Đa dạng các loài cá và tác động làm thay đổi cấu trúc thành phần cũng như nguồn lợi cá các thủy vực thuộc tỉnh Sơn La Phan Văn Mạch, Nguyễn Kiêm Sơn Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh v
Trang 1Đa dạng các loài cá và tác động làm thay đổi cấu trúc thành phần cũng như nguồn lợi cá
các thủy vực thuộc tỉnh Sơn La
Phan Văn Mạch, Nguyễn Kiêm Sơn
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Tóm tắt
Tài nguyên nước mặt của toàn tỉnh Sơn La hàng năm vào khoảng 19 tỷ m3 chủ yếu từ nguồn nước mưa tích trữ vào hai hệ thống sông chính là: Sông Đà (đoạn chảy qua Sơn La dài 250 km); Sông Mã (đoạn chảy qua Sơn La dài 93 km) Bên cạnh 2 sông chính, tỉnh Sơn La còn có 35 con suối lớn, hàng trăm con suối nhỏ nằm trên địa hình dốc với nhiều thác nước Thành phần loài
cá trong hệ thống sông suối, hồ ao tỉnh Sơn La rất đa dạng và phong phú với khoảng có 157 loài thuộc 23 họ, 10 bộ Tuy nhiên, việc nghiên cứu khu hệ cá cũng như nuôi trồng và khai thác thủy sản tại đây còn rất hạn chế Do khai thác tài nguyên thủy sản quá mức, do các sông suối bị ngăn cách bởi các đập thủy điện lớn nhỏ, tác động của biến đổi khi hậu làm thay đổi mực nước các sông, suối mà các loài cá quý hiếm có giá trị kinh tế ngày một ít, giảm về số lượng cũng như kích
cỡ cá thể Các loài cá tự nhiên ưa nước chảy bị thay thế bởi các loài cá nuôi và cá ưa nước chảy chậm hoặc nước tĩnh
I Mở đầu
Thành phần loài cá trong hệ thống sông suối, hồ ao trong tỉnh rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, việc nghiên cứu khu hệ cá ở đây cũng như phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) và khai thác thủy sản (KTTS) còn rất hạn chế, ngay cả hồ Sơn la và hồ Hòa Bình thuộc địa phận Sơn
La cũng chưa phát triển Do khai thác tài nguyên thủy sản quá mức, do các sông suối bị ngăn cách bởi các đập thủy điện lớn nhỏ, tác động của biến đổi khi hậu làm thay đổi mực nước các sông, suối mà các loài cá quý hiếm có giá trị kinh tế ngày một ít, giảm về số lượng cũng như kích
cỡ cá thể Các loài cá tự nhiên ưa nước chảy bị thay thế bởi các loài cá nuôi và cá ưa nước chảy chậm hoặc nước tĩnh
II Tài liệu và phương pháp
Dựa trên các chuyến đi khảo sát thực địa ở hồ Hòa Bình (1989 -1991) và khảo sát đánh giá tác động môi trường của thủy điện Bản Chát, Huội Quảng năm 2001, 2003 (Nguyễn Kiêm Sơn,1991, 2001, 2003), và tham khảo tư liệu của các tác giả khác như Mai Đình Yên về khu hệ
cá sông Đà trước khi xây đập thủy điện Hòa Bình, Nguyễn Thị Hoa (luận án tiến sỹ sinh học năm 2011 ,, cũng như các chuyến khảo sát tháng 8/2011 và tháng 11/2012 qua tỉnh Hòa Bình, các huyện Phù Yên, Bắc Yên, Mai Sơn, Mường La, Sông Mã, Sốp Cộp, Tp.Sơn La, Mộc Châu tỉnh Sơn La Thông qua phỏng vấn người dân địa phương, ngư dân đánh bắt cá trên sông, suối và quan sát thành phần cá ở các chợ để biết rõ thêm về thành phần loài và sự suy giảm nguồn lợi cá
III Kết quả nghiên cứu
Trang 2III.1 Thành phần khu hệ cá ở các thủy vực thuộc tỉnh Sơn La
III.1.1 Hệ thống sông ngòi tỉnh Sơn La
Tài nguyên nước mặt của toàn tỉnh Sơn La hàng năm vào khoảng 19 tỷ m3 chủ yếu từ nguồn nước mưa tích trữ vào hai hệ thống sông chính là: Sông Đà bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc có lưu vực ở thuộc tỉnh Sơn La là 9.844 km2, đoạn chảy qua Sơn La dài 250 km, tổng lượng nước đến công trình thủy điện Sơn La là 47,6.109m3; Sông Mã bắt nguồn từ huyện Điện Biên và Tuần Giáo - Lai Châu Đoạn chảy qua Sơn La dài 93 km, có diện tích lưu vực 3.978
km2 Bên cạnh 2 hệ thống sông chính tỉnh Sơn La còn có 35 con suối lớn, hàng trăm con suối nhỏ nằm trên địa hình dốc với nhiều thác nước Với mật độ sông suối lớn ( 1,8 km/ km2) trên địa bàn tỉnh có 2 con sông lớn chảy qua là sông Đà và Sông Mã cùng hàng chục con suối lớn trải dài trên địa hình có độ dốc cao, là tiềm năng lớn để phát triển các công trình thuỷ điện lớn, vừa và nhỏ
Bên cạnh các công trình thủy điện lớn, có diện tích mặt nước hồ nhân tạo rộng như thủy điện Hòa Bình, Thủy điện Sơn La, thủy điện Nậm Chiến và thủy điện Huội Quảng Tỉnh Sơn là còn có tiềm năng về thủy điện vừa và nhỏ, tạo ra các hồ chứa với diện tích mặt nước trung bình
và nhỏ Theo số liệu tính toán của Viện Năng lượng, tại Sơn La có thể xây dựng 103 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ Trong đó, 18 công trình nằm trong quy hoạch toàn quốc và 95 điểm theo quy hoạch của tỉnh, tổng công suất lắp máy khoảng 480MW, sản lượng điện hằng năm 2 tỷ kwh
Tuy nhiên, các suối lớn đã đang bị cắt khúc mạnh mẽ bởi các đập thủy điện, nguồn nước
bị tích lại trên các hồ chứa nhân tạo theo kiểu bậc thang, rừng xung quanh công trình thủy điện bị chặt hạ, về lâu dài sẽ xảy ra hiện tượng sạt lở đất, lòng hồ bị lấp đầy dần Hiện tượng lũ quét, lũ lụt xảy ra do biến đổi khí hậu có thể tác động mạnh, ảnh hưởng đến các công trình thủy điện, mất nguồn lợi cá thiên nhiên do dòng chảy tự nhiên và chế độ thủy văn thay đổi Các dòng sông, suối nguyên sơ, không bị tác động hầu như không còn
III.1.2 Khu hệ cá sông suối, ao hồ tỉnh Sơn La
Kết quả thống kê các tư liệu đã có từ trước đến nay thì khu hệ cá vùng lưu vực sông Đà
cứ tăng dần lên Ban đầu mới thu thập được 10 loài (Vaillant, 1891), Mai Đình Yên mô tả 16 loài vào năm 1978 Trong các đợt khảo sát trước khi xây đập thủy điện Hòa Bình ghi nhận được 80 loài ở lưu vực sông Đà và vùng phụ cận; 28 loài cá suối ở vùng gần đập thủy điện Hòa Bình (thử đánh giá hậu quả sinh thái hồ sông Đà, báo cáo năm 1985) Tham khảo tài liệu điều tra ở hồ Hòa Bình sau khi ngập nước vào năm 1989-1990 trong báo cáo Hệ sinh thái hồ chứa nhân tạo Hòa Bình và quy hoạch sử dụng hợp lý (báo cáo vào năm 1991) phối hợp với phỏng vấn người dân địa phương đã lập được danh lục cá lên tới 112 loài
Vùng lòng hồ Hòa Bình sau khi tích nước chỉ thu thập được 25 loài cá trong thời gian
1989-1990 Trong số này chỉ có 5 loài ghi nhận được trên các suối là cá Chép (Cyprinus carpio),
cá Trôi (Cirrhina molitorella), cá Bỗng (Spinibarbichthys denticulatus), cá Lăng (Hemibagrus elongatus), cá Chát (Lissochilus krempfi) và có thể cả cá Chiên (Bagarius rutilus) Người dân cho
biết là vào mùa đẻ, loài cá Chiên ngược dòng nước lên các suối để đẻ trứng Đây là những loài có
Trang 3phân bố rộng, thích nghi được với chế độ thủy vực vừa có dòng chảy như ở suối và cả vùng nước chảy yếu hoặc nước đứng như vùng lòng hồ
Trong chuyến khảo sát tháng 8/2011 và tháng 11/2012 thì vùng chân đập hồ Hòa Bình
người dân khu vực đánh bắt được chủ yếu là các loài cá Chép (Cyprinus carpio) và cá Rô phi (Oreochromis mossambicus) Cá Chiên (Bagarius rutilus), cá Lăng (Hemibagrus elongatus) hầu
như rất hiếm gặp Chỉ có một số hộ dân thường xuyên làm nghề cá có đánh bắt được cá Lăng
(Hemibagrus elongatus) cỡ 1,5- 2kg/con (4 con) đem bán cho nhà hàng đặc sản, với giá khá cao (600.000 đồng/kg), cá Nheo (Silurus asotus) cỡ 3-4 kg/con (7 con) và 2 con cỡ 8-10 kg/con, còn
lại là cá Chép và cá Trắm cỏ
Đã ghi nhận có 80 loài cá ở lưu vực sông Đà xuống đến đập Hòa Bình trước khi ngập nước (1985), và 25 loài cá ở lòng hồ Hòa Bình sau khi tích nước vào năm 1989-1990 (Nguyễn Kiêm Sơn, 1991); 174 loài ở các nhánh sông suối thuộc hai tỉnh Sơn La và Lai Châu (Nguyễn Hữu Dực
và nnk, 2001) trong đó có tới 123 loài có được mẫu nghiên cứu hoặc ghi nhận được trong 2 năm khảo sát thực địa (1999-2000) Trong số 174 loài ghi nhận được, 99 loài sống ở sông, 102 loài sống ở suối, nhưng chỉ có 29 loài sống ở cả sông lẫn suối, vì thế thực chất chỉ có 75 loài cá chỉ sống trong suối và 70 loài chỉ sống ngoài sông Đến năm 2011, Nguyễn Thị Hoa đưa ra danh sách
242 loài cá trên lưu vực sông Đà, thống kê riêng các thủy vực thuộc tỉnh Sơn La có 116 loài Dòng Nậm Mu có hai bậc thang thủy điện là Bản Chác và Huội Quảng Phần mặt nước hồ thủy điện Huội Quảng chủ yếu thuộc địa phận huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, nhưng phận cuối
hồ vẫn nằm trên ranh giới Mường La, tỉnh Sơn La, vì thế khu hệ cá Nậm Mu trước khi tích nước vẫn là cá sông, cá suối Cá vùng này chủ yếu là cá thuộc khu hệ cá sông Đà, mà hiện nay thuộc lòng hồ Hòa Bình, hồ Sơn La bao gồm một số loài như cá Trôi, cá Chép, cá Diếc, cá Cháo, cá Xảm, cá Mương, cá Thiểu gù (cá Ngão), cá Dầu sông gai dài, cá Chày mắt đỏ, cá Hỏa, cá Dầm xanh, cá Đo, cá Sứt môi, cá Lun, cá Mọm, cá Sỉnh, cá Đát, cá Chát, cá Cấy, cá Bỗng, cá Rai, cá Đục đanh chấm hải nam, cá Chiên, cá Lăng, cá Huốt, cá Chốt, cá Ngạnh, cá Chạch bùn, cá Chạch hoa, cá Chạch suối, cá Chạch đá sa pa, cá Bám đá có khuyết, cá Chạch sông, cá Bống Ngoài các loài cá sông, cá suối còn có các loài cá nuôi như cá Trắm cỏ, cá Trê, cá Trê lai, cá Trôi ấn mrigal, rohu, cá Mè trắng, cá Mè hoa, cá Rô phi vằn, cá Chim trắng nước ngọt Toàn vùng Nậm Mu phần phía trên Huội Quảng (Khoen On) có 50 loài cá
Sau khi tích nước, trong thời gian từ 1989 đến 1991 chỉ bắt gặp có 25 loài cá trong tổng
số 94 loài cá thuộc khu vực sông Đà thống kê được trước khi xây dựng đập thủy điện, nhưng 3 loài chỉ ghi nhận được ở phần dưới chân đập thủy điện Hòa Bình, nên hiện tại chỉ tính 91 loài Điều này cũng diễn ra tương tự đối với hồ chứa nhân tạo thủy điện Sơn La sau khi tích nước Đó
là các loài cá Chép (Cyprinus carpio), Cá Măng (Elopichthys bambusa) cá Sỉnh gai (Onychostoma laticeps), cá Anh vũ (Semilabeo obscurus), cá Dầm xanh (Bangana lemassoni), cá Bỗng (Spinibarbichthys denticulatus), cá Chát (Poropuntius krempfi), cá Măng nhồng (Luciobrama macrocephalus), cá Trắm đen (Mylopharyngodon piceus), cá Chày (Squaliobarbus
Trang 4curriculus), cá Măng đậm (Elopichthys bambusa), cá Chày chàng (Ochetobius elongatus), cá Dầu sông gai dài (Pseudohemiculter serrata), cá Thiểu gù (cá Ngão) (Erythroculter recurvirostris), cá Mương (Hemiculter leucisculus), cá Tép dầu (Pseudohemiculter hainanensis), cá Mè trắng (Hypophthalmichthys harmandi), cá Nheo (Silurus asotus), cá Lăng (Hemibagrus elongatus), cá Chiên (Bagarius bagarius), cá Bống suối đầu ngắn (Philypnus chalmersi), cá Chạch sông (Mastacembelus armatus), cá Mè hoa (Aristichthys nobilis), cá Trắm cỏ (Ctenopharyngodon idella), cá Ngạnh (Cranoglanis henrici) Nhưng trong đợt khảo sát tháng 8/2011 trên hồ Hòa Bình chỉ thấy 7 loài chính là cá Chép (Cyprinus carpio), cá Trắm cỏ (Ctenopharyngodon idella),
cá Rô phi thường (Oreochromis mossambicus), cá Nheo (Silurus asotus), cá Lăng (Hemibagrus elongatus), cá Bò (Pelteobagrus fulvidraco), cá Ngạnh (Cranoglanis henrici) Trên vùng lòng hồ
Sơn La tại huyện Quỳnh Nhai sau khi nhập nước bắt gặp chủ yếu là các loài cá nổi như cá Tép dầu sông gai dài, cá Thiểu gù (cá Ngão), cá Mương, cá Tép dầu với số lượng lớn Cá Chiên trước đây thường xuyên khai thác được bán nhiều tại các chợ trong khu vực thì nay hầu như không bắt gặp thấy Cá Lăng đôi khi vẫn còn bắt gặp, cá Ngạnh và cá Bò có xu hướng tăng lên so với thời
kỳ đầu ngập nước Sự sụt giảm nguồn lợi cá ở hồ Hòa Bình, cũng như hồ Sơn La có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do khai thác quá mức và xây dựng các bậc thang thủy điện trên thượng nguồn, làm mất đi đường di cư, ngăn chặn quá trình sinh sản hoặc mất các bãi kiếm ăn và bãi đẻ Nhận thấy rõ nhất là không thấy cá Trôi và cá Chiên Trước đây, đoạn sông Đà chảy qua địa phận xã Liệp Tè, huyện Thuận Châu nhiều cá Lăng, cá Chiên Vào mùa lũ lớn, nước sông Đà đặc quánh bùn đất, lại chảy như thác, khiến các loài cá yếu cứ trương bụng nổi lều phều vì sặc, thế là người dân Liệp Tè chỉ việc mang vợt ra đón lõng ở bờ sông để xúc Có ngày đồng bào xúc được cả tấn cá, đổ trắng bãi cát Những loài cá quý ở khúc sông này như nhồng, quất, dầm xanh, lăng, chiên nhiều vô kể
Như vậy khu hệ cá sống trong các thủy vực sông, suối, ao, hồ của tỉnh Sơn La có 157 loài
thuộc 23 họ, 10 bộ (bảng 1) Số loài đang phát triển nuôi và tương lai có thể phát triển NTTS lên
tới 20 loài, nhưng hiện nay đang nuôi 11 loài Số loài cá kinh tế có khoảng 36 loài, nhưng số lượng và sản lượng giảm đi đáng kể Trên lưu vực sông Đà (Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình) cá tự nhiên bị giảm 30% về thành phần loài trong tổng số 144 loài và giảm 50% sản lượng cá tự nhiên (Ngô Sỹ Vân, Phạm Anh Tuấn, 2005)
Bảng 1 Khu hệ cá các thủy vực thuộc tỉnh Sơn La
dọa
1 Cá Tầm xi bê ri Acipenser baerii Brandt, 1869 EN (IUCN)
2 Cá Tầm sterlet Acipenser ruthenus Linnaeus, 1758 VU (IUCN)
Trang 53 Cá Chình hoa Anguilla marmorata Quoy & Gaimard,1824 VU (SĐVN)
4 Cá Sóc, tép lá mạ Oryzias latipes (Temminck & Schlegel, 1846)
5 Cá Chim trắng nước
ngọt Colossoma branchypomum (Cuvier,1818)
6 Cá Chạch suối Micronemacheilus taeniatus (Pellegrin &
Chevey, 1936)
7 Cá Vây bằng nà rì Homaloptera disparis (Lin, 1934)
8 Cá Bám đá vân nam Homaloptera yunnanensis Chen, 1978
9 Cá Bám đá có khuyết
sông Đà Beaufortia daon (Mai, 1978)
10 Cá Bám đá có khuyết Beaufortia leveretti (Nichols & Pope, 1927)
11 Cá Chạch đá Schistura fasciolata (Nichols và Pope, 1927)
12 Cá Chạch sa pa Schistura chapaensis (Rendahl, 1944)
13 Cá Chạch đá spilo Schistura spiloptera (Valenciennes, 1846)
14 Cá Chạch trần sơn la Oreias sonlaensis Nguyen T.H, Nguyen V.H,
T.T.Hoang, 2010
15 Cá Chạch trần ba sọc Oreias trilineatus Nguyen T.H, Nguyen V.H,
T.T.Hoang, 2010
16 Cá Vây bằng cao bằng Vanmanenia caobangensis V.H.Nguyen,
2005
17 Cá Vây bằng vẩy nhỏ Vanmanenia microlepis V.H.Nguyen, 2005
18 Cá Vây bằng bốn thùy Vanmanenia tetraloba (Mai, 1978)
19 Cá Chạch hoa Acantopsis arenae (Lin, 1934)
20 Cá Chạch đốm hoa tròn Cobitis taenia Linnaeus, 1758
21 Cá Chạch bùn Misgurnus anguillicaudatus (Cantor, 1842)
22 Cá Chạch bùn núi Misgurnus tonkinensis Rendahl, 1937
23 Cá Diếc Carassius auratus Linnaeus, 1758
24 Cá Rưng Carassioides cantonensis cantonensis
(Heincke,)
25 Cá Chép Cyprinus carpio Linnaeus, 1758
26 Cá Lợ thân cao Cyprinus hyperdorsalis Hảo, 1969
27 Cá Măng Elopichthys bambusa (Richardson, 1844) VU (SĐVN)
28 Cá Mọm phong thổ Scaphiodonichthys microcorpus (V.H.Nguyen
& L.H Doan, 1969)
29 Cá Pin, cá Mọm Scaphiodonichthys acanthopterus (Fowler,
1934)
30 Cá Sỉnh Onychostoma gerlachi (Peters, 1881)
31 Cá Khính, cá Sỉnh Onychostoma fangi, Kottelat, 2000
32 Cá Pang Scaphiodonichthys macracanthus (Pellegrin
Trang 6& Chevey, 1936)
33 Cá Sỉnh gai Onychostoma laticeps Gunther, 1868
34 Cá Phao Varichorhinus (Scaphestes) lepturus
(Boulenger, 1899)
35 Cá Đát đỏ Varichorhinus (Scaphestes) erythrogenys
V.H.Nguyen & L.H.Doan, 1969
36 Cá Đo Garra poilanei (Petit & Chang, 1933)
37 Cá Sứt môi Garra bourreti Pellegrin, 1928
38 Cá Mỡ Garra laichowensis Hảo và Hoa, 1969
39 Cá Mỡ mõm ngắn Garra obturostris Yen, 1978
40 Cá Mỡ miệng tròn Garra cyclostoma Yen, 1978,
41 Cá Lun Garra caudofasciata (Pellegrin và Chevey,
1936)
42 Cá Mỡ giác miệng
43 Cá Anh vũ Semilabeo notabilis Peters, 1880
45 Cá Dầm xanh Bangana lemassoni (Pellegrin & Chevey,
46 Cá Rô hu Labeo rohita (Hamilton,1822)
47 Cá Vân nam Labeo yunnanensis Chaudburhi, 1911
48 Cá Dầm đất Osteochilus salsburyi Nichols và Pope, 1927
49 Cá Trôi Cirrhina molitorella (Cuvier và Valenciennes,
1844)
50 Cá Trôi mrigal Cirrhinus mrigala (Hamilton, 1822))
51 Cá Chày đất Spinibarbus hollandi Oshima, 1919
52 Cá Chày Squaliobarbus curriculus (Richardson, 1846)
53 Cá Bỗng Spinibarbichthys denticulatus Oshima, 1926
54 Cá Hỏa Bangana tonkinensis (Pellegrin & Chevey,
1934)
55 Cá Pạo Labeo graffeuilli (Pellegrin và Chevey, 1936)
56 Cá Cấy Parator macracanthus (Pellegrin và Chevey,
1936)
57 Cá Cầy chấm Tor zonatus (Lin, 1935)
58 Cá Hoa Cyclocheilichthys iridescens Nichols và Pope,
1927
59 Cá Chát sô Acrossocheilus brevispinus (V.H.Nguyen &
L.H.Doan, 1969)
60 Cá Chát sọc Lissochilus laocaiensis Hảo và Hoa, 1969,
61 Cá Chát vạch Acrossocheilus clivosius (Lin, 1935)
62 Cá Rai Neolissochilus benasi (Pellegrin & Chevey,
1969)
63 Cá Mi Neolissochilus namlenensis (V.H.Nguyen &
L.H.Doan, 1969)
64 Cá Chát Poropuntius krempfi (Pellegrin & Chevey,
1934)
65 Cá Chát vằn Acrossocheilus microstomus (Pellegrin và
Trang 7Chevey, 1936)
66 Cá Đong chấm Puntius ocellatus Mai, 1978
67 Cá Đòng đong Puntius semifasciolatus (Gunther, 1868)
68 Cá Ngộ Hemibarbus maculatus Bleeker, 1871
69 Cá Lổ Hemibarbus lehoai V.H.Nguyen, 2001
70 Cá Linh Hemibarbus cf umbrifer (Lin, 1931)
71 Cá Măng nhồng Luciobrama macrocephalus Lacepede, 1803
72 Cá Trắm đen Mylopharyngodon piceus (Richardson, 1846)
73 Cá Cháo Opsarichthys uncirostris (Schlegel, 1842)
74 Cá Xảm mắt to Barilius macropterus Hảo và Hoa
75 Cá Xảm mắt bé Barilius nammuensis (V.H.Nguyen &
L.H.Doan, 1969)
76 Cá Xảm sét Opsarius pulchellus (Smith, 1931)
77 Cá Dầm suối thường Nicholsicypris normalis (Nichol & Pope,
1927)
78 Cá Chuôn Parazacco spilurus (Gunther, 1868)
79 Cá Mại sọc Rasbora cephalotaenia steineri Nichols và
Pope, 1927
80 Cá Mại bạc Rasborinus formosae Oshima, 1920
81 Cá Măng đậm Elopichthys bambusa (Richardson, 1844)
82 Cá Chày chàng Ochetobius elongatus (Kner, 1867)
83 Cá Thiên hô sông Pseudolaubuca sinensis Bleeker, 1864
84 Cá Dầu sông gai dài Pseudohemiculter serrata (Koller, 1927)
85 Cá Thiểu mắt to Ancherythroculter daovantieni (Banarescu,
1967)
86 Cá Thiểu gù Culter flavipinnis Tirant,1883
87 Cá Thiểu trung hoa Erythroculter ilishaeformis (Bleeker, 1871)
88 Cá Thiểu Culter erythropterus (Basilewskii, 1855)
89 Cá Dầu hồ Toxabramis swinhonis Gunther, 1873
90 Cá Mương Hemiculter leucisculus (Basilewskii, 1855)
91 Cá Mại, cá Mại bầu Rasborinus lineatus (Pellegrin, 1907)
92 Cá Tép dầu Pseudohemiculter hainanensis (Nichols và
Pope),
93 Cá Dầu sông thân
mỏng Pseudohemiculter dispar (Peters, 1880)
94 Cá Vền dài Megalobrama hoffmanni Herre và Myers,
1931
95 Cá Vền Megalobrama terminalis (Richardson, 1846)
96 Cá Vền Megalobrama skolkovii Dybowsky, 1872
97 Cá Nhác Sinibrama affinis (Vaillant, 1891)
98 Cá Nhàng Xenocypris argentea Gunther, 1868
99 Cá Mần Xenocypris davidi Bleeker, 1871
100 Cá Mè trắng Việt Nam Hypophthalmichthys harmandi Sauvage, 1884
101 Cá Mè trắng trung hoa Hypophthalmichthys molitrix (Sauvage, 1884)
102 Cá Mè hoa Aristichthys nobilis (Richardson, 1844)
103 Cá Trắm cỏ Ctenopharyngodon idella (Cuvier và
Valenciennes, 1844)
Trang 8104 Cá Bướm Rhodeus ocellatus (Kner, 1867)
105 Cá Thè be Acheilognathus aff meridianus (Wu, 1939)
106 Cá Thè be thường Acanthorhodeus tonkinensis Vaillant, 1892
107 Cá Nhọ chảo Sarcocheilichthys nigripinnis (Gunther, 1873)
108 Cá Đục trắng mỏng Squalidus argentatus (Sauvage & Dabry,
1874)
109 Cá Đục trắng dày Squalidus chankaensis vietnamensis P
Banarescu và T Nalbant, 1964
110 Cá Đục đanh chấm đại Microphysogobio giganteus (Mai, 1978)
111 Cá Đục đanh chấm hải
nam
Microphysogobio kachekensis (Oshima,
1926)
112 Cá Đục đanh chấm râu Microphysogobio labeoides (Nichol & Pope,
1927)
113 Cá Đục đanh đốm Saurogobio dabryi Bleeker, 1871
114 Cá Đục râu Gobiobotia kolleri Banarescu & Nalbant,
1966
Bộ cá Bạc đầu, cá Sóc Cyprinodontiformes
115 Cá ăn muỗi Gambusia affinis (Gaird & Birard, 1853)
116 Cá Bảy màu Poecilia reticulata Peters, 1860
117 Cá Lăng chấm Hemibagrus guttatus (Lacepede, 1803) VU (SĐVN)
118 Cá Lăng Hemibagrus hongus Yen, 1978,
119 Cá Huốt Hemibagrus vietnamicus Yen, 1978
120 Cá Chốt Hemibagrus pluriradiatus (Vaillant, 1904)
121 Cá Mầm Pseudobagrus vachelli (Richardson, 1846)
122 Cá Bò, cá Bò vàng Pelteobagrus fulvidraco (Richardson, 1846)
123 Cá Mịt Pseudobagrus virgatus Oshima, 1926
124 Cá Trê Clarias fuscus (Lacepede, 1803)
125 Cá Trê phi Clarias gariepinus Burchell, 1882
126 Cá Ngạnh Cranoglanis henrici (Vaillant, 1893)
127 Cá Nheo Silurus asotus Linnaeus, 1758
128 Cá Nheo lạng sơn Silurus meridionalis Chen, 1977
129 Cá Thèo Pterocryptis cochinchinensis (C-V, 1839)
130 Cá Niết thường Pterocryptis gilberti (Hora, 1938)
131 Cá Chiên bẹt Pareuchiloglanis macrotrema (Norman,
1925)
132 Cá Chiên Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2000 VU (SĐVN)
133 Cá Chiên thác Pseudecheneis paviei (Vaillant, 1904)
134 Cá Chiên suối sọc trắng Glyptothorax pallozonum (Lin, 1934)
135 Cá Chiên suối Glyptothorax hainanensis (Nichols và Pope,
Trang 91927)
136 Cá Chiên suối con Glyptothorax minutum (Mai, 1978)
137 Cá Chiên suối bốn mắt Glyptothorax quadriocellatum (Mai, 1978)
138 Cá Chiên bẹt đuôi ngắn Pareichiloglanis brevicaudatus V.H.Nguyen,
2005
139 Cá Chiên bẹt thường Pareichiloglanis macrotrema (Norman, 1925)
140 Cá Chiên thác bẹt Oreoglanis delacouri (Pellegrin, 1936)
141 Cá Rô, pa Rô phi nam Anabas testudineus (Bloch, 1782)
142 Cá Chuối suối Channa orientalis (Bloch và Schneider, 1822)
143 Cá Chuối Channa maculata (Lacepede, 1802) EN (SĐVN)
144 Cá Xộp, cá Quả, cá Lóc Channa striata (Bloch, 1793)
145 Cá Rô phi thường Oreochromis mossambicus (Peters, 1852)
146 Cá Rô phi vằn Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758)
147 Cá Diêu hồng Oreochromis niloticus X O mossambicus
148 Cá Bống suối đầu ngắn Philypnus chalmersi (Nichols và Pope, 1927)
149 Cá Bống trắng Glossogobius giuris (Hamilton & Buchanan,
1822)
150 Cá Bống đá Rhinogobius giurinus (Rutters, 1897)
Họ cá Tai tượng, cá
151 Cá Đuôi cờ, pa Đí Macropodus opercularis Linnaeus, 1758
152 Cá Sặc bướm Trichogaster trichopterus (Pallas, 1770)
153 Cá Rô mo thân cao Siniperca chuatsi (Basilewskii, 1855)
154 Cá Rô mo thường Coreoperca whiteheadi Boulenger, 1899
155 Cá Hồi vân N Oncorhynchus mykiss (Walbaum, 1792)
156 Cá Chạch sông Mastacembelus armatus (Lacepede, 1800)
157 Lươn Monopterus albus (Zuiew, 1793)
Tổng Ghi chú: - Cột Mức độ đe dọa theo sách đỏ Việt Nam năm 2007: EN (Endangered) - Nguy cấp;
VU (Vulnerable) - Sẽ nguy cấp
Trong thành phần cá các thủy vực tỉnh Sơn La, thống kê có 9 loài cá quý hiếm ghi trong sách đỏ Việt nam năm 2007 và danh lục đỏ của IUCN năm 2009 Trong đó, theo sách đỏ Việt
Nam năm 2007 có 6 loài gồm 1 loài bậc EN (Endangered) - Nguy cấp (cá chuối hoa Channa
Trang 10maculatua); 6 loài bậc VU (Vulnerable) - Sẽ nguy cấp (Cá Măng Elopichthys bambusa, cá Chình hoa Anguilla marmorata, Cá anh vũ Semilabeo obscurus, Cá rầm xanh Semilabeo lemassoni, Cá
lăng Hemibagrus guttatus và Cá chiên Bagarius rutilus Theo danh lục đỏ của IUCN có hai loài là
Cá Tầm xi bê ri Acipenser baerii, cá Tầm sterlet Acipenser ruthenus là cá nuôi nhập nội trong thời gian mới đây
III.1.3 Khả năng khai thác, nuôi trồng và bảo vệ đa dạng thành phần loài cá của tỉnh Sơn
La
Sơn La có trên 3 vạn ha mặt nước để phát triển nuôi trồng thủy sản, trong đó hồ Hòa Bình
là gần 9.000 ha, hồ chứa thủy điện Sơn La 22.400 ha, hồ thủy điện Huội Quảng 870 ha… Đất sông suối, mặt nước chuyên dụng là 20.747 ha
Hồ Tiền Phong, một địa danh hấp dẫn khách du ngoạn trên mặt hồ bằng thuyền chèo tay, thuyền đạp chân hay thuyền máy và cũng là nơi câu cá giải trí Nhiều loài cá có mặt tại hồ như cá Chép, cá Trắm cỏ, cá Trắm đen, cá Trôi, cá Mè
Hồ Chiềng Khoi rộng 40 ha cũng là nơi du ngoạn hấp dẫn Tại đây có các loài cá tự nhiên như cá Chép, cá Mương, cá Quả, cá Trê, cá Diếc và nhiều loài tôm, cua, ếch
Sơn La đã phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS) từ nhiều năm nay, nhưng đối tượng chủ yếu vẫn là một số loài thủy sản nước ấm thông thường như cá Mè, cá Trôi, cá Trắm, cá Chép, cá Rô phi Cũng giống như phần lớn địa phương miền núi khác trong cả nước, nghề cá vẫn bị coi là hoạt động kinh tế thứ yếu, là “nghề phụ” Năm 2010, tổng sản lượng thủy sản của
cả tỉnh ước đạt 5.500 tấn, trong đó có 4.800 tấn thủy sản nuôi, 700 tấn thủy sản khai thác tự nhiên Thực tế sản lượng thủy sản năm 2010 đạt 5252,17 tấn
Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của tỉnh Sơn La đạt 2.420 ha (đất nuôi trồng thủy sản 2.589 ha) với sản lượng nuôi trồng và đánh bắt năm 2011 đạt 5.343 tấn, tăng 1,7% so với năm 2010 Nhiều mô hình nuôi các loại thủy sản có hiệu quả kinh tế cao đang được tiếp tục nhân rộng như mô hình nuôi cá Hồi, tôm Càng xanh, nuôi cá trong ruộng lúa….(báo điện tử Sơn La, ngày 26/12/2011)
Hiện nay, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu Việt Nam (VASEP) đánh giá, rằng hồ thủy điện Sơn La có điều kiện tốt nhất Việt Nam để phát triển cá nước lạnh và các loại cá đặc hữu phục vụ cho xuất khẩu có giá trị kinh tế cao như cá Tầm Hiện nay, đã có 2 đơn vị đầu tư nuôi cá Tầm trên vùng lòng hồ thủy điện Sơn La đó là : HTX Hạnh Lợi đầu tư 24 lồng, diện tích 18m2/lồng, nuôi gần 3.000 con cá Tầm, ở khu vực gần cầu Pá Uôn, sau gần 1 năm, trọng lượng bình quân đạt
từ 2 đến 2,5kg/con và Công ty cổ phần đầu tư phát triển Lai Châu đã thả 10 lồng cá diện tích 177m2/lồng, bước đầu thả gần 2.000 cá Tầm giống Dự kiến trong năm 2012, Công ty sẽ đầu tư tiếp 200 lồng tròn trên hồ thủy điện Sơn La khu vực gần đập thủy điện Sơn La Trên đỉnh 30 thượng nguồn Nậm Păm cũng có một cơ sở đang nuôi thử nghiệm 2.700 con cá Hồi cỡ 0,2-0,5 kg/con trong bể xi măng nhân tạo với dòng nước suối tự chảy
Cùng với sự hình thành hồ thuỷ điện Sơn La, chính quyền huyện Quỳnh Nhai và các địa phương khác của Sơn La đã hướng dẫn người dân nuôi cá lồng để tăng thu nhập Mới đây, tại xã