1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ việt trung giai đoạn 1986 2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)

204 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 5,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những địa phương biên giới đó, đáng chú ý là quan hệ hợp tác Việt – Trung trên địa bàn hai tỉnh Quảng Ninh Việt Nam và Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây Trung Quốc.. Đây là tỉnh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

=====***=====

NGÔ THI ̣ LAN PHƯƠNG

QUAN HỆ VIỆT – TRUNG GIAI ĐOẠN 1986-2010 QUA TRƯỜNG HỢP QUAN HỆ HAI TỈNH QUẢNG NINH (VIỆT NAM)

VÀ QUẢNG TÂY (TRUNG QUỐC)

Chuyên ngành: Lịch sử thế giới

Mã số: 62.22.03.11

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LI ̣CH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS NGUYỄN HUY QUÝ

PGS.TS LÊ TRUNG DŨNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực Các số liệu và tài liệu tham khảo trong luận án đều đƣợc ghi rõ nguồn Những kết luận khoa học của luận

án chƣa đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận án

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử và bộ môn Lịch sử thế giới; sự giúp đỡ của Viện nghiên cứu Trung Quốc, Uỷ ban Nhân dân và các sở ban ngành của tỉnh Quảng Ninh, Thư viện Quốc gia, Thông tấn xã Việt Nam…

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai thầy hướng dẫn khoa học là PGS Nguyễn Huy Quý và PGS.TS Lê Trung Dũng đã hết sức tận tình, dành nhiều thời gian và tâm huyết giúp đỡ, trao đổi và chỉ ra những định hướng nghiên cứu để tôi hoàn thành luận án

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy chủ nhiệm bộ môn Lịch sử thế giới PGS.TS Nguyễn Văn Kim đã luôn quan tâm giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa học nghiên cứu sinh và hoàn thành luận án của mình

Tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả sự quan tâm và giúp đỡ đó!

Trang 4

MỤC LỤC Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục bảng

Danh mục hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8

1.1 Tình hình nghiên cứu 8

1.2 Những vấn đề đặt ra 14

Chương 2 CƠ SỞ CỦA MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC VI ỆT - TRUNG TRÊN ĐỊA BÀN HAI TỈNH QUẢNG NINH VÀ QUẢNG TÂY TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 18

2.1 Khái quát quan hệ Việt - Trung từ trước khi Việt Nam Đổi Mới (1986) đến năm 1991 18

2.2 Những ưu thế về điều kiện địa lý - tự nhiên của mối quan hệ hợp tác Việt - Trung ở hai tỉnh Quảng Ninh và Quảng Tây 24

2.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Quảng Ninh 24

2.2.2 Điều kiện địa lý – tự nhiên của tỉnh Quảng Tây 30

2.3 Điều kiện xã hội – lịch sử của mối quan hệ hợp tác Việt - Trung ở hai tỉnh Quảng Ninh và Quảng Tây 33

2.3.1 Điều kiện xã hội 33

2.3.2 Điều kiện lịch sử 36

2.4 Những nhân tố quốc tế và khu vực tác động đến quan hệ Việt-Trung và quan hệ giữa hai địa phương Quảng Ninh - Quảng Tây từ sau Đổi Mới của Việt Nam (1986) và sau cuộc chiến tranh Lạnh 40

2.5 Đôi nét về công cuộc Cải cách mở cửa của Trung Quốc và công cuộc Đổi Mới của Việt Nam 43

2.5.1 Đôi nét về Cải cách mở cửa của Trung Quốc 43

2.5.2 Vài nét về công cuộc Đổi Mới của Việt Nam 49

Trang 5

2.6 Cơ sở lợi ích 52

* Tiểu kết 57

Chương 3 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT - TRUNG GIAI ĐOẠN 1986 - 2010 QUA QUAN HỆ HAI TỈNH QUẢNG NINH VÀ QUẢNG TÂY 59

3.1 Quan hệ Chính trị - Ngoại giao (cấp Tỉnh ủy, Ủy ban, cơ quan Ngoại vụ và giữa các địa phương trong tỉnh) 59

3.1.1 Tình hình quan hệ Chính trị - Ngoại giao Việt – Trung 59

3.1.2 Quan hệ chính trị - ngoại giao giữa hai tỉnh 64

3.2 Quan hệ Thương mại - Đầu tư 70

3.2.1 Tình hình quan hệ Thương mại – Đầu tư Việt – Trung 70

3.2.2 Quan hệ Thương mại giữa hai tỉnh 73

3.2.3 Quan hệ Đầu tư giữa hai tỉnh 96

3.3 Quan hệ trên lĩnh vực Du lịch - Văn hóa - Thể thao 100

3.3.1 Lĩnh vực Du lịch 100

3.3.2 Lĩnh vực Văn hóa – Thể thao 102

3.4 Quan hệ trong lĩnh vực Giao thông Vận tải; Y tế; Giáo dục-Đào tạo, Khoa học Kĩ thuật 104

3.4.1 Lĩnh vực Giao thông Vận tải 104

3.4.2 Lĩnh vực Y tế, Giáo dục - Đào tạo, Khoa học - Kĩ thuật 106

3.5 Quan hệ hai tỉnh trong vấn đề biên giới 109

3.5.1 Trong việc bảo vệ trị an khu vực biên giới 109

3.5.2 Trong hoạt động phân giới cắm mốc 112

3.6 Hoạt động xây dựng “Hai hành lang, một vành đai” 116

* Tiểu kết 118

Chương 4 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ VI ỆT - TRUNG GIAI ĐOẠN 1986 – 2010 QUA QUAN HỆ HAI TỈNH QUẢNG NINH – QUẢNG TÂY VÀ TRIỂN VỌNG HỢP TÁC TRONG THỜI GIAN TỚI 121

4.1 Đánh giá chung về quan hệ Việt - Trung giai đoạn 1986 – 2010 trên địa bàn hai tỉnh Quảng Ninh - Quảng Tây 121

4.1.1 Những tác động tích cực 121

Trang 6

4.3 Một số ý kiến góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt – Trung trên địa bàn hai tỉnh Quảng Ninh – Quảng Tây trong thời gian tới 143

* Tiểu kết 145 KẾT LUẬN 147 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 174

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

1 Bảng 3.1 Bảng thống kê tổng kim ngạch buôn bán Việt Nam - Trung Quốc qua

cửa khẩu các tỉnh biên giới (Việt Nam) từ năm 1991 đến năm 1996

2 Bảng 3.2 Bảng thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu 7 tỉnh phía bắc với

Trung Quốc năm 2004

3 Bảng 3.3 Bảng thống kê thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu của Quảng Tây

năm 2000

4 Bảng 3.4 Bảng thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt – Trung

ở Quảng Ninh từ 1996 đến năm 2000

5 Bảng 3.5 Bảng thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu qua biên giới Quảng

Ninh - Quảng Tây từ năm 2000 đến năm 2007

6 Bảng 3.6 Bảng thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu chính ngạch và tiểu

ngạch ở Quảng Ninh giai đoạn 2000-2005

7 Bảng 3.7 Bảng thống kê số dự án và số vốn đăng ký của hoạt động đầu tư

Trung Quốc sang các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam (trong khoảng 2008-2009)

8 Bảng 4.1 Bảng thống kê số lượng và trị giá các vụ buôn lậu bị hải quan Quảng

Ninh phát hiện và xử lí từ 1991 đến 2004 và từ 2006 đến 2010

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN ÁN

1 Hình 2.1 Bản đồ tỉnh Quảng Ninh

2 Hình 2.2 Bản đồ tỉnh Quảng Tây

3 Hình 2.3 Vịnh Hạ Long

4 Hình 2.4 Cảng Cái Lân

5 Hình 2.5 Cầu Hòa Bình - Móng Cái

6 Hình 2.6 Nguồn thủy hải sản dồi dào của Quảng Ninh

7 Hình 2.7 Tài nguyên than đá ở Quảng Ninh

8 Hình 3.1 Sở ngoại vụ Quảng Ninh thăm và làm việc với Ty ngoại vụ Quảng

Tây tại Đông Hưng ngày 28-6-2010

9 Hình 3.2 Đại diện Sở ngoại vụ và Ty ngoại vụ hai tỉnh hội đàm

10 Hình 3.3 Cửa khẩu quốc tế Móng Cái

11 Hình 3.4 Chợ Móng Cái 1

12 Hình 3.5 Khu giải trí quốc tế Tuần Châu

13 Hình 3.6 Tàu du lịch quốc tế vào Hạ Long

14 Hình 4.1 Sự phát triển đô thị ở Quảng Ninh

15 Hình 4.2 Sự phát triển đô thị ở Nam Ninh (Quảng Tây)

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam - Trung Quốc, hai quốc gia núi liền núi, sông liền sông, trải qua hàng nghìn năm đã thiết lập nên mối quan hệ truyền thống lâu đời Mối quan hệ ấy được thử thách qua bao biến cố lịch sử, lúc thăng lúc trầm phụ thuộc chặt chẽ vào tình hình mỗi nước, bối cảnh khu vực và quốc tế

Bước vào thời kì mới xây dựng và phát triển đất nước, cả hai nước Việt - Trung đều tiến hành cải cách và đổi mới đất nước cho phù hợp với tình hình và điều kiện mới Trong xu thế chung hội nhập quốc tế và khu vực, sau một thời kì đóng băng, quan hệ Việt - Trung chính thức khởi động bình thường hóa trở lại vào năm

1991, mở ra những cơ hội mới và hứa hẹn mới cho cả hai nước Đây thực sự là sự kiện có tính chất bước ngoặt trong quan hệ giữa hai nhà nước, là sự kiện lịch sử trọng đại của hai dân tộc Từ đây một bức tranh toàn cảnh mới trong hợp tác phát triển mọi mặt giữa hai bên đã được thiết lập

Với sự liền kề về vị trí địa lý, sự tương đồng về văn hóa truyền thống, những mối liên hệ lịch sử và đặc biệt là đường lối phát triển kinh tế trong thời kì mới, hai nước Trung Quốc và Việt Nam đã tạo nên những tác động và ảnh hưởng lẫn nhau trên nhiều mặt trong quá trình xây dựng và phát triển Bởi lẽ đó, quan

hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước chiếm vị trí quan trọng trong quan hệ đối ngoại của mỗi nước Hơn thế nữa trong bối cảnh mới của khu vực và quốc tế, với

sự gia tăng của hợp tác song phương và đa phương cũng như sự liên kết khu vực thì vấn đề xây dựng quan hệ Việt - Trung thế nào lại càng trở thành mối quan tâm được ưu tiên trong đường lối ngoại giao của mỗi bên Đặc biệt, bước sang đầu thế kỉ XXI, với chiến lược tăng cường liên kết hợp tác với ASEAN của Trung Quốc, vấn đề hợp tác với Việt Nam không chỉ dừng ở quan hệ mang tính truyền thống nữa mà đã nâng lên thành quan hệ đối tác hợp tác chiến lược, bởi những lợi ích của cả hai dân tộc Bởi vậy, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc hình thành phát triển theo chiều hướng tích cực, không những đáp ứng nguyện vọng chính đáng và lợi ích cơ bản lâu dài của nhân dân hai nước mà còn phù hợp với

xu hướng phát triển hiện nay của khu vực và trên thế giới

Trang 10

Tuy vậy, trong bối cảnh chung của quan hệ Việt - Trung, bên cạnh những bước phát triển, mối quan hệ này cũng nảy sinh những tranh chấp, bất đồng, trong

đó đáng lưu ý là vấn đề biên giới, đặc biệt là vấn đề Biển Đông Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm do lịch sử để lại, hơn nữa lại không chỉ đơn thuần là vấn đề song phương mà là đa phương, do vậy cần có thời gian để giải quyết Điều này cũng phản ánh đặc điểm bản chất của mối quan hệ Việt – Trung đó là mối quan hệ xen lẫn giữa hợp tác và đấu tranh

Thực tế cho thấy, trong khoảng hai mươi năm sau khi bình thường hóa, xét một cách tổng thể, quan hệ hợp tác Việt - Trung trên các mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa…đã đạt những thành tựu đáng kể Thành tựu ấy có được là sự đóng góp to lớn của nhiều ngành, nhiều cấp, trong đó cũng cần phải kể đến vai trò của các tỉnh biên giới hai nước Sẽ không thể có được những kết quả hợp tác tích cực trên bình diện cấp nhà nước nếu như quan hệ hợp tác giữa những địa phương biên giới hai nước không phát triển Trong những địa phương biên giới đó, đáng chú ý là quan hệ hợp tác Việt – Trung trên địa bàn hai tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam) và Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc)

Khu tự trị dân tộc Choang - Quảng Tây nằm ở phía nam Trung Quốc, giáp với Quảng Ninh và vịnh Bắc Bộ Đây là tỉnh có ưu thế về vị trí địa lý, về cảng biển và ven biên giới trên bộ, do đó là một trong những tỉnh được hưởng nhiều chính sách ưu đãi của Nhà nước Trung Quốc trong phát triển mọi mặt, đặc biệt là trong quan hệ hợp tác biên giới với các tỉnh của Việt Nam Trên bước đường cải cách - phát triển, Quảng Tây từ một địa phương biên giới nghèo nàn, lạc hậu đã vươn lên trở thành tỉnh có tốc độ phát triển mạnh mẽ chưa từng có, có thời điểm GDP bình quân vượt cả GDP bình quân của cả nước Trung Quốc, năm 1998 đạt 9,1% so với 7,8% [220, 233] và đến năm 2009 là 13,7%, đứng thứ 5 trong cả nước Trung Quốc [160,148] Trong những hoạt động đóng góp vào sự phát triển của Quảng Tây, không thể không kể đến hoạt động hợp tác nhiều mặt của Quảng Tây với các tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam, đặc biệt là với tỉnh Quảng Ninh

Quảng Ninh có chung 132,8 km đường biên giới với Quảng Tây Đây là tỉnh địa đầu đông bắc của Việt Nam, nằm trong tam giác tăng trưởng kinh tế phía bắc của Việt Nam (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) Là địa bàn giàu tiềm năng phát

Trang 11

triển kinh tế - xã hội với cửa khẩu đường bộ, đường biển và tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng, trong những năm 1995-1996, Quảng Ninh có tốc độ phát triển kinh tế xã hội rất nhanh, nằm trong tốp đầu của cả nước, đạt 11,3% [55,13] và đến năm 2005 đạt 12,7% [29] Đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển ấy, không thể không kể đến sự hợp tác nhiều mặt giữa Quảng Ninh và khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây Được sự hỗ trợ về cơ chế chính sách ưu đãi của nhà nước trong quan hệ với địa phương bên kia biên giới, hai bên đã gặt hái nhiều kết quả to lớn từ hợp tác chính trị đến thương mại - đầu tư - du lịch - văn hóa, y tế, giáo dục…

Đặc biệt, với việc chính phủ hai nước đưa ra nhiều sáng kiến hợp tác vùng

và tiểu vùng như ―Hợp tác hai hành lang, một vành đai‖ (hành lang Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và hành lang Côn Minh - Lào Cai -

Hà Nội - Hải Phòng), ―Hợp tác một trục hai cánh‖ ( một trục Nam Ninh - Singapo; hai cánh là khu hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng và khu hợp tác kinh tế xuyênVịnh Bắc Bộ - hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng), trong đó đều có sự tham gia của cả hai địa phương, quan hệ hợp tác Việt – Trung trên địa bàn hai tỉnh Quảng Ninh - Quảng Tây có nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi hơn nữa để phát triển toàn diện, trở thành một minh chứng sinh động của hợp tác Việt – Trung sau khoảng hai thập kỉ bình thường hóa

Tuy nhiên, trải qua quá trình hợp tác, kết quả đạt được vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng, lợi thế và nhu cầu của cả hai bên Vì vậy để đưa mối quan hệ này ngày càng phát triển hơn nữa, chúng ta nhất thiết phải phác họa được quá trình phát triển của quan hệ Việt - Trung trên các lĩnh vực ở địa bàn hai tỉnh, từ đó xây dựng nên các chính sách phù hợp và hiệu quả, góp phần đưa quan hệ Quảng Ninh - Quảng Tây trở thành mối quan hệ Việt – Trung tiêu biểu cấp địa phương hai nước, góp phần đưa quan hệ hai Nhà nước phát triển lên tầm cao mới

Bởi những lí do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài: ―Quan hệ Việt - Trung giai đoạn 1986 - 2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam) và Quảng Tây (Trung Quốc)‖ làm đề tài luận án tiến sĩ

2 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở thu thập, tổng hợp tư liệu, đề tài phân tích, so sánh và đưa ra những kết luận, đánh giá về quan hệ hai tỉnh Quảng Ninh- Quảng Tây để thấy được

Trang 12

quan hệ ấy phản ánh mối quan hệ hai nước đồng thời cũng phản ánh nét đặc thù của Quảng Ninh so với những tỉnh khác dọc biên giới Việt – Trung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quan hệ giữa hai tỉnh Quảng Ninh – Quảng Tây trên các lĩnh vực nằm trong tổng thể mối quan hệ Việt – Trung từ 1986 đến 2010 Trong đó luận án sẽ tập trung chủ yếu vào nghiên cứu lĩnh vực trao đổi thương mại, bởi đây là lĩnh vực hoạt động nổi bật nhất trong quan hệ giữa hai bên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án là quan hệ mọi mặt giữa hai tỉnh Quảng Ninh và Quảng Tây từ năm 1986 đến năm 2010 Mặc dù vậy, để có cái nhìn nhất quán và toàn diện, trong quá trình nghiên cứu, luận án tìm hiểu và luôn đặt mối quan hệ này trong mối quan hệ Việt –Trung cấp nhà nước và trong sự đối sánh với các địa phương biên giới khác (chủ yếu trên lĩnh vực thương mại)

Sở dĩ đề tài chọn mốc nghiên cứu từ năm 1986, mặc dù năm 1991 hai nước mới bình thường hóa, bởi đây là thời điểm Việt Nam tiến hành đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới đường lối đối ngoại Vì vậy đây sẽ là một trong những cơ sở để chúng ta lý giải sự kiện hai nước bình thường hóa quan hệ cũng như những thành tựu hai nước gặt hái được về sau này

Hơn nữa trong khoảng thời gian này dù quan hệ cấp Nhà nước chưa được khôi phục, song ở khu vực ven biên của hai tỉnh Quảng Ninh – Quảng Tây, chúng ta đã thấy xuất hiện những hoạt động trao đổi hàng hóa của cư dân hai bên Mặc dù diễn ra dưới hình thức tự phát song nó đã phản ánh những nhu cầu thiết yếu hàng ngày của nhân dân hai bên biên giới, từ đó cho thấy bối cảnh tương đối đặc thù của vùng biên so với tình hình chung của quan hệ hai nước lúc đó Do đó giai đoạn này (từ 1986 đến trước 1991) được coi như là phần phông nền để nghiên cứu quan hệ toàn diện Việt – Trung trên địa bàn Quảng Ninh – Quảng Tây từ sau bình thường hóa, từ đó cũng sẽ thấy được quá trình phát triển của nó theo chiều dài lịch sử và giúp chúng ta có căn cứ để luận giải nhiều đặc điểm của mối quan hệ giữa hai quốc gia trên địa bàn hai tỉnh này

Trang 13

Không gian nghiên cứu chính của đề tài là toàn bộ địa bàn hai tỉnh Quảng Ninh và Quảng Tây, tính theo đơn vị hành chính đến tháng 12/2010

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Để thực hiện đề tài, luận án tham khảo những nguồn tài liệu sau:

* Tài liệu gốc: bao gồm chủ yếu là các báo cáo tổng kết công tác, các số liệu thống kê định kỳ và hàng năm của các cơ quan ở địa phương như: Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Sở Ngoại vụ, Sở Công thương, Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Văn hóa - Du lịch và Thể thao, Cục Hải quan Quảng Ninh…và những tài liệu do Ty Ngoại vụ Quảng Tây cung cấp cho Sở ngoại vụ Quảng Ninh

* Các Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng Cộng Sản Việt Nam và Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh

* Các công trình nghiên cứu đi trước về quan hệ Việt - Trung qua các giai đoạn, đặc biệt là giai đoạn từ sau khi hai nước tiến hành đổi mới và bình thường hóa quan hệ ngoại giao Ngoài ra luận án còn tham khảo các bài báo và tạp chí có liên quan đến vấn đề nghiên cứu được đăng trên một số cơ quan nghiên cứu chuyên ngành như: Nghiên cứu Trung Quốc (chủ yếu), tạp chí Hải quan, tạp chí Thương mại, Thời báo kinh tế Việt Nam và các trang báo điện tử truy cập qua Internet; Các tài liệu dịch từ các báo - tạp chí của Trung Quốc (thuộc Viện nghiên cứu Trung Quốc quản lý) như: Nhân dân nhật báo, tạp chí Trung cộng nghiên cứu, tạp chí Những vấn đề Viễn Đông, tạp chí kinh doanh Trung Quốc, tạp chí Đông Nam Á tung hoành…

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận sử học mác xít, coi quan hệ giữa 2 tỉnh Quảng Ninh và Quảng Tây như một bộ phận cấu thành của quan hệ Việt - Trung Phương pháp lịch sử trình bày vấn đề theo mạch thời gian kết hợp với phương pháp logic để khái quát hóa những kết quả nghiên cứu, rút ra những đánh giá, nhận xét

Bên cạnh đó luận án còn sử dụng phương pháp thống kê so sánh để làm nổi bật nội dung từng lĩnh vực quan hệ giữa hai tỉnh, thấy rõ những bước phát triển của quan hệ Việt – Trung trên địa bàn hai tỉnh so với quan hệ Việt – Trung nói chung trước và sau năm 1986 cũng như đối sánh với quan hệ hợp tác Việt - Trung trên địa bàn các địa phương biên giới khác

Trang 14

Ngoài ra luận án còn sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích để thấy được mối liên hệ, sự tác động qua lại giữa các lĩnh vực quan hệ Việt – Trung ở hai tỉnh cũng như sự tác động của mối quan hệ này đến sự phát triển của từng tỉnh, của mỗi nước trong giai đoạn mới

Phương pháp điền dã điều tra thực tế cũng được vận dụng khi nghiên cứu luận án để bổ sung, kiểm chứng các tài liệu thu thập được, tiến đến đạt độ tin cậy cao trong các kết quả nghiên cứu của luận án (nghiên cứu sinh đi điều tra số liệu ở các ban ngành chức năng quản lý tại biên giới; phỏng vấn lấy ý kiến lãnh đạo, ý kiến cư dân biên giới; chụp hình; quan sát hoạt động buôn bán tại các chợ biên giới, hoạt động xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu và đi khảo sát tại địa bàn nước bạn là Nam Ninh - Quảng Tây)

5 Đóng góp của Luận án

Luận án tập hợp, sưu tầm, hệ thống hóa và chỉnh lý những tư liệu có liên quan đến đề tài Cụ thể, luận án trình bày có hệ thống, toàn diện và chi tiết tình hình quan hệ trên các lĩnh vực giữa hai nước Việt – Trung trên địa bàn hai tỉnh Quảng Ninh và Quảng Tây giai đoạn 1986 - 2010 bao gồm: chính trị, trao đổi thương mại, hợp tác đầu tư, hợp tác văn hóa - du lịch, hợp tác giao thông vận tải, y tế - giáo dục, hợp tác phân giới cắm mốc và hợp tác ―hai hành lang, một vành đai‖

Trong quá trình nghiên cứu cụ thể các mặt quan hệ giữa hai tỉnh trong thời kì mới, tác giả lồng ghép, đối sánh với quan hệ Việt - Trung ở cấp Nhà nước trước và sau đổi mới để rút ra những điểm tương đồng và khác biệt Từ đó luận án phân tích nguyên nhân và làm rõ sự chủ động linh hoạt của hai tỉnh trong việc thực hiện đường lối chính sách của hai Nhà nước, nét đặc thù và vai trò của quan hệ hợp tác toàn diện Việt – Trung ở Quảng Ninh - Quảng Tây đối với sự phát triển của mỗi tỉnh, mỗi nước cũng như đối với quan hệ hai nước

Qua nghiên cứu mối quan hệ này trong khoảng hai thập kỉ, luận án phân tích triển vọng trong thời gian tới và đóng góp một số ý kiến về phương hướng, giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy mối quan hệ giữa hai địa phương có lợi cho việc phát triển kinh tế của đất nước, qua đó tăng cường tình hữu nghị giữa hai nước Việt - Trung

Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc giảng dạy và học tập lịch sử địa phương

Trang 15

6 Bố cục của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở của mối quan hệ hợp tác Việt - Trung trên địa bàn hai tỉnh Quảng Ninh và Quảng Tây trong thời kì đổi mới

Chương 3: Quá trình phát triển quan hệ Việt - Trung giai đoạn 1986 - 2010 qua quan hệ hai tỉnh Quảng Ninh và Quảng Tây

Chương 4: Một số nhận xét về quan hệ Việt - Trung giai đoạn 1986 - 2010 qua quan hệ hai tỉnh Quảng Ninh - Quảng Tây và triển vọng hợp tác trong thời gian tới

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về quan hệ Việt - Trung luôn luôn là đề tài được sự quan tâm chú ý của giới nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, các học giả, các nhà nghiên cứu lại dành phần lớn những ưu tiên cho vấn đề này ở cấp quốc gia, những vấn đề ở cấp địa phương còn rất lẻ tẻ, tản mạn, chưa tập trung

Nhìn chung, qua quá trình sưu tầm, tập hợp tư liệu, chúng tôi nhận thấy, nghiên cứu về quan hệ Việt – Trung từ sau năm 1986 và đặc biệt từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ có ba xu hướng nghiên cứu chủ yếu sau:

1-Những nghiên cứu toàn diện quan hệ Việt – Trung trên tất cả các lĩnh vực

từ năm 1991 trở lại đây Tiêu biểu cho xu hướng này có thể kể tới các công trình chủ yếu sau:

- Kỷ yếu hội thảo Quan hệ kinh tế - văn hóa Việt Nam – Trung Quốc, hiện

trạng và triển vọng, Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc, Nxb Khoa học xã hội, 2001;

- Kỷ yếu hội thảo Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, nhìn lại 10 năm và triển

vọng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002;

- Đỗ Tiến Sâm và Furuta Motoo (chủ biên), Chính sách đối ngoại rộng mở của

Việt Nam và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003;

- Kỷ yếu hội thảo Việt Nam – Trung Quốc, tăng cường hợp tác cùng nhau

phát triển hướng tới tương lai, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005;

- Nguyễn Đình Liêm, Những vấn đề nổi bật trong quan hệ Trung Quốc –

Việt Nam 10 năm đầu thế kỉ XXI và triển vọng đến năm 2020 , Nxb Từ điển bách

khoa, Hà Nội, 2012

Các công trình nêu trên tập hợp nhiều những bài nghiên cứu về quan hệ Việt – Trung trên các lĩnh vực: chính trị - ngoại giao, thương mại - đầu tư - du lịch - văn hóa …, đem lại cái nhìn tổng thể, toàn diện về quan hệ Việt - Trung Bên cạnh đó, cũng cần kể đến một số công trình tiêu biểu trong chủ đề này của các học giả phương tây như:

- Ramses Amer, Quan hệ Trung - Việt, quá khứ, hiện tại và tương lai, 1999;

Trang 17

- Brantly Womack, Trung Quốc - Việt Nam, nền chính trị bất đối xứng‖, Nxb

Đại học Cambridge, 2006;

- Milton Osborn, Thực trạng và triển vọng quan hệ Trung - Việt, Tài liệu

tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam, tháng 6/2006

Có thể nói, ở những góc độ khác nhau, với cách nhìn và phương pháp tiếp cận khác nhau, các tài liệu trên đã cho thấy cái nhìn đa diện, khách quan và nhiều khám phá mới xung quanh đề tài quan hệ Việt – Trung trước và sau bình thường hóa Các tác giả đã phân tích những thành tựu và hạn chế của quan hệ chính trị - ngoại giao – kinh tế - văn hóa Việt - Trung, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp, kiến nghị để thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ giao lưu và hợp tác giữa hai nước phát triển hơn trong tương lai Bên cạnh đó những công trình khoa học xuất bản gần đây trong

xu hướng này đã trình bày khá tổng quan và toàn diện về quan hệ Việt – Trung sau

20 năm bình thường hóa, đi vào phân tích và luận giải những vấn đề nổi bật cũng như những vấn đề đặt ra trong quan hệ hai nước trước bối cảnh quan hệ hai nước xuất hiện các yếu tố không bình thường

2- Xu hướng nghiên cứu về quan hệ thương mại – đầu tư giữa hai nước từ sau bình thường hóa Sở dĩ đề tài này được tập trung nghiên cứu là bởi từ sau ngày bình thường hóa, trao đổi thương mại là lĩnh vực phát triển nhất, chủ yếu nhất trong quan hệ hai nước, và đầu tư cũng là lĩnh vực tương đối nổi bật trong quan hệ hai nước

Có nhiều công trình khoa học tiêu biểu cho mảng đề tài này như:

- Phan Văn Lịch, Quan hệ kinh tế thương mại cửa khẩu biên giới Việt -

Trung với việc phát triển kinh tế hàng hóa ở các tỉnh miền núi phía bắc, Nxb

Thống kê, 1999;

- Nguyễn Minh Hằng, Buôn bán qua biên giới Việt – Trung, lịch sử, hiện

trạng và triển vọng‖, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001;

- Bộ Công Thương, Thương mại Việt Nam – Trung Quốc, Nxb Lao

Động, 2008;

- Nguyễn Đình Liêm, Quan hệ biên mậu giữa Tây Bắc - Việt Nam với Vân

Nam – Trung Quốc (2001-2020), Nxb Từ điển bách khoa, 2012

Bên cạnh các sách chuyên khảo là các bài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí, tập trung vào chủ đề này như:

Trang 18

- Đinh Công Tuấn, ―Buôn bán qua biên giới Việt - Trung, thực trạng và triển

vọng‖, Tạp chí thương mại (số 3), 1991,

- Nguyễn Thế Tăng, ―Quan hệ buôn bán qua biên giới Việt Nam – Trung

Quốc trong thời kì mở cửa”, Nghiên cứu Trung Quốc, số 1, 1995;

- Đỗ Tiến Sâm, ―Buôn bán qua biên giới Việt – Trung, tình hình và triển vọng‖ ,

Nghiên cứu Trung Quốc (số 6), 1996;

- Nguyễn Thị Mơ, ―Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trên lĩnh vực ngoại

thương, nhìn lại 10 năm và triển vọng‖, Nghiên cứu Trung Quốc (số 6), 2001;

- Lê Tuấn Thanh, ―Buôn bán qua biên giới Việt Nam – Trung Quốc và một số nhận xét về những điều kiện để phát triển buôn bán qua biên giới giữa hai nước‖

Nghiên cứu Trung Quốc (số 4), 2004

Các công trình nghiên cứu này tập trung phác họa thực trạng quan hệ thương mại trong đó hướng sự quan tâm chủ yếu đến trao đổi thương mại biên giới giữa hai nước (với các hình thức xuất nhập khẩu, thành phần tham gia, cơ cấu hàng hóa, phương thức thanh toán…) , đề cập đến những mặt tích cực, hạn chế của buôn bán biên giới Việt – Trung từ khi hai nước bình thường hóa và triển vọng Thêm nữa, một số tác giả cũng đã đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu, đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác này trên địa bàn các tỉnh biên giới Việt Nam – Trung Quốc

Bên cạnh xu hướng nghiên cứu quan hệ thương mại giữa hai nước, mảng quan hệ đầu tư giữa hai nước cũng được các học giả hai nước đặc biệt quan tâm, nhất là các học giả Trung Quốc, đáng chú ý có các nghiên cứu sau:

- Đới Khả Lai, Du Minh Khiêm: Đầu tư của Trung Quốc đối với Việt Nam: hiện trạng và triển vọng, Tạp chí Nghiên cứu các vấn đề Nam Dương, số 1-2002

- Lý Á Trường, Vương Tùng Giang: Phân tích rủi ro của doanh nghiệp Trung Quốc dùng phương thức BOT đầu tư vào cơ sở hạ tầng của Việt Nam, Tạp chí Đông Nam Á tung hoành, số 7 năm 2005

东南亚纵横》 2005年07期

Trang 19

- Vũ Tiến Dương, Chung Hòa: Hiện trạng và triển vọng của đầu tư Trung Quốc tại Việt Nam, Tạp chí Đông Nam Á tung hoành, số 9-2005

- Vĩ Hồng, Mông Thông Huệ: Phân tích hiện trạng, vấn đề và sách lược đầu

tư của Trung Quốc đối với Việt Nam, Học báo Đại học Quảng Tây (Bản triết học và khoa học xã hội), số 1-2007

韦江,蒙聪惠:我国对越投资现状、问题及策略浅析,《广西大学学报(哲学社会科学版)》 2007年01期

- Trương Trăn: Phân tích triển vọng đầu tư của Trung Quốc đối với Việt Nam, Học báo Đại học Quảng Tây (Bản triết học và khoa học xã hội), Quyên 29 kỳ

2, tháng 4-2007

张臻:中国对越南投资前景分析, 广西大学学报(哲学社会科学版), 第29卷 第2期, 2007年4月)

- Chu Ái Trung, Triệu Phong, Phùng Giai Duệ: Phân tích và kiến nghị đầu tư khai thác mỏViệt Nam, Tạp chí Kim loại màu Hồ Nam, số 5-2008

年05期

- Nguyễn Nữ Hà My, Trần Quyền Ngọc, Chu Kiệt: Nghiên cứu những vấn

đề tồn tại và đối sách cải tiến trong phát triển đầu tư trực tiếp Trung-Việt, Kinh tế nghiên cứu đạo san, số 1-2010

(阮女何麋 , 陈权宝, 朱杰: 中越直接投资发展存在问题及改进对策研究,

《经济研究导刊》 2010年01期 )

Trang 20

Các nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến tình hình đầu tư của Trung Quốc ở Việt Nam, môi trường đầu tư và chính sách pháp luật của Việt Nam, các lĩnh vực đầu tư của Trung Quốc ở Việt Nam như: cơ sở hạ tầng, khai mỏ…phản ánh đầu tư một chiều trong lĩnh vực hợp tác đầu tư giữa hai nước

3- Xu hướng nghiên cứu hợp tác vùng và tiểu vùng trong khuôn khổ hợp tác Việt - Trung Mảng đề tài này tương đối phát triển trong thời gian gần đây Xu thế này phản ánh nội dung những kế hoạc hợp tác trung và dài hạn giữa hai nước trong thời điểm hiện tại cũng như trong giai đoạn sắp tới Đó là các chiến lược hợp tác ―Hai hành lang, một vành đai‖, ―Hợp tác một trục hai cánh‖, ―Hợp tác vịnh Bắc Bộ mở rộng‖, ―Hợp tác xây dựng khu kinh tế xuyên biên giới‖ (Bằng Tường - Đồng Đăng và Móng Cái – Đông Hưng) Các dự án này đã mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới giữa các địa phương hai nước, phản ánh xu hướng phát triển trong tương lai của quan hệ Việt –Trung Minh họa cho đề tài này có nhiều bài viết tiêu biểu: ―Chính sách phát triển và

mở cửa của Trung Quốc đối với khu vực Đại Tây Nam‖, Nguyễn Huy Quý, Nghiên

cứu Trung Quốc (số 2), 1995; ―Quan hệ mậu dịch giữa Quảng Ninh - Việt Nam và

Trung Quốc‖, Đỗ Ngọc Toàn, tạp chí Kinh tế châu Á -Thái Bình Dương (số 2),1995;

―Chiến lược phát triển miền Tây của Trung Quốc và triển vọng hợp tác giữa các tỉnh

miền Bắc Việt Nam với miền Tây Trung Quốc‖, Đỗ Tiến Sâm, Nghiên cứu Trung

Quốc, tháng 10-2003; ―Chiến lược hai hành lang, một vành đai trong cục diện mới:

tạo liên kết phát triển vùng phía bắc‖, Trần Đình Thiên, Nghiên cứu Trung Quốc (số

9), 2007; ―Hợp tác hai hành lang, một vành đai trong bối cảnh mới‖, Lê Văn Sang,

Nghiên cứu Trung Quốc (số 9), 2007; ―Hợp tác thương mại giữa Lạng Sơn, Cao

Bằng (Việt Nam) và Quảng Tây (Trung Quốc), thực trạng và kiến nghị‖, Phùng Thị

Huệ, Nghiên cứu Trung Quốc, (số 6), 2008; ―Hợp tác Móng Cái - Đông Hưng, thực trạng và giải pháp‖, Nguyễn Đình Liêm, Nghiên cứu Trung Quốc (số 11), 2010;

Cùng với các học giả Việt Nam, trong xu thế chung, các học giả Trung Quốc và Nhật Bản những năm gần đây cũng hướng sự quan tâm nhiều đến hợp tác giữa các vùng, miền, địa phương hai nước Việt – Trung Tiêu biểu như: ―Xây dựng vành đai kinh tế

Bắc Bộ, độ sâu hợp tác hữu nghị Trung – Việt‖, Cổ Tiểu Tùng, Nghiên cứu Trung

Quốc, tháng 2, 2005; ―Vai trò có thể phát huy của Quảng Tây trong xây dựng hành

lang kinh tế Nam Ninh - Hà Nội – Hải Phòng‖, Nông Lập Phu, Nghiên cứu Trung

Trang 21

Quốc (số 3), 2007; ―Hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng, quan điểm của Việt Nam và

những thách thức đối với Trung Quốc‖, Daisuke Hosokawa, Nghiên cứu Trung Quốc

(số 6), 2009; ―Nghiên cứu hợp tác khu vực kinh tế Bắc Bộ: Quảng Tây (Trung Quốc)

và hành lang kinh tế Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh

(Việt Nam)‖, Lưu Kiến Văn, Nghiên cứu Trung Quốc (số 1), 2010; ―Tích cực đẩy

mạnh xây dựng khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới Đông Hưng – Móng Cái, Cổ

Tiểu Tùng, Nghiên cứu Trung Quốc (số 11), 2010; ―Nghiên cứu hợp tác đầu tư giữa Đông Hưng (Quảng Tây) với Móng Cái (Quảng Ninh)‖, Nông Lập Phu, Nghiên cứu

Trung Quốc (số 3), 2010; ―Vai trò của chính quyền địa phương trong hai hành lang

một vành đai kinh tế Việt Nam – Trung Quốc‖, Kurihara, tham luận tại hội thảo: Hợp

tác phát triển hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Nam – Trung Quốc trong bối cảnh mới, Viện nghiên cứu Trung Quốc, Hà Nội, Tháng 2, 2012 Các bài viết của xu

hướng này hầu hết đều tập trung phác họa những kế hoạch hợp tác mới giữa hai nước trong đó đáng chú ý là ―hợp tác hai hành lang một vành đai‖ Các học giả trong và ngoài nước dành nhiều quan tâm đến chiến lược hợp tác này, đánh giá cao tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển quan hệ Việt – Trung và ghi nhận những khởi động ban đầu Tuy nhiên các nhà nghiên cứu sau thời kì đầu sôi nổi ủng hộ các chương trình hợp tác vùng và tiểu vùng giữa hai nước cũng đã khách quan và nghiêm túc nhìn nhận lại những mặt chưa được và phân tích các nhân tố có thể ảnh hưởng trong giai đoạn tới

Như vậy, nói chung cả ba xu hướng dù phản ánh tổng thể hay chỉ là khía cạnh cũng đã góp phần tạo nên bức tranh chung của hợp tác Việt – Trung từ sau khi Việt Nam đổi mới (1986), đặc biệt là từ khi hai nước bình thường hóa (1991) Với thực trạng hợp tác phát triển giữa hai nước được phản ánh cả về bề rộng và chiều sâu, trên các lĩnh vực cũng như trên từng lĩnh vực, các công trình khoa học trên đã mang lại ý nghĩa khoa học sâu sắc cho các nghiên cứu tiếp về sau

Tóm lại, dù ở mảng đề tài nào, các công trình nghiên cứu trên đều đã đạt được những thành tựu đáng chú ý: thứ nhất là, cung cấp những cơ sở và luận giải khoa học đối với việc hoạch định đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; thứ hai là, góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề trong quan hệ hai nước, trong đó bao gồm

cả những vấn đề nhạy cảm (biên giới lãnh thổ); thứ ba là, cung cấp nguồn tư liệu

Trang 22

quý, đáng tin cậy cho việc nghiên cứu và giảng dạy về quan hệ hai nước Việt – Trung Tuy vậy, thực trạng nghiên cứu đó cũng còn những vấn đề tồn tại, những vấn đề mà chưa được các tác giả đi trước đề cập tới

1.2 Những vấn đề đặt ra

Từ ba xu hướng trên, chúng ta có thể thấy nghiên cứu về quan hệ Việt - Trung có nhiều nội dung rất phong phú và có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn Tuy vậy việc khái quát các xu hướng cho thấy một thực tế rằng, đề tài nghiên cứu

về quan hệ giữa các địa phương hai nước Việt – Trung vẫn còn bỏ ngỏ, nghiên cứu quan hệ Việt – Trung qua nghiên cứu trường hợp quan hệ của hai tỉnh Quảng Ninh

và Quảng Tây là chưa có Ngay cả xu hướng thứ 3 là xu hướng gần nhất với đề tài luận án, nghiên cứu sinh cũng chỉ tìm thấy những nội dung tản mạn về hợp tác vùng miền như hợp tác giữa Quảng Tây với Việt Nam hay giữa Quảng Ninh với Trung Quốc Tựu trung lại, từ tình hình và thành tựu nghiên cứu, chúng ta có thể rút ra

mấy vấn đề tồn tại sau:

Thứ nhất, đa phần các nhà khoa học tập trung nghiên cứu các vấn đề lớn mang tầm vĩ mô giữa hai nước; thứ hai, các công trình nghiên cứu vùng miền còn chưa tập trung, chủ yếu để minh họa cho nghiên cứu chung về quan hệ hai nước; thứ ba cho dù viết về quan hệ Việt – Trung ở cấp độ nào thì đây vẫn là một đề tài nhạy cảm do đó nó sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến tính khách quan, tính khoa học trong các công trình nghiên cứu Mặc dù các nghiên cứu trên có thể cung cấp cho luận án những nội dung tham khảo bổ ích, thiết thực, tuy nhiên đó không phải là những công trình khoa học chuyên sâu về quan hệ Việt – Trung ở hai địa phương Quảng Ninh – Quảng Tây Bởi lẽ đó, nghiên cứu sinh mạnh dạn phát triển đề tài luận văn thạc sĩ từ ―Quan hệ thương mại Việt – Trung trên địa bàn Quảng Ninh giai đoạn 1991-2005‖ lên thành đề tài luận án tiến sĩ ―Quan hệ Việt - Trung giai đoạn 1986-

2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam) và Quảng Tây (Trung Quốc)‖, mong muốn đem lại những đóng góp mới, những giá trị mới

Với tư cách là một người dân của Quảng Ninh, lại làm công tác nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu sinh cố gắng tìm tòi và đào sâu suy nghĩ mong có thể đưa đến cho người đọc một sự khái quát nghiêm túc và chân thực về những vấn đề có liên quan đến đề tài luận án

Trang 23

Trên cơ sở tình hình vấn đề nghiên cứu như đã trình bày ở trên, đề tài quan

hệ Việt – Trung giai đoạn 1986 -2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh Quảng Ninh

và Quảng Tây tập trung vào một số nội dung sau đây:

*Một là, cơ sở, điều kiện của mối quan hệ Việt – Trung trên địa bàn hai tỉnh Quảng Ninh – Quảng Tây

Luận án tập trung trình bày và phân tích những cơ sở chủ yếu bao gồm: lịch

sử quan hệ Việt – Trung trước năm 1991; cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội của mối quan hệ này ở hai tỉnh; bối cảnh khu vực và quốc tế trước khi hai nước bình thường hóa; công cuộc Đổi mới của Việt Nam, Cải cách của Trung Quốc và cơ sở lợi ích Trong đó, ưu thế về vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên của hai địa phương được xem là điều kiện cơ bản cho mối quan hệ này Lịch sử quan hệ Việt - Trung trước năm 1991 là nền tảng quan trọng Công cuộc đổi mới của Việt Nam và Cải cách của Trung Quốc được coi là bối cảnh trong nước để hai nước tiến đến thiết lập quan hệ toàn diện Việt - Trung trên các cấp độ Tuy nhiên trong mối liên hệ tổng thể của vấn

đề nghiên cứu, luận án còn đề cập đến những yếu tố khác ảnh hưởng từ bên ngoài đến quan hệ hai phía, đó là nhân tố khu vực và quốc tế từ sau chiến tranh Lạnh, mà thực chất là tìm hiểu và đặt mối quan hệ này trong bối cảnh quốc tế và khu vực, từ

đó có những lí giải hợp lí cho xu thế chung của mối quan hệ, xem đây là những nhân tố khách quan có tác dụng thúc đẩy quan hệ mọi mặt Việt - Trung cũng như quan hệ Quảng Ninh - Quảng Tây Và một cơ sở nữa có tính chất động lực trong quan hệ hai địa phương đó là cơ sở lợi ích Nhìn một cách tổng thể, tất cả các yếu tố này hội tụ lại tạo nên một hệ thống cơ sở nền tảng thuận lợi cho quan hệ Việt – Trung ở cấp quan hệ địa phương hai tỉnh Quảng Ninh – Quảng Tây trong giai đoạn mới Tuy vậy, bên cạnh những điều kiện tương hỗ, mối quan hệ này cũng bị tác động trái chiều bởi một số nhân tố, trong đó nổi cộm nhất đó là vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước, đặc biệt là vấn đề Biển Đông Bởi vậy, trong tiến trình dài khoảng hai thập kỉ đó, chúng ta cần có cái nhìn khách quan và đa diện khi đánh giá

về thực trạng hợp tác Việt – Trung trên địa bàn hai tỉnh Quảng Ninh – Quảng Tây

*Hai là, đề tài tập trung tìm hiểu tình hình quan hệ Việt – Trung trên địa bàn hai tỉnh từ năm 1986 đến năm 2010 Trong đó giai đoạn 1986 đến trước 1991 được

Trang 24

xem như bối cảnh của mối quan hệ hợp tác Việt – Trung trên địa bàn hai tỉnh từ sau bình thường hóa đến 2010

Luận án hướng sự chú ý nhiều hơn vào quan hệ hợp tác thương mại giữa hai tỉnh - khu, bởi đây là nội dung hợp tác quan trọng và chủ yếu nhất trong quan hệ giữa hai bên Để có cái nhìn thấu đáo vấn đề nghiên cứu và đặc biệt có cơ sở để lí giải những điểm mới, những thành tựu mới trong quan hệ hợp tác giữa hai địa phương, đề tài đề cập đến một hệ thống những chính sách khuyến khích hợp tác và

mở cửa của chính phủ hai nước dành cho hai tỉnh, xem đó là kim chỉ nam định hướng cho mỗi bước hợp tác giữa hai địa phương Bên cạnh đó, luận án dành những nghiên cứu về quan hệ trên lĩnh vực đầu tư, văn hóa – giáo dục- y tế, khoa học – kĩ thuật, giao thông vận tải và đặc biệt là hợp tác biên giới (bao gồm hợp tác bảo vệ trị

an khu vực biên giới và vấn đề phân giới cắm mốc) Từ năm 2004 còn có thêm một nội dung hợp tác mới đó là hợp tác ―Hai hành lang, một vành đai‖

Khi trình bày và phân tích về nội dung các lĩnh vực trong quan hệ hai tỉnh, chúng tôi trình bày lồng ghép với quan hệ Việt – Trung trên mỗi lĩnh vực tương ứng

ở cấp Nhà nước để có cái nhìn so sánh, đối chiếu về những điểm tương đồng và khác biệt giữa quan hệ hai tỉnh với quan hệ hai nước, cũng như với các địa phương biên giới phía bắc Qua nghiên cứu một cách toàn diện như vậy, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát, có được những đánh giá khoa học, toàn diện và sâu rộng về nội dung trọng tâm của vấn đề nghiên cứu

*Ba là, luận án đánh giá về triển vọng quan hệ Việt - Trung trên địa bàn hai tỉnh Quảng Ninh - Quảng Tây, và từ đó đưa ra những giải pháp, những kiến nghị, góp phần thúc đẩy mối quan hệ này ngày một phát triển hơn nữa

Để có thể dự báo về triển vọng, luận án cần thiết phải đưa ra những tổng kết, những nhận xét về các tác động tích cực và hạn chế tồn tại của quan hệ Việt – Trung trên địa bàn hai tỉnh trong khoảng 2 thập kỉ Bên cạnh đó còn phải tính đến những yếu tố ảnh hưởng từ quốc gia, khu vực và quốc tế, và trực tiếp nhất là những vấn đề còn tồn tại trong quá trình phát triển của chính hai địa phương Qua đó, chúng ta mới

có thể có cái nhìn khách quan và khoa học về tương lai của mối quan hệ này Dự báo

ấy có thể có một số kịch bản khác nhau phụ thuộc vào bối cảnh hai nước

Trang 25

Từ đó, đề tài luận án đưa ra những kiến nghị, đề xuất, nhằm thúc đẩy mối quan hệ hợp tác toàn diện Việt – Trung trên địa bàn hai tỉnh Quảng Ninh - Quảng Tây trong thời gian tới

Như vậy, chúng ta có thể thấy, đây là đề tài có thời gian nghiên cứu không phải là quá dài song lại có nội dung nghiên cứu toàn diện Do đó luận án cần thiết phải đảm bảo tính hệ thống về mặt thời gian và tính logic về mặt nội dung đối với các vấn đề có liên quan Theo chúng tôi, yêu cầu đặt ra đối với đề tài này là phải dựng được bức tranh toàn cảnh hợp tác mọi mặt Việt - Trung trên địa bàn hai tỉnh Quảng Ninh và Quảng Tây, cho thấy quan hệ ấy đã phát triển thế nào, có điểm gì khác so với các địa phương biên giới phía bắc còn lại cũng như với các lĩnh vực quan hệ ở cấp nhà nước Mối quan hệ ấy có vị trí thế nào đối với sự phát triển của mỗi tỉnh cũng như sự phát triển của quan hệ hai nước Đặc biêt, đề tài luận án sẽ góp phần vào việc nhận diện quan hệ Việt Nam – Trung Quốc nói chung và trả lời những vấn đề thực tiễn của Quảng Ninh (Việt Nam) trong quan hệ với Khu tự trị dân tộc Choang – Quảng Tây (Trung Quốc) ra sao, là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc đặt ra, thể hiện những giá trị mới, những đóng góp mới của công trình nghiên cứu

Trang 26

Chương 2

CƠ SỞ CỦA MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT - TRUNG TRÊN ĐỊA BÀN HAI TỈNH QUẢNG NINH VÀ QUẢNG TÂY

TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Là một phần cấu thành của quan hệ Việt - Trung, quan hệ giữa Quảng Ninh (Việt Nam) và Quảng Tây (Trung Quốc) trước hết là bức tranh phản ánh mối quan

hệ giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc tại hai tỉnh Quảng Ninh và Quảng Tây Điều này có nghĩa là quan hệ giữa Quảng Ninh và Quảng Tây mang đầy đủ những nét đặc trưng của quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc Đồng thời, bên cạnh những đặc điểm này, quan hệ giữa hai tỉnh còn mang những nét đặc thù của riêng mình, xuất phát từ những điều kiện cụ thể của hai địa phương

2.1 Khái quát quan hệ Việt - Trung từ trước khi Việt Nam Đổi Mới (1986) đến năm 1991

Điều kiện địa lý và hoàn cảnh lịch sử khiến cho giữa Việt Nam và Trung Quốc hình thành một mối quan hệ đặc biệt, rất đa dạng và hết sức phức tạp, hợp tác xen lẫn với đấu tranh Trung Quốc và Việt Nam đã có quan hệ từ rất lâu đời, với những mối giao lưu nhiều mặt từ sâu trong lịch sử Cho tới giữa thế kỷ XIX, hiện tượng nổi bật nhất trong quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam là sự xâm lược và đe dọa xâm lược thường trực của các triều đại phong kiến Trung Quốc, và đi liền với hiện tượng này là cuộc đấu tranh anh dũng của người dân Việt Nam chống xâm lược Minh chứng cho điều này là trên dưới 10 thế kỷ Bắc thuộc, là các cuộc hành quân xâm lược Việt Nam của các triều đại phong kiến Trung Quốc: từ Hán, Đường, tới Tống Nguyên, Minh, Thanh, là các cuộc chiến tranh giải phóng và chống xâm lược phương Bắc thắng lợi

vẻ vang của người Việt, từ Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương, qua Ngô Quyền và các triều Lý, Trần, Lê, tới Quang Trung - Nguyễn Huệ Song hành cùng dòng chảy của mối quan hệ xâm lược và chống xâm lược này, chúng ta cũng quan sát thấy một sự giao thoa văn hóa giữa văn hóa Trung Hoa và văn hóa Việt Nam bản địa

Bước vào thời cận đại, cả Việt Nam và Trung Quốc đều trở thành nạn nhân của chủ nghĩa thực dân - đế quốc phương Tây Hoàn cảnh cùng chung số phận đã đưa nhân dân hai nước xích lại gần nhau, gắn bó, giúp đỡ nhau trong công cuộc giải

Trang 27

phóng dân tộc, đặt cơ sở cho sự hình thành một loại hình quan hệ hoàn toàn mới giữa hai nước Điều này được thể hiện qua các mối quan hệ trong chiến đấu giữa những nhà hoạt động yêu nước và cách mạng của cả hai nước, từ Phan Bội Châu, tới Nguyễn Ái Quốc và các bậc cách mạng tiền bối khác của Việt Nam với Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông của Trung Quốc thời kỳ

từ những năm 20-30 thế kỷ XX tới khi cách mạng thành công ở cả hai nước Trong số những biểu hiện cụ thể của mối quan hệ mới giữa hai nước có thể kể tới sự tham gia của một lực lượng quân đội Việt Nam còn non trẻ vào chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn của Quân Giải phóng Nhân dân theo lời đề nghị của Trung Quốc, giúp Trung Quốc tiêu diệt tàn quân của Quốc dân Đảng cuối năm 1949 tại vùng biên giới giữa hai nước từ Cao Bằng tới Quảng Ninh Ngày nay, tại thị trấn Đông Hưng (Trung Quốc), bên kia biên giới với Móng Cái, vẫn còn một nghĩa trang riêng, nơi chôn cất những chiến sĩ Việt Nam hy sinh trong khi làm nhiệm vụ quốc tế cao cả này1[254]

Sau khi Việt Nam tiến hành thành công Cách mạng tháng Tám năm 1945 và Trung Quốc tiến hành thành công cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ, cả hai nước đều bắt tay vào xây dựng và phát triển đất nước theo con đường Xã hội chủ nghĩa dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Những biến chuyển này càng tạo điều kiện hơn nữa để nhà nước và nhân dân hai nước Việt, Trung tiếp tục đưa mối quan hệ truyền thống lên tầm cao mới Ngày 18/1/1950 đi vào lịch sử quan hệ hai nước với sự kiện hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Kể từ khi thiết lập quan hệ chính thức đến nay, do tác động của những nhân tố khách quan cũng như có những khác biệt trong nhận thức, hơn nữa cũng còn có những vấn đề lịch sử để lại, quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã có những nhiều bước thăng trầm Những diễn biến trong mối quan hệ đó bị chi phối bởi nhiều nhân tố quốc gia, khu vực và song hành cùng với sự phát triển rất đa dạng của các mối quan hệ quốc tế trong và sau chiến tranh Lạnh Vì vậy, chặng đường đó không đơn giản và bằng phẳng, mà là một quá trình quanh co, nhiều thử thách và có ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ giữa các địa phương hai nước Ta có thể khái lược mối quan hệ Việt - Trung từ sau năm

1950 qua các giai đoạn sau:

http://www.qdnd.vn/qdnd/sukiennhanchung.nhungchiensiquocte.20778.qdnd

Trang 28

* Giai đoạn từ 1950 đến 1975: Trong giai đoạn này, thời kì đầu từ 1950 đến

những năm 60 của thế kỉ XX, quan hệ giữa hai nước là quan hệ hữu nghị, đoàn kết giúp đỡ nhau trong cuộc đấu tranh chống thực dân, chống đế quốc vì độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên từ cuối những năm 60 đến 1975, quan hệ hai nước bắt đầu nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp

Khoảng 10 năm đầu sau khi hai nước thiết lập mối quan hệ chính thức, truyền thống hữu nghị lâu đời giữa nhân dân hai nước được Đảng Cộng sản, lãnh tụ hai nước vun đắp và phát huy cao độ Trên tinh thần ―vừa là đồng chí, vừa là anh em‖, nhiều văn bản thỏa thuận giữa hai bên được kí kết: Nghị định thư buôn bán tiểu ngạch biên giới Việt – Trung (1955), Nghị định thư trao đổi hàng hóa biên giới Việt - Trung (1957) [209] Cùng với việc kí kết các văn bản trong các cuộc trao đổi đoàn lãnh đạo cấp cao giữa hai Đảng và Nhà nước Việt Nam, Trung Quốc, các đoàn đại biểu của nhiều ngành, địa phương cũng đã tiến hành giao lưu hợp tác trên một số lĩnh vực như đào tạo, xây dựng

Từ giữa những năm 60 thế kỉ XX, Trung Quốc tiến hành Đại Cách mạng Văn hóa Những đảo lộn mọi mặt trong nước cũng như sự đóng cửa với thế giới bên ngoài do kết quả của cuộc cách mạng này đã làm ngưng trệ nhiều hoạt động hợp tác của Trung Quốc với nước ngoài Mặc dù vậy, phong trào thế giới ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ dâng lên rầm rộ ở Trung Quốc cũng như khắp nơi trên thế giới Xuất hiện hình thức quan hệ kinh tế mới giữa Trung Quốc với Việt Nam đó là viện trợ kinh tế Có thể nói, trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cùng với Liên Xô, Trung Quốc là một trong những nước đã dành cho Việt Nam những khoản viện trợ lớn nhất và có hiệu quả nhất Không phải ngẫu nhiên mà sau khi chiến tranh kết thúc, các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tuyên bố rằng: thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ là thắng lợi của Đảng, của nhân dân Việt Nam và cũng là thắng lợi của tình đoàn kết hữu nghị của các nước anh em, trước hết là Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội chủ nghĩa khác

Thực vậy, trong cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc của nhân dân Việt Nam, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đã giúp đỡ rất nhiều, gửi nhiều máy móc, thiết

bị, vũ khí, khí tài, quân trang, đồng thời cử cả chuyên gia sang giúp Việt Nam Nhiều công dân Trung Quốc đã hi sinh khi làm nhiệm vụ tại Việt Nam Chỉ tính riêng về

Trang 29

viện trợ kinh tế, trong vòng 5 năm, Chính phủ Trung Quốc giúp vốn cho Việt Nam khôi phục hệ thống đường sắt, bến tàu, tu sửa cầu đường, xây dựng các nhà máy dệt,

da, giấy với tổng trị giá khoảng 1,2 tỉ đồng (1955-1960); Về viện trợ quân sự tính đến năm 1964, Trung Quốc đã viện trợ tổng trọng lượng trang thiết bị quân sự và vật tư hậu cần là 10.141 tấn, trị giá 122.983.000 Nhân dân tệ [147,50-51] Ngoài ra Trung Quốc còn nhận đào tạo hàng ngàn học viên quân sự Việt Nam tại các trường quân sự của Trung Quốc, đồng thời cử các chuyên gia sang hướng dẫn, giúp đỡ

Đáp lại, Việt Nam cũng luôn luôn đứng cạnh Trung Quốc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, chống lại các âm mưu của chủ nghĩa đế quốc tìm cách tiêu diệt chia cắt đất nước Trung Hoa, ủng hộ bạn trong cuộc đấu tranh vì một Trung Quốc độc lập, thống nhất

Tuy nhiên từ cuối những năm 60, vì những tính toán lợi ích riêng trong vấn đề Đài Loan, một mặt Trung Quốc vẫn ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, mặt khác lại lợi dụng cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam để bắt tay thỏa hiệp với

Mỹ, lôi kéo Việt Nam chống Liên Xô, hạn chế ảnh hưởng của Liên Xô Trung Quốc đã gây ra xung đột biên giới với Liên Xô vào tháng 3 và tháng 8/1969, tăng cường tiếp xúc công khai với Mỹ để tiến đến bình thường hóa quan hệ Trung – Mỹ Đến tháng 2-1972, Trung Quốc và Mỹ (Níchxơn) trong cuộc gặp gỡ tại Thượng Hải, đã đàm phán và đi đến thỏa thuận nếu Trung Quốc can thiệp giải quyết vấn đề Việt Nam theo hướng có lợi cho Mỹ thì Mỹ sẽ rút quân khỏi Đài Loan Vì vậy, giữa lúc cuộc đấu tranh trên cả ba mặt trận chính trị - quân sự - ngoại giao của Việt Nam chống đế quốc Mỹ đang trên đà thắng lợi, Bắc Kinh lại muốn Việt Nam thỏa hiệp với Mỹ, nói chính xác hơn là chấp nhận giải pháp do Mỹ áp đặt Khi Việt Nam kiên quyết bảo vệ lập trường quan điểm của mình, năm 1973, Trung Quốc đã cắt viện trợ cho Việt Nam, rút chuyên gia, vận động các nước, các tổ chức quốc tế ngừng viện trợ cho Việt Nam, đồng thời lấn chiếm đất đai ở các tỉnh biên giới phía bắc Năm 1974, Trung Quốc cho quân đội chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa Và cũng chính từ thời gian này, Trung Quốc ngấm ngầm ủng hộ Pôn Pốt chống Việt Nam Từ năm 1975, tình hình biên giới Việt – Trung cực kì căng thẳng Trung Quốc gây ra 234 vụ khiêu khích lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam [66] Điều này càng gây thêm nhiều khó khăn hơn cho Việt Nam trong công cuộc khôi phục đất nước sau 30 năm chiến tranh

Trang 30

Có thể nói, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, vì lợi ích dân tộc hẹp hòi, Trung Quốc vừa giúp lại vừa muốn kiềm chế Việt Nam, muốn lôi kéo Việt Nam theo Trung Quốc, lệ thuộc vào họ Tuy vậy, Việt Nam luôn giữ vững đường lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế đúng đắn của mình và đã giành thắng lợi vẻ vang mùa xuân năm 1975

* Giai đoạn từ sau năm 1975 đến năm 1986 và từ năm 1986 đến năm 1991

Có thể nói đây là khoảng thời gian đầy sóng gió trong quan hệ hai nước Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam kết thúc, tình hình căng thẳng giữa hai nước tiếp tục leo thang Nghiêm trọng hơn, Trung Quốc đã trang bị quân sự cho tập đoàn Khơ me Đỏ Pôn Pốt tiến hành Chiến tranh Biên giới chống Việt Nam ngay từ những ngày đầu tháng 5/1975 Đồng thời gây ra sự kiện

―nạn kiều‖ khiến hơn 20 vạn người Việt gốc Hoa bỏ về Trung Quốc [66] làm cho tình hình an ninh ở Việt Nam mất ổn định Đỉnh điểm căng thẳng giữa hai nước là cuộc Chiến tranh Biên giới nổ ra vào ngày 17/2/1979, gây thiệt hại nặng nề về người và của ở 6 tỉnh phía bắc Việt Nam Mặc dù từ ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân, song họ vẫn tiếp tục chiếm đóng hơn 10 điểm trên lãnh thổ Việt Nam, tiếp tục tăng cường phương tiện chiến tranh và xây dựng công sự, hàng ngày vẫn khiêu khích vũ trang, nổ súng, gài mìn, bắn giết nhân dân địa phương và tình trạng này kéo dài trong suốt thập niên 80 của thế kỉ XX Sau này Trung Quốc gọi hành động đó là ―nụ hôn tạm biệt‖ Năm 1980, Trung Quốc gây ra 2500 vụ gây rối biên giới, sang năm 1981 là 1800 vụ [240, 150]

Năm 1986, Việt Nam tiến hành đổi mới toàn diện đất nước trong đó có đổi mới đường lối đối ngoại Cùng với đổi mới đường lối đối nội, Việt Nam đã nỗ lực cải thiện quan hệ ngoại giao với nhiều nước cũng như nhiều tổ chức khu vực trên thế giới Tuy nhiên trong bối cảnh Trung Quốc cô lập chúng ta về ngoại giao, phá hoại an ninh và liên tục gây sức ép về quân sự kéo dài hàng thập kỉ dọc biên giới, quan hệ Việt – Trung vẫn tiếp tục đi vào bế tắc ngay cả khi Việt Nam đã đổi mới Mặc dù tình hình chung như vậy, khu vực biên giới Quảng Ninh – Quảng Tây xuất hiện rõ ràng hơn những hoạt động lén lút trao đổi mua bán nhu yếu phẩm cần thiết phục vụ cuộc sống hàng ngày của cư dân hai bên biên giới Cho dù ở qui mô và phạm vi nhỏ hẹp, song đó là những dấu hiệu cho thấy quan hệ giữa hai địa phương

Trang 31

biên giới hai nước đã bắt đầu có mối liên hệ trở lại, qua đó cho thấy những nét đặc thù của khu vực biên giới Ở một mức độ nào đó, đây sẽ là bước đệm rất thuận lợi cho hoạt động trao đổi thương mại Việt – Trung qua địa bàn hai tỉnh về sau nay

Cho đến tận cuối năm 1990, tình hình biên giới Việt - Trung mới dần yên tĩnh trở lại Phía Việt Nam đã chủ động rút bộ đội chủ lực về tuyến sau và cho nhân dân hai bên biên giới qua lại thăm người thân và mua bán hàng hóa thiết yếu phục

vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày Tuy nhiên những dấu ấn nặng nề từ cuộc chiến

―ngắn ngủi mà đằng đẵng này‖ hằn mãi trong tâm trí những người dân hai bên biên giới, khó có thể phai nhòa theo thời gian với hơn 30.000 người Việt Nam và 26.000 người Trung Quốc bị chết Trong cuộc chiến này Việt Nam đã bị Trung Quốc phá hoại hoàn toàn 4 thị xã, hơn 20 thị trấn, huyện lỵ và làng mạc, nông trường, hầm mỏ…[157] và điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến lòng tin trong quan hệ hợp tác giữa hai nước đặc biệt là quan hệ giữa các tỉnh biên giới về sau

Bước sang đầu thập niên 90, trước những biến động to lớn của tình hình thế giới và khu vực, đặc biệt là việc Việt Nam rút quân tình nguyện khỏi Campuchia, quan hệ hai nước từng bước đã có những cải thiện Cả Việt Nam và Trung Quốc đều có những nỗ lực lớn để tiến đến bình thường hóa quan hệ Bằng những cố gắng

từ hai phía, trong các ngày 3-4/9/1990 tại Thành Đô (Tứ Xuyên) đã diễn ra cuộc gặp gỡ giữa lãnh đạo cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước bàn về vấn đề bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Với chính sách đổi mới toàn diện đất nước của

cả hai phía, trên tinh thần hữu nghị hợp tác, ngày 10-11-1991 tại cuộc gặp cấp cao Việt - Trung, hai nước đã ra Tuyên bố chung về việc bình thường hóa quan hệ Bản Tuyên bố khẳng định: ―Việc bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc phù hợp với lợi ích cơ bản và lâu dài của nhân dân hai nước và cũng có lợi cho hòa bình, ổn định và sự phát triển của khu vực.‖ [74,115]

Về lĩnh vực kinh tế, hai bên nhất trí thúc đẩy sự hợp tác trong lĩnh vực kinh

tế - thương mại - khoa học kĩ thuật và văn hóa…theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi Hai bên cho rằng hợp tác thương mại giữa hai nước còn nhiều tiềm lực to lớn, triển vọng sáng sủa, cần mở rộng với khối lượng và kim ngạch lớn, thúc đẩy mậu dịch biên giới hai nước phát triển lành mạnh

Trang 32

Thực hiên chủ trương đó, hai bên đồng ý triển khai hoạt động mậu dịch địa phương vùng biên giới, mở chợ biên giới, thống nhất về hàng hóa và thuế xuất nhập khẩu, đặc biệt là quyết định mở 21 cặp cửa khẩu trong đó có Móng Cái - Đông Hưng [166] Tại Quảng Ninh, sự kiện chính thức khai thông cặp cửa khẩu này đã trở thành ngày hội lớn đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân hai bên biên giới

Những hiệp định và văn bản được kí kết cùng với các cặp cửa khẩu được khai thông trên tuyến biên giới Việt - Trung tạo cơ sở pháp lí và điều kiện thuâ ̣n lợi cho các ngành, các địa phương biên giới của hai nước phát triển quan hệ mọi mặt, mở ra thời kì mới cho giao lưu trao đổi qua biên giới Việt - Trung sau nhiều năm bị gián đoạn

Bước chuyển mới trong quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam từ đầu những năm 90 thế kỷ XX đồng thời cũng tạo ra một khởi đầu mới cho mối quan hệ giữa hai tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam) và Quảng Tây (Trung Quốc) sau một thời gian dài

bị đóng băng Mặt khác, sự phát triển quan hệ Quảng Ninh - Quảng Tây cũng còn phụ thuộc vào những điểm đặc thù của mỗi tỉnh, từ những ưu thế về địa lý - tự nhiên đến những điều kiện lịch sử - xã hội của mỗi địa phương cũng như những nhân tố quốc tế và khu vực

2.2 Những ưu thế về điều kiện địa lý - tự nhiên của mối quan hệ hợp tác Việt - Trung ở hai tỉnh Quảng Ninh và Quảng Tây

2.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Quảng Ninh

* Vị trí địa lý

Quảng Ninh là một tỉnh ven biển nằm ở phía đông bắc của Việt Nam Chiều ngang Đông – Tây khoảng dài nhất là 195 km, chiều dọc Nam – Bắc là 102 km Quảng Ninh hiện có 4 thành phố là Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí và 10 huyện: Đông Triều, Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, Ba Chẽ, Vân Đồn, Hoành Bồ, Cô Tô và Yên Hưng [200]

Với tổng diện tích 5938 km2, Quảng Ninh có 132,8 km đường biên giới trên đất liền và 250 km biên giới trên biển với Trung Quốc, trong đó thành phố Móng Cái là khu vực tiếp giáp trực tiếp với thành phố Đông Hưng thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc [200,19-20] Cùng với Hải Phòng, Quảng Ninh giữ vai trò là cánh cổng lớn mở

ra biển cho toàn bộ vùng Bắc bộ và là 1 tỉnh trọng điểm nằm trong tam giác tăng trưởng kinh tế phía bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) Do đó, có thể nói Quảng

Trang 33

Ninh có ưu thế về địa lý rất thuận lợi để phát triển quan hệ đối ngoại khu vực biên giới, đưa khu vực này trở thành một trong những trung tâm thương mại Việt - Trung lớn của các tỉnh biên giới phía Bắc

Bên cạnh đó, phía tây - bắc Quảng Ninh giáp với tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp Bắc Ninh, Hải Dương, phía nam giáp Hải Phòng Những tỉnh láng giềng này là những vùng sản xuất hàng hóa lớn, tạo điều kiện cho Quảng Ninh có thể khai thác quỹ hàng hóa tiêu dùng, vật tư sản xuất…phục vụ nhu cầu trong tỉnh và xuất khẩu Rộng hơn nữa trong quan hệ buôn bán với Trung Quốc, Quảng Ninh còn là cầu nối cho tất cả các tỉnh sâu trong nội địa nước ta, từ các tỉnh đồng bằng cho đến các tỉnh trung du Bắc bộ; từ Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung đến thành phố Hồ Chí Minh

và các tỉnh miền Nam Trong khoảng hơn hai chục năm qua, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Trung Quốc như: cao su, gạo, hồ tiêu, hạt điều, dầu thực vật…chủ yếu qua cửa ngõ này Ngược lại hàng nhập khẩu từ Trung Quốc cũng theo tàu biển và ô tô từ đây vào nội địa nước ta

Ngoài nguồn hàng trong nước, Quảng Ninh cũng là nơi chuyển tải hàng hóa

từ nhiều nước Đông Nam Á và Đông Á đến thị trường Trung Quốc và ngược lại

Đặc biệt, trong những năm gần đây, Quảng Ninh được xác định là tỉnh nằm trong dự án xây dựng hai hành lang: Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng -Quảng Ninh, Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và vành đai kinh tế Bắc bộ, đồng thời với chiến lược xây dựng mô hình ―Một trục hai cánh‖ ở khu vực này đã một lần nữa khẳng định vai trò của Quảng Ninh trong hợp tác biên giới Việt - Trung

Qua đây có thể thấy chỉ xét riêng về yếu tố địa lý, Quảng Ninh là một tỉnh có những ưu thế vượt trội hơn hẳn so với các tỉnh biên giới khác trong hợp tác giao lưu biên giới Việt - Trung Trong khi hầu hết các tỉnh biên giới phía bắc của Việt Nam chỉ có chung đường biên giới trên bộ với Trung Quốc, thì duy chỉ có Quảng Ninh vừa có biên giới đất liền, lại vừa tiếp giáp biển với biên giới Quảng Tây, do đó có vị trí đầu mối trong thông thương hàng hóa trong và ngoài nước Hơn nữa tỉnh này còn

là cửa ngõ nối thông ra Vịnh Bắc Bộ - chiếc cầu nối mở rộng hợp tác với ASEAN,

do đó có thể khẳng định Quảng Ninh có vị trí địa - chiến lược hết sức quan trọng để

Trang 34

thực hiện hợp tác Việt - Trung, hợp tác Việt Nam – Trung Quốc – ASEAN, mà trước hết với đối tác trực tiếp bên kia biên giới là Quảng Tây

* Điều kiện tự nhiên

+ Về mặt địa hình

Cùng với những ưu thế về vị trí địa lý, Quảng Ninh còn được thiên nhiên ưu đãi cho những điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi Đã có rất nhiều người ví Quảng Ninh giống như một đất nước Việt Nam thu nhỏ Nơi đây có sông, có rừng, có biển

và đặc biệt sản vật hết sức phong phú

Quảng Ninh có địa hình đa dạng, gồm cả núi, đồi, đồng bằng và biển Địa hình đa dạng này đã tạo điều kiện cho Quảng Ninh phát triển các loại hình kinh tế theo hướng kinh tế biển - đồng bằng - vùng đồi, tạo nên quỹ hàng hóa phong phú cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu như than, vật liệu xây dựng, thủy hải sản, cây hương liệu… [168] Với đặc điểm địa hình nêu trên, Quảng Ninh là tỉnh có tiềm năng to lớn trong hoạt động ngoại thương xuất nhập khẩu, đặc biệt là đối với nước láng giềng Trung Quốc

+ Về tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên khoáng sản

Khoáng sản ở Quảng Ninh đặc biệt phong phú với nhiều loại trữ lượng lớn, chất lượng cao mà nhiều tỉnh thành phố trên cả nước không có được như: than, cao lanh tấn mài, đất sét, cát, thủy tinh, đá vôi…

Than là tài nguyên đặc trưng của Quảng Ninh có trữ lượng rất lớn Chất lượng than Quảng Ninh từ lâu đã có tiếng vang trên thị trường quốc tế Pôn Muy-nie, một nhà báo Pháp khi đánh giá về chất lượng than nơi đây đã viết: ―Than ở vùng mỏ kì lạ này là một thứ than đặc biệt tốt Đó là một thứ than gầy rất thuần khiết và rất rắn Than này còn thuần khiết hơn cả loại than tốt nhất của nước Anh‖ [135,34-35] Than đã và đang là mặt hàng xuất khẩu chiến lược, đem về nguồn ngoại tệ lớn cho tỉnh Về lâu dài, than vẫn là nguồn tài nguyên trọng yếu tạo ra ngành công nghiệp chủ lực và là vốn xuất khẩu tiềm tàng của hoạt động ngoại thương trên địa bàn Quảng Ninh

Các loại nguyên vật liệu xây dựng như: đá vôi, đất sét, cao lanh… cũng rất phong phú và phân bố rộng khắp trong tỉnh Các mỏ đá vôi đều là những mỏ lớn

Trang 35

chất lượng cao, điều kiện khai thác thuận lợi Đây là nguồn nguyên liệu có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp cho thị trường trong nước và một phần cho xuất khẩu

Biển và tài nguyên Biển

Quảng Ninh có đường bờ biển dài với 250 km và khoảng 6 vạn km2 mặt biển, tạo rất nhiều thuận lợi cho việc khai thác và nuôi trồng hải sản Biển ở đây có nhiều đặc sản như: bào ngư, sá sùng, hải sâm, mực, tôm hùm, cá song, cá mú đỏ, cá

mú xanh…phân bố rộng khắp ở các khu vực vùng triều, vùng nước ven bờ và quanh các đảo Trữ lượng khai thác hàng năm từ khoảng 20 -25 ngàn tấn Về nuôi trồng, Quảng Ninh còn có trên 40 ngàn ha bãi triều, 20 ngàn ha eo vịnh [168] và hàng chục vạn ha vũng nông ven bờ thuộc vịnh Bái Tử Long, vịnh Hạ Long, là môi trường rất thuận lợi để nuôi tôm cá đặc sản

Nguồn thủy hải sản dồi dào này của Quảng Ninh là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh, góp phần quan trọng đem lại sự tăng trưởng kinh tế hàng năm của tỉnh

Tài nguyên du lịch

Kinh tế du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn ở Quảng Ninh, nó liên quan chặt chẽ đến hoạt động ngoại thương của tỉnh Du lịch phát triển mà đặc biệt là du lịch quốc tế sẽ thu hút các du khách nước ngoài trong đó có du khách Trung Quốc, tham gia vào các hoạt động kinh doanh, giao lưu, buôn bán trên địa bàn tỉnh, nhờ đó

sẽ thúc đẩy hoạt đông hợp tác thương mại - đầu tư, mở rộng thị trường giữa hai nước Việt - Trung

Nơi đây có tài nguyên du lịch hết sức đặc sắc: có bãi biển và những cảnh quan đẹp, lại có những di tích lịch sử kiến trúc - nghệ thuật độc đáo, trong đó phải

kể đến vịnh Hạ Long và núi Yên Tử

Trang 36

Vịnh Hạ Long nằm trên Vịnh Bắc Bộ, diện tích khoảng 85km2 với khoảng

775 hòn đảo [200] Nhìn từ trên cao dải cánh cung Hạ Long nhấp nhô như con rồng sà xuống mặt biển tạo thành cảnh đẹp thiên nhiên hết sức kì thú không riêng

gì của Quảng Ninh mà còn của cả Việt Nam và thế giới Bởi vậy, vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới vào các năm 1994

và năm 2000

Núi Yên Tử được xếp vào cảnh đẹp bậc nhất của huyện Đông Triều Cảnh núi cao, thanh u với nhiều loại cây cổ thụ và những ngôi chùa cổ kính, những tượng Phật linh thiêng, được coi là nơi phát tích của Thiền phái Trúc Lâm trong lịch sử Phật giáo Việt Nam

Hệ thống cảng biển, cửa khẩu và các đường giao thông thủy bộ

Cùng với những tài nguyên thiên nhiên vô giá, Quảng Ninh còn có hệ thống cảng biển, cửa khẩu và đường giao thông gồm cả đường thủy, đường sắt và đường

bộ, thuận lợi cho việc thông thương không chỉ với các địa phương trong tỉnh, trong nước mà với cả nước ngoài, đặc biệt là với nước láng giềng Trung Quốc

Về hải cảng: Bờ biển Quảng Ninh có địa hình, địa mạo độc đáo, nhiều vụng, vịnh với hơn 2000 hòn đảo che chắn rất thuận tiện cho tàu thuyền neo đậu [27,14]

Vì vậy từ sớm vùng đất địa đầu đông bắc này đã hình thành những thương cảng nổi tiếng như Vân Đồn, Vạn Ninh Dưới thời Pháp thuộc, ở Quảng Ninh có hai cảng lớn là cảng Hòn Gai và cảng Cửa Ông (Cẩm Phả), phục vụ cho nhu cầu thương mại

và cho công nghiệp than, được duy trì và phát triển cho đến tận ngày nay Bên cạnh

đó còn có nhiều cảng nhỏ dùng cho tàu chuyên chở khách và vận tải hàng hóa: như Quảng Yên, Thọ Xuân, Dân Tiến, Mũi Ngọc, Vạn Hoa, Cái Rồng, Bạch Thái Bưởi… Những năm vừa qua một số cảng quan trọng được đầu tư xây dựng và đang phát huy thế mạnh trong vai trò trung chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu như cảng Cái Lân, cảng Hòn Nét, Mũi Chùa

Riêng về cửa khẩu đường bộ, hiện trên biên giới đường bộ giữa hai tỉnh Quảng Ninh và Quảng Tây có ba cặp cửa khẩu chính là Móng Cái - Đông Hưng, Hoành Mô - Đồng Tông, Bắc Phong Sinh - Lý Hỏa, cùng một số điểm mở để làm thủ tục xuất nhập cảnh như khu chuyển tải Vạn Gia, Bắc Phong Sinh (Hải Hà), Lục Lầm, Ka Long (Móng Cái), Đồng Văn (Bình Liêu)

Trang 37

Về hệ thống đường giao thông, Quảng Ninh là tỉnh có đường biển dài và có nhiều sông nên từ xa xưa đường thủy đã là đường giao thông chủ yếu ở nơi đây Đặc biệt, ven bờ biển Quảng Ninh được che chắn bởi những dãy đảo chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam tạo nên bức bình phong bảo vệ an toàn cho tàu thuyền đi lại Tàu thuyền từ khắp nơi trên vùng biển Đông đến vùng biển Quảng Ninh có thể qua sông Bạch Đằng rồi tới sông Đá Bạc, sông Kinh Thầy, từ đó có thể theo sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam vào sâu vùng trung du Bắc bộ Hoặc cũng có thể

từ sông Bạch Đằng tiến về sông Cấm, sông Luộc đi vào các tỉnh đồng bằng Bắc bộ Với các bến cảng miền Trung, miền Nam hoặc đi xa hơn nữa lên phía bắc, xuống phía nam giao lưu với quốc tế, các luồng ở Quảng Ninh đều rất thuận lợi Phần lớn than của Quảng Ninh xuất khẩu và nhiều loại hàng hóa nhập khẩu của tỉnh chủ yếu bằng đường thủy

Trước đây, đường bộ ở Quảng Ninh đi lại rất khó khăn và chậm mở mang Ngày nay hệ thống đường bộ ở Quảng Ninh đã tương đối hoàn chỉnh, đem lại lợi ích kinh tế thiết thực hơn.Trục đường 18 được cải tạo, nâng cấp với những cây cầu kiên cố, chạy xuyên suốt nối liền Quảng Ninh với thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía bắc Đường 10,4A, 4B cũng được tu sửa nối liền 3 đỉnh của khu tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Hệ thống đường bộ này cùng với tuyến đường sắt

Hà Nội - Kép - Bãi Cháy và cây cầu Bãi Cháy mới được xây dựng trở thành huyết mạch giao thông quan yếu nối khu tam giác kinh tế phía bắc với tỉnh Lạng Sơn và Quảng Tây, Vân Nam (Trung Quốc)

Như vậy, bên cạnh vị trí địa lý chiến lược, Quảng Ninh còn được thiên nhiên

ưu đãi những điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi trong giao lưu hợp tác với Trung Quốc nói chung và Quảng Tây nói riêng qua biên giới Từ địa hình địa mạo cho đến tài nguyên thiên nhiên, hệ thống sông và biển… đã tạo cho Quảng Ninh những tiềm năng dồi dào và tiềm lực mạnh mẽ trong các hoạt động kinh tế như: xuất nhập khẩu, trung chuyển hàng hóa, du lịch, dịch vụ…với tất cả các đối tác bên ngoài trong đó

có khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây Trên thực tế, khoảng 70% trao đổi thương mại giữa Quảng Tây và Asean diễn ra thông qua khu vực biên giới Quảng Tây – Việt Nam (trọng điểm là hai tỉnh biên giới Quảng Ninh – Lạng Sơn) [258]

Trang 38

Từ những nội dung trình bày trên, ta có thể thấy vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đóng một vai trò rất đáng kể trong việc đưa Quảng Ninh trở thành một trong những cửa ngõ trọng yếu trong giao lưu trao đổi giữa hai nước Việt - Trung của phía bắc cũng như của cả nước

2.2.2 Điều kiện địa lý – tự nhiên của tỉnh Quảng Tây

Khu tự trị dân tộc Choang - Quảng Tây (Guangxi; Kwangsi), nằm ở phía nam Trung Quốc, về phía đông nam cao nguyên Vân Quý, phía bắc giáp với tỉnh Quý Châu,

Hồ Nam, phía tây giáp tỉnh Vân Nam, phía đông kề tỉnh Quảng Đông, còn phía nam và tây nam giáp với Việt Nam và Vịnh Bắc Bộ Chính bởi vậy, nơi đây là cửa ngõ lớn trong hợp tác giao lưu mọi mặt Trung Quốc - Việt Nam, Trung Quốc - ASEAN

Quảng Tây có diện tích là 236.670 km2, với dân số khoảng 50 triệu người [130,47] Thủ phủ khu là thành phố Nam Ninh Khu tự trị được phân thành 14 thành phố địa khu bao gồm: Nam Ninh, Liễu Châu, Quế Lâm, Ngô Châu, Bắc Hải, Phòng Thành, Khâm Châu, Quý Cảng, Ngọc Lâm, Hạ Châu, Bách Sắc, Hà Trì, Lai Tân, Sùng Tả

Địa thế Quảng Tây cao về phía tây bắc, thấp dần về phía đông nam, có nhiều núi đá vôi và đất dung nham núi lửa với những dãy núi nổi tiếng như: Đại Minh Sơn, Đại Dao Sơn, Việt Thành Lĩnh, Đô Bàng Lĩnh, Manh Chử Lĩnh; Phần trung và nam có nhiều đồng bằng, thung lũng Quảng Tây có Vi Châu là hòn đảo lớn nhất nằm ở Vịnh Bắc Bộ

Quảng Tây có ưu thế về vị trí địa lý ven biển, ven sông và ven biên giới, nằm

ở chỗ giao nhau giữa vùng kinh tế Hoa Nam, vùng kinh tế Tây Nam và vùng kinh tế ASEAN, là con đường ra biển ngắn nhất cho vùng Tây Nam, thậm chí cả vùng Tây Bắc Trung Quốc, cũng là con đường trọng yếu liên kết Quảng Đông, Hồng Kông,

Ma Cao với phía tây Đặc biệt là từ khi thành lập Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN, Quảng Tây là đầu mối nối vùng Tây Nam, Hoa Nam, Trung Nam của Trung Quốc với thị trường ASEAN rộng lớn

Ưu thế cảng biển

Với chiều dài đường biển là 1.595 km, Quảng Tây có tới 21 cảng biển lớn nhỏ, trong đó có 5 cảng có năng lực cập bến cho tàu từ 1 vạn tấn trở lên là Phòng Thành, Khâm Châu, Bắc Hải, Trân Châu và Thiết Sơn Trong đó cảng Phòng Thành là cảng lớn thứ 3 của khu vực Hoa Nam, lượng hàng qua cảng hàng năm lên tới 20 triệu đến 50

Trang 39

triệu tấn [203] Các cảng biển Quảng Tây có đặc điểm tự nhiên là nước sâu, tránh gió tốt, sóng nhỏ, đều kết nối với đường bộ và đường sắt trong nước, gần các cảng biển khu vực Đông Nam Á, Hồng Kông và Ma Cao Trong số những cảng trên có 3 cảng là Phòng Thành, Bắc Hải và Khâm Châu đều có quan hệ hợp tác vận tải hàng hóa và du lịch trên biển với cảng Hải Phòng và cảng Cái Lân của Quảng Ninh (Việt Nam)

Ưu thế ven biên giới

8 huyện của Quảng Tây giáp với Việt Nam, hiện nay có 12 cửa khẩu biên giới, trong đó có 5 cặp cửa khẩu cấp quốc gia là: Đông Hưng - Móng Cái, Bằng Tường - Đồng Đăng, Hữu Nghị Quan, Thủy Khẩu - Tà Lùng, Long Bang - Trà Lĩnh, và 7 cặp cửa khẩu cấp II quốc gia Ngoài ra còn có 27 điểm giao dịch (chợ vùng biên) giữa nhân dân hai bên biên giới [203]

Ưu thế về hệ thống giao thông vận tải

Hiện nay hệ thống giao thông vận tải của Quảng Tây đều hướng ra biển, hình thành việc lấy cảng biển làm đầu tàu, đường sắt Nam Ninh - Côn Minh làm nòng cốt, đường bộ, đường sông và đường hàng không cùng các công trình giao thông khác kết hợp với nhau một cách đồng bộ

Về đường sắt, Quảng Tây có 5 tuyến chính với tổng số hơn 700 km [130,47], bao gồm: Tương Quế (Hồ Nam - Quảng Tây), Nam Côn (Nam Ninh - Côn Minh), Kiềm Quế (Quý Châu - Quảng Tây), Tiêu Liễu (Tiêu Tác - Liễu Châu) và tuyến Quế Việt (Quảng Tây - Quảng Đông) Vùng Hoa Nam và Hoa Đông của Trung Quốc có thể thông qua tuyến Quế Việt và Quế Tương đi qua Nam Ninh, Bằng Tường và đi vào Việt Nam Cùng với mạng lưới đường sắt liên Á đang xây dựng, tuyến này sẽ đi qua Thái Lan, Malaixia, Singapo và trở thành con đường thuận tiện nối Trung Quốc với các nước Đông Nam Á

Về đường bộ, Quảng Tây có các tuyến quốc lộ cao tốc chính như: Trùng Khánh

- Trạm Giang, Hoành Dương - Côn Minh, nội Mông Cổ - Bắc Hải, Sán Vĩ -Thanh Thủy Hà…ngoài ra còn có các đường cao tốc khác ngang dọc trong phạm vi Quảng Tây như Nam Ninh - Quảng Châu Khu vực Tây Nam Trung Quốc qua các con đường trên thông qua Nam Ninh, Bằng Tường kết nối với đường quốc lộ 1 xuyên bắc – nam của Việt Nam (chính là tuyến cao tốc Nam Ninh đi Hữu nghị quan) Tổng chiều dài đường bộ của Quảng Tây tương đối lớn khoảng hơn 5000 km [130,47]

Trang 40

Đường hàng không có 5 cửa khẩu là Nam Ninh, Quế Lâm, Bắc Hải, Liễu Châu, Ngô Châu với hơn 100 tuyến bay nối các thành phố trong và ngoài nước Theo bước phát triển của hệ thống giao thông vận tải, Quảng Tây trở thành cầu nối giao lưu hợp tác giữa Trung Quốc và các nước trong khối ASEAN trong đó có Việt Nam, đồng thời trở thành nơi đầu tư hấp dẫn cho các doanh nghiệp của nhiều nước

Vì vậy đẩy nhanh và mạnh hơn nữa trong việc xây dựng hệ thống giao thông kết nối giữa Quảng Tây (Trung Quốc) với Quảng Ninh (Việt Nam) sẽ tạo điều kiện to lớn trong việc hợp tác mọi mặt và đi lại giữa hai bên, từ đó thúc đẩy quan hệ truyền thống láng giềng hữu nghị Việt - Trung, đồng thời thúc đẩy việc hợp tác kinh tế thương mại - đầu tư giữa hai nước với các nước trong cộng đồng Đông Nam Á

Quảng Tây là tỉnh có sông ngòi dày đặc, lượng mưa nhiều, thuận lợi cho việc phát triển thủy điện Hiện Quảng Tây đã xây dựng nhà máy thủy điện Long Than là công trình thủy điện chỉ xếp sau thủy điện Tam Hiệp - Trường Giang lớn nhất Trung Quốc

Quảng Tây có nguồn tài nguyên thiên nhiên hết sức phong phú gồm cả khoáng sản, lâm sản và hải sản Nơi đây được biết đến là một trong 10 khu khai thác kim loại màu quan trọng của Trung Quốc gồm có: nhôm, mangan, thiếc, stibi, indi, dầu khí…;

Về lâm sản, Quảng Tây có trữ lượng gỗ tương đối lớn, như huyện Tương Ngô ước có khoảng 576 vạn m3; Nguồn thủy sản nơi đây cũng rất đa dạng, chỉ tính riêng cá đã có hơn 500 loại [204] Với nguồn tài nguyên dồi dào mà thiên nhiên ưu đãi, Quảng Tây

có đầy đủ điều kiện để phát triển một nền kinh tế có cơ cấu đa dạng, nhiều ngành: công – nông - ngư nghiệp…, tạo cơ sở tiền đề để tỉnh này có thể phát triển quan hệ mọi mặt với bên ngoài trong đó có Quảng Ninh (Việt Nam)

Thêm nữa, ngành du lịch của Quảng Tây trong những năm vừa qua cũng được quan tâm và phát triển xứng đáng, với nhiều danh lam thắng cảnh du lịch hấp dẫn du khách trên khắp thế giới.Trong đó phải kể đến điểm du lịch có thể coi là hấp dẫn nhất là Quế Lâm, một thành phố nổi tiếng bậc nhất Trung Quốc bởi vẻ đẹp tuyệt vời của nó bên bờ Li Giang, được ví như vịnh Hạ Long trên cạn

Có thể nói với những ưu thế đặc biệt về điều kiện địa lý - tự nhiên, Quảng Tây hoàn toàn có thể mở rộng giao lưu hợp tác không chỉ phạm vi trong nước mà còn cả khu vực và quốc tế, trong đó đáng chú ý là quan hệ với khu vực phía bắc của

Ngày đăng: 13/07/2016, 10:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thế Anh (2012), Những vấn đề kinh tế xã hội nổi bật của Trung Quốc trong 10 năm đầu thế kỉ XXI và triển vọng đến năm 2020, NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề kinh tế xã hội nổi bật của Trung Quốc trong 10 năm đầu thế kỉ XXI và triển vọng đến năm 2020
Tác giả: Hoàng Thế Anh
Nhà XB: NXB Từ điển bách khoa
Năm: 2012
2. Nguyễn Bá Ân (2008), ―Đẩy mạnh hợp tác xây dựng cơ sở hạ tầng, giải pháp quan trọng để thúc đẩy phát triển hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt- Trung‖, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc (1), tr.41 - 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Bá Ân
Năm: 2008
3. Nguyễn Bá Ân (2012), ―Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Nam- Trung Quốc, nhìn lại vấn đề và triển vọng‖, Kỷ yếu Hội thảo Hợp tác phát triển hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Nam - Trung Quốc trong bối cảnh mới‖, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.23 – 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác phát triển hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt Nam - Trung Quốc trong bối cảnh mới
Tác giả: Nguyễn Bá Ân
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2012
4. Ban quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh (2008), Thương cảng Vân Đồn, lịch sử, tiềm năng kinh tế và các mối giao lưu văn hóa, Tài liệu kỷ yếu hội thảo, lưu tại Tỉnh Ủy Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương cảng Vân Đồn, lịch sử, tiềm năng kinh tế và các mối giao lưu văn hóa
Tác giả: Ban quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh
Năm: 2008
5. Trần Lê Bảo (2008), ―Hợp tác và giao lưu văn hóa trong khu vực hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt – Trung‖, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc (1), tr.49 -61 6. Văn Bắc (2005), ―Hợp tác kinh tế thương mại Việt - Trung, phát triển nhanhchóng và ngày càng chặt chẽ‖, Báo Hải quan (84) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc" (1), tr.49 -61 6. Văn Bắc (2005), ―Hợp tác kinh tế thương mại Việt - Trung, phát triển nhanh chóng và ngày càng chặt chẽ‖, "Báo Hải quan
Tác giả: Trần Lê Bảo (2008), ―Hợp tác và giao lưu văn hóa trong khu vực hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt – Trung‖, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc (1), tr.49 -61 6. Văn Bắc
Năm: 2005
7. Bộ Chính trị (2009), Kết luận số 47-KL/TW về kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII và những chủ trương giải pháp phát triển Quảng Ninh đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, lưu tại UBND tỉnh Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 47-KL/TW về kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII và những chủ trương giải pháp phát triển Quảng Ninh đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2009
10. Bộ Công Thương (2008), Thương mại Việt Nam – Trung Quốc, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại Việt Nam – Trung Quốc
Tác giả: Bộ Công Thương
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2008
11. Brantly Womack (2006), Việt Nam - Trung Quốc, Chính trị bất đối xứng, NXB Đại học Cambridge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam - Trung Quốc, Chính trị bất đối xứng
Tác giả: Brantly Womack
Nhà XB: NXB Đại học Cambridge
Năm: 2006
12. Trần Văn Bừng (1999), Lịch sử biên giới Quảng Ninh giai đoạn 1990 - 1999, lưu trữ tại Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử biên giới Quảng Ninh giai đoạn 1990 - 1999
Tác giả: Trần Văn Bừng
Năm: 1999
13. Nguyễn Văn Căn (2000), ―Quan hệ giao lưu văn hóa Việt - Trung từ 1993 đến 1999‖, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc (3), tr.46 – 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Văn Căn
Năm: 2000
14. Hồ Châu (1996), ―Quan hệ kinh tế - xã hội giữa tỉnh Vân Nam – Trung Quốc với các nước láng giềng thời mở cửa‖, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc (1), tr.51 – 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Hồ Châu
Năm: 1996
15. Chính phủ (1992), Chỉ thị số 174- TTG về những biện pháp cấp bách thực hiện Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới Việt- Trung, lưu tại UBND tỉnh Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 174- TTG về những biện pháp cấp bách thực hiện Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới Việt- Trung
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1992
16. Chính phủ (2000), Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 140/2000/QĐ - TTG về việc ban hành quy chế quản lý tiền của nước có chung biên giới tại khu vực biên giới và khu vực kinh tế có cửa khẩu Việt Nam‖, lưu tại UBND tỉnh Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 140/2000/QĐ - TTG về việc ban hành quy chế quản lý tiền của nước có chung biên giới tại khu vực biên giới và khu vực kinh tế có cửa khẩu Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
17. Chính Phủ (2006), Quyết định 35/2006/QĐ TTG của Thủ tướng Chính phủ, lưu tại UBND tỉnh Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 35/2006/QĐ TTG của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2006
18. Đoàn Văn Chỉnh (2010), ―Quan hệ hợp tác giữa Quảng Ninh (Việt Nam) với Trung Quốc‖, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc (3), tr.41 – 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Đoàn Văn Chỉnh
Năm: 2010
19. Chính phủ (2001), Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 53/2001/QĐ - TTG về chính sách đối với khu kinh tế cửa khẩu biên giới, lưu tại Sở Công thương Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 53/2001/QĐ - TTG về chính sách đối với khu kinh tế cửa khẩu biên giới
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
20. Chính phủ (2003), Quyết định số 120/2003/QĐ/TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tuyến biên giới Việt - Trung đến năm 2010‖, lưu tại UBND tỉnh Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 120/2003/QĐ/TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tuyến biên giới Việt - Trung đến năm 2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
21. Chính phủ (2005), Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 273/2005/QĐ - TTG về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định 53/2001/TTG, lưu tại Sở Công thương Quảng Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 273/2005/QĐ - TTG về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định 53/2001/TTG
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
22. Phan Huy Chú (1960), Lịch triều hiến chương loại chí, T.1, NXB Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Sử học
Năm: 1960
23. Đào Ngọc Chương (1999), ―Khái quát tình hình hợp tác kinh tế mậu dịch và đầu tư giữa 2 nước Việt - Trung (1991-1998)‖, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc (1), tr.36 – 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc
Tác giả: Đào Ngọc Chương
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Phụ lục 3: Bảng thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu Việt –Trung qua một số địa phương biên giới - Quan hệ việt   trung giai đoạn 1986   2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)
h ụ lục 3: Bảng thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu Việt –Trung qua một số địa phương biên giới (Trang 189)
Hình 2.1: Bản đồ tỉnh Quảng Ninh  (Nguồn: Phòng Nghiên cứu Lịch sử, Tỉnh Ủy Quảng Ninh) - Quan hệ việt   trung giai đoạn 1986   2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)
Hình 2.1 Bản đồ tỉnh Quảng Ninh (Nguồn: Phòng Nghiên cứu Lịch sử, Tỉnh Ủy Quảng Ninh) (Trang 193)
Hình 2.2: Bản đồ tỉnh Quảng Tây  (Nguồn: Sở ngoại vụ Quảng Ninh) - Quan hệ việt   trung giai đoạn 1986   2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)
Hình 2.2 Bản đồ tỉnh Quảng Tây (Nguồn: Sở ngoại vụ Quảng Ninh) (Trang 194)
Hình 2.3: Vịnh Hạ Long  (Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh) - Quan hệ việt   trung giai đoạn 1986   2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)
Hình 2.3 Vịnh Hạ Long (Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh) (Trang 195)
Hình 2.4: Cảng Cái Lân  (Nguồn: Sở Công thương Quảng Ninh) - Quan hệ việt   trung giai đoạn 1986   2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)
Hình 2.4 Cảng Cái Lân (Nguồn: Sở Công thương Quảng Ninh) (Trang 196)
Hình 2.5: Cầu Hòa Bình – Móng Cái  (Nguồn: Phòng Lưu trữ, UBND tỉnh Quảng Ninh) - Quan hệ việt   trung giai đoạn 1986   2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)
Hình 2.5 Cầu Hòa Bình – Móng Cái (Nguồn: Phòng Lưu trữ, UBND tỉnh Quảng Ninh) (Trang 197)
Hình 2.6: Nguồn thủy hải sản dồi dào của Quảng Ninh  (Nguồn: Phòng Lưu trữ, UBND tỉnh Quảng Ninh) - Quan hệ việt   trung giai đoạn 1986   2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)
Hình 2.6 Nguồn thủy hải sản dồi dào của Quảng Ninh (Nguồn: Phòng Lưu trữ, UBND tỉnh Quảng Ninh) (Trang 198)
Hình 2.7: Tài nguyên than đá ở Quảng Ninh  (Nguồn: Phòng lưu trữ, UBND tỉnh Quảng Ninh) - Quan hệ việt   trung giai đoạn 1986   2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)
Hình 2.7 Tài nguyên than đá ở Quảng Ninh (Nguồn: Phòng lưu trữ, UBND tỉnh Quảng Ninh) (Trang 199)
Hình 3.1: Sở Ngoại vụ Quảng Ninh thăm và làm viê ̣c với - Quan hệ việt   trung giai đoạn 1986   2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)
Hình 3.1 Sở Ngoại vụ Quảng Ninh thăm và làm viê ̣c với (Trang 200)
Hình 3.2: Đại diê ̣n Sở Ngoại vụ và Ty Ngoại vụ 2 tỉnh hội đàm - Quan hệ việt   trung giai đoạn 1986   2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)
Hình 3.2 Đại diê ̣n Sở Ngoại vụ và Ty Ngoại vụ 2 tỉnh hội đàm (Trang 200)
Hình 3.3: Cửa khẩu quốc tế Móng Cái  (Nguồn: Phòng lưu trữ, UBND tỉnh Quảng Ninh) - Quan hệ việt   trung giai đoạn 1986   2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)
Hình 3.3 Cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Nguồn: Phòng lưu trữ, UBND tỉnh Quảng Ninh) (Trang 201)
Hình 3.4: Chợ Móng Cái 1  (Nguồn: Phòng Lưu trữ, UBND tỉnh Quảng Ninh) - Quan hệ việt   trung giai đoạn 1986   2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)
Hình 3.4 Chợ Móng Cái 1 (Nguồn: Phòng Lưu trữ, UBND tỉnh Quảng Ninh) (Trang 201)
Hình 3.5: Khu giải trí quốc tế Tuần Châu  (Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch QuảngNinh) - Quan hệ việt   trung giai đoạn 1986   2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)
Hình 3.5 Khu giải trí quốc tế Tuần Châu (Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch QuảngNinh) (Trang 202)
Hình 4.1: Sự phát triển đô thị ở Quảng Ninh  (Nguồn: Phòng Lưu trữ, UBND tỉnh Quảng Ninh) - Quan hệ việt   trung giai đoạn 1986   2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)
Hình 4.1 Sự phát triển đô thị ở Quảng Ninh (Nguồn: Phòng Lưu trữ, UBND tỉnh Quảng Ninh) (Trang 203)
Hình 4.2: sự phát triển đô thị ở Nam Ninh (Quảng Tây, 2010) - Quan hệ việt   trung giai đoạn 1986   2010 qua trường hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh ( việt nam ) và quảng tây ( trung quốc)
Hình 4.2 sự phát triển đô thị ở Nam Ninh (Quảng Tây, 2010) (Trang 204)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w