cáo nghiêncứu khả thi tổ hợp đồng Sin Quyền - Lào Cai - Việt Nam.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu địa chất và khoáng sản vùng này còn thểhiện trong các công trình nghiên cứu tổng hợp trên toàn lãnh thổ khu vực củacác tác giả như: Lê Văn Cự (1978), Trần Văn Trị (1977), Trần Đức Lương vàNguyễn Xuân Bao (1980), Nguyễn Xuân Bao và Đào Đình Thục ( 1979,1984), Nguyễn Huy Sinh (1984), Trần Văn Trị và Nguyễn Xuân Tùng (1992),
Lê Đức An (1995), Đào Đình Thục và Huỳnh Trung (1995)
Trang 15CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN KHU VỰC LÙNG
THÀNG VÀ VÙNG LÂN CẬN
Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới thuộc vùng trung du, miền núiphía bắc của Việt Nam, giáp danh giữa vùng Tây Bắc và vùng Đông Bắc và lànơi bắt đầu của con Sông Hồng chảy vào đất Việt Vùng là một bộ phận trongđới cấu trúc Sông Hồng nên có đặc điểm cấu trúc địa chất rất phức tạp và đadạng về mặt địa tầng, kiến tạo và sinh khoáng Đặc điểm địa chất vùng đượctác giả tổng hợp từ các tài liệu [1], [2] Đặc điểm địa chất vùng có những nétchính sau:
2.1 Đặc điểm địa chất vùng
2.1.1 Địa tầng
Tham gia vào cấu trúc địa chất vùng nghiên cứu bao gồm các thành tạo
có tuổi Arkeozoi đến Kainozoi:
Các thành tạo Neoarkeozoi Loạt Sông Hồng
Hệ tầng Ngòi Chi (NA?nc)
Các thành tạo biến chất xếp vào loạt Sông Hồng đã được Fromaget J.(1937), DovJikov A.E (1965) và Bùi Phú Mỹ (1971, 1978) phân chia và mô
tả cho các đá biến chất ở bờ trái sông Hồng và xếp tuổi Arkeozoi hoặcProterozoi Các thành tạo biến chất có tuổi cổ nhất của vùng, phân bố trêndiện hẹp ở phía đông thị xã Lào Cai và một số điểm lộ nằm rải rác dọc bờphải sông Hồng ở khu vực Bát Xát
Hệ tầng Ngòi Chi phân bố ở phía đông nam khu vực nghiên cứu
Trang 16Thành phần thạch học của hệ tầng Ngòi Chi gồm :
Tập quaczit chuyển lên đá phiến thạch anh-felspat-granit xen đá phiếnthạch anh biotit-silimanit-granat, quaczit, thấu kính amphibolit
Trong các vết lộ dọc dòng Nậm Thi và theo đường sắt Lào Cai – Phố Lukhá phổ biến đá bị cà nát ép phiến hóa Trong đó biotit được thay thế bằngchlorit, plagioclas, felspat thay thế bằng muscovit và kaolin
Chiều dày hệ tầng quan sát được khoảng 600 – 700m
Các thành tạo Paleoproterozoi
Loạt Xuân Đài
Loạt Xuân Đài do Nguyễn Xuân Bao (1969) xác lập và mô tả với hai hệtầng chuyển tiếp nhau liên tục là hệ tầng Suối Chiềng và hệ tầng Suối Làng.Những năm về sau hệ tầng Suối Làng được thay bằng hệ tầng Sin Quyền (TạViệt Dũng, Trần Quốc Hải, 1963) Bản đồ địa chất nhóm tờ Lào Cai tỷ lệ1:50.000 sử dụng loạt Xuân Đài với hai hệ tầng chuyển tiếp cùng tuổiProterozoi: hệ tầng Suối Chiềng và hệ tầng Sin Quyền
Hệ tầng Suối Chiềng (PPsc)
Hệ tầng Suối Chiềng phân bố ở dọc bờ phải sông Hồng, kéo dài theophương tây bắc - đông nam từ bản Nùng tới Nà Lộc, bị kẹp giữa khối magma
Po Sen và hệ tầng Sin Quyền
Hệ tầng Suối Chiềng được nghiên cứu đầu tiên bởi các nhà địa chất Pháptrong “Orthogneiss du Fansipan, Fromaget J, 1930” Sau này hệ tầng đượcxác lập bởi A.E Dovjikov và các tác giả Bản đồ Địa chất miền Bắc Việt Nam
tỷ lệ 1:500.000 trong “Hệ tầng Chiêm Hoá, Nà Hang, Dovjikov và nnk
Trang 171965” Ngoài ra còn một số nghiên cứu độc lập khác như: Hệ tầng SuốiChiềng (Tiền Sini), Nguyễn Xuân Bao và nnk , 1969.
Mặt cắt hệ tầng lộ tốt ở Ngòi Phát – Nậm Chỏm và Nậm Gia Hô Thànhphần mặt cắt và đặc điểm biến chất các đá của hệ tầng ít thay đổi theo đườngphương và đồng đều trên diện tích phân bố Từ dưới lên hệ tầng Suối Chiềnggồm hai tập:
-Tập 1 (PPsc1¿ : Thành phần chủ yếu là đá phiến hai mica, đá phiếnbiotit-granat, xen ít lớp đá phiến thạch anh-felspat-mica và các lớp mỏngquarzit Chiều dày trên 500m
-Tập 2 (PPsc2¿ : Thành phần chủ yếu là đá phiến biotit-epidot-sphen,amphibolit-epidot, xen những lớp mỏng đá phiến felspat-thạch anh-mica và
đá phiến hai mica Chiều dày trên 1400m
Hệ tầng chỉnh hợp dưới hệ tầng Sin Quyền và bị các khối xâm nhậpthuộc phức hệ Po Sen xuyên cắt
“Hệ tầng Sin Quyền, Tạ Việt Dũng, 1962” Sau này một số nghiên cứu khác
có nhắc đến hệ tầng Sin Quyền như: Các hệ tầng Chiêm Hoá, Nà Hang, A.E.Dovjikov và nnk, 1965 Hệ tầng Ngòi Hút, Phan Trường Thị, 1978
Trang 18Hệ tầng Sin Quyền có mặt cắt chuẩn dọc Ngòi Phát từ mỏ đồng SinQuyền đi về phía tây nam, thuộc địa phận xã Bản Vược, huyện Bát Xát, tỉnhLào Cai
Các đá của hệ tầng chỉ phân bố trong cấu trúc Phan Si Pan, tạo nên móngkết tinh Mặt cắt chuẩn Ngòi Phát gồm hai tập:
+ Tập 1 (PPsq1¿: Nằm chuyển tiếp lên tập 2 hệ tầng Suối Chiềng ( PPsc2)gồm phía dưới là đá phiến thạch anh-felspat-biotit màu xám đen, chuyển lênphần trên là đá phiến biotit màu đen nâu xen kẹp liên tục các lớp đá phiếnfelspat-thạch anh-mica có cấu tạo phân dải, tập dày 800m
+ Tập 2 (PPsq2¿ :Đá lộ tốt dọc theo các suối Ngòi Phát, Nậm Gia Hô và ởLàng Cóc, Tả Phời Thành phần của tập chủ yếu là đá phiến thạch anh-mica
có graphit xen kẽ với đá phiến thạch anh hai mica.Chiều dày tập trên 1000m
Đôi khi có biểu hiện migmatit hóa trong đá phiến chứa graphit và trong
đá gneis biotit Ngoài ra, còn gặp các lớp mỏng đá phiến biotit-epidot-sphen
và các thể dạng mạch amphybolit-epidot, amphybolit có chứa khoáng hóasulphur đồng
Các đá tập 2 (PPsq2) tiếp xúc kiến tạo với hệ tầng Cam Đường (¡£cđ) có
tuổi trẻ hơn nằm trên
Các thành tạo Neoproterozoi
Loạt Sa Pa
Hệ tầng Đá Đinh (NPdđ)
Đá của hệ tầng Đá Đinh (PR3 - ¡£dđ) phân bố trên cấu trúc Phan Si Pan,
tạo thành các dải, các khối núi đá vôi kích thước không lớn phân bố từ LàoCai đến Yên Bái Trong khu vực nghiên cứu hệ tầng Đá Đinh chị lộ ra ở phíanam
Trang 19Hệ tầng Đá Đinh được nhà địa chất người Pháp Jacob Ch xác lập đầutiên vào năm 1921 Sau đó, hệ tầng được xác lập lại bởi công tác đo vẽ bản đồđịa chất khu vực tây bắc bộ của A F Kalmucov và Trần Văn Trị năm 1965.
Hệ tầng có thành phần chủ yếu gồm đá hoa dolomit hạt nhỏ hạt đượcchia làm hai tập :
- Tập 1 : Đá hoa hạt nhỏ đến vừa, dạng đường, có tremolit, phân lớptrung bình, chuyển lên đá hoa dolomit hạt nhỏ đến lớn và dolomit màu trắngphân lớp vừa đến dạng khối Bề dày 250m
- Tập 2 : Đá hoa dolomit màu trắng hạt vừa, dạng khối, phân lớp dày,xen các lớp mỏng đá hoa phân dải có tremolit, mutscovit, scapolit Bề dày350m
Gới Paleozoi
Các thành tạo Paleozoi trong vùng nghiên cứu chủ yếu là các trầm tíchtuổi Paleozoi sớm và Paleozoi giữa, phân bố thành các dải kéo dài theophương tây bắc-đông nam và tập trung chủ yếu ở khu vực đông bắc Thànhphần chủ yếu là các đá trầm tích lục nguyên, lục nguyên chứa carbonat vàcarbonat Căn cứ thành phần thạch học, quan hệ địa tầng trên dưới và so sánh
Trang 20với tuổi của các địa tầng được phân chia ở các nơi khác thuộc vùng tây bắcViệt Nam, chúng được phân chia thành các đơn vị địa tầng sau đây :
Tuổi của hệ tầng Cam Đường được xác định dựa vào hóa thạch Tảo gồmArchaeohystrichosphaeridium sp, Bavlinella sp, Leiomarginata simplex,Glottimorpha asiatica Ngoài ra, hệ tầng còn có thể đối sánh với một hệ tầngchứa phosphorit tương tự ở Vân Nam, Trung Quốc có hóa thạch bọ ba thùy tuổiCambri sớm
Hệ tầng Cam Đường có quan hệ bất chỉnh hợp với hệ tầng Đá Đinh
Sự gián đoạn trầm tích giữa hệ tầng Cam Đường trên loạt Sa Pa còn thểhiện rõ trên bình đồ phân bố của chúng ở thượng nguồn Suối Thầu Ở đó,chiều dày đá hoa dolomit hệ tầng Đá Đinh nằm dưới hệ tầng Cam Đường chỉquan sát được khoảng 200m Ở nhiều nơi trong diện phân bố các đá trầm tíchbiến chất chứa photphorit hệ tầng Cam Đường có các thể mạch lamprophyr cókích thước khác nhau không rõ xuyên cắt
Hệ tầng Cam Đường gồm 3 tập chuyển tiếp liên tục nhau từ dưới lên trên là :
Trang 21Hệ Devon
Hệ tầng Bản Nguồn (D 1bn)
Hệ tầng Bản Nguồn phân bố ở góc phía tây nam vùng nghiên cứu, các
đá lộ ra thuộc thượng nguồn sông Mua
Hệ tầng được Nguyễn Xuân Bao nghiên cứu và xác lập năm 1970
Hệ tầng gồm có các tập đá khác nhau:
- Tập 1: Cát kết thạch anh dạng quarzit xen những lớp đá phiến đen, dày120m
- Tập 2: Đá phiến, bột kết xen những lớp cát kết lẫn sét và cát kết dạngquarzit, dày 160m, chứa hóa thạch Dicoelostrophia annamitica, Euryspiritfertonkeinensis…
- Tập 3: Cát kết dạng quarzit và cát kết chứa sét xen những lớp đá phiếnđen, dày 50m
- Tập 4: Đá phiến, bột kết vôi, dày 50m
Dựa vào hóa thạch hệ tầng được xác định tuổi là Devon sớm
Hệ tầng Bản Nguồn nằm chỉnh hợp dưới hệ tầng Bản Páp
Trang 22Hệ tầng Bản Páp ( 1−2bp)
Hệ tầng Bản Páp do Nguyễn Xuân Bao xác lập (1969) Trong vùng, hệtầng Bản Páp có quan hệ phân bố không gian chặt chẽ với các trầm tích lụcnguyên-carbonat hệ tầng Bản Nguồn (D1bn).
Hệ tầng chủ yếu chứa đá vôi, đá vôi hóa hoa, đá hoa có tremolit, đá hoadolomit-tremolit Chiều dày hệ tầng Bản Páp dày từ 200 – 500m
GIỚI MEZOZOI, Thống dưới
Hệ tầng Viên Nam (T 1vn)
Hệ tầng Viên Nam ( T1vn) do Phan Cự Tiến xác lập năm 1975, phân bố ở
phần phía đông nam khu vực nghiên cứu
Các thành tạo phun trào mafic trong vùng tương đương với hệ tầng ViênNam có tuổi Pecmi muộn – Trias sớm đã được Bùi Phú Mỹ phân chia (1978).Chúng phân bố thành hai dải nằm biệp lập cách xa nhau và có vị trí cấu trúckhông gian giống nhau
Dải thứ nhất phân bố ở Tà Lèng nằm trong cấu trúc đới rift Sông Đà
Dải thứ hai ở bờ Sông Hồng nằm ở phía rìa đông của phức nếp vồng HoàngLiên Sơn
Các diện lộ dọc bờ phải Sông Hồng thường không liên tục, thành phần của
đá phun trào mafic trong dải này gồm : Bazan, Bazan hạnh nhân, andezitobazan
và các sản phẩm biến đổi của chúng như đá phiến actinolit-chlorit-epidot, đáphiến actinolit-epidot-calcit Chiều dày 400m
Trang 23Giới KAINOZOI
Hệ Neogen, Thống Pliocen
Hệ tầng Văn Yên (N£…vy)
Hệ tầng Văn Yên được phân chia trên bản đồ địa chất nhóm tờ Lào Cai
tỷ lệ 1:50.000 có khối lượng tương đương “hệ Neogen” của Địa chất tờ LàoCai – Kim Bình tỷ lệ 1:200.000 (Bùi Phú Mỹ, 1978)
Đây là các trầm tích lục nguyên phân bố dọc bờ phải Sông Hồng.Chúngđược hình thành trong hố sụt kiểu địa hào Sông Hồng, có thành phần trầmtích gồm chủ yếu cuội kết, sạn kết, cát kết hạt thô, cát bột kết và ít hơn là cáclớp mỏng đá phiến sét có vài thấu kính than Các hạt chủ yếu góc cạnh,thường có các vết xước trên bề mặt Chiều dày hệ tầng 250 – 300m
Trong các lớp bột kết ở khu vực đông nam Trịnh Tường các tác giả bản
đồ địa chất Lào Cai – Kim Bình tỷ lệ 1:200.000 (Bùi Phú Mỹ, 1978) đã sưutập được các dạng hóa thạch : Q lantenoisi Col., Pho eb pseudolanchevlataCol
Hệ tầng Văn Yên nằm không chỉnh hợp trên móng cổ hệ tầng SuốiChiềng và hệ tầng Sin Quyền
Hệ tầng nằm chỉnh hợp dưới hệ tầng Cổ Phúc tuổi Oligoxen nên đượcđịnh tuổi Eoxen
Hệ Đệ Tứ
Các thành tạo trầm tích hệ Đệ Tứ phân bố ở vùng nghiên cứu chiếm diệntích nhỏ hẹp, thuộc các thành tạo bồi tích sông-lũ dạng thềm và bãi bồi phân
bố ở các thung lũng và dọc các sông suối chính của vùng:
+ Trầm tích sông, thống Pleistocen, thành phần quan sát tại vết lộ từ trênxuống gồm:
Trang 24 Lớp đất trồng màu đen, dày 0,5 – 1m
Lớp cuội, sỏi xen cát, sét, bột màu nâu, màu xám có lẫn tảng kíchthước lớn còn góc cạnh, sắp xếp lộn xộn, dày 3 – 5m, đôi nơi trênmặt của lớp này có laterit
Lớp đá tảng, cuội, sỏi kích thước không đều, được mài tròn trungbình, dày 8 – 10m
Tổng chiều dày của trần tích thống Pleistocen từ 12 – 16m
+ Trầm tích sông, thống Holocen hạ-trung:
Các thành tạo sông thuộc thềm bậc có thành phần là: Cuội, sỏi, cát,sạn có lẫn tảng và bột, sét màu vàng đến nâu nhạt có chứa phong phú bào tửphấn: Lycopodium sp., Almus sp., Castanes sp, Lygodium sp….Chiều dày
từ 6 – 8m
+ Trầm tích sông, sông-lũ thống Holocen thượng:
Phân bố ở nhiều nơi với các diện tích hẹp và các bãi bồi, doi cát dọccác sông và suối lớn, trầm tích gồm cuội, sỏi, sạn, cát và dăm tảng mài trònkém, thành phần đa khoáng, chưa gắn kết
Ngoài ra, ở vùng nghiên cứu còn có các dải tích tụ travectin với diệntích phân bố hẹp Chiều dày dao động trong khoảng 1 – 5m
2.1.2 Magma
Trên bản đồ địa chất vùng tỷ lệ 1:50.000, nằm trong diện tích vùngnghiên cứu các thành tạo magma lộ ra trên một diện tích khá rộng, trong đóchủ yếu là các thành tạo magma xâm nhập của phức hệ Po Sen, ít hơn là cácthành tạo magma xâm nhập của phức hệ Ba Vì và các thành tạo magma chưa
rõ tuổi
Trang 25Phức hệ Po Sen (GDi/PZ£ps£, G/PZ£ps¤)
Phức hệ Po Sen do Bùi Phú Mỹ và Phan Viết Kỷ xác lập (1971) trong côngtrình đo vẽ lập bản đồ địa chất tờ Lào Cai – Kim Bình tỷ lệ 1:200.000 và chọnkhối Po Sen nằm ở phía tây thị xã Lào Cai làm khối chuẩn của phức hệ
Thành tạo này trước đây đã được đề cập nhiều trong các công trình nghiêncứu của: Fromaget J (1941), Izokh E.P (1965), Trần Quốc Hải (1967), NguyễnXuân Bao (1968), Đào Đình Thục (1995)
Thành phần thạch hoc của khối gồm: diorit thạch anh, granodiorit, granit…Xuyên cắt các đá trên là các đá mạch specxatit, kersantit và granit porphyr dạngmạch Các đá diorit thạch anh, granodiorit, tonalit và diorit phân bố ở phía bắc,phía đông và phía đông nam khối, còn các đá granit phân bố ở trung tâm và rìaphía tây khối
Khối Po Sen được hình thành bởi ba pha xâm nhập:
- Pha 1: Diorit thạch anh, tonalit và granodiorit
- Pha 2: Granit biotit
- Pha 3: Các đá mạch specxalit, kersantit và granit porphyr
Phức hệ Po Sen xuyên cắt và gây sừng hóa các đá thuộc hệ tầng Suối
Chiềng (PPsc) và hệ tầng Sin Quyền (PPsq), được xếp vào tuổi Paleozoi sớm.
Phức hệ Ba Vì (Gb/T£bv)
Phức hệ Ba Vì do Phan Viết Kỷ (1975) xác lập Trên diện tích nhóm tờLào Cai xếp phức hệ Ba Vì gồm các thể xâm nhập dạng khối nhỏ, dạng đaimạch kéo dài với thành phần chủ yếu là gabrodiabas và diabas
Phức hệ Ba Vì chúng có liên quan chặt chẽ về không gian và nguồn gốcvới các đá phun trào bazan thuộc hệ tầng Viên Nam (T1vn) Ranh giới giữa
Trang 26xâm nhập và phun trào khó phân biệt Tuổi của phức hệ Ba Vì được xếp vàoTrias sớm.
Các thành tạo magma xâm nhập chưa rõ tuổi Các thành tạo xâm nhập trung tính (Di/?)
Trong vùng nghiên cứu các thành tạo magma xâm nhập chưa rõ tuổi lộ ra
ở Bản Cát, Tả Sin Thành phần chủ yếu là diorit, tonalit tồn tại dưới dạngmạch, kích thước khác nhau Các thể xâm nhập này thường có dạng khối nhỏkéo dài theo phương tây bắc – đông nam, thậm chí còn có hình dạng tựa thấu
kính Chúng xuyên cắt các đá hệ tầng Suối Chiềng (PPsc), hệ tầng Sin Quyền (PPsq), hệ tầng Viên Nam ( T1vn) Ngoài ra chúng còn có quan hệ kiến tạo với
một số phân vị khác Ranh giới giữa xâm nhập và đá vây quanh không rõràng Các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trước đây cho thấy
sự liên quan chặt chẽ giữa các thành tạo magma này với các khoáng hóa đồngtại khu mỏ Dựa trên cơ sở đối sánh về đặc điểm phân bố, đặc trưng về thànhphần thạch học, các hiện tượng biến đổi liên quan mà các khối diorit, tonalitnày được tạm xếp vào các thành tạo magma chưa rõ tuổi
Các đá mạch lamprophyr của diorit chưa rõ tuổi (1/?)
Trong diện tích nhóm tờ Lào Cai các đá mạch lamprophyr của diorit nằmrải rác ở nhiều khu vực, trong đó có ở Bản Quang, Bản Lợi thuộc vùng nghiêncứu Chúng xuyên cắt hầu hết các thành tạo magma, trầm tích và biến chất cótuổi từ Paleoproterozoi, Paleozoi đến Mesozoi như phức hệ Po Sen
(GDi/PZ£ps£, G/PZ£ps¤), hệ tầng Suối Chiềng (PPsc), hệ tầng Sin Quyền (PPsq), hệ tầng Cam Đường (¡£cđ), hệ tầng Viên Nam ( T1vn) Các đa mạch
này có chiều dày 2 – 3m, kéo dài vài chục mét
Trang 272.2 Kiến tạo
Toàn bộ khu vực nghiên cứu thuộc rìa tây bắc khối Sa Pa khu á địa khuPhan Si Pan Nằm trong cấu tạo uốn nếp dạng tuyến tây bắc-đông nam của áđịa khu Phan Si Pan Tại đây có nhiều uốn nếp phức tạp, bị nhiều đứt gãy vàcác thể xâm nhập chia cắt Ngoài ra, vùng có nếp uốn hẹp kéo dài, nhiều nơi
có những nếp uốn đảo có mặt nghiêng về phía đông bắc với góc dốc khoảng
45°, thường có các đứt gãy hoặc các mạnh đá xâm nhập đi kèm
2.2.1 Kiến tạo
- Khối kiến tạo Sin Quyền: phía tây nam tiếp xúc với khối granitoit Po
Sen, phía đông bắc tiếp xúc với khối kiến tạo Bát Xát, kéo dài từ Bát Xát tớiLũng Pô rộng 1000 - 3000m Các đá trong khối có phương 300 - 320° tạothành một nếp lồi nhỏ
- Khối kiến tạo Bát Xát: kéo dài từ Lũng Pô đến Lào Cai rộng 1000m.
Tây nam tiếp xúc với hệ tầng Sin Quyền và granitoid Po Sen Các vật liệu chủyếu là đá phiến thạch anh, felspat tạo thành nhiều nếp oằn và uốn nếp, hìnhthành nhiều đứt gãy lớn và đới vỡ vụn mạnh
- Khối kiến tạo Thùng Sáng: khối tạo một dải hẹp ven sông Hồng, kéo
dài từ Thùng Sáng đến Trịnh Tường, phía tây tiếp xúc kiến tạo với khối BátXát, phía đông bắc tiếp xúc kiến tạo với khối phụ Trịnh Tường Vật liệu gồm
có đá hoa, đá phiến thạch anh clorit, đá mạch aplit, đá phiến bazơ Trong khốixuất hiện nhiều đứt gãy hướng tây bắc-đông nam có liên quan chặt chẽ tớikhoáng hóa đồng Thùng Sáng
Các hoạt động kiến tạo trong đới đồng Sin Quyền thường xuất hiện dưới
2 hệ thống:
Trang 28- Hệ thống phá hủy kiến tạo tây bắc - đông nam: thường xuất hiện dưới
dạng các đới vỡ vụn gặp ở ven rìa tiếp xúc giữa các tầng đá Phần lớn cácthân quặng tiếp xúc theo hệ thống phá hủy kiến tạo này
- Hệ thống phá hủy kiến tạo đông bắc - tây nam: gặp ở một số công trình
tìm kiếm, thăm dò gồm các đường nứt cận vĩ tuyến gây ra các mặt trượt, một
số gây ra dịch chuyển ở cự ly nhỏ
2.2.2 Nếp uốn
Các nếp uốn trong vùng tuy có số lượng không nhiều nhưng là các nếpuốn có quy mô lớn, phát triển trong một tổ hợp thạch kiến tạo hoặc được cấuthành bởi nhiều yếu tố kiến tạo khác Hệ thống các nếp uốn được đặt theo têncác dải núi, tên suối hoặc địa danh chung và gần trùng với trục uốn nếp:
- Nếp lồi Po Sen: nếp lồi có dạng kéo dài theo phương tây bắc-đông nam
và được hình thành bởi các thành tạo đá biến chất hệ tầng Suối Chiềng và hệtầng Sin Quyền bị xuyên cắt bởi granitoid phức hệ Po Sen
Cánh phía đông của nếp lồi bị chìm xuống và cắm dốc phía đông bắc (50
- 70°) Ngoài ra, do ảnh hưởng của các đứt gãy phương tây bắc - đông namnên nếp lồi bị chia cắt nhỏ Dọc theo cánh phía đông của các nếp lồi hìnhthành nhiều nếp uốn nhỏ và phát triển hiện tượng vò nhàu đá
Cánh phía tây được nâng lên mạnh mẽ và bị các đứt gãy chia cắt, có thếnằm khoảng 24065 Tại nơi tiếp xúc với đá xâm nhập ở phần nhân của nếplồi, đá bị migmatit hóa, phát triển mylonit và đá granit bị ép dạng mắt
- Nếp lõm Cam Đường: nếp lõm nằm ở phía đông của vùng, nằm kẹp
giữa hai đứt gãy lớn là đứt gãy Sông Hồng và đứt gãy Lũng Pô - Trịnh Tường
- Tả Phời Về phía tây nam biên độ hai cánh nếp lõm mở rộng (3km) và thuhẹp dần về phía tây bắc Cấu tạo nên nếp lõm là cát kết, bột kết, sạn kết, đá
Trang 29Cánh phía đông nếp lõm bị phá hủy mạnh bởi đứt gãy Sông Hồng Cánhtây nếp lõm ít bị phá hủy nên vẫn còn giữ được mặt cắt kiến tạo.
2.2.3 Đứt gãy
- Đứt gãy Sông Hồng: đây là một đứt gãy chính của khu vực nghiên cứu
có phương gần trùng và kéo dài theo sông Hồng Dọc theo đứt gãy hình thành
hố sụt kiến tạo kiểu địa hào được lấp đầy bởi cuội kết có trong hệ tầng VănYên (N1vy)
Đặc trưng tính chất của đứt gãy Sông Hồng là đứt gãy trượt bằng trái vớibiên độ 2 - 5cm/năm Trong quá trình hoạt động, đứt gãy Sông Hồng tạo rahàng loạt các đứt gãy kéo theo phân nhánh phương tây bắc-đông nam có ýnghĩa sinh khoáng đặc biệt ở khu vực này
- Đứt gãy Lũng Pô - Trịnh Tường - Bản Trang: đứt gãy này có phương
kéo dài song song với đứt gãy Sông Hồng, nó khống chế sự phân bố trầm tíchlục nguyên hệ tầng Suối Chiềng ở phía tây nam và hệ tầng Cam Đường ở phíađông bắc Đồng thời dọc đứt gãy bị phủ bởi các thành tạo aluvi-proluvi Đệ tứ.Đứt gãy có tính chất là đứt gãy nghịch cắm phía tây nam với góc cắm 70
- 80° thuộc đứt gãy phân nhánh của đứt gãy Sông Hồng
Cùng với nhiều đứt gãy khác, đứt gãy Lũng Pô - Trịnh Tường - BảnTrang đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo khoáng nội sinh của vùngnhư đồng, sắt, graphit, apatit Trong đó, khoáng sản có quy mô đáng kể nhưđồng ở Lũng Pô, Trịnh Tường, Sin Quyền; sắt ở Nậm Mít, Nậm Chạc, BảnVược Dọc theo đứt gãy hình thành các đới kataclazit, mylonit và các hiện tượng
vò nhàu, uốn nếp, ép phiến đá