Do đó, luận án nghiên cứu các PCDD/PCDF từ các khu vực bị ảnh hưởngbởi chiến tranh phạm vi nghiên cứu: vùng phụ cận sân bay Biên Hòa-Đồng Nai lên các thành phần của môi trường: đất, nước
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 Tính cấp thiết của đề tài
Dioxin và furan là chất độc tồn tại trong môi trường (đất, nước, không khí,sinh vật) bởi các nguồn phát sinh không chủ định và có chủ định Sân bayBiên Hòa lại là nơi tồn trữ và xuất phát của các chuyến bay mang nhiệm vụphân rải chất độc hóa học trên nhiều vùng đất miền Nam Việt Nam Một bộphận đáng kể dân cư sinh sống ngay cận kề các khu vực căn cứ không quân
có khả năng tiếp xúc dioxin bằng nhiều con đường khác nhau với đất, bùn,bụi và việc nghiên cứu mức độ ô nhiễm còn tương đối hạn chế do nhiềunguyên nhân khách quan và chủ quan
Bên cạnh đó, nguồn phát thải các polychlorinated dibenzo-para-dioxins(PCDD) và polychlorinated dibenzofurans (PCDF) từ các hoạt động côngnghiệp là rất lớn, đặc biệt là từ lò đốt chất thải rắn y tế Các lò này nếukhông có hệ thống xử lý khói lò hoặc cấp liệu gián đoạn, thủ công hoặc bán
cơ khí, công nghệ đốt rác thải lạc hậu, đầu tư cho lò đốt không đầy đủ vàquá trình vận hành chưa hiệu quả có thể dẫn đến sự hình thành và phát sinhcác PCDD/F ra môi trường xung quanh khá lớn nếu không được kiểm soát
Do đó, luận án nghiên cứu các PCDD/PCDF từ các khu vực bị ảnh hưởngbởi chiến tranh (phạm vi nghiên cứu: vùng phụ cận sân bay Biên Hòa-Đồng Nai) lên các thành phần của môi trường: đất, nước, bùn, mẫu sinhhọc, đến các nguồn phát thải gây ô nhiễm hiện nay (phạm vi nghiên cứu:các phát thải từ các lò đốt rác thải y tế khu vực TP.HCM) nhằm xác định rõnguồn gốc gây ô nhiễm các PCDD/F từ chiến tranh và công nghiệp
I.2 Ý nghĩa khoa học – thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: nghiên cứu dư lượng dioxin trong đất, bùn, nước, mẫu
sinh học, xác định nơi có các dioxin cao tại sân bay Biên Hòa làm cơ sở
Trang 2cho việc xử lý sau này Nghiên cứu phát thải các PCDD/F từ lò đốt chấtthải y tế làm cơ sở cho việc quản lý các lò đốt chất thải y tế Kết quả nghiêncứu làm sáng tỏ nguồn dioxin tại điểm nóng Biên Hòa, phân biệt nguồn gốcdioxin từ chiến tranh và dioxin từ công nghiệp đốt chất thải y tế Luận áncũng cải tiến, áp dụng phương pháp phân tích tiêu chuẩn phù hợp điều kiệnViệt Nam tiết kiệm thời gian, tiền bạc, nhân lực…không phải gửi mẫu đinước ngoài Làm cơ sở cho xây dựng tiêu chuẩn phân tích các PCDD/Ftrong các nền mẫu và có thể áp dụng cho các phòng thí nghiệm phân tíchDioxin khác.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, làm cơ sở cho
các cơ quan chức năng TP Biên Hòa đề xuất các biện pháp giám sát, khốngchế tác động do ô nhiễm các PCDD/F, từ đó đề xuất các biện pháp bảo vệsức khỏe nhân dân, cung cấp nước sạch, vệ sinh an toàn thực phẩm và quihoạch sử dụng hợp lý tài nguyên đất Cung cấp cơ sở dữ liệu cho công táckiểm soát ô nhiễm môi trường của các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnhvực môi trường Cung cấp cơ sở dữ liệu cho các lò đốt rác thải nguy hại.Các nhà nghiên cứu chế tạo công nghệ lò đốt để đáp ứng sản xuất sạch hơn.Kết quả của đề tài vừa có giá trị khoa học cao, vừa có giá trị thực tế lớn vìcác số liệu đo cụ thể sẽ giúp thẩm định mức độ nguy hiểm của khí thải, trođáy, tro hóa chất, nước thải, bùn thải sinh ra từ các lò đốt, làm cơ sở choviệc quản lý các lò đốt chất thải y tế Từ đó sẽ có biện pháp đề phòng thíchhợp đảm bảo sức khỏe người dân nhất là ở quanh khu vực đốt rác thải y tế
I 3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng được luận án tập trung nghiên cứu là: (1) đất, nước, bùn, mẫusinh học, vùng phụ cận sân bay Biên Hòa, Đồng Nai (2) khí thải, tro hóa
Trang 3chất, tro đáy, nước thải, bùn thải (từ hệ thống xử lý nước thải) từ lò đốt chấtthải rắn y tế tại khu vực TP.HCM.
I 4 Phạm vi nghiên cứu
Luận án sẽ tiến hành nghiên cứu dư lượng các PCDD/F tại vùng phụ cậnsân bay Biên Hòa- Đồng Nai, và nghiên cứu phát thải các PCDD/F từ lòđốt chất thải y tế khu vực TP.HCM
I.5 Tính mới của đề tài
Luận án có các điểm mới như đề xuất áp dụng các phương pháp phân tíchtheo tiêu chuẩn có cải tiến và ứng dụng trong điều kiện phân tích tại ViệtNam Các phương pháp này có thể thực hiện và phân tích các PCDD/F tạicác vùng nghiên cứu khác và là tài liệu tham khảo tốt cho các phòng thínghiệm phân tích các PCDD/F khác Ứng dụng phương pháp lấy mẫu khíchuyên biệt cho lò đốt rác thải y tế theo tiêu chuẩn và ứng dụng trong điềukiện Việt Nam Phát hiện vị trí bị ô nhiễm mới vùng phụ cận sân bay BiênHòa, Đồng Nai, khác với các vị trí đã được công bố Nghiên cứu về sự khácbiệt đặc trưng để phân biệt nguồn gốc dioxin do chất da cam và dioxin từcông nghiệp đốt chất thải y tế Đánh giá tổng thể về mức độ phân bố cácPCDD/F vùng lân cận sân bay Biên Hòa và phát thải các PCDD/F từ lò đốtchất thải y tế khu vực TP.HCM Đây là những công bố khoa học mới vềtình hình ô nhiễm các PCDD/F từ nguồn gốc chiến tranh và công nghiệp
I 6 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án tập trung vào các mục tiêu chính sau:
(1) Mục tiêu 1: Nghiên cứu dư lượng các PCDD/PCDF ở vùng phụ cận sânbay Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai lên các thành phần của môi trường đất, nước,bùn và các mẫu sinh học
Trang 4(2) Mục tiêu 2: Nghiên cứu mức độ phát thải các PCDD/F từ lò đốt chấtthải y tế khu vực TP.HCM.
(3) Cải tiến các phương pháp phân tích và ứng dụng phương pháp lấy mẫukhí chuyên biệt cho lò đốt rác thải y tế Xem xét đến sự khác biệt đặc trưng,
sự phát thải từ nguồn khác (nguồn công nghiệp) có vai trò quan trọng làmsáng tỏ nguồn dioxin tại điểm nóng Biên Hòa Từ đó, phân biệt nguồn gốcdioxin từ chiến tranh và dioxin từ các nguồn khác (công nghiệp đốt chấtthải y tế)
I.7 Phương pháp luận nghiên cứu
Hình 2.1: Sơ đồ khung tiến trình nghiên cứu của luận án
Trang 5I 8 Phương pháp nghiên cứu
Bao gồm phương pháp kế thừa, tiếp cận các tài liệu Khảo sát thực địa kếthợp phiếu khảo sát, lựa chọn khu vực lấy mẫu (kết hợp khảo sát với chínhquyền địa phương và thông qua các hội thảo) Phương pháp thực nghiệm(lấy mẫu và phân tích, tham gia thử nghiệm thành thạo với tổ chức quốc tế,kiểm soát chất lượng kết quả phân tích bằng các hoạt động đảm bảo chấtlượng/ kiểm soát chất lượng (QA/QC) phòng thí nghiệm, sử dụng mẫuchuẩn cho một số nền mẫu có mẫu chuẩn, xác nhận giá trị sử dụng củaphương pháp (độ lập lại, độ tái lập, hiệu suất thu hồi, giới hạn phát hiện, độkhông đảm bảo đo) Phương pháp so sánh và đánh giá Phương pháp lấy ýkiến chuyên gia Ứng dụng mô hình xác suất thống kê như ứng dụng một
số phần mềm đặc dụng trong phân tích thống kê phân tích thành phần chínhPCA (Principle component analysis), phân tích cụm CA (Cluster analysis)
I.9 Phương pháp lấy mẫu và phân tích
Phương pháp lấy mẫu được sử dụng trong luận án: Áp dụng các tiêu
chuẩn, QCVN hiện hành để lấy mẫu như mẫu đất theo TCVN 4046-85 vàTCVN 7538-8:2005, mẫu bùn theo TCVN 6663-13:2000, nước sông/suốitheo TCVN 6663-6: 2008, nước ngầm theo TCVN 6663-11: 2011, mẫuthủy sinh vật được thu bằng lưới bởi sự trợ giúp của cư dân địa phươngcho mẫu cá và ốc Bùn thải được lấy từ hệ thống xử lý nước thải Tro hóachất: lấy tại túi lọc bụi của hệ thống xử lý khí thải Tro đáy: lấy theo quiđịnh lấy mẫu chất thải rắn theo phương pháp đổ đống chia 8, lấy 4 phần đốiđỉnh nhau, tiếp tục trộn đều và thực hiện tương tự cho đến khi có lượngmẫu cần thiết Khí thải lò đốt lấy theo TCVN 7556-1:2005 và US-EPA
Trang 6Method 23 Áp dụng kỹ thuật lấy mẫu đẳng tốc Mẫu trắng kiểm tra được
lấy tại địa điểm lò đốt theo cùng một phương pháp đối với các mẫu thôngthường Chuẩn lấy mẫu: các PCDD/F thế Clor ở vị trí 2,3,7,8 đánh dấu
13C12 được thêm vào trước khi lấy mẫu Cả hai nhóm PCDD/F được hấpphụ trên các hạt trong pha khí, được thu vào dụng cụ lấy mẫu Các bộ phậnthu là cái lọc XAD-2
Phương pháp phân tích trong luận án
Phương pháp phân tích mẫu PCDD/F được phát triển và cải tiến dựa trênqui trình chuẩn của EPA - Method 8280, và qui trình 1613 của EPA - Kỹthuật pha lõang đồng vị (US EPA, 1994 và 1996), EPA-Method 23 Cácphương pháp này được nghiên cứu cho phù hợp với các điều kiện ở ViệtNam và có các cải tiến như rút ngắn được thời gian phân tích mẫu Cácphương pháp phân tích đã được kiểm soát chất lượng với mẫu chuẩn chonền mẫu đất và bùn với kết quả tương đồng với kết quả nhà sản xuất mẫuchuẩn đã công bố, kiểm tra chéo kết quả với một phòng thí nghiệm khác ápdụng phương pháp phân tích của luận án với kết quả trùng lặp giữa haiphòng thí nghiệm cho nền mẫu đất và bùn, tham gia hai chương trình thửnghiệm thành thạo với Quebec, Canada cho nền mẫu đất và nước với kếtquả đạt cho cả hai chương trình Tỉ lệ thu hồi của mỗi chuẩn lấy mẫu khíthải là 78-92% Hiệu suất thu hồi của các nền mẫu từ 87-100% Độ lập lại,
độ tái lập, độ không đảm bảo đo, giới hạn phát hiện, giới hạn định lượngcũng đã được đánh giá
Trang 7II Kết quả và thảo luận
II 1 Đánh giá tồn dư Dioxin trong đất/bùn/nước/ các mẫu sinh học vùng phụ cận sân bay Biên Hòa
II.1.1 Mẫu nước: Khu vực hồ Biên Hùng (Đồng Nai): là nơi tiếp nhận
nước
thải và nước mưa chảy tràn từ sân bay Biên Hoà và là nơi người dân sử
dụng nước cho canh tác rau và đánh bắt cá làm thực phẩm Khu vực hồ
nằm bên ngoài sân bay là khu vực tập trung nước mưa chảy tràn trên các khu đất xung quanh sân bay và có khả năng là nơi tích tụ các PCDD/F
Vì vậy, các mẫu nước được lấy tại suối nước chảy từ sân bay thoát ra khu
dân cư, tại nguồn xả thải vào hồ, tại giếng nước ngầm nơi người dân sửdụng cho việc tưới cây Các vị trí lấy mẫu không thực hiện ở những nơi đãđược tiến hành khảo sát trong các dự án trước đó và không hiệu quả, ởnhững vị trí cách xa khu vực sân bay Tập trung vào khu vực phụ cận sânbay Biên Hòa bao gồm các phường Tân Phong, Trung Dũng, Quang Vinh,Bửu Long Về địa hình tại các vị trí lấy mẫu thuộc khu vực bị ô nhiễm, nằmbên ngoài vòng rào sân bay và theo hướng thoát nước của các dòng chảybên trong sân bay ra ngoài khu dân cư có độ dốc thấp hơn bên trong sânbay Ở phường Tân Phong, vị trí lấy mẫu được chọn tại những điểm thoátnước từ các nguồn nước thải bên trong sân bay ra khu dân cư ở phía Đôngsân bay Các vùng đất chưa bị cải tạo ở phía Nam và phía Tây Sân Bay; Ởphường Trung Dũng và Quang Vinh, vị trí lấy mẫu được chọn tại điểmthoát nước từ các nguồn nước thải bên trong sân bay ra khu dân cư ở phíaNam sân bay; Ở phường Bửu Long, do độ dốc của khu vực nghiêng về phíaTây và hướng các dòng chảy thông ra sông Đồng Nai, vị trí lấy mẫu được
Trang 8chọn tại các điểm thoát nước từ các nguồn nước thải bên trong sân baythông ra bên ngoài ở phía Tây sân bay và những khu đất chưa bị cải tạophía Tây sân bay.
Hình 2.3 Bản đồ các vị trí lấy mẫu và hướng dòng chảy trong
sân bay ra vùng phụ cận
16 mẫu nước qua 2 đợt lấy mẫu nghiên cứu cho thấy:
a/ Các mẫu nước dưới đất (nước giếng): Nồng độ các PCDD/F ở vị trí 6
từ 0,0101-0,0266 ng/L Vị trí 7 từ 0,0007-0,0008ng/L Vị trí 9 từ 0,0171ng/L Cả 3 vị trí trên đều có giá trị i-TEQ thấp hơn ngưỡng cho phéptheo tiêu chuẩn US.EPA -2003 (30pg/L), chứng tỏ nguồn nước ngầm ở cáckhu vực này không bị ô nhiễm, có thể sử dụng cho mục đích tưới tiêu vàcây trồng trong vùng
Trang 90,0017-b/ Các mẫu nước mặt lấy từ các nguồn nước thải ra: Vị trí 2 (suối nước
chảy từ sân bay thoát ra khu dân cư) Vị trí 5 tại nguồn xả thải vào hồ số 2
Vị trí 10 (Suối nước thông với nguồn nước thải từ sân bay ra khu dân cư).Các kết quả cho thấy có sự hiện diện của các hợp chất TCDD trong cácmẫu nước, với nồng độ dao động từ 35,9pg/L – 134,8 pg/L Có sự hiện diệncủa một hoặc vài các hợp chất TCDD như: TCDF, các PeCDD/F, cácHxCDD/F, HpCDF hoặc OCDD/F ở dạng vết Giá trị i-TEQ của các mẫunước so với tiêu chuẩn US.EPA ( i-TEQlimit: 30pg/L) đều vượt ngưỡng chophép từ 2,71 – 8,04 lần; là do dioxin và furan là chất rắn khá bền, ít tantrong nước, chúng có thể di chuyển xa theo dòng chảy từ nguồn ô nhiễmtrong sân bay, đi vào lớp nước bề mặt và kết hợp rất chắc với các hạt hữu
cơ lơ lửng Vị trí số 2 thuộc nơi suối nước chảy từ sân bay thoát ra khu dân
cư, vị trí số 5 là vị trí lấy mẫu tại điểm thoát nước từ các nguồn nước thảibên trong sân bay ra khu dân cư ở phía Nam sân bay; Vị trí số 10, do độdốc của khu vực nghiêng về phía Tây và hướng các dòng chảy thông rasông Đồng Nai, vị trí lấy mẫu tại các điểm thoát nước từ các nguồn nướcthải bên trong sân bay thông ra bên ngoài ở phía Tây sân bay và những khuđất chưa bị cải tạo phía Tây sân bay
II.1.2 Mẫu bùn
Đất và bùn cũng là đáy cuả chuỗi dinh dưỡng nên bùn sẽ được lấy ở lớp bềmặt và lớp ở tầng sâu hơn để đánh giá khả năng khuyếch tán cuả dioxin.Mẫu bùn bề mặt được lấy với độ sâu 0-30cm tính từ bề mặt do lớp bùn phíatrên bề mặt thường có hàm lượng chất hữu cơ cao, tạo điều kiện cho cáchợp chất dioxin bám dính Lớp bùn phía dưới sâu chủ yếu là cát và đất sét
là những chất vô cơ, do vậy rất khó cho dioxin bám dính vào Qua 2 đợt lấymẫu nghiên cứu vùng phụ cận sân bay Biên Hòa, số liệu của 20 mẫu bùn
Trang 10(10 mẫu/đợt) cho thấy có sự xuất hiện của các hợp chất TCDD trong cácmẫu bùn ở vị trí 10 (suối nước thông với nguồn nước thải từ sân bay thoát
ra khu dân cư), với nồng độ TCDD dao động từ: 0,4365ng/g – 0,4421 ng/gtrọng lượng khô Có sự xuất hiện của các hợp chất TCDD trong mẫu phântích ở vị trí 5.1 (ngay tại miệng xả thải từ sân bay vào Hồ cổng 2), với nồng
độ TCDD là 0,1724 ng/g trọng lượng khô Sự hiện diện của các hợp chấtTCDD trong các mẫu bùn còn lại ở dạng vết Ngoài ra, trong các mẫu bùnđược nghiên cứu còn tìm thấy sự hiện diện của các hợp chất của TCDD ởdạng vết và ở nồng độ thấp như: các hợp chất TCDF (< 0,05 ng/g trọnglượng khô), các hợp chất PeCDD/F (< 0,026 ng/g trọng lượng khô), cáchợp chất HxCDD/F (< 0,08 ng/g trọng lượng khô), các hợp chất HpCDD/F(< 0,43 ng/g trọng lượng khô), các hợp chất OCDD/F (< 5,068 ng/g trọnglượng khô) có thể do sự tồn dư tích lũy lâu ngày của chất độc hóa học
a Đánh giá theo TCVN: Khi so sánh các giá trị i-TEQ theo TCVN
8183:2009 (0,15ng/g trọng lượng khô) cho thấy: Chỉ có 3 mẫu bùn ở vị trí
5 (1 mẫu) và vị trí 10 (2 mẫu) là vượt ngưỡng cho phép, với hàm lượngdioxin từ 0,19 - 0,46 ng/g trọng lượng khô do vị trí 5 và vị trí 10 đều thôngvới nguồn nước thải từ sân bay và địa hình dốc từ sân bay ra đến các vị trínày Các mẫu còn lại có giá trị i-TEQ từ 0,00013-0,1551 ng/g trọng lượngkhô, thấp hơn ngưỡng cho phép Gía trị i-TEQ của các mẫu bùn lấy vàomùa khô thường cao hơn so với mùa mưa do địa hình dốc và rửa trôi khitrời mưa
b/ Đánh giá theo tiêu chuẩn Canada về PEL: Khi so sánh các giá trị TEQ theo tiêu chuẩn Canada về PEL (ngưỡng quy định về mức độ gây ảnh
i-hưởng, 21,5 ng/kg trọng lượng khô) thì mức i-TEQ của các mẫu bùn lấy
vào mùa khô cao hơn so với mùa mưa và vượt trên mức PEL
Trang 11II.1.3 Mẫu đất:
II.1.3.1 Đánh giá các mẫu đất tầng nông (0-30cm)
Từ 28 mẫu, phát hiện sự tồn tại của các hợp chất TCDD trong mẫu đất tầngnông trong các mẫu tại các vị trí như vị trí 3 với nồng độ từ 0,49 – 0,58 ng/
g đất khô Vị trí 6 với nồng độ từ 0,136 - 0,841 ng/g đất khô Vị trí 10 (Suốinước thông với nguồn nước thải từ sân bay ra khu dân cư) với nồng độ từ0,6425 - 0,7485 ng/g đất khô Các mẫu còn lại không tìm thấy sự hiện diệncủa các hợp chất TCDD (ở vị trí 7, vị trí 8,vị trí 9), hoặc phát hiện ở dạngvết
(vị trí 1, vị trí 2, và vị trí 5) Ngoài ra, trong các mẫu phân tích còn tìm thấy
sự hiện diện của các hợp chất TCDD ở dạng vết và ở nồng độ thấp như: cáchợp chất TCDF (< 0,08 ng/g đất khô), các hợp chất PeCDD/Fs (< 0,02 ng/gđất khô), các hợp chất HxCDD/F (< 0,22 ng/g đất khô), các hợp chấtHpCDD/F (< 0,32 ng/g đất khô), các hợp chất OCDD/F (< 8,53 ng/g đấtkhô)
b Đánh giá theo TCVN: Khi so sánh các giá trị i-TEQ với TCVN
8183:2009 (1 ng/g đất khô) thì các mẫu phân tích đều có giá trị i-TEQ nằm
dưới giới hạn cho phép Điều này cho thấy, môi trường đất khá an toàn,không còn bị ảnh hưởng nguy hại bởi chất độc hóa học dioxin và các tạpchất khác trong môi trường Các mẫu lấy vào mùa khô thường có giá trị i-TEQ cao hơn mùa mưa do địa hình dốc từ sân bay ra đến các vị trí này và
do nước mưa rửa trôi và mùa khô, do mực nước cạn, bùn, đất cô đặc hơn
c/ Đánh giá theo tiêu chuẩn Canada: Khi so sánh các giá trị i-TEQ theo
tiêu chuẩn Canada, CCME là 0,004ng/g đất khô thì giá trị i-TEQ các mẫulấy vào mùa khô thường cao hơn mùa mưa và đều cao hơn ngưỡng giới hạncho phép Độ độc của các mẫu đất tại các khu vực nghiên cứu đã vượt mức
Trang 12quy định về độ độc cho phép ở Canada; Mức độ ô nhiễm lấy vào mùa khôthể hiện rõ rệt hơn trong các mẫu lấy vào mùa mưa do tác động rửa trôi củanước mưa
II.1.3.2 Đánh giá các mẫu đất tầng sâu ( 30-60cm)
Phát hiện trong mẫu đất tầng sâu có sự tồn tại của các hợp chất TCDDtrong
các mẫu tại các vị trí như vị trí 2 (suối nước chảy từ sân bay ra khu dân cư)với nồng độ từ 0,05 - 0,08 ng/g đất khô Vị trí 3 với nồng độ < 0,56ng/g đấtkhô Vị trí 10 (Suối nước thông với nguồn nước thải từ sân bay ra KDC)với nồng độ từ 0,32 - 1,02 ng/g đất khô Các mẫu còn lại bị ảnh hưởng ởdạng vết Ngoài ra, còn tìm thấy sự hiện diện của các hợp chất TCDD ởdạng vết và ở nồng độ thấp như: các hợp chất TCDF (< 0,19 ng/g đất khô),các hợp chất PeCDD/F (< 0,622 ng/g đất khô), các hợp chất HxCDD/F (<0,28 ng/g đất khô), các hợp chất HpCDD/F (< 0,56 ng/g đất khô), các hợpchất OCDD/F (< 7,07 ng/g đất khô)
a/ Đánh giá theo TCVN: Khi so sánh các giá trị i-TEQ với giới hạn cho
phép TCVN 8183:2009 (1 ng/g đất khô) thì các mẫu phân tích đều có giá
trị i-TEQ nằm dưới giới hạn cho phép Các mẫu lấy vào mùa khô thường cógiá trị i-TEQ cao hơn mùa mưa do có sự tích tụ lâu ngày trong đất, thấmsâu
b/ Đánh giá theo tiêu chuẩn Canada: Khi so sánh các giá trị i-TEQ theo
tiêu chuẩn Canada, CCME (0.004ng/g đất khô) thì: Giá trị i-TEQ của các
mẫu lấy tại vị trí 1,2,3,5,6,9 và 10 vào mùa khô thường cao hơn mùa mưa
và đều vượt ngưỡng giới hạn cho phép CCME Sự tồn dư của các hợp chấtkhó phân hủy có độc tính ở các khu vực nghiên cứu vào thời điểm lấy mẫu
ở mức độ cao hơn mức cho phép về độ độc ở quốc gia Canada