1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẬN DỤNG KIẾN THỨC về PHƯƠNG THÚC sản XUẤT GIỚI THIỆU về một LÀNG NGHỀ mà EM BIẾT

16 969 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 40,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi sản phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ là những vật phẩm sinh hoạt bình thường hàng ngày mà nó còn là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng của nền văn hóa dân tộc, thể hiện mức

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Được sự hướng dẫn, giảng dạy chu đáo ân cần, đầy trách nhiêm của cô

giảng viên TS TRẦN THỊ THU GIANG.

Tên em là: PHẠM THỊ YẾN Sinh viên lớp : TR18.04 Sau một khoảng

thời gian nghiên cứu và tìm hiểu, em đã hoàn thành bài tiểu luận có đề tài

như sau:

“ VẬN DỤNG KIẾN THỨC VỀ PHƯƠNG THÚC SẢN XUẤT GIỚI THIỆU

VỀ MỘT LÀNG NGHỀ MÀ EM BIẾT”

Tuy nhiên trong quá trình làm bài, em vẫn còn những sơ suất mong cô góp ý sửa để em có thế hoàn thành một cách xuất sắc đề tài

Em xin chân thành cảm ơn !

Sinh viên:

Phạm Thị Yến

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Lịch sử phát triển nền văn hóa cũng như lịch sử phát triển nền kinh tế của

nước ta luôn gắn liền với lịch sử các lành nghề truyền thống Việt Nam Bởi sản phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ là những vật phẩm sinh hoạt bình thường hàng ngày mà nó còn là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng của nền văn hóa dân tộc, thể hiện mức độ phát triển kinh tế, trình độ dân trí, đặc điểm nhân văn của dân tộc, đồng thời các lành nghề truyền thống không chỉ sản xuất ra những sản phẩm hàng hóa bình thường Làng nghề là cả một môi trường văn hóa- kinh tế- xã hội và công nghệ truyền thống lâu đời Nó bảo lưu những tinh hoa văn hóa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác, với những sản phẩm có những bản sắc riêng của mình, nhưng lại tiêu biểu và độc đáo của cả dân tộc Việt Nam

Làng nghề truyền thống phát triển không những thúc đẩy du lịch phát

triển mà còn góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương, giải quyết công ăn việc

làm cho người lao động, cải thiện đời sống nhân dân, xóa đói giảm

nghèo, góp phần giảm bớt các tệ nạn xã hội Đồng thời cũng góp phần quan

trọng vào việc khôi phục, bảo tồn phát triển một cách tốt nhất, tối đa các giá trị của làng nghề

Trong những năm gần đây, nền kinh tế đang trên đà phát triển quá trính công nghiệp hóa hiện đại hóa diễn ra với tốc độ ngày càng cao…trước tình hình đó thì các làng nghề truyền thống Việt Nam cũng phát triển theo những chiều hướng khác nhau Bên cạnh đó với xu thế phát triển và hội nhập kinh tế thế giới

rất nhiều làng nghề ở Việt Nam nói chung và Bắc Ninh nói riêng đã được

khôi phục và phát triển đảm bảo được đời sống, đáp ứng được mong muốn

của nhân dân các làng nghề truyền thống đó là bảo tồn và phát triển tốt nghề

nghiệp của cha ông trao truyền và có thể làm giàu ngay trên mảnh đất của

Trang 3

quê hương.Mặt khác, làng nghề truyền thống

là một trong số những đối tượng đang được quan tâm khai thác nhằm đem lại hiệu quả kinh tế góp phần xây dựng đất nước Một trong số những làng nghề đang được quan tâm

và xem xét đầu tư để đưa và khai thác phục vụ làng nghề truyền thống

Đồng Kỵ Đây là một làng nghề chuyên chế biến gỗ có từ lâu đời tại xã

Đồng Quang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nơi có rất nhiều điều kiện thuận

lợi để phát triển Chính từ những nguyên nhân trên đã khiến tôi mạnh dạn

lựa chọn đề tài: “vận dụng kiến thức về phương thức sản xuất giới thiệu về làng nghề gỗ đồng ky” Thông qua việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn về làng nghề truyền thống đồ gỗ đồng kỵ , từ vị trí làng nghề, nguồn gốc, sự phát triển, sản phẩm của làng nghề, những giá trị làng nghề mang lại từ đó giúp chúng tôi hệ thống hóa kiến thức mà chúng tôi tìm hiểu nghiên cứu, bổ sung thêm vốn hiểu biết của mình Và những thực trạng phát triển chúng có thể đưa ra nhận định, đánh giá của mình và đưa ra các giải pháp trong việc bảo vệ, bảo tồn các giá trị của làng nghề cũng như bải tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc

Để hoàn thành đề tài này, em sử dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và

chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở lý luận để giới thiệu làng nghề Đồng Kỵ từ góc nhìn triết học:

Chủ nghĩa duy vật lịch sử yêu cầu nhìn nhận sự vật hiện tượng trong

quá trình hình thành, phát triển và tiêu vong Nghiên cứu chúng phải đặt trong giai đoạn lịch sử nhất định trên quan điểm kế thừa và phát triển Việt

Nam là nước có bề dày lịch sử với hàng ngàn năm phát triển với những làng nghề trăm năm tuổi Tiềm năng phát triển làng nghề ở Việt Nam là rất lớn

Làng nghề Đồng Kỵ cũng có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nhưng chưa được khai thác một cách có hiệu quả Để có thể khai thác làng

nghề này 1 cách hiệu quả và hợp lý, chúng ta cần đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể của đất nước và xu thế phát triển của thời đại Chính vì vậy chúng ta cần nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử để đề tài mang

tính khoa học và logic

Trang 4

Chủ nghĩa duy vật biện chứng yêu cầu nhìn nhận các sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng, qua lại với nhau Tức mọi sự vật hiện

tượng không tồn tại độc lập, tách rời mà luôn tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau Nghĩa là khi xem xét sự vật, hiện tượng xã hội cần đặt trong mối quan hệ toàn diện với điều kiện kinh tế xã hội đang vận động biến đổi trên địa bàn nghiên cứu Trong bài, em cũng xét đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ biện chứng với sự biến đổi không ngừng của điều kiện kinh tế, văn hoá, xã

hội, dân cư địa phương và đất nước trong thời kỳ đổi mới ngày nay

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất

1.1 Phương thức sản xuất

Phương thức sản xuất là cách thức mà con người dùng để làm ra của cải vật chất cho mình trong một giai đoạn lịch sử nhất định, theo cách đó con người có những quan hệ nhất định với tự nhiên và có những quan hệ nhất định với nhau

trong sản xuất vật chất

Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một phương thức sản xuất đặc trưng nhất định

và theo đó có một phương thức sinh hoạt xã hội nhất định

Các phương thức sản xuất trong lịch sử được thay thế lẫn nhau một cách tất yếu khách quan bằng các cuộc cách mạng xã hội Khi phương thức sản xuất mới

ra đời, thì toàn bộ kết cấu kinh tế, kết cấu giai cấp, xã hội, các quan điểm tư tưởng chính trị, pháp luật, đạo đức cùng các thiết chế tương ứng của nó như nhà nước, đảng phái, v.v cũng thay đổi

Trang 5

Phương thức sản xuất là sự thống nhất hữu cơ của hai mặt: Lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất

1.2 Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động (sức khoẻ thể chất, kinh nghiệm, kỹ năng, tri thức lao động của họ) với tư liệu sản xuất mà trước hết là

công cụ lao động để tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định

Lực lượng sản xuất do con người tạo ra nhưng mang tính khách quan Nó biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Lực lượng sản xuất nói lên năng lực hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên Nó là sản phẩm của sự kết hợp giữa lao động sống và lao động quá khứ

Lực lượng sản xuất là tiêu chí quan trọng nhất để chỉ ra những nấc thang của

sự tiến bộ xã hội vì các chế độ kinh tế khác nhau ở chỗ, nó sản xuất bằng cách

nào, với công cụ lao động nào

Trong lực lượng sản xuất gồm ba yếu tố cơ bản: con người - người lao động với thể lực, học vấn, kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ lao động; tư liệu lao động

(gồm công cụ lao động và đối tượng lao động) Các yếu tố trong lực lượng sản xuất không thể tách rời nhau, chúng có quan hệ hữu cơ với nhau trong đó yếu tố con người - người lao động giữ vị trí hàng đầu, tư liệu sản xuất đóng vai trò rất quan trọng

Ngày nay khoa học - kỹ thuật ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội Điều này thể hiện ở chỗ, khoa học đã thẩm thấu vào tất cả quy trình lao động, đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, quản lý sản xuất, trong chế tạo, cải tiến công cụ lao động, v.v

1.3 Quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là những quan hệ cơ bản giữa người với người trong quá

trình sản xuất vật chất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) thể hiện ở quan hệ về mặt

Trang 6

sở hữu đối với tư liệu sản xuất, ở quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ về mặt phân phối sản phẩm sản xuất ra Như vậy, quan hệ sản xuất gồm ba

quan hệ:

- Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất;

- Quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất;

- Quan hệ phân phối sản phẩm sản xuất

Ba quan hệ trên trong quan hệ sản xuất thống nhất với nhau Tuy nhiên, trong

ba quan hệ này thì quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất đóng vai trò quyết định Bởi lẽ, ai nắm tư liệu sản xuất trong tay, người ấy sẽ quyết định việc tổ chức, quản

lý sản xuất cũng như phân phối sản phẩm Chính quan hệ sở hữu cũng quy định tính đặc trưng cho từng quan hệ sản xuất của từng xã hội Do vậy, quan hệ sản

xuất là tiêu chí quan trọng để phân biệt hình thái kinh tế - xã hội này với hình thái kinh tế - xã hội khác Mặc dù vậy, quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm có ảnh hưởng quan trọng tới quan hệ sở hữu Chúng có thể góp phần củng cố hoặc phá hoại quan hệ sở hữu

Quan hệ sản xuất mang tính khách quan, nó được hình thành trong quá trình phát triển lịch sử không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản quyết định tất cả các quan hệ xã hội khác của con

người

Trang 7

CHƯƠNG 2 : VẬN DỤNG

1 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG GỖ ĐỒNG KỴ

1 1 Vị trí địa lý làng nghề Đồng Kỵ

Từ trung tâm thành phố Hà Nội theo đường quốc lộ 1A tới km 18 rẽ

trái đi chừng 2km là tới làng Đồng Kỵ - xã Đồng Quang - thị xã Từ Sơn –

tỉnh Bắc Ninh Xã Đồng Quang tiếp giáp với thị xã Từ Sơn, nằm cạnh xã

Phù Khê Làng gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ thuộc xã Đồng Quang có lịch sử phát

triển lâu đời, trải qua bao thăng trầm của thời gian cũng như sự biến đổi của

đất nước Tới năm 1986, làng nghề được khôi phục và phát triển, hiện nay

sản phẩm của làng nghề đang ngày càng khẳng định được vị trí của mình

trên thị trường trong và ngoài nước

Đồng Kỵ có diện tích tự nhiên 340 ha, tính tới năm 2008 toàn bộ làng

nghề có 2832 hộ dân với số dân gần 14000 người trong đó có 6000 người

đang ở độ tuổi lao động Hiện nay Đồng Kỵ là làng có số lượng doanh nhân

nhiều nhất trong toàn tỉnh với khoảng 500 giám đốc, phó giám đốc Tốc độ

phát triển ở đây đạt tới mức độ đáng kinh ngạc, doanh thu của làng nghề đạt

khoảng 160 – 180 tỷ đồng/ năm, trong đó xuất khẩu chiếm 80- 85% Đây là

một con số không nhỏ đối với một làng nghề

1.2 Lịch sử làng nghề Đồng Kỵ

Nghề mộc tồn tại ở Việt Nam khá lâu đời và tồn tại ở rất nhiều làng

quê Một trong những làng nghề có lịch sử lâu đời đó là làng gỗ mỹ nghệ

Đồng Kỵ

Làng Đồng Kỵ có tên Nôm là làng Cời, nay thuộc xã Đồng Quang,

Trang 8

huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Đây là một làng vừa có dáng dấp cổ kính, vừa

xen lẫn hiện đại Trải qua bao thăng trầm lịch sử, nơi đây đã hình thành một

làng “bách nghệ” mà nổi bật nhất là nghề mộc, chạm khảm đồ mỹ nghệ Hầu

hết các gia đình ở đây đều làm nghề từ 4-5 đời nay Theo các nhà khoa học

cho biết, làng gỗ Đồng Kỵ, có lịch sử tồn tại và phát triển khoảng 300 năm

1.3 Quá trình hình thành và phát triển làng Nghề

Một trong các yếu tố quan trọng hàng đầu để cho các làng nghề ra đời,

tồn tại và phát triển đó là do nhu cầu của người tiêu dùng Dưới các triều đại

phong kiến, mặc dù chưa có nhiều biện pháp khuyến khích phát triển làng

nghề nhưng do nhu cầu đời sống và do tính chất của nền kinh tế khép kín,

người nông dân muốn có đủ đạo cụ, đồ dùng trong đời sống sản xuất và đời

sống sinh hoạt thì phải tự mình làm ra Nghề mộc Đồng Kỵ có từ đó

Dưới các triều đại phong kiến, nghề mộc ở đây đã tồn tại và phát triển

nhưng quy mô không lớn

Năm 1986, khi nền kinh tế đất nước đang chuyển từ nền kinh tế bao

cấp sang cơ chế thì trường, làng nghề Đồng Kỵ như một “cánh diều” gặp

cơn gió lành bay vút lên cao Kể từ khi nhà nước thực hiện chính sách mở

cửa, phát triển nền kinh tế hàng hóa Gỗ Đồng Kỵ đã có “cơ hội” thâm nhập

thị trường của một số nước lân cận như Trung Quốc, Lào, Campuchia Từ

những năm 1995 ở lại đây, làng gỗ Đồng Kỵ đã có những bước phát triển

vượt bậc

2 LÀNG NGHỀ ĐỒNG KỴ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TRIẾT HỌC

2.1 Yếu tố phương thức sản xuất

2.1.1 Đội ngũ lao động và chất lượng tay nghề

Làng Đồng Kỵ thu hút 5000 lao động trên tổng số 6000 lao động trên

địa bàn, ngoài ra còn giải quyết công ăn việc làm cho hàng nghìn người từ

Trang 9

các xã xung quanh và các vùng phụ cận Hiện nay, việc truyền nghề ở Đồng

Kỵ mang đậm màu sắc truyền thống nghĩa là kiểu truyền nghề trực tiếp từ

đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác

Làng Đồng kỵ có đến 90% các hộ gia đình tham gia sản xuất và kinh doanh các mặt hàng sản xuất từ gỗ Nơi đây được mênh danh là “làng doanh nhân”,

“làng giám đốc” bởi cả làng có đến hơn 200 công ty với khoảng 500 giám

đốc, phó giám đốc Đồng Kỵ có khả năng giải quyết việc làm cho 6000 lao

động tại chỗ và khoảng 4000 người đến từ các vùng lao động lân cận

Trong nhưng năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu của thị trường, những

sản phẩm của làng nghề được cải biến mẫu mã rất nhiều Đồ gỗ Đồng Kỵ

hiện nay không chỉ được ưa chuộng trong nước mà đã xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc Nhiều khâu trong hoạt động sản

xuất được chuyên môn hóa Bên cạnh là một làng nghề truyền thống, Đồng

Kỵ hiện nay đang đảm nhận là một trung tâm chuyên kinh doanh các mặt

hàng mỹ nghệ được chế tạo từ gỗ

Khi làng nghề ngày một phát triển thì mô hình kinh tế hộ gia đình trở

nên chật hẹp, không đáp ứng được nhu cầu đi lên của làng nghề Nhiều gia

đình trong làng đã chuyển từ sản suất quy mô nhỏ thành các công ty với quy

mô lớn Đến nay, cả phường Đồng Kỵ có hơn 160 công ty, hợp tác xã

chuyên sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ

Trong hệ thống sản xuất, việc chuyên môn hoá đang được hình thành

Tuỳ theo tính chất của từng nghề mà sự phân công lao động có sự phân công

có khác nhau

Ví dụ với 1 làng nghề mộc có thể được phõn theo các nhóm:

-Nhóm chuyên kinh doanh sản phẩm: bán hàng tại làng hoặc các

đại lý trong đô thị

-Nhóm kiêm cả sản xuất và kinh doanh

-Nhóm hoạt động chuyên theo 1 số công đoạn: Mua gỗ, pha gỗ,

tẩm sấy, nhóm gia công thô, nhóm gia công tinh, nhóm vận chuyển

Sự phân hóa dần các thứ bậc sản xuất – kinh doanh đã mang rõ nét

tính kinh tế thị trường, một thị trường lao động được phân loại rõ theo năng

Nhờ có phương thức sản xuất hợp lý mà đến nay làng nghề Đồng

Trang 10

Kỵ đã phát triển một cách mạnh mẽ

2.1.2 Công cụ và nguyên liệu sản xuất

-Công cụ sản xuất chính

Nghề mộc thì công cụ sản xuất chính là đục, trạm cưa, khuôn vẽ…

Trước đây công việc xẻ gỗ được tiến hành bằng tay, hiện nay công việc này

được tiến hành nhanh hơn và chuẩn xác hơn nhờ những chiếc cưa máy Sau

khi gỗ được xẻ thành những khối phù hợp với yêu cầu của sản phẩm thì sẽ

được vẽ theo khuôn sau đó sẽ tiến hành đục… Có thể nói rằng đục là công

việc quan trọng nhất để tạo ra một sản phẩm mộc

-Nguyên liệu sản xuất

Nguyên liệu chủ yếu để tạo ra sản phẩm mộc là gỗ Gỗ dùng để chế

tác các sản phẩm mộc chủ yếu được khai thác từ các vùng trong cả nước và

một phần nhập khẩu từ Lào và Campuchia Muốn có được một sản phẩm mộc tốt, đẹp và bền thì chất liệu gỗ phải thuộc loại có chất lượng cao

Giá mua nguyên liệu ở Đồng Kỵ hiện nay như sau: Gỗ trắc – từ 40 đến 60

triệu đồng/m3, gỗ gụ - 20 – 25 triệu đồng/m3, gỗ hương 24 – 26 triệu đồng/m3…

2.1.3 Quy trình sản xuất

Để tạo ra những mặt hàng mộc, người thợ mộc phải trải qua một quy

trình kỹ thuật phức tạp yêu cầu tính kiên trì và chịu khó học hỏi, trau dồi

kiến thức và phải làm việc hết mình

- Trước tiên là công việc pha gỗ, vẽ khuôn, khâu đục, khâu ghép thành

phẩm, khâu khảm trai, khâu đánh bóng, bảo quản mặt hàng mộc

Thông thường mỗi sản phẩm của tất cả các xưởng mộc đều qua các

khâu như xẻ gỗ, ghép gỗ, chạm, khảm, đánh bóng rồi phun sơn nhưng riêng

sản phẩm gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, ngay từ khâu chọn gỗ rồi xẻ gỗ đã phải được thực hiện hết sức cẩn trọng, cầu kỳ

Ngày đăng: 13/07/2016, 17:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w