LêI Më §ÇU“Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải nâng cao chất l
Trang 1BỐ CỤC TIỂU LUẬN:
Tên tiểu luận:
Ở nhiều quốc gia đang phát triển đang hình thành nền kinh tế tri thức hãy phân tích những đặc trưng của nền kinh tế này từ góc độ
triết học?
Trang 2LêI Më §ÇU
“Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải nâng cao chất lượng cuộc sống”
Kinh tế tri thức là một loại môi trường kinh tế-kỹ thuật, văn hóa-xã hội mới, có những đặc tính phù hợp và tạo thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới và sáng tạo Trong môi trường đó, tri thức sẽ tất yếu trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất, đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội
Vậy những đặc trưng của nền kinh tế tri thức nhìn từ góc độ triết học được thể hiện như thế nào? Chúng ta sẽ tìm hiểu qua bài tiểu luận này
Trang 3phÇn néi dung
I.Kh¸i niÖm nÒn kinh tÕ tri thøc lµ g× ?
Kinh tế tri thức theo em có nhiều cách hiểu :
KTTT là biểu hiện hay xu hướng của nền kinh tế hiện đại, trong đó tri thức, lao động chất xám được phát huy khả năng sinh lợi của nó và mang lại hiệu quả kinh tế lớn lao trong tất cả các ngành kinh tế: công nghiệp, nông – lâm – ngư nghiệp và dịch vụ, phục vụ cho phát triển kinh tế Từ đó, nền kinh tế tri thức được hiểu là nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở tri thức, khoa học; dựa trên việc tạo ra và sử dụng tri thức, phản ánh sự phát triển của lực lượng sản xuất ở trình độ cao.
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ( OECD ) đưa ra khái niệm năm 1995: “*Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải nâng cao chất lượng cuộc sống” *
Kinh tế tri thức còn được hiểu là một loại môi trường kinh tế-kỹ thuật, văn hóa-xã hội mới, có những đặc tính phù hợp và tạo thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới và sáng tạo Trong môi trường đó, tri thức sẽ tất yếu trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất, đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội.
Theo cách hiểu này, cốt lõi của việc phát triển một nền kinh tế tri thức không phải chỉ đơn thuần là việc phát triển khoa học-công nghệ cao mà là việc phát triển một nền văn hóa đổi mới, sáng tạo để đem lại những thuận lợi cho việc sản xuất, khai thác và sử dụng mọi loại tri thức, mọi loại hiểu biết của nhân loại
II.Vai trß nÒn kinh tÕ tri thøc lµ nh thÕ nµo ?
- Kinh tế tri thức mang lại những cơ hội và thách thức lớn trong sự phát triển chưa từng thấy của nhân loại
Kinh tế tri thức có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển xã hội ngày nay Phát triển kinh tế tri thức là cơ hội để rút ngắn khoảng cách lạc hậu
Từ những tri thức, công nghệ kỹ thuật mới, các tư liệu lao động mới, hệ thống máy móc thông minh, tự động hóa sẽ được tạo ra Quá trình đó sẽ giúp phát hiện và sáng tạo ra nhiều đối tượng lao động mới, những nguyên liệu mới, năng lượng mới,…có thể trước đây chưa từng xuất hiện, tạo ra nhiều giá trị sử dụng mới, đáp ứng thỏa mãn nhu cầu xã hội ngày càng tốt hơn, giảm bớt việc khai thác các ngường tài nguyên hiện hữu
Trang 4-KTTT là động lực thỳc đẩy tiến trỡnh xó hội húa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, làm cho phõn cụng lao động xó hội phỏt triển cả về chiều rộng lẫn chiều sõu TTT được hỡnh thành, phỏt triển trờn cơ sở cỏc ngành sản xuất sử dụng cụng nghệ cao
vớ dụ: Trong nụng nghiệp nuụi gà ở Cõy Gỏo huyện Trảng Bom tự động…, Từ đú mà tỏc động mạnh mẽ đến quỏ trỡnh phỏt triển của toàn bộ nền kinh tế
Nú thỳc đẩy nụng nghiệp phỏt triển nhanh thụng qua cỏc cuộc cỏch mạng, cỏch mạng xanh, cỏch mạng sinh học…
-Nú thỳc đẩy cụng nghiệp, khụng ngừng ra tăng hàm lượng khoa học-kỹ thuật, cụng nghệ trong sản phẩm cụng nghiệp qua đú mà gia tăng giỏ trị sử dụng, giỏ trị trao đổi của sản phẩm cụng nghiệp
Nú thỳc đẩy trớ nghiệp phỏt triển ở cỏc ngành dịch vụ, thụng tin, thương mại, tiền tệ,… với nhiều hỡnh thức phong phỳ
Nú thỳc đẩy việc nõng cao đời sống xó hội, hướng đến một nền văn minh cao hơn
III.Những đặc trng của nền kinh tế tri thức từ góc độ triết học:
-Trong nền KTTT, cỏc yếu tố vật chất cũng như hàm lượng vật chất trong cỏc sản phẩm ngày càng giảm, hàm lượng tri thức, lao động chất xỏm, lao động trớ úc tăng lờn, chiếm tỷ trọng ngày càng cao lớn trong giỏ trị sản phẩm
Trong nền KTTT, cỏc sản phẩm trớ tuệ dựa vào nguồn lực hàng đầu là tri thức Đõy là nguồn vốn cơ bản của quỏ trỡnh sản xuất và tỏi sản xuất của xó hội, thay vỡ chỉ là đất đai, tài nguyờn và vốn tiền tệ như trước đõy
Thụng tin, kiến thức lao động cú trỡnh độ cao được sử dụng nhiều, ớt sử dụng tài
nguyờn thiờn nhiờn Những trung tõm cụng nghệ cao được hỡnh thành
Đặc biệt tri thức khoa học và cụng nghệ cựng với lao động kỹ thuật cao là thành phần quan trọng của lực lượng sản xuất, là lợi thế phỏt triền kinh tế Nguồn nhõn lực nhanh chúng được tri thức húa Sự sỏng tạo đổi mới trở thành yờu cầu thường xuyờn đối với mọi người
- Cơ cấu kinh tế kỹ thuật thay đổi một cỏch sõu sắc, theo hướng tri thức húa, làm thay đổi phương thức tổ chức và quản lý khụng chỉ trong cỏc ngành đú mà cũn tỏc động đến cỏc ngành kinh tế khỏc trong nền kinh tế
Do những thay đổi trong cơ cấu kinh tế- kỹ thuật sẽ làm thay đổi về chất trong cơ cấu sản phẩm, làm thay đổi cơ cấu giỏ trị sản phẩm; điều này tất yếu dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu lao động xó hội Nếu như trước đõy, lao động nụng nghiệp chủ yếu bằng
Trang 5tay chân tay, thì sau đó lao động sản xuất công nghiệp, lao động “ cổ xanh” hầu hết là bằng máy móc Nhưng từ những năm 70 đến nay, do lao động và công nghệ phát triển,
đã là xuất hiện một đội ngũ “ công nhân cổ trắng” và trong cơ cấu giá trị hàng hóa, lao động trí óc đã chiếm tỷ trọng lớn
- Qui trình công nghệ trong sản xuất luôn luôn được thay đổi, làm cho năng xuất lao động ngày càng tăng, cường độ lao động ngày càng giảm, chủng loại sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, chất lượng sản phẩm ngày càng cao, giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cuộc sống…
sự cạnh tranh được tạo điều kiện đầy đủ, sự tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, tạo ra lợi thế cho quốc gia, tác động lớn đến đời sống xã hội
- Siêu xa lộ thông tin trong hệ thống mạng toàn cầu được hình thành, có ảnh hưởng to lớn đến lĩnh vực khoa học, kinh tế và văn hóa, quan hệ quốc tế, đặc biệt giúp mở rộng thị trường cho các nước… bởi vì nó đảm bảo sự tham gia đông đảo của tất cả các quốc gia trên thế giới Siêu xa lộ thông tin sẽ tạo ra một xã hội tri thức, xã hội thông tin mà không có biên giới
Trong nền KTTT, khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, lựu lượng sản xuất và các hoạt động kinh tế của mỗi con người, của mỗi quốc gia đều mang tính toàn cầu
- Trong điều kiện của kinh tế tri thức, các thành tựu khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ thông tin được phổ biến và ứng dụng hết sức nhanh chóng, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Các ngành kinh tế được tri thức hóa đều phải dựa vào công nghệ mới để đổi mới và phát triển
Chỉ khi nào các ngành công nghệ cao, ứng dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật hiện đại, có giá trị mới do tri thức đem lại chiếm trên 2/3 tổng giá trị thì kinh tế tri thức mới được tỏ rõ Tiêu chí của kinh tế tri thức: hơn 70% GDP phải được tạo ra từ các ngành sản xuất dịch vụ áp dụng công nghệ cao; hơn 70% giá trị gia tăng là do trí tuệ mang lại; hơn 70% công nhân tri thức trong cơ cấu lao động; hơn 70% cơ cấu vốn là vốn con người
Nền kinh tế và xã hội luôn luôn đổi mới, cái mới ngày càng nhiều Đó là đặc trưng của
sự phát triển, của sự tiến hóa xã hội và sự phát triển từ cái mới
* Nhưng đặc trưng cơ bản nhất là thể hiện qua mối quan hệ giữa “Lực lượng sản xuất
và Quan hệ sản xuất ”
Trang 6a Lao động cơ bắp từng bước được thay thế bằng lao động trí tuệ, nhưng lao động cơ bắp không mất đi.
Lao động là hoạt động có ý thức của con người nhằm tạo ra những giá trị sử dụng đáp ứng nhưng nhu cầu đa dạng của con người Bởi vậy, ngay khi có con người, hoạt động sản xuất của họ đã có hai phần: lao động cơ bắp và lao động trí tuệ Cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là sự phát triển của cách mạng công nghiệp, cách mạng khoa học, kỹ thuật rồi của cách mạng khoa học, công nghệ, cũng như để sử dụng có hiệu quả những thành tựu do các cuộc cách mạng đó mang lại, năng lực trí tuệ của người lao động không ngừng được nâng cao, phần giá trị do lao động trí tuệ của họ tạo ra trong quá trình sản xuất và được kết tinh ở sản phẩm ngày càng tăng Từ chỗ chiếm một tỷ trọng rất không đáng kể ớ các thời kỳ tiền cách mạng công nghiệp, ngày nay, ở các nước phát triển, đối với một số loại sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao, hàm lượng giá trị do trí tuệ tạo ra và được kết tinh trong sản phẩm có thể đạt tới 80 - 90% tổng giá trị sản phẩm Đối với các loại sản phẩm đó, nguyên vật liệu, năng lượng, lao động cơ bắp chỉ tạo thành từ 10% - 20% giá trị sản phẩm
Không chỉ như vậy, hoạt động trực tiếp tạo ra sản phẩm không còn là công việc của riêng người lao động, mà của cả một bộ phận ngày càng tăng lên những người trực tiếp quản lý quá trình sản xuất, những kỹ sư, những nhà công nghệ
Sự thay đổi đó là xu thế khách quan, mang tính tiến bộ và ngày càng mở rộng Nó làm cho tài nguyên thiên nhiên, lao động cơ bắp mặc dù vẫn là nhưng thứ không thể thiếu trong nền sản xuất xã hội, nhưng ngày càng mất giá
Mức đóng góp của tri thức và kỹ thuật đối với tăng trưởng kinh tế ngày càng lớn Do vai trò và vị trí ngày càng lớn của tri thức trong nền kinh tế, do thông tin và tri thức ngày càng trở thành nguồn lực phát triển kinh tế chủ yếu, nên cơ cấu đầu tư để phát triển lực lượng sản xuất có những thay đổi rất lớn ỞHoa Kỳ, mỗi năm số tiền chi vào việc sản xuất tri thức và các hoạt động liên quan khác chiếm khoảng 20% GDP, trong
đó, chi phí cho giáo đục chiếm 10% GDP Ngày càng có nhiều giá trị gia tăng kinh tế
do trí tuệ tạo ra
Trang 7Cũng cần lưu ý rằng, mặc dù tri thức đã trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu của sản xuất và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là cực kỳ quan trọng, nhưng nguyên lý “xét đến cùng, sở hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu là cơ sở của quan hệ sản xuất" vẫn giữ nguyên ý nghĩa khoa học của nó Bởi, như C.Mác đã nhấn mạnh, "thiên nhiên không chế tạo ra máy móc, đầu máy xe lửa, đường sắt, điện báo, máy sợi con dọc di động Tất cả những cái đó đều là những cơ quan của bộ óc con người, do bàn tay con người tạo ra, đều là sức mạnh đã vật hoá của tri thức Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ
số cho thấy trì thức xã hội phổ biến (Wissen knowledge) đã chuyển hoá đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp, do đó nó cũng chỉ là chỉ số cho thấy những điều kiện của chính quá trình sống của xã hội đã phục tùng đến mức độ nào sự kiểm soát của trí tuệ phổ biến và đã được cải tạo đến mức độ nào cho phù hợp với quá trình ấy, những lực lượng sản xuất xã hội đã được tạo ra đến mức độ nào không những dưới hình thức tri thức, mà cả như là những cơ quan thực hành xã hội trực tiếp, những cơ quan trực tiếp của quá trình sống hiện thự
b Yếu tố trí tuệ quan trọng hơn yếu tố vật liệu tự nhiên trong tư liệu sản xuất
Trong nền kinh tế tri thức, mối tương quan giữa các yếu tố cơ bản cấu thành tư liệu sản xuất có sự thay đổi rất lớn
Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Trong các nền kinh
tế trước, đối tượng lao động chủ yếu là những bộ phận của tự nhiên, trong nền kinh tế tri thức, đối tượng lao động ngày càng là sản phẩm của lao động, của khoa học, công nghệ mà hàm lượng vật liệu tự nhiên trong đó ngày càng giảm Do vậy, đó sẽ là một nền kinh tế tiết kiệm tài nguyên, không phụ thuộc một cách tiên quyết vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, mà phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên con người với năng lực trí tuệ cao
Lao động quá khứ được kết tinh trong máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu Liên quan tới những nhân tố này, trong nền kinh tế tri thức, có hai điểm đáng chú ý Một là, hàm lượng trí tuệ trong những nhân tố đó ngày một gia tăng, Hai là, nhiều máy móc do lao động quá khứ đã được vật hoá thực hiện Khi tính đến hai sự kiện đó, chúng ta thấy dường như vai trò của lao động sống có sự suy giảm tương đối Nhưng, nếu xét tới sự phát triển thẳng tiến của sản xuất, lao động sống vẫn có giá trị quyết định - "quyết
Trang 8định" không phải theo nghĩa chiếm tỷ trọng lớn so với lao động quá khứ khi tạo ra sản phẩm ở chu kỳ mới, mà theo nghĩa không có lao động sống và mọi lao động vật hoá không thể phát huy vai trò của mình trong quá trình sản xuất Máy móc hiện đại như thế nào chăng nữa cũng do con người làm ra và vận hành, cải tiến nó Mặt khác, trình
độ của máy móc, thiết bị, trình độ trí tuệ được kết tinh trong chúng lại đóng vai trò quyết định hiệu quả của lao động sống, quy định xu hướng vận động của chính lao động sống Chỉ trong chừng mực đáp ứng nhu cầu đó, chu kỳ sản xuất tiếp theo mới có
sự phát triển tương ứng với xu thế khách quan của lực lượng sản xuất
Lao động quản lý dần chiếm ưu thế so với lao động sản xuất trực tiếp
Sự phát triển của sản xuất xã hội luôn diễn ra theo quy luật phủ định của phủ đinh Trước kia, người sản xuất và người quản lý là một, song cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự tách rời giữa người sản xuất và người quán lý ngày một gia tăng, sự khác biệt phát triển thành sự đối lập gay gắt Giờ đây, chính sự phát triển cao của lực lượng sản xuất, ở trình độ trí tuệ hoá cao quá trình sản xuất, đã và đang diễn ra sự xích lại gần nhau giữa người lao động sản xuất và nhà quản lý Trong nền kinh tế tri thức, ở không ít trường hợp, người sản xuất và người quản lý hội tụ trong một cá thể mà ở đó, mặt quản lý ngày càng có ưu thế hơn mặt laođộng trong việc tạo ra sản phẩm
Những thay đổi ấy làm cho những yếu tố tạo ra giá tri mới được kết tinh trong sản phẩm thặng dư mà biểu hiện dưới hình thức giá trị là giá trị thặng dư cũng không hoàn toàn như cũ Giá trị thặng dư được tạo ra không còn chỉ do lao động sống của người công nhân trực tiếp sản xuất, mà còn do lao động vật hoá, do lao động quản lý Lao động quản lý nói ở đây bao gồm cả lao động quản lý của các chuyên gia quản lý (khi
đó, họ thuộc về người lao động theonghĩa hiện đại của từ này) và lao động quần lý của người sở hữu tư liệu sản xuất nếu họ tham gia quản lý doanh nghiệp "Quản lý" lại là loại hình lao động phức tạp, nó là "bội số của lao động giản đơn" như C.Mác nói
Trí tuệ tự nó mang tính xã hội rất cao và thậm chí, còn mang tính nhân loại Do vậy, khi nói về những bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất trong nền kinh tế trí tuệ, chúng
ta thấy nổi lên một đặc điểm hết sức quan trọng là tính xã hội hoá, quốc tế hóa rất cao của nó
Trang 9Những đặc điểm và tính chất mới đó của lực lượng sàn xuất quy định và đòi hỏi nội dung mới, tính chất mới của quan hệ sản xuất vả cơ cấu của nền kinh tế tương ứng
Quan hệ sản xuất và cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế tri thức
Nội dung và tính chất mới của vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất
Tri thức hiện nay đang được coi là nguồn lực kinh tế chủ yếu Các nhân tố sản xuất truyền thống là đất đai, lao động và tư bản không biến mất, nhưng tầm quan trọng của
nó không còn như cũ Một điều quan trọng hơn rất nhiều là tri thức tạo ra được cơ chế lợi nhuận tăng dần, trong khi các yếu tố sản xuất truyền thống (đất đai, vốn, lao động), như chúng ta đã biết, lại tuân theo quy luật lợi nhuận giảm dần Đó là một xu hướng thực tế, bới chính công nghệ thông tin - một bộ phận quan trọng của nền kinh tế tri thức đã trở thành phương tiện giải phóng các tiềm năng sáng tạo và tri thức tiềm ẩn trong mỗi người, thành công cụ "khuếch đại sức mạnh của não giống như công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp khuếch đại sức mạnh của cơ bắp " (Brad de Long) Bắt đầu từ giữa những năm 80 của thế kỷ XIX, một bộ phận quan trọng của nền kinh
tế đã tuân theo cơ chế lợi nhuận tăng dần, đó là khu vực công nghệ cao Các nền kinh
tế phát triển như các nước OECD đang phụ thuộc rất nhiều vào việc sản xuất phân phối và sử dụng tri thức Sản lượng và việc làm được mở rộng rất nhanh ở các ngành công nghệ cao Trên 50% GDP của các nền kinh tế OECD là dựa trên tri thức
(CandieStevens)
Sở hữu trong nền kinh tế tri thức trước hết và chủ yếu là sở hữu trí tuệ Trong nền kinh
tế đó, trí tuệ là nguồn lực cơ bán nhất của quốc gia Ai nắm được trí tuệ, có khả năng điều tiết, chi phối nó, kẻ đó có sức mạnh chi phối sự phát triển xã hội theo mục tiêu và lợi ích của mình Trong khi đó, như đã đề cập trên đây, tri thức mang tính xã hội hoá, quốc tế hóa cao Theo Joseph Stigliz, nhà kinh tế học Mỹ được nhận giải Nobel năm
2001 đồng thời là cố vấn kinh tế trưởng của Ngân hàng thế giới, thì tri thức và thông tin là loại hàng hoá đặc biệt, nó hoàn toàn khác các loại hàng hoá thông thường khác:
nó thuộc về không phải của một cá nhân nào đó, mà thuộc về quyền sở hữu của toàn
xã hội, là một hàng hoá xã hội và hơn thế nữa, nó thực sự là một hàng hoá mang tính toàn cầu
Trang 10Trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành nhân tố sản xuất quan trọng hàng đầu trong lực lượng sản xuất, quyết định lợi thế so sánh của một nước Nếu doanh nghiệp nào nắm được quyền sở hữu trí tuệ, ứng dụng công nghệ mới, tạo ra sản phẩm mới sẽ thu được tỷ suất lợi nhuận cao hơn mức trung bình Thí dụ: Nhờ luôn tạo ra các bộ vi
xử lý trước một thế hệ, lợi nhuận của hãng Intel trong nhiều năm là 23% doanh thu Cũng với cách thay đổi luôn như vậy lợi nhuận của hãng Microsoft đạt 24% doanh thu vào năm 1994 Lợi nhuận cao như thế tuy không thể tồn tại mãi, nhưng có thể duy trì trong nhiều năm, như hãng Intel duy trì tỷ suất lợi nhuận cao trong một thập kỷ Như vậy, quy luật bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận bị cản trở, không thể phát huy tác dụng mạnh mẽ Bởi vì, tiền đề để quy luật này hoạt động là môi trường cạnh tranh tự do hoàn háo, nhưng trong nền kinh tế tri thức, việc bảo hộ quyển sở hữu trí tuệ đã làm tăng tính độc quyền, khiến cho người nắm quyền chiếm hữu đối với tri thức thu được lợi nhuận siêu ngạch
Điều có phần quan trọng hơn là trong xã hội tri thức, người là làm thuê tức người công nhân tri thức lại là người sở hữu công cụ sản xuất, trí tuệ của bản thân họ C.Mác đã có phát kiến vĩ đại khi cho rằng, người công nhân nhà máy không có và không thể sở hữu
tư liệu sản xuất và do vậy bị "tha hoá" Ông chỉ rõ: Người công nhân không thể sở hữu máy hơi nước và không thể lấy máy hơi nước đi cùng với mình, khi họ chuyển từ công việc này sang công việc khác Nhà tư bản cần phải sở hữu động cơ hơi nước và cần phải kiềm soát nó Thế nhưng, những đầu tư thực sự trong xã hội tri thức không phải vào máy móc hay công cụ, mà chính là vào người công nhân tri thức, không có người công nhân tri thức thì cho dù máy móc có hiện đại và tinh vi đến thế nào chăng nữa cũng không thể hoạt động được
So với sở hữu các giá trị vật chất, sở hữu tri thức có những đặc điểm hết sức riêng biệt
Sở hữu tri thức bao gồm quyền sở hữu công nghiệp (quyền về phát minh - sáng chế, về nhãn hiệu thương mại, bản quyền và các kiểu dáng công nghiệp ), ngày nay còn tính thêm phương pháp gây giống các loài cây, quyền về các hình vẽ, mẫu vẽ, quyền về các bản đồ vẽ địa hình, về các chất bán dẫn Ngoài ra, còn quyền về bí mật thương mại Với tư cách là đối tượng sở hữu, tri thức là một sản phẩm có đặc tính lũy tiến và rất khó kiểm soát Tri thức là một sản phẩm không bị cạn kiệt khi sử dụng, có thể vô số