Thực tiễn ở các trường hiện nay công tác kiểm tra, đánh giá cho ta thấy tình trạng đánh đồng việc cho điểm với đánh giá năng lực người học; có xu hướng chú trọng kiến thức ghi nhớ hơn là
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
TRẦN ANH CHẤT
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH CÂU HỎI DÙNG ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC MẠNG MÁY TÍNH TẠI TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT - HẬU CẦN CAND
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
TRẦN ANH CHẤT
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH CÂU HỎI DÙNG ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC MẠNG MÁY TÍNH TẠI TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT - HẬU CẦN CAND
Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
Mã số: 60140120
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Bá Thịnh
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên cho phép em được bầy tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo PGS.TS Hoàng Bá Thịnh là người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp này
Đồng thời, em cũng cảm ơn quý thầy, cô trong Viện Đảm bảo chất lượng – Đại học Quốc gia Hà Nội đã trang bị cho em những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học vừa qua cùng với sự chỉ bảo nhiệt tình và những ý kiến đóng góp đáng quý của các thầy, cô trong thời gian em thực hiện luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các đồng nghiệp ở trường ĐH Kỹ thuật – Hậu cần CAND, bạn bè thân thiết và đặc biệt là gia đình của em, những người đã luôn động viên, khích lệ em trong suốt quá trình học tập chương trình cao học Đo lường và Đánh giá trong giáo dục
Một lần nữa, em xin trân trọng cảm ơn !
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện
Các số liệu, kết luận của nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở các nghiên cứu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Trần Anh Chất
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Giới thiệu chung 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
1.3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài 3
2 Phương pháp nghiên cứu 3
2.1 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 3
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
2.3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
2.4 Phương pháp nghiên cứu 4
2.5 Phương pháp Toán học 5
2.6 Phạm vi và thời gian khảo sát 5
2.7 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 6
1.1 Các nghiên cứu của nước ngoài 6
1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 8
2 Một số khái niệm cơ bản trong KTĐG 13
2.1 Khái niệm về Đo lường – Đánh giá – Định giá trị 13
2.2 Khái niệm về Thi - Kiểm tra 15
2.3 Kết quả học tập – Mục tiêu dạy học 16
2.4 Đánh giá kết quả học tập 17
3 Ý nghĩa của việc kiểm tra – đánh giá 18
4 Trắc nghiệm và những vấn đề liên quan 18
4.1 Các công cụ đo lường kết quả học tập 18
4.2 Trắc nghiệm và những vấn đề liên quan 19
4.2 So sánh trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận 31
4.3 Đánh giá một bài trắc nghiệm khách quan loại câu hỏi nhiều lựa chọn 32
4.4 Qui trình tổ chức một bài kiểm tra đánh giá 40
4.5 Chuẩn hoá câu hỏi và bài trắc nghiệm bằng phần mềm chuyên dụng QUEST 42
Trang 64.6 Cơ sở lý thuyết của mô hình Rasch 42
5 Ngân hàng câu hỏi Trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra đánh giá 47
5.1 Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 47
5.2 Sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 47
Chương 2: CÁC ĐẶC TÍNH CÂU HỎI VÀ XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TNKQ MÔN MẠNG MÁY TÍNH 50
1 Đặc tính câu hỏi 50
1.1 Các đặc tính chung của câu hỏi trắc nghiệm cần có 50
1.2 Đặc tính phần câu dẫn của câu hỏi trắc nghiệm 50
1.3 Đặc tính với các câu lựa chọn của câu hỏi trắc nghiệm cần có 50
1.4.Các quy tắc để viết các câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn 51
1.5 Những gợi ý khi chuẩn bị các câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn 52
2 Thực trạng kiểm tra đánh giá tại trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND 55
2.1 Phương pháp nghiên cứu thực trạng 55
2.2 Thực trạng sử dụng TNKQ trong KT – ĐG kết quả học tập tại trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND 55
2.3 Kết luận 58
3 Chương trình môn Mạng máy tính 59
3.1 Chương trình môn học: 59
3.2 Ma trận đề thi 60
4 Biên soạn câu hỏi 63
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 65
1 Dữ liệu để phân tích 65
2 Kết quả chạy chương trình 65
2.1 Sự phù hợp của câu hỏi thi 65
2.2 Phân bố độ khó câu hỏi thi và năng lực thí sinh 68
2.3 Phân tích câu hỏi theo các tiêu chí 69
3 Kết luận 78
KẾT LUẬN 79
1 Kết luận khoa học 79
2 Đề xuất và các khuyến nghị 80
3 Hạn chế của đề tài 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 85
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
Hình 1: Các phương pháp kiểm tra – đánh giá 18
Hình 2: Hàm đáp ứng câu hỏi 44
Hình 3: Đồ thị đường cong đặc trưng 45
Hình 4:Đồ thị biểu thị xác suất trả lời đúng câu hỏi 5 74
Hình 5:Biểu đồ biểu thị xác suất trả lời đúng câu hỏi 34 74
Hình 6:Biểu đồ biểu thị xác suất trả lời đúng câu hỏi 22 75
Bảng 1: So sánh trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận 32
Bảng 2:Bảng thực trạng nhận thức về việc sử dụng TNKQ trong KT-ĐG 56
Bảng 3:Bảng nhận thức về mục đích sử dụng TNKQ trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học viên 57
Bảng 4: Ma trận đề thi phần trắc nghiệm 62
Bảng 5: Ma trận đề thi phần tự luận 63
Bảng 6: Hệ số tương quan 71
Trang 9Thực tiễn ở các trường hiện nay công tác kiểm tra, đánh giá cho ta thấy tình trạng đánh đồng việc cho điểm với đánh giá năng lực người học; có xu hướng chú trọng kiến thức ghi nhớ hơn là rèn kỹ năng và năng lực người học; công tác kiểm tra, đánh giá chịu sức ép của thi cử và bệnh thành tích; các kết quả kiểm tra thường để xếp loại người học hơn là tìm ra điểm mạnh yếu của người học để giúp người học tiến bộ và định hướng cho giáo viên trong việc cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy; giáo viên và nhà quản lý còn yếu
về năng lực đánh giá trong giáo dục
Các giải pháp cải tiến thực trạng trên đang được tập trung vào các vấn đề lớn là: xây dựng cơ chế đào tạo đội ngũ chuyên gia về đánh giá trong giáo dục
và bồi dưỡng năng lực đánh giá cho giáo viên; tạo sự thay đổi mạnh mẽ về nhận thức đối với công tác kiểm tra đánh giá; cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá phù hợp với những định hướng của giáo dục Việt Nam
Đánh giá trong giáo dục là công cụ để xác định năng lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy học Đổi mới phương pháp dạy học được chú trọng để đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu giáo dục nên việc kiểm tra, đánh giá phải chuyển biến mạnh theo hướng phát triển trí thông minh, sáng tạo của học viên, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức, kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ khả năng của người
Trang 10học Đánh giá không chỉ thực hiện ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà trong cả quá trình giáo dục
Hướng tới yêu cầu kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan kết quả học tập của người học, ngoài phương pháp đánh giá bằng quan sát và vấn đáp, trong phương pháp viết người ta bổ sung các hình thức đánh giá khác như đưa thêm các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan Việc kiểm tra đánh giá không chỉ đơn thuần chú trọng vào kết quả học tập của học viên, mà còn có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy động cơ, thái độ tích cực của người học, hoàn thiện quá trình dạy học, kiểm định chất lượng, hiệu quả dạy học và trình độ nghề nghiệp của người dạy
Trên cơ sở nắm chắc kiến thức đo lường và đánh giá trong giáo dục, cần tiến hành xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm (gồm cả câu hỏi TNKQ và TL) chuẩn hoá cho từng môn học Sử dụng ngân hàng này, người học có thể
tự ôn tập kiểm tra kiến thức, giáo viên có thể sử dụng để kiểm tra đánh giá người học Để làm được điều này, phải bắt đầu từ việc đào tạo đội ngũ chuyên gia về đánh giá trong giáo dục và bồi dưỡng các kiến thức về khoa học đo lường đánh giá trong giáo dục cho giáo viên
Công cuộc đổi mới công tác kiểm tra đánh giá ở các trường hiện nay đang được ngành giáo dục đặc biệt quan tâm, các giáo viên được tập huấn về đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá, tuy nhiên hiệu quả chưa cao Đa số giáo viên chưa có nhận thức đúng đắn về công tác kiểm tra đánh giá, phần lớn vẫn quan niệm rằng kiểm tra chỉ để cho điểm và xếp hạng người học Các câu hỏi trắc nghiệm khách quan do giáo viên soạn không được phân tích, đánh giá nên các đề kiểm tra do giáo viên soạn cũng chưa có hiệu quả Các trường có đội ngũ giáo viên đông đảo giảng dạy ở từng bộ môn, nếu có kiến thức chuyên môn sâu sắc cộng với kiến thức về đo lường đánh giá, chắc chắn việc cùng nhau góp phần thành lập ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm dùng để kiểm
Trang 11tra đánh giá kết quả học tập của người học là việc làm không khó, nhưng sẽ mất nhiều thời gian và công sức
Đối với chương trình môn học Mạng máy tính của trường tôi hiện nay việc vận dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan vào kiểm tra đánh giá phần nào còn hạn chế và chưa được áp dụng nhiều vào từng lớp
Chính vì vậy, là một cán bộ quản lý giáo dục tôi chọn đề tài luận văn:
“Nghiên cứu đặc tính câu hỏi dùng để kiểm tra đánh giá môn học Mạng máy tính tại trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND” làm đề tài luận văn
nghiên cứu của mình Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu cần thiết góp phần vào quá trình đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học, đồng thời nâng cao kỹ năng của giáo viên trong việc thiết
kế câu hỏi TNKQ dùng để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học.1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu để xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Mạng máy tính nhằm giúp người dạy và người học đạt được mục tiêu môn học đầy đủ hơn
1.3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Ngân hàng câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn có khoảng 350 -400 câu được đưa vào ngân hàng câu hỏi TNKQ dùng để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Mạng máy tính tại trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND
Chỉ nghiên cứu thử nghiệm sử dụng vào việc kiểm tra đánh giá cho khóa đại học D1 trong trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
2.1.1 Câu hỏi nghiên cứu
• Việc sử dụng một cách hệ thống câu hỏi TNKQ đa lựa chọn có phù hợp cho việc đánh giá kết quả học tập môn Mạng máy tính cơ bản theo đặc tính câu hỏi đề ra hay không?
Trang 12• Việc sử dụng ngân hàng câu hỏi TNKQ vào đánh giá kết quả học tập của học viên sẽ mang lại kết quả như thế nào?
• Định hướng sử dụng ngân hàng câu hỏi TNKQ trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học viên như thế nào?
2.1.2 Giả thuyết nghiên cứu
• Việc nghiên cứu đặc tính và phân tích câu hỏi trong ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dựa trên cơ sở khoa học đo lường đánh giá sẽ góp phần xây dựng được bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Mạng máy tính để phục
vụ hiệu quả cho công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học viên
• Sử dụng câu hỏi TNKQ đa lựa chọn trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Mạng máy tính cơ bản sẽ giúp giáo viên và học viên đánh giá các mục tiêu cơ bản mà môn học đặt ra đầy đủ hơn, toàn diện và khách quan hơn 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
• Nghiên cứu đặc tính câu hỏi để lựa chọn phương pháp xây dựng ngân hàng câu hỏi TNKQ đa lựa chọn dùng trong việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học viên
• Xây dựng ngân hàng câu hỏi TNKQ dùng để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học viên trường Đại học Kỹ thuật - Hậu cần CAND
• Thử nghiệm các câu hỏi TNKQ đã xây dựng để phân tích chọn lựa các câu hỏi có chất lượng
• Đánh giá câu hỏi TNKQ để bổ sung vào ngân hàng câu hỏi TNKQ 2.3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2.3.1 Khách thể nghiên cứu
Học viên khóa D1 trong trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND
2.3.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc TNKQ môn Mạng máy tính 2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Trang 13• Nghiên cứu các tài liệu về đường lối giáo dục, phương hướng phát triển giáo dục, chỉ thị của Bộ GD&ĐT về đổi mới chương trình giáo dục
• Nghiên cứu các tài liệu về đo lường, đánh giá trong giáo dục
• Nghiên cứu môn Mạng máy tính
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
• Phương pháp điều tra: điều tra ý kiến của giáo viên trong sử dụng câu hỏi TNKQ trong đánh giá kết quả học tập môn học
• Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: nghiên cứu các đề thi, các câu hỏi TNKQ tồn tại trong thực tiễn nhà trường
• Phương pháp thực nghiệm sư phạm: thử nghiệm các câu hỏi, đề thi được thiết kế
2.5 Phương pháp Toán học
Thu thập và xử lý số liệu trong quá trình nghiên cứu thông qua công cụ phân tích là phần mềm Excel, SPSS, Quest và Conquest
2.6 Phạm vi và thời gian khảo sát
Phạm vi nghiên cứu: Trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND
Thời gian triển khai nghiên cứu: Dự kiến sẽ nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 11/2013 đến tháng 9/2014
2.7 Cấu trúc của luận văn
Phần mở đầu
Chương 1 Tổng quan và Cơ sở lý luận
Chương 2 Các đặc tính câu hỏi và xây dựng ngân hàng câu hỏi TNKQ môn Mạng máy tính
Chương 3 Kết quả nghiên cứu
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 14Chương 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
Trong quá trình phát triển lịch sử của giáo dục, Kiểm tra đánh giá được coi là một khâu có vai trò rất quan trọng Đây là một khâu cung cấp thông tin,
dữ liệu về sự vận động của quá trình dạy và học, KTĐG tạo cơ sở cho các chủ thể điều khiển sự vận động đó với chất lượng và hiệu quả cao hơn
KTĐG đã được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm hướng đến những mục đích khác nhau KTĐG là khâu cuối cùng và cũng là khâu quan trọng nhất bởi nó không chỉ cho ta biết quá trình đào tạo có đạt mục đích hay không mà còn cung cấp những thông tin hữu ích để điều chỉnh toàn bộ hoạt động xảy ra trước đó Vì thế kiểm tra đánh giá sẽ định hướng cách dạy của thầy và cách học của trò sao cho hiệu quả nhất, nghĩa là cùng hướng tới đạt mục tiêu đã đề ra Ngoài ra qua thông tin khai thác từ kiểm tra đánh giá sẽ rất hữu ích cho việc điều chỉnh phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò, đồng thời giúp các nhà quản lý có những thay đổi cần thiết trong quá trình tổ chức đào tạo
Tuy nhiên trong thực tế, một vấn đề chung đặt ra là làm thế nào để KTĐG kết quả học tập của người học một cách chính xác, khách quan và công bằng Vấn đề này từ lâu đã nhận được nhiều mối quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trong các lĩnh vực có liên quan Trong trường hợp này, trắc nghiệm
có thể được biểu hiện như một công cụ hữu hiệu trong việc đo lường và đánh giá kết quả học tập của người học
1.1 Các nghiên cứu của nước ngoài
Ở các nước trên thế giới lĩnh vực khoa học đo lường trong giáo dục phát triển rất mạnh vào thời kì trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai
Để đánh dấu một bước phát triển rất mạnh, lĩnh vực đo lường trong giáo dục có các dấu mốc quan trọng, một loạt các trắc nghiệm và kĩ thuật ra đời như: Trắc nghiệm trí tuệ Stanford-Binet xuất bản năm 1916, bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Achievement Test ra đời vào
Trang 151923 Với việc đưa vào chấm trắc nghiệm bằng máy của IBM năm 1935, việc thành lập National Council on Measurement in Education (NCME) vào thập
niên 1950 và ra đời Educational Testing Services (ETS) năm 1947, một ngành công nghiệp trắc nghiệm đã hình thành ở Mỹ Từ đó đến nay khoa học về đo
lường trong tâm lý và giáo dục đã phát triển liên tục Quá trình phát triển của khoa học đo lường trong giáo dục không phải không có những phản hồi mà quá trình phát triển này phải chịu những phê bình chỉ trích một cách thường xuyên, nhưng sự phê bình chỉ trích này không đánh đổ được khoa học đo lường trong giáo dục, mà làm cho khoa học đo lường trong giáo dục có cơ sở điều chỉnh những cái còn thiếu sót và khuyết điểm, những cái chưa làm được
để cho khoa học ĐLĐG trong giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn [19]
Ở Mỹ, lĩnh vực khoa học này phát triển mạnh vào thời kì trước và sau thế chiến thứ hai Đầu thế kỉ XIX, E Thondike là người đầu tiên dùng trắc nghiệm như một phương pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ kiến thức của học viên dùng với một số môn học và sau đó là đối với một số lĩnh vực kiến thức khác Trắc nghiệm được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục phát triển mạnh mẽ trong những năm 60 của thế kỉ XX Năm 1963 xuất hiện công trình của Gedevik dùng máy tính điện tử để xử lý các kết quả TN trên diện rộng
Ở Châu Âu, đặc biệt là Vào thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, việc sử dụng TN trong trường học được bắt đầu với các TN vấn đáp sau đó dần phát triển thành
TN tự luận Năm 1904 nhà tâm lí học người Pháp Alfred Binet đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về trí thông minh Ông đã xây dựng phương pháp để xác định những trẻ em bị tàn tật về mặt tâm thần, không thể tiếp thu được lượng kiến thức theo cách dạy bình thường ở nhà trường Bộ câu hỏi của ông yêu cầu những kĩ năng tổng quát, cách lập luận thông thường và một kho những kĩ năng chung cho câu trả lời Điểm số được cho dựa theo tuổi trí lực Tại Liên Xô (cũ), việc nghiên cứu kết quả của phương pháp TNKQ đã trở thành đề tài lớn của Viện hàn lâm khoa học giáo dục Liên Xô với nhan đề:
Trang 16“Trình độ, kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học viên và các biện pháp ngăn ngừa tình trạng không tiến và lưu ban” do E.I Montzen chủ trì và sau đó nhiều công trình khác cũng lần lượt được công bố
Tại Nhật Bản, kì thi “Trắc nghiệm trung tâm quốc gia tuyển sinh đại học” duy trì từ năm 1990 đến nay với hình thức đề thi được soạn thảo hoàn toàn theo phương thức TNKQ Tại Thái Lan và Trung Quốc đã tổ chức các kỳ thi tuyển sinh Đại học chủ yếu bằng TNKQ Các nước khác trong khu vực Châu
Á cũng đã có một số cơ hội vững chắc về lĩnh vực này
Những năm gần đây, tại các nước trên thế giới, TNKQ đã được sử dụng rộng rãi trong quá trình giảng dạy ở Phổ thông cũng như ở Đại học Phương pháp này từng bước được nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
Như vậy, trên thê giới khoa học về đo lường và TNKQ xuất hiện từ rất xớm và nó đã nhanh chóng khẳng định vị trí ưu thế và được áp dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của xã hội
1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở nước ta, nhìn chung vấn đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học bắt đầu được nghiên cứu khá muộn so với các nước có nền giáo dục phát triển Khoa học về đo lường và sử dụng TNKQ ở nước ta còn phát triển chậm Nội dung của các nghiên cứu trong nước có thể chia thành các xu hướng như sau:
Thứ nhất, xu hướng phản ánh những kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực đánh giá tri thức học sinh, như các nghiên cứu của Nguyễn Lân, Lê Khanh,…
Thứ hai, xu hường nghiên cứu một cách có hệ thống nhưng cơ sở lý luận chung của vấn đề đánh giá Tuy nhiên, những tác giả nghiên cứu về vấn
đề này không nhiều Chúng ta có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Dương Thiệu Tống, Nguyễn Phương Nga, Nguyễn Công Khanh, Lâm Quang Thiệp,…
Trang 17Dương Thiệu Tống (1995) trình bày chi tiết về các loại công cụ để đo lường đánh giá kết quả học tập của học sinh, cách thức thiết kế các loại đề thi trắc nghiệm đảm bảo độ tin cậy, độ giá trị và xác thực Đồng thời ông cũng giải thích rõ các khái niệm liên quan đến đo lường thành quả học tập
Đặng Bá Lãm (2003) trình bày khá rõ về lịch sử phát triển các quan điểm
về kiểm tra – đánh giá và theo đó là các khái niệm về lĩnh vực này Ông nêu
ra những quy trình kiểm tra – đánh giá trong dạy học, phương pháp KTĐG cũng như ưu nhược điểm của những phương pháp này [10]
Nguyễn Công Khanh (2004) [8] trình bày chi tiết về phương pháp, quy trình, các nguyên tắc và thiết kế công cụ đo lường, các phương pháp phân tích item, chọn mẫu, đánh giá độ tin cậy,…
Lê Thị Thu Liễu và Huỳnh Xuân Nhựt (2009) [11] tập trung nghiên cứu công tác đánh giá kết quả học tập của SV đại học – cao đẳng với những nội dung chủ yếu gồm quy trình đánh giá, nội dung đánh giá, hình thức đánh giá,… Kết luận của nghiên cứu: Hoạt động đánh giá kết quả học tập của SV tại các trường chưa được thực hiện một cách hệ thống và có khoa học
Ngoài ra, có thể kể đến một số nghiên cứu khác của Nguyễn Quốc Khánh (2005) với “ Chuẩn hóa hệ thống đánh giá kết quả học tập của SV”, Trần Thị Bích Liễu (2002) với “Đánh giá kết quả học tập của sinh viên sư phạm”, Lê Thị Hạnh (2008) với “ Nghiên cứu thực trạng về việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương”, v.v
Xu hướng nghiên cứu thứ ba giới thiệu kết quả nghiên cứu và những kinh nghiệm của nước ngoài về vấn đề đánh giá tri thức của học sinh
Lê Đức Ngọc (2004) đã tổng hợp các bài tham luận trong và ngoài nước trình bày các quan điểm và giải pháp về giáo dục đại học cho giai đoạn 1995 – 2000 Tác giả đề cập đến một số vấn đề như: cải tiến thi tuyển sinh đại học – một yêu cầu cấp thiết đề nâng cao chất lượng đào tạo; Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học [14]
Trang 18Vấn đề mà Hội thảo khoa học “ Vai trò của hoạt động kiểm tra – đánh giá trong đổi mới giáo dục VIệt Nam” (2004) đưa ra là: Làm thế nào để các thánh viên liên quan đến quá trình đào tạo và đánh giá học sinh có thể hiểu và chấp nhận rằng việc đánh giá học sinh quan trọng hơn việc cho điểm Hội thảo đưa ra một số kết luận: GV còn thiếu kỹ năng đánh giá học sinh, chú trọng đến điểm số, chú trọng kiến thức và khả năng nhớ hơn là kỹ năng và năng lực học tập của học sinh trong kiểm tra – đánh giá; các kết quả kiểm tra thường dùng với mục đích là xếp loại học sinh hơn là để hướng dẫn, động viên học sinh [29]
Đối với việc sử dụng câu hỏi TNKQ cũng đã có các đề tài nghiên cứu như: Nguyễn Phụng Hoàng đã cho ra đời cuốn sách: “Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá thành quả học tập” Cuốn sách viết đại cương về các vấn đề đo lường, đánh giá, các phương pháp đo, cách soạn một bài trắc nghiệm khách quan,… tài liệu này rất bổ ích đối với các giáo viên và những người quan tâm đến việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên [10] Năm 2003, Khoa Sư phạm Đại học Quốc gia Hà Nội đã xuất bản cuốn
“Giáo dục học Đại học” Đây là cuốn tài liệu dùng để bồi dưỡng các lớp Giáo dục học đại học và Nghiệp vụ sư phạm đại học Trong phần 1 của cuốn sách, tác giả Lâm Quang Thiệp đã có bài viết về Đo lường và đánh giá thành quả học tập Tác giả đã đề cập đến rất nhiều nội dung như: đánh giá và đánh giá giáo dục; các phương pháp trắc nghiệm; chất lượng của các câu trắc nghiệm
và của đề thi trắc nghiệm; đánh giá thành quả học tập ở trường đại học; và việc áp dụng khoa học đo lường trong giáo dục trên thế giới và ở Việt Nam Đây là một nội dung rất hữu ích cho các sinh viên, học viên cao học và các nghiên cứu sinh ngành đo lường đánh giá trong giáo dục tham khảo [19] Năm 2004, tác giả Nguyễn Công Khanh đã viết cuốn “Đánh giá và đo lường trong khoa học xã hội” do NXB Chính trị Quốc gia xuất bản Nội dung cuốn sách trình bày các phương pháp luận, quy trình, các nguyên tắc và thiết
kế công cụ đo lường, các phương pháp phân tích item, cách chọn mẫu, đánh
Trang 19giá độ tin cậy, độ hiệu lực… Cuốn sách đã và đang là tài liệu bổ ích về các kỹ năng thực hành nghiên cứu cho những ai quan tâm [8]
Tháng 5/2005, tác giả Lê Đức Ngọc đã viết tiếp cuốn sách “Đo lường và đánh giá thành quả học tập”, trong đó tác giả có nhấn mạnh các phương pháp
đo lường, các loại câu hỏi trắc nghiệm, cấu trúc đề thi…
Năm 2005, Trung tâm ĐBCLĐT&NCPTGD thuộc ĐHQGHN đã xuất bản cuốn “Giáo dục đại học - chất lượng và đánh giá” Cuốn sách gồm có 3 phần: Phần 1: Đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên; Phần 2: Đánh giá hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên và học viên cao học; Phần 3: Đánh giá chương trình đào tạo và chương trình giảng dạy Đây là cuốn sách với rất nhiều nội dung phong phú bao chứa các vấn đề được xã hội rất quan tâm về chất lượng giáo dục đại học Cuốn sách này sẽ là một tài liệu tham khảo rất hữu ích cho các nhà quản lý giáo dục, các giảng viên, sinh viên, học viên cao học và tất cả những ai quan tâm đến việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam [32]
Như vậy, phương pháp trắc nghiệm khách quan đã rất phổ biến ở các nước phát triển, trong nhiều lĩnh vực, nhiều môn học với kết quả tốt và được đánh giá cao Có thể nói trắc nghiệm đã có lịch sử phát triển lâu dài và đạt được những thành tựu nhất định Trên thế giới, trắc nghiệm được nghiên cứu
và sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Tuy nhiên, ở Việt Nam việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan còn rất mới mẻ và còn nhiều hạn chế
Như trên đã đề cập, các phương pháp trắc nghiệm được sử dụng trong kiểm tra đánh giá là một bộ phận quan trọng cấu thành nên hệ thống kiểm tra đánh giá hướng chuẩn Vì vậy, hiện nay việc nghiên cứu - ứng dụng các phương pháp ĐGKT quá trình dạy học và kết quả dạy học một cách khách quan, chính xác và nhanh chóng đang là một vấn đề được đặc biệt quan tâm trong thực tiễn và lý luận sư phạm Trong quá trình dạy học nói riêng hay giáo dục và đào tạo nói chung,
Trang 20Trong lĩnh vực dạy học, gần đây do đòi hỏi của thực tiễn, trắc nghiệm đã được nghiên cứu và ứng dụng vào kiểm tra đánh giá kết quả người học Bên cạnh đó, xác định được tầm quan trọng của kiểm tra đánh giá và các phương pháp cũng như hình thức áp dụng, người dạy đã chú trọng đến việc áp dụng
và mở rộng phạm vi nghiên cứu, sử dụng cũng như nâng cao chất lượng, hình thức sử dụng các phương pháp ấy vào quá trình giảng dạy Tuy nhiên, đối với việc nghiên cứu đặc tính câu hỏi để xây dựng câu hỏi TNKQ trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học viên vẫn còn là vấn đề mới mẻ, chưa có nhiều công trình nghiên cứu
Trường Đại học Kỹ thuật – Hậu cần CAND được thành lập theo Quyết định số 1945/QĐ – TTg ngày 21 tháng 10 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở nâng cấp Trường Trung cấp Kỹ thuật nghiệp vụ CAND và sắp xếp lại các cơ sở đào đạo Kỹ thuật nghiệp vụ và Hậu cần của ngành Công an
Về chức năng, Trường Đại học KT - HC CAND có trách nhiệm đào tạo cán
bộ kỹ thuật nghiệp vụ và hậu cần có trình độ sau đại học, đại học và các trình
độ thấp hơn; đào tạo bồi dưỡng kiến thức về kỹ thuật nghiệp vụ và hậu cần cho cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và cán bộ làm công tác kỹ thuật nghiệp vụ, hậu cần trong CAND; nghiên cứu khoa học về kỹ thuật nghiệp vụ và hậu cần CAND phục vụ yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn
xã hội Quy mô đào tạo là 4.500 học viên
Thực hiện nhiệm vụ đào tạo của một trường đại học, ngoài nhiệm vụ tiếp tục duy trì tổ chức tốt nhiệm vụ đào tạo bậc trung cấp, nhà trường đã tích cực chuẩn bị các điều kiện để mở các ngành đào tạo bậc đại học Sau 3 năm kể từ thời điểm có quyết định thành lập trường đại học, nhà trường đã tổ chức đào tạo các ngành, chuyên ngành đào tạo với số lượng học viên cụ thể như sau: Đối với bậc đại học: Nhà trường đã chiêu sinh và đang đào tạo 3 khóa đại học hệ chính quy ngành Công nghệ thông tin, kỹ thuật điện tử truyền thông với 843 học viên ( trong đó có 800 học viên Việt Nam, 43 học viên Lào, Campuchia; các lớp liên kết với Học Viện Hậu cần Quân Đội đào tạo
Trang 21bậc đại học ngành Tham mưu chỉ huy hậu cần, ngành Tài chính Quân đội với
128 học viên
Đối với bậc trung cấp: Nhà trường tiếp tục duy trì đào tạo các ngành, chuyên ngành Công nghệ thông tin, Kỹ thuật điện tử truyền thông, Kỹ thuật mật mã, Hồ sơ Lưu trữ, Hành chính văn thư với tổng số 850 học viên Trong
2 Một số khái niệm cơ bản trong KTĐG
2.1 Khái niệm về Đo lường – Đánh giá – Định giá trị
2.1.1 Đo lường (Measurement)
Đo lường là sử dụng mọi hình thức, phương tiện để tìm hiểu về một (hay nhiều) khía cạnh nào đó của một (hay nhiều) người Có nghĩa là đo lường cũng đề cập đến các phương thức, công cụ để đưa ra những căn cứ, cơ sở cho đánh giá [23]
Trang 22Theo PGS.TS Lê Đức Ngọc (2005), đo lường trong giáo dục là quá trình thu thaapjong tin một cách định lượng (số đo) về các đại lượng đặc trưng của quá trình giáo dục (nhận thức, tư duy, kỹ năng và phẩm chất nhân văn) [15] Theo tác giả Nguyễn Phụng Hoàng “ Đo lường là một phương pháp dùng bài trắc nghiệm hoặc một dụng cụ để đạt được một mức đo định lượng
và tương đối khách quan về một hay nhiều tính chất nào đó”[7]
Đo lường còn là một qui trình giúp phân biệt những phẩm chất, đặc tính hành vi Đặc biệt đo lường dùng để ấn định con số miêu tả những đặc tính, tính chất của một người, một đồ vật hay một sự kiện Trong đánh giá, đo lường là sự so sánh một sự vật, một hiện tượng với một chuẩn mực nào đó Khi dùng đến khái niệm này có nghĩa là khẳng định tính định lượng, tính chính xác và tính đơn nhất của kết quả đánh giá
2.1.2 Đánh giá (Essessment)
Trong giáo dục có nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá Tuy nhiên nó vẫn còn phụ thuộc nhiều vào cấp độ đánh giá, đối tượng, mục đích cần đánh giá Theo tác giả Jean Marie De Ketele, đánh giá có nghĩa là: [34]
+ Thu thập thông tin đủ thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy
+ Xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này với một tập hợp các tiêu chí phù hợp với mục tiêu định ra ban đầu hay đã điều chỉnh trong quá trình thu thập thông tin
+ Nhằm ra một quyết định
“Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lí giải kịp thời, có hệ thống thông tin và hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động tiếp theo” theo tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc trong cuốn Cơ sở lí luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học viên phổ thông
Theo tác giả Lâm Quang Thiệp, đánh giá là căn cứ vào các số đo và các tiêu chí xác định đánh giá năng lực và phẩm chất của sản phẩm đào tạo để
Trang 23nhận định, phán đoán và đề xuất các quyết định nhằm nâng cao không ngừng chất lượng đào tạo Đánh giá có thể là định lượng dựa vào các con số hoặc định tính dựa vào các ý kiến và giá trị [19]
Trong giáo dục, đánh giá được hiểu: “…là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc”[7]
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá nhưng nhìn chung tất cả đều coi đánh giá là quá trình xem xét mức độ phù hợp giữa mục tiêu và thực trạng thực hiện mục tiêu đó
2.1.3 Định giá trị (Evaluation)
Định giá trị là giá trị mà học viên gắn liền với một vật hay một hoạt động
cụ thể Giá trị này trải dần từ việc tiếp nhận giá trị đơn giản (mong muốn nâng cao kỹ năng nhóm) cho tới mức độ thực hiện cao hơn (đảm nhận trách nhiệm đối với việc thực hiện chức năng nhóm có hiệu quả)
Định giá trị được dựa trên giá trị bản chất của những giá trị cụ thể được thể hiện trong hành vi ứng xử cụ thể của học viên từ đó đưa ra các thông tin
có tính ước lượng về trình độ của người học
Nói cách khác, có thể căn cứ vào các thông tin định tính và định lượng
để ước lượng năng lực và phẩm chất của người học trong quá trình đào tạo Tùy theo các mục tiêu khác nhau mà người ta phân loại các loại trắc nghiệm hoặc kiểm tra/định giá trị khác nhau
2.2 Khái niệm về Thi - Kiểm tra
Trang 24chất “quá trình”(formative) thì trong thi tính chất tổng kết luôn luôn là tính chất nổi trội so với tính chất quá trình [16]
2.2.2 Kiểm tra
Theo khoa học giáo dục: Kiểm tra là phương tiện và hình thức của đánh giá, Trong kiểm tra người ta xác định được trước các tiêu chí và không thay đổi chúng trong quá trình kiểm tra cũng như không quan tâm đến quyết định
đề ra [30]
Trong quá trình dạy học, KTĐG là một thành phần của quá trình dạy học, đảm nhận một chức năng lí luận dạy học cở bản, chủ yếu không thể thiếu được trong quá trình này Kiểm tra có 3 chức năng bộ phận liên kết, thống nhất, thâm nhập vào nhau và bổ sung cho nhau đó là: đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh [4]
Về mặt lí luận dạy học: kiểm tra có vai trò thông tin ngược trong dạy học, nó cho biết những thông tin, kết quả về quá trình dạy của thầy và quá trình của học trò để từ đó có những quyết định cho sự điều khiển tối ưu của cả thầy lẫn trò Học viên sẽ học tốt hơn nếu thường xuyên được kiểm tra và được đánh giá một cách nghiêm túc, công bằng với kĩ thuật tốt và hiệu nghiệm [25] Như vậy, trong quá trình dạy học thì kiểm tra là khâu cuối và đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập thông tin, tập hợp những dữ liệu cụ thể về quá trình và thực trạng dạy và học nhằm làm cơ sở cho công tác đánh giá thực trạng và đánh giá kết quả học tập của học viên
2.3 Kết quả học tập – Mục tiêu dạy học
Trang 25nhu cầu đối với học viên Mục tiêu là sự mô tả những gì sẽ đạt được sau khi học một môn học hay một bài học [23]
* Mục tiêu dạy học, mục đích học tập: chính là cơ sở cho việc xác định
nội dung dạy học, phương pháp và phương tiện dạy học, do đó nó cũng là cơ
sở để lựa chọn phương pháp và phương tiện KTĐGkết quả học tập[25]
2.4 Đánh giá kết quả học tập
Đánh giá kết quả học tập là: quá trình đo lường mức độ đạt được của học viên về các mục tiêu và nhiệm vụ của quá trình dạy học, là mô tả một cách định tính và định lượng: tính đầy đủ, tính đúng đắn, tính chính xác, tính vững chắc của kiến thức, mối liên hệ của kiến thức với đời sống, các khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mức độ thông hiểu, khả năng diễn đạt bằng lời nói, bằng văn viết, bằng chính ngôn ngữ chuyên môn của học viên … và cả thái độ của học viên trên cơ sở phân tích các thông tin phản hồi từ việc quan sát, kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, đối chiếu với những chỉ tiêu, yêu cầu dự kiến, mong muốn đạt được của môn học Đánh giá kết quả học tập của học viên là một quá trình phức tạp và công phu Vì vậy, để việc đánh giá đạt kết quả tốt thì quy trình đánh giá gồm những công đoạn sau:
- Phân tích mục tiêu học tập qua các kiến thức, kĩ năng trang bị cho người học
- Đặt ra các yêu cầu về mức độ đạt được các kiến thức, kĩ năng trên dựa trên những dấu hiệu có thể đo lường hoặc quan sát được
- Tiến hành đo lường các dấu hiệu đó để đánh giá mức độ đạt được về các yêu cầu đặt ra, biểu thị bằng điểm số
- Phân tích, so sánh các thông tin nhận được với các yêu cầu đặt ra rồi đánh giá, xem xét kết quả học tập của học viên, xem xét mức độ thành công của phương pháp giảng dạy của thầy… để từ đó cải tiến, khắc phục những nhược điểm
Điều quan trọng trong đánh giá là quán triệt nguyên tắc vừa sức, bám sát yêu cầu của chương trình
Trang 26Đánh giá kết quả học tập dựa trên tiêu trí dạy học sẽ nhận những thông tin phản hồi chính xác nhằm bổ sung, hoàn thiện quá trình dạy học
3 Ý nghĩa của việc kiểm tra – đánh giá
Việc KTĐG có hệ thống và thường xuyên cung giúp cho học viên kịp thời nhận thức mức độ đạt được những kiến thức của mình, còn lỗ hổng kiến thức nào cần được bổ sung trước khi bước vào phần mới của chương trình học tập có cơ hội để nắm chắc những yêu cầu cụ thể đối với từng phần của chương trình Ngoài ra thông qua KTĐG học viên có điều kiện tiến hành các hoạt động trí tuệ: ghi nhớ, tái hiện, hệ thống kiến thức
Ngoài ra việc KTĐG học viên cung cấp cho giáo viên những thông tin
“ngược” giúp người dạy điều chỉnh kịp thời hoạt động dạy
KTĐG kết hợp với việc theo dõi thường xuyên tạo điều kiện cho giáo viên nắm được một cách cụ thể và khá chính xác năng lực và trình độ mỗi học viên trong lớp mình dạy để có thể có biện pháp phụ đạo bồi dưỡng riêng thích hợp qua đó của những cải tiến nội dung, phương pháp hình thức tổ chức dạy học mà mình theo đuổi
4 Trắc nghiệm và những vấn đề liên quan
4.1 Các công cụ đo lường kết quả học tập
Dựa vào hình thức diễn đạt, có thể hình dung hệ thống các phương pháp kiểm tra – đánh giá trong dạy học qua sơ đồ sau:
Hình 1: Các phương pháp kiểm tra – đánh giá
Trắc nghiệm tự luận
(Essay tests)
Đúng sai Trả lời ngắn
Điền khuyết Ghép đôi
Cung cấp thông tin Tiểu luận
Nhiều lựa chọn
Trang 274.1.1 Phương pháp quan sát
Quan sát giúp xác định cử chỉ, thái độ, hành vi, sự phản ứng, thao tác thực hành, kĩ năng thực hành và một số kĩ năng về nhận thức khác của người được kiểm tra Phương pháp này chủ yếu mang tính chất định tính nên thường dùng trong đánh giá kết quả thực hành
4.1.2 Phương pháp vấn đáp
Vấn đáp (hỏi và trả lời) có thể dùng lời hoặc không dùng lời Đối với trắc nghiệm không dùng lời thì người hỏi dùng điệu bộ, phim, tranh ảnh , người trả lời có thể dùng lời hoặc không Phương pháp dùng lời được phổ biến hơn mà chúng ta hay gọi là kiểm tra vấn đáp Phương pháp này vừa định tính vừa định lượng, độ chính xác tương đối cao, có giá trị nhiều mặt Nó thích hợp với cả người dạy và người học, đặc biệt có lợi trong kiểm tra xử lí tình huống, rèn phản ứng nhanh nhạy cho HS Tuy nhiên phương pháp này không thích hợp cho việc đánh giá một phổ rộng với khối lượng lớn kiến thức, trên nhiều HS trong một thời gian ngắn Câu hỏi để HS trả lời đa số chỉ nằm trong một nội dung hẹp nào đó
4.1.3 Phương pháp kiểm tra viết
Đây là hình thức được dùng phổ biến trong dạy học Kiểm tra theo kiểu này có những ưu điểm sau:
- Cho phép kiểm tra nhiều HS một lần
- Cung cấp một bản ghi rõ ràng các câu trả lời của thí sinh dùng cho việc chấm điểm
- Cho phép thí sinh cân nhắc trước khi trả lời các câu hỏi, do đó kiểm tra được sự phát triển trí tuệ ở mức cao hơn
- Dễ quản lí vì bản thân người chấm không tham gia trực tiếp trong thời gian kiểm tra
4.2 Trắc nghiệm và những vấn đề liên quan
4.2.1 Khái niệm về trắc nghiệm
Theo Trần Bá Hoành: “Trắc nghiệm trong giáo dục là một phương pháp
Trang 28đo để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của HS như chú ý, ghi nhớ, tưởng tượng… hoặc để kiểm tra đánh giá một số kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ của HS” [6]
Theo Dương Thiệu Tống: “Trắc nghiệm là công cụ hoặc quy trình có tính hệ thống nhằm đo lường một mẫu các hành vi Trắc nghiệm giúp ta trả lời câu hỏi: thành tích của các cá nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến?” [20]
Tóm lại, Trắc nghiệm là một công cụ để đánh giá các nội dung cần được kiểm tra thông qua việc giải quyết vấn đề hay trả lời câu hỏi
4.2.2 Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
4.2.2.1 Trắc nghiệm tự luận
TNTL là phương pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc sử dụng công cụ
đo lường là các câu hỏi đóng hoặc mở, học viên trả lời dưới dạng bài viết bằng chính ngôn ngữ của học viên trong một khoảng thời gian đã định trước [8] Đây là một phương pháp kiểm tra được sử dụng khá phổ biến trước đây Một bài kiểm tra dưới dạng trắc nghiệm tự luận được xây dựng dưới dạng câu hỏi mở, mang tính tự luận gồm khoảng 2 đến 3 câu hỏi Học viên sẽ trình bày kiến thức trong một bài viết dài để giải quyết vấn đề mà câu hỏi đặt ra Để hoàn thành tốt bài trắc nghiệm tự luận học viên cần hiểu và nhớ kiến thức thật tốt đồng thời trình bày bài một cách lôgic, chặt chẽ, chính xác và rõ ràng Câu hỏi dạng này thường được giáo viên sử dụng để kiểm tra dạng kiến thức bao quát, đòi hỏi học viên cần phải tư duy, suy luận và diễn đạt ý kiến của mình Loại câu hỏi này còn giúp học viên có thể tự do diễn đạt ý tưởng, kiến thức và phát huy được óc sáng tạo, đặc biệt là trong các môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, những môn học cần có sự tư duy và sáng tạo cao
Ưu điểm của trắc nghiệm tự luận
Ưu điểm chính của câu hỏi TN tự luận là dạng câu hỏi có câu trả lời tự
do, cho phép kiểm tra được những vấn đề lớn, mang tính bao quát, tổng hợp
từ nhiều chương, nhiều phần Hình thức kiểm tra này tạo điều kiện cho học
Trang 29viên trình bày, diễn đạt tri thức theo cách hiểu riêng của mình, bên cạnh đó còn có thể bộc lộ khả năng suy luận, óc sáng tạo trong việc so sánh, sắp xếp các ý kiến, quan điểm Khả năng giải thích, thiết lập các mối tương quan giữa các dữ kiện cũng được thỏa mãn, từ đó có thể tổng kết ý kiến cho nhiều vấn
đề khác nhau
Câu hỏi tự luận tương đối dễ soạn, đặc biệt là ít có sai sót trong khâu diễn đạt, ý tưởng rõ ràng, học viên dễ hiểu khi tiếp cận đề
TNTL cho phép chúng ta đánh giá trực tiếp các kỹ năng viết Bên cạnh
đó, câu hỏi tự luận còn đo được các kết quả học tập phức tạp mà không thể đo được bằng những công cụ khác: khả năng sắp đặt hay phác hoạ, khả năng thẩm định, khả năng chọn lựa các ý tưởng quan trọng và tìm mối quan hệ giữa các ý tưởng ấy, khả năng viết văn, khả năng sáng tạo
TNLT là sự thoải mái trong việc thiết kế câu hỏi Ưu điểm này là một nhân tố quan trọng cho giáo viên sử dụng rộng rãi, giúp họ tiết kiệm được khá nhiều thời gian cho việc soạn thảo đề thi Nhưng đôi khi, chính ưu điểm nổi bật này dẫn đến sai lầm, đó là việc soạn thảo nhanh sẽ khiến giáo viên ít chú ý đến mục tiêu đánh giá môn học
Một ưu điểm hết sức quan trọng và dễ dàng nhận thấy nữa của câu hỏi tự luận là: để có một phần trả lời tốt và đầy đủ cho câu hỏi tự luận, học viên cần phải học và hiểu bài một cách kĩ lưỡng, chuẩn bị tốt kiến thức cho lần kiểm tra hoặc thi sau đó Việc tập trung học và hiểu bài đó thường phù hợp với yêu cầu của giáo viên và thực sự thúc đẩy học viên trong học tập
Nhược điểm của trắc nghiệm tự luận
Nhược điểm hay được nhắc đến nhất của câu hỏi tự luận là việc chấm điểm không mang lại độ tin cậy cao Với nhiều nghiên cứu khác nhau người
ta nhận thấy rằng trên cùng một bài luận nhưng lại có những điểm số khác nhau được chấm bởi các giáo viên khác nhau, thậm chí trên cùng một giáo viên cũng cho điểm khác nhau trong những lần chấm khác nhau Nguyên nhân của việc độ tin cậy thấp là do giáo viên không xác định rõ những kết quả
Trang 30học tập được đo cũng như sai lầm trong công tác lập dàn ý cho đáp án
TNTL cần có khối lượng thời gian lớn cho việc chấm bài Để việc chấm bài được thực hiện chính sác và có sự phản hồi lại cho học viên đòi hỏi giáo viên đầu tư thời gian
Nội dung kiểm tra trong bài tự luận có giới hạn Một vài câu hỏi trong một bài trắc nghiệm tự luận chỉ đo lường được một lượng kiến thức nhất định, trong khi đó có rất nhiều nội dung bị bỏ qua Tính chất không đầy đủ này khiến cho những câu hỏi tự luận đặc biệt không hiệu quả đối với việc đo lường khả năng nhận biết các thông tin thực tế Bên cạnh đó, câu hỏi tự luận khó để hạn chế nạn copy, gian lận trong thi cử, đặc biệt là tình trạng học tủ rất phổ biến trong học viên Kèm theo đó là tình trạng học vẹt, cố học cho thuộc bài để thi, kiểm tra mà không hiểu sâu sắc nội dung bài học
4.2.2.2 Trắc nghiệm khách quan
TNKQ là phương pháp KTĐGkết quả học tập của học viên bằng hệ thống câu hỏi TNKQ gọi là “ khách quan” vì cách chấm điểm hoàn toàn
khách quan không phụ thuộc vào người chấm [6]
Phương pháp trắc nghiệm khách quan có thể chia làm bốn loại:
a Loại điền khuyết hay câu trả lời ngắn
Đây là dạng TNKQ có câu trả lời tự do, được trình bày dưới hai dạng thức Nếu là một lời phát biểu còn thiếu thì gọi là điền vào chỗ trống, nếu được trình bày dưới dạng câu hỏi thì cần có câu trả lời ngắn
Câu trắc nghiệm điền khuyết yêu cầu học viên đưa ra một từ, một con số, một biểu tượng thích hợp cho một câu hỏi trực tiếp hay một lời dẫn thiếu hoàn chỉnh Nó có thể được sử dụng để đo lường những kết quả học tập ở cấp
độ nhận biết đơn giản Những câu trắc nghiệm điền khuyết có thể được thiết
kế một cách dễ dàng và thoải mái sử dụng nên chúng rất được ưa thích Khi
sử dụng câu trắc nghiệm điền khuyết, câu hỏi phải được trình bày rõ ràng và ngắn gọn, súc tích, không có những thông tin không liên quan, tránh sử dụng câu tối nghĩa, câu có quá nhiều từ hoặc từ quá khó; cấu trúc câu phức tạp; lời
Trang 31dẫn không rõ ràng; tài liệu minh họa không rõ ràng; có những cản trở về giới, dân tộc, chủng tộc
Ưu điểm loại điền khuyết
- Học viên có được cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường, phát huy óc sáng tạo
- Phương pháp chấm điểm nhanh hơn và đáng tin cậy hơn, mặc dù việc cho điểm có phần rắc rối hơn so với các loại trắc nghiệm khách quan khác
- Học viên không có cơ hội đoán mò câu trả lời như trong trường hợp các loại trắc nghiệm khách quan khác, thay vào đó phải nhớ ra hoặc nghĩ ra câu trả lời
- Loại trắc nghiệm điền khuyết dễ soạn hơn loại ghép đôi hay loại có nhiều câu trả lời để chọn lựa
- Các câu hỏi loại điền khuyết hay có câu trả lời ngắn rất thích hợp cho những vấn đề như tính toán, cân bằng phương trình hoá học, nhận biết các vùng trên bản đồ hoặc giản đồ, đánh giá mức hiểu biết các nguyên lý, giải thích dữ kiện, diễn đạt ý kiến và thái độ
- Giúp học viên luyện trí nhớ khi học
- Xây dựng một câu trắc nghiệm điền khuyết là tương đối dễ, ít tốn thời gian
- Yếu tố đoán mò được loại trừ bởi vì trắc nghiệm điền khuyết đòi hỏi phải nhắc lại
Nhược điểm loại điền khuyết
- Giáo viên thường có khuynh hướng trích nguyên văn các câu từ sách giáo khoa
- Giáo viên có thể hiểu sai, đánh giá thấp giá trị các câu trả lời sáng tạo, khác ý giáo viên nhưng vẫn hợp lý, nhất là khi học viên đọc thêm sách và tài liệu ngoài giáo trình, như trong các môn khoa học tự nhiênchẳng hạn
Trang 32- Nhiều câu hỏi loại điền khuyết ngắn và gọn có khuynh hướng đề cập các vấn đề không quan trọng hoặc không liên quan nhau Phạm vi khảo sát thường chỉ giới hạn vào chi tiết, các sự kiện vụn vặt
- Các yếu tố như chữ viết, đánh vần sai, có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá câu trả lời
- Việc chấm bài mất nhiều thời giờ hơn so với loại trắc nghiệm “đúng - sai” hoặc trắc nghiệm có nhiều câu trả lời cho sẵn để chọn
- Khi có nhiều chỗ chừa trống trong một câu hỏi, học viên có thể rối trí
- Thiếu yếu tố khách quan lúc chấm điểm Mặc dầu phương pháp chấm điểm loại trắc nghiệm “điền khuyết” có tính chất khách quan hơn loại tự luận, giáo viên vẫn gặp nhiều phiền phức hơn khi chấm các câu trắc nghiệm điền khuyết vì giới hạn câu trả lời đúng rộng rãi hơn
- Câu trắc nghiệm điền khuyết khuyến khích học viên ở mức độ thấp, chỉ dừng lại ở việc học thuộc lòng những câu trả lời phức tạp
b Trắc nghiệm “đúng sai”
Loại câu TN này yêu cầu học viên đọc những câu phát biểu và phán đoán xem nội dung hay hình thức của câu đó đúng hay sai Loại câu TN này phù hợp với việc khảo sát trí nhớ những sự kiện hoặc nhận biết các sự kiện, đánh giá độ chính xác của vấn đề, các khái niệm, nguyên tắc…
Loại này vừa có khả năng định tính vừa có khả năng định lượng, chỉ đòi hỏi tư duy và kiến thức tích lũy nhưng lại dễ đoán mò, độ tin cậy thấp và cho xác suất đúng cao
Một dạng câu hỏi đúng – sai thông thường đó là học viên có thể nhận biết câu này sai (vì nó không đúng) nhưng lại không xác định được cái gì là sai Kéo theo đó, khi học viên trả lời câu hỏi đó là sai thì họ lại không xác định được như thế nào là đúng
Ưu điểm của dạng câu hỏi Đúng - Sai
- Loại TN này giúp học viên có thể nắm bắt được nhiều nội dung, TN được nhiều lĩnh vực rộng lớn trong thời gian rất ngắn Trong cùng một thời
Trang 33gian, học viên có thể làm ba câu trả lời cho câu hỏi đúng-sai, trong khi đó chỉ làm được hai câu dạng nhiều lựa chọn
- Câu hỏi dạng này chiếm ít thời gian hơn trong việc soạn thảo, dễ thiết
kế - Dạng câu hỏi này đảm bảo được tính khách quan khi chấm bài
Nhược điểm của dạng câu hỏi Đúng - sai
- Yếu tố hạn chế của dạng TN đúng-sai là khả năng đoán mò cao Chỉ với hai sự lựa chọn, học viên có cơ hội 50/50 để lựa chọn câu trả lời đúng
- Do khả năng đoán mò cao nên dạng câu hỏi này không được dùng để đánh giá điểm yếu của học viên Đối với lượng kiến thức và lĩnh vực kiến thức nhất định, sự phân tích kết quả trong mỗi câu trả lời do vậy mà không mang nhiều ý nghĩa Điều này dẫn đến giá trị của dạng bài trắc nghiệm này thấp
- Độ tin cậy đối với dạng câu hỏi này thấp, nên để kết quả đo lường đáng tin cậy thì cần nhiều câu hỏi hơn trong một bài kiểm tra Tất nhiên yếu tố này cũng giúp cho giáo viên kiểm tra được khối lượng kiến thức rộng nhưng đối với những môn học hoặc những lĩnh vực kiến thức cần tập trung hơn thì chưa thích hợp
- Đối với những câu hỏi thuộc về các lĩnh vực khoa học xã hội, nhân văn hay nghệ thuật cần đặt trong một ngữ cảnh xác định mới đánh giá được câu hỏi đó đúng hay sai
- Ngoài ra, khi soạn dạng câu hỏi này, thường có khuynh hướng chọn nguyên văn, nguyên mẫu các câu trong sách hoặc trong tài liệu Điều này dễ khiến học viên chủ
- Đối với những học viên yếu, những câu phát biểu sai có thể khiến họ học những điều sai lầm một cách vô ý thức
- Khác với dạng TN nhiều lựa chọn, trong TN đúng – sai, học viên phải quyết định giữa hai điều để chọn, nghĩa là giới hạn chọn đáp án đúng quá hẹp Việc này có thể làm cho học viên giỏi khó chịu hay thất vọng, thậm chí bối rối, dẫn đến suy nghĩ phức tạp về câu hỏi Chẳng hạn như họ nghĩ rằng cần phải có điều kiện rõ ràng mới có thể quyết định lời phát biểu đúng hay sai
Trang 34hoặc có thể có trường hợp ngoại lệ chứ không thể có trường hợp hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai
c Loại ghép đôi (xứng hợp)
TN này được thiết kế dưới dạng cột, bên mỗi cột là những thông tin kiến thức mà giáo viên muốn học viên nối lại cho thích hợp Nội dung ở mỗi cột có thể là số, chữ, nhóm chữ hoặc câu Dựa trên một hệ thức tiêu chuẩn nào đó đã được định trước, học viên sẽ nối các chữ, nhóm chữ, số hoặc câu đó lại với nhau Số phần tử trong hai cột có thể bằng nhau hoặc khác nhau
Dạng TN này có thể xem là biến thể của dạng nhiều lựa chọn Để sử dụng dạng TN này, giáo viên cần xác định mục tiêu đánh giá của mình TN ghép đôi rất thích hợp với dạng thức kiểm tra về các mối liên quan, các sự kiện, vấn đề kèm theo những ý nghĩa tương xứng Nó cũng có thể được sử dụng để kiểm tra các lượng kiến thức đơn giản và cụ thể hơn như tên của các nhà khoa học cùng các phát minh của họ, ngày tháng của các biến cố, sự kiện,
Những ưu, nhược điểm của dạng TN ghép đôi:
Ưu điểm của dạng TN ghép đôi
- TN loại ghép đôi rất thích hợp với những dạng câu hỏi bắt đầu bằng những từ như “ai”, “ở đâu”, “khi nào”, “cái gì”
- Câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng, đặc biệt thích hợp khi cần thẩm định các mục tiêu mức ở nhận thức và tư duy thấp Tuy nhiên vẫn có thể viết những câu hỏi ở mức trí năng cao hơn Loại này thường được xem có hiệu quả nhất trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức, các mối quan hệ trung gian
Trang 35đó, nếu phần tử ở cột câu hỏi khác cột trả lời thì yếu tố may rủi càng giảm đi đáng kể
Nhược điểm của dạng TN ghép đôi
- Để tiết kiệm thời gian, giáo viên thường chỉ sử dụng dạng câu hỏi này
để đánh giá lượng kiến thức về ngày tháng, tên, định nghĩa, công thức, dụng cụ TN ghép đôi không thích hợp với việc thẩm định khả năng lý luận hay
áp dụng công thức, kiến thức, nguyên lý trong khi làm bài
- Học viên sẽ mất nhiều thời gian khi phải đọc hết các phần tử ở hai cột nếu các phần tử ấy quá nhiều hoặc khác thể loại Điều này dễ khiến cho học viên bị dẫn đến tâm lý chán nản, không muốn đọc bài Chính vì vậy nên có ít nhất 6 phần tử và nhiều nhất là 12 phần tử trong mỗi câu hỏi
d Loại câu hỏi có nhiều câu trả lời để lựa chọn (đa lựa chọn)
Loại câu hỏi TN khách quan đa lựa chọn là câu hỏi TN gồm hai phần: phần gốc và phần lựa chọn Đây là một dạng câu hỏi TNKQ được sử dụng khá rộng rãi hiện nay bởi nhiều tính năng ưu việt của nó Tuy nhiên, cũng như các dạng câu hỏi TNKQ khác, dạng TN này cũng có những ưu, nhược điểm riêng của nó:
Ưu điểm của dạng TN nhiều lựa chọn
- Có thể đo được khả năng tư duy khác nhau Với sự phối hợp của nhiều phương án trả lời cho mỗi câu hỏi, giáo viên có thể dùng loại trắc nghiệm nhiều lựa chọn để kiểm tra, đánh giá những mục tiêu giảng dạy khác nhau, ví dụ:
Xác định mối quan hệ nhân quả
Nhận biết những điều sai lầm
Ghép các kết quả hay các điều quan sát với nhau
Định nghĩa các thành ngữ
Tìm nguyên nhân của một số sự kiện
Nhận biết một số điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều vật
Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ các sự kiện
Trang 36 Xác định thứ tự hay cách sắp đặt giữa nhiều vật
Xét đoán nhiều vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm
- Độ tin cậy cao Yếu tố đoán mò hay may rủi giảm đi so với loại trắc nghiệm khách quan khác khi số phương án lựa chọn tăng lên
- Học viên phải xét đoán và phân biệt rõ ràng khi trả lời câu hỏi
- Độ giá trị tốt hơn nhờ tính chất có thể dùng đo các mức tư duy khác nhau
- Có thể phân tích được tính chất mỗi câu hỏi (dễ, khó, có giá trị hay không ) và cả bài trắc nghiệm
- Có tính khách quan khi chấm điểm
Nhược điểm của dạng TN nhiều lựa chọn
- Khó soạn câu hỏi Một giáo viên có kinh nghiệm và khả năng cũng phải mất nhiều thời gian và công sức mới có thể viết được những câu hỏi hay
và đúng kỹ thuật Điều khó là ở chỗ phải tìm cho được câu trả lời đúng nhất trong số các phương án trả lời nào nghe cũng có vẻ hợp lý Thêm vào đó, các câu hỏi phải đo được các mức năng lực nhận thức cao hơn mức nhớ
- Thí sinh có thể có những câu trả lời hay hơn phương án đúng đã cho nên họ có thể không thoả mãn
- Câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo bằng câu hỏi tự luận soạn kỹ
- Một khuyết điểm nhỏ khác là tốn nhiều giấy để in bài kiểm tra và học viên mất nhiều thời gian để đọc câu hỏi
4.1.3 Những ưu điểm, nhược điểm của TNKQ so với các hình thức kiểm tra khác
Như trên đã trình bày, đối với dạng câu hỏi TN tự luận hay TNKQ cũng đều có những ưu, nhược điểm khác nhau Ưu, nhược điểm của mỗi dạng câu hỏi đã được trình bày cụ thể, tuy nhiên chúng ta có thể khái quát một số điểm khác biệt của câu hỏi TNKQ so với các hình thức kiểm tra khác
4.1.3.1.Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan
Trang 37- Do số lượng của câu hỏi nhiều nên phương pháp TNKQ có thể kiểm tra nhiều nội dung kiến thức bao trùm gần cả học phần, nhờ vậy buộc học viên phải học thật kĩ tất cả các nội dung kiến thức trong học phần
- Phương pháp TNKQ buộc học viên phải tự giác, chủ động, tích cực học tập Điều này tránh được tình trạng học tủ, học lệch trong học viên
- Thời gian làm bài từ 1 ÷ 3 phút một câu hỏi, hạn chế được tình trạng quay cóp và sử dụng tài liệu
- Làm bài TNKQ học viên chủ yếu sử dụng thời gian để đọc đề, suy nghĩ, không tốn thời gian viết ra bài làm như TNTL do vậy có tác dụng rèn luyện kỹ năng nhanh nhẹn phát biểu tư duy cho học viên
- Do số câu hỏi nhiều nên bài TNKQ thường gồm nhiều câu hỏi do đó có
độ giá trị và độ tin cậy cao
- Có thể phân tích tính chất câu hỏi bằng phương pháp thủ công hoặc nhờ vào các phần mềm tin học do vậy có thể sửa chữa, bổ sung hoặc loại bỏ các câu hỏi để bài TNKQ làm cho chúng ngày càng có giá trị hơn
- Ngoài ra việc phân tích câu hỏi còn giúp giáo viên lưa chọn phương pháp dạy phù hợp, hướng dẫn học viên có phương pháp học tập đúng đắn, ít tốn công sức, thời gian chấm bài và hoàn toàn khách quan, không có sự chênh lệch giữa các giáo viên cùng chấm
- Kiểm tra bằng phương pháp TNKQ có độ may rủi ít hơn TNTL vì không có những trường hợp trúng tủ, từ đó loại bỏ dần những thói quen đoán
mò, học lệch, học tủ, chủ quan.sử dụng tài liệu…của học viên, nó đang là mối
lo ngại của nhiều giáo viên hiện nay
- Điểm của bài kiểm tra TNKQ hầu như thật sự là điểm do học viên tự làm bài, vì học viên phải làm được 2, 3…câu trở lên thì mới được một điểm trong thang điểm 10 Do vậy xác suất quay cóp, hoặc chỉ đoán mò để được điểm rất thấp
4.1.3.2.Nhược điểm của trắc nghiệm khách quan
Trang 38- TNKQ dùng để đánh giá các mức trí năng ở mức biết, hiểu thì thật sự
có ưu điểm còn ở mức phân tích, tổng hợp, đánh giá và năng lực thực nghiệm thì bị hạn chế, ít hiệu quả vì nó không cho phép kiểm tra khả năng sáng tạo, chủ động, khả năng tổng hợp kiến thức cũng như phương pháp tư duy suy luận, giải thích, chứng minh của học viên Vì vậy đối với cấp học càng cao thì khả năng áp dụng hình thức TNKQ càng bị hạn chế
- Phương pháp TNKQ chỉ cho biết ‘kết quả” suy nghĩ của học viên mà không cho biết quá trình tư duy, thái độ của học viên đối với nội dung được kiểm tra, do đó không đảm bảo đươc chức năng phát hiện lệch lạc của kiểm tra để từ đó có sự điều chỉnh việc dạy và việc học
- Do sẵn có phương án trả lời câu hỏi, nên TNKQ khó đánh giá được khả năng quan sát, phán đoán tinh vi, khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, khả năng tổ chức sắp xếp, diễn đạt ý tưởng, khả năng suy luận, óc tư duy độc lập, sáng tạo và sự phát triển ngôn ngữ chuyên môn của học viên
- Việc soạn được câu hỏi đúng, chuẩn là công việc thực sự khó khăn, nó yêu cầu người soạn phải có chuyên môn khá tốt, có nhiều kinh nghiệm và phải có thời gian Điều khó nhất là ngoài một câu trả lời đúng thì các phương
án trả lời khác để chọn cũng phải có vẻ hợp lý
- Do số lượng câu hỏi nhiều bao trùm nội dung của cả chương trình học nên câu hỏi chỉ đề cập một vấn đề, một kiến thức, câu không khó do đó hạn chế việc phát triển tư duy cao ở học viên khá giỏi Có thể có một số câu hỏi
mà những học viên thông minh có thể có nhưng câu trả lời hay hơn đáp án đúng đã cho sẵn, nên những học viên đó không cảm thấy thoả mãn
- Khó soạn được một bài TNKQ hoàn hảo và tốn kém trong việc soạn thảo, in ấn đề kiểm tra và học viên cũng mất nhiều thời gian để đọc câu hỏi Qua những vấn đề đã nêu trên có thể thấy rằng, phương pháp TNKQ không phải là phương pháp tối ưu thay thế hoàn toàn những phương pháp khác trong đánh giá kết quả học tập Trong quá trình sử dụng, cần nắm vững bản chất của các phương pháp kiểm tra đánh giá Cần kết hợp các phương
Trang 39pháp đánh giá đối từng môn học, lớp học cho phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ, nhằm phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của mỗi phương pháp Trong tình hình thực tế hiện nay, cần cố gắng đưa phương pháp TNKQ vào những môn học có thể được và tỷ trọng sử dụng phương pháp TNKQ trong đánh giá kết quả học tập ngày một lớn hơn
4.2 So sánh trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
Có nhiều tranh luận về loại nào tốt hơn TNTL hay TNKQ Câu trả lời sẽ tuỳ thuộc vào mục đích của việc kiểm tra – đánh giá Mỗi loại câu hỏi đều có
ưu điểm cho một số mục đích nào đó Ưu và nhược điểm của mỗi loại TNKQ
Việc chuẩn bị câu hỏi TNTL do số
lượng ít nên không khó lắm nếu giáo
viên giỏi trong lĩnh vực chuyên môn
Việc chuẩn bị câu hỏi phải nhiều do đó phải đòi hỏi có nhiều kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn vững chắc Đây
là công việc rất tốn thời gian, công sức vì vậy nếu có ngân hàng đề thi công việc này đỡ tốn công sức hơn
Phạm vi
bao quát
Có thể kiểm tra đánh giá được một
phạm vi kiến thức nhỏ nhưng rất sâu
với số lượng câu hỏi trong một bài
kiểm tra ít
Vì có thể trả lời nhanh nên số lượng câu hỏi lớn, do đó bao quát một phạm vi kiến thức rộng hơn
diễn đạt ý tưởng bằng chính ngôn ngữ
của mình một cách hiệu quả và nó tạo
cơ sở cho giáo viên đánh giá những ý
tưởng đó, song một bài TNTL dễ tạo ra
sự “lừa dối” vì học viên có thể khéo
léo tránh đề cập đến những điểm mà
họ không biết hoặc chỉ biết mập mờ
Học viên ít liên quan đến việc
tổ chức sắp xếp và diễn đạt ý tưởng của mình, song TNKQ khuyến khích học viên tích luỹ nhiều kiến thức và kĩ năng, không “học tủ” nhưng đôi khi dễ tạo sự đoán mò
Trang 40Trắc nghiệm tự luận Trắc nghiệm khách quan Việc
chấm
điểm
Đây là công việc khó khăn, mất nhiều
thời gian và khó cho điểm chính xác
nên đòi hỏi giáo viên phải luôn luôn
cẩn thận, công bằng, tránh thiên vị
Công việc chấm điểm nhanh chóng và tin cậy, đặc biệt chiếm ưu thế khi cần kiểm tra một số lượng lớn học viên
Những
năng lực
đo được
- Học viên có thể tự diễn đạt ý
tưởng bằng chính ngôn ngữ chuyên
môn của mình nhờ vào kiến thức và
kinh nghiệm đã có
- Có thể đo lường khả năng suy luận
như: sắp xếp ý tưởng, suy diễn, tổng
quát háo, so sánh, phân biệt, phân tích,
tổng hợp một cách hữu hiệu
- Không đo lường kiến thức ở mức trí
năng biết, hiểu một cách hữu hiệu
- Học viên chọn một câu đúng nhất trong số các phương án trả lời cho sẵn hoặc viết thêm một vài từ hoặc một câu để trả lời
- Có thể đo những khả năng suy luận như: Sắp đặt ý tưởng, suy diễn, so sánh và phân biệt nhưng không hữu hiệu bằng TNTL
- Có thể kiểm tra – đánh giá kiến thức của học viên ở mức trí năng biết, hiểu một cách hữu hiệu
Bảng 1: So sánh trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
4.3 Đánh giá một bài trắc nghiệm khách quan loại câu hỏi nhiều lựa chọn
4.3.1 Phân tích câu hỏi
Mục đích phân tích câu hỏi: Sau khi chấm bài ghi điểm một bài kiểm tra TNKQ, cần đánh giá hiệu quả từng câu hỏi Muốn vậy, cần phải tích các câu trả lời của học viên cho mỗi câu hỏi TNKQ.Việc phân tích này có 2 mục đích:
- Kết quả bài kiểm tra giúp giáo viên đánh giá mức độ thành công của phương pháp dạy học để kịp thời thay đổi phương pháp học cho phù hợp
- Việc phân tích câu hỏi còn để xem học viên trả lời mỗi câu hỏi như thế nào, từ đó sửa lại nội dung câu hỏi để TNKQ có thể đo lường thành quả, khả năng học tập của học viên một cách hữu hiệu hơn