Xuất phát từ thực tiễn biến đổi xã hội và tình hình nghiên cứu mạng lưới quan hệ xã hội và vốn xã hội chưa giải quyết đầy đủ và triệt để về vấn đề tính đối xứng và bất đối xứng trong qua
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN QUÝ THANH
HÀ NỘI – 2016
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN QUÝ THANH
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Quý Thanh Luận án này được sự đồng ý của chủ nhiệm đề tài "Sự hình thành và phát triển vốn xã hội tại Việt Nam" để sử dụng một phần dữ liệu định lượng và định tính của đề tài này vào việc đo lường và phân tích một chủ đề hoàn toàn mới Đó là chủ đề "Tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp
đỡ trong vốn xã hội của người Việt Nam" Kết quả nghiên cứu của luận án này hoàn toàn mới và không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của đề tài "Sự hình thành và phát triển vốn xã hội tại Việt Nam" Tôi cũng xin cam đoan kết quả nghiên cứu này hoàn toàn trung thực và là sự phát triển tiếp nối chứ không phải là sự sao chép các kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu của chúng tôi đã được công bố
Tác giả
Cao Thị Hải Bắc
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, Ban Giám hiệu và Ban Đào tạo Sau Đại học trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, các thầy, cô giáo Khoa Xã hội học, thuộc trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - ĐHQGHN đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Quý Thanh, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án này Thầy đã giúp tôi học được nhiều điều bổ ích về cả kiến thức chuyên môn cũng như phương pháp nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các nhà nghiên cứu, các anh chị khóa trên
và bạn bè đồng nghiệp đã chia sẻ kinh nghiệm và nhiệt tình giúp đỡ giúp tôi hoàn thành luận án
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình của tôi Bố mẹ hai bên, chồng và con tôi là những người đã luôn sát cánh và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi
có thể tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tác giả
Cao Thị Hải Bắc
Trang 63 Đối tượng, khách thể, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 7
1.1.3 Đặc trưng quan hệ giúp đỡ trong mạng lưới quan hệ xã hội 15 1.2 Các nghiên cứu về tính chất có đi có lại như một thành tố của vốn xã hội 20 1.2.1 Tính chất có đi có la ̣i trong khái niệm vốn xã hô ̣i 20 1.2.2 Tính chất có đi có la ̣i như mô ̣t chỉ báo đo lường vốn xã hô ̣i 22 1.2.3 Tính chất có đi có la ̣i của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hô ̣i 22 1.3 Các nghiên cứu về cách đo tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ
Trang 72.1.1 Nguyên lý mối liên hệ phổ biến và quan điểm lịch sử cụ thể 32
2.1.3 Nhóm lý thuyết xã hội học tiếp cận theo quan điểm kinh tế học hành vi 34
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM QUAN HỆ GIÚP ĐỠ TRONG VỐN XÃ HỘI CỦA
3.1 Mức độ đối xứ ng và bất đối xứng về số lươ ̣ng loại hình giúp đỡ 54 3.2.Mức độ đối xứng và bất đối xứng về tính chất loa ̣i hình giúp đỡ 74 3.3 Mức độ đối xứ ng và bất đối xứng về hoàn cảnh giúp đỡ 80 3.4 Thảo luận về mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn
CHƯƠNG 4: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH ĐỐI XỨNG VÀ BẤT
ĐỐI XỨNG CỦA QUAN HỆ GIÚP ĐỠ TRONG VỐN XÃ HỘI CỦA NGƯỜI
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp 49 Bảng 3.1: So sánh mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ với
Bảng 3.2: So sánh mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ với
Bảng 3.3: So sánh mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ với
Bảng 3.4: Kiểm định McNemar về tính đối xứng và bất đối xứng trong tính chất
Bảng 3.5: Kiểm định McNemar về tính đối xứng và bất đối xứng trong một số
Bảng 4.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bấ t đối xứng về số
lượng loại hình giúp đỡ giữa người trả lời và ba người bạn thân 99
Bảng 4.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến mng độác yếu tố ảnh́ t đối xứng vố ảnh
Bảng 4.3: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bấ t đối xứng về tiền
Bảng 4.4: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bấ t đối xứng về sức
lao động giữa ngườ i trả lời và bạn thân thứ nhất 108
Bảng 4.5: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bấ t đối xứng về sức
lao động giữa người trả lời và bạn thân thứ nhất 110
Bảng 4.6: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng trong
hoàn cảnh cưới hỏi giữa người trả lời và bạn thân thứ nhất 113
Bảng 4.7: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng trong hoàn cảnh tang ma giữa người trả lời và bạn thân thứ nhất 115 Bảng 4.8: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng trong hoàn cảnh xây/mua nhà giữa người trả lời và bạn thân thứ nhất 117 Bảng 4.9: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng trong
hoàn cảnh tìm việc giữa người trả lời và bạn thân thứ nhất 119 Bảng 4.10: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng trong
hoàn cảnh đầu tư làm ăn giữa người trả lời và bạn thân thứ nhất 121 Bảng 4.11: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng trong
hoàn cảnh mua sắm vật dụng đắt tiền giữa người trả lời và bạn thân thứ nhất 122 Bảng 4.12: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng giữa "bố
mẹ đẻ giúp" và "nhận giúp đỡ từ con cái" trong hoàn cảnh đầu tư làm ăn 125 Bảng 4.13: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng giữa "bố
mẹ đẻ giúp" và "nhận giúp đỡ từ con cái" trong hoàn cảnh ốm đau 127
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH, HỘP
Hình 2.7: Bình 2.7: l tiếp giữa hai chủ thểđaumẹ ẻ giú 42
Hình 2.9: Quan h7: l t đQuan h7: l tiếp giữa hai chủ thể 45 Hình 3.1: Giúp đỡ đối xứng và bất đối xứng giữa bạn bè thân và ít thân 59 Hình 3.2: Bất đối xứng liên thế hệ về số lượng loại hình giúp đỡ 67 Hình 3.3: Giúp đỡ đối xứng và bất đối xứng giữa bố mẹ và con cái 70 Hình 3.4: Tính bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ với con trai/ con gái; con trưởng/
Hình 3.5a: Bất đối xứng về chia sẻ tâm sự giữa hai người bạn 76 Hình 3.5b: Đối xứng về chia sẻ tâm sự giữa hai người bạn 76 Hình 3.6: Tính đối xứng trong giúp đỡ về tiền bạc và sức lao động giữa bạn bè 77 Hình 3.7a: Bất đối xứng về cung cấp thông tin quan trọng giữa hai người bạn 78 Hình 3.7b: Đối xứng về cung cấp thông tin quan trọng giữa hai người bạn 78 Hộp 3.1: Tính bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong gia đình đô thị 66 Hộp 3.2: Tính bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong gia đình nông thôn 67 Hộp 3.3: Tính đối xứng và bất đối xứng về số lượng loại hình giúp đỡ giữa bố mẹ và
Hộp 3.4: Tính đối xứng và bất đối xứng về số lượng loại hình giúp đỡ giữa bố mẹ và
Hộp 3.5: Tính bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ với con trai/ con gái; con trưởng/
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội Việt Nam trong 28 năm đổi mới đã và đang có những bước chuyển mình liên tu ̣c và ma ̣nh mẽ ké o theo nhiều biến đổi trong các quan hê ̣ xã hô ̣i , nơi sản sinh ra vốn xã hô ̣i Do vậy, muốn nâng cao chất lượng vốn xã hội thì việc nghiên cứu làm rõ các đặc tính của các quan hệ xã hội là rất cần thiết Vốn xã hội là một phạm trù rộng lớn và phức tạp, được tạo nên bởi bốn thành tố: quan hệ xã hội (mạng lưới xã hội), lòng tin xã hội, chuẩn mực có đi có lại và sự tham gia xã hội Chuẩn mực có đi có lại chính là tính chất cơ bản của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội Khi nói đến tính chất
có đi có lại, phần lớn mọi người đều nghĩ đến những trao đổi, giúp đỡ trong kinh tế theo kiểu A giúp B bao nhiêu thì B cũng giúp A bấy nhiêu một cách sòng phẳng Nhưng trên thực tế, tính chất có đi có lại trong quan hệ giúp đỡ còn chứa đựng những đặc tính riêng, trong đó có tính đối xứng/bất đối xứng Ví dụ, những loại hình giúp đỡ như tình cảm, cung cấp thông tin v.v không phải lúc nào cũng dễ dàng giúp đỡ lẫn nhau một cách sòng phẳng, tức là đối xứng Vậy làm thế nào để đo được tính đối xứng/bất đối xứng này vẫn đang là vấn đề bị bỏ ngỏ trong các nghiên cứu ở Việt Nam
Tính đối xứng và bất đối xứng có thể nhìn ở ba chiều cạnh: số lượng loại hình giúp đỡ, tính chất các giúp đỡ và hoàn cảnh giúp đỡ Xét chiều cạnh thứ nhất, A giúp
B ba loại hình gồm tiền bạc, tình cảm, sức lao động nhưng B chỉ có thể giúp lại A một hoặc hai trong số ba loại hình trên hoặc có thể giúp A thêm các loại hình khác thì quan
hệ giúp đỡ cho - nhận giữa A và B là bất đối xứng Ngược lại, nếu B cũng có thể giúp lại A đúng bằng số lượng loại hình giúp đỡ mà A đã giúp B thì quan hệ giúp đỡ giữa A
và B là đối xứng Xét chiều cạnh thứ hai, A giúp B về tiền bạc nhưng B chỉ có thể giúp lại A về tình cảm Khi đó, quan hệ giúp đỡ giữa A và B là bất đối xứng Ngược lại, B cũng giúp lại A về tiền bạc thì quan hệ giúp đỡ này mang tính đối xứng Xét chiều cạnh thứ ba, A giúp B trong hoàn cảnh cưới hỏi và B cũng giúp lại A khi cưới hỏi thì quan hệ giúp đỡ giữa A và B là đối xứng Ngược lại, nếu B không giúp đỡ được gì cho
A trong hoàn cảnh cưới hỏi nhưng có giúp A trong các hoàn cảnh khác như tang ma, xây mua nhà v.v thì quan hệ giúp đỡ giữa A và B mang tính bất đối xứng Hiện nay,
ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào đo lường được tính đối xứng/bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ hai chiều ở ba chiều cạnh này
Trang 11Vấn đề “tính đối xứng/ bất đối xứng” trong vốn xã hội chủ yếu được bàn luận một cách không trực tiếp trong một số nghiên cứu ở Việt Nam như Đặng Nguyên Anh (1998), Lê Ngọc Hùng (2003, 2008), Nguyễn Quý Thanh (2005, 2012, 2013), Thomése F và Nguyễn Tuấn Anh (2007, 2011, 2012), Nguyễn Duy Thắng (2007), Lê Minh Tiến(2007), Trần Hữ u Du ̣ng (2006) v.v… Phần lớn các nghiên cứu này quan tâm xem cá nhân nhận được những sự giúp đỡ nào về kinh tế, tình cảm hay loại hình khác khi họ rơi vào những hoàn cảnh cần đến chúng Mặt “giúp đỡ” của quan hệ xã hội được đề cập còn khá mờ nhạt, hoặc nếu có, lại không đặt trong những cặp chủ thể nhất định, và trên nền tảng của quan hệ “cho - nhận giúp đỡ” qua la ̣i
Xuất phát từ thực tiễn biến đổi xã hội và tình hình nghiên cứu mạng lưới quan
hệ xã hội và vốn xã hội chưa giải quyết đầy đủ và triệt để về vấn đề tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ của người Việt Nam, luận án này mong muốn tìm hiểu xem đặc điểm về mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn
xã hội của người Việt Nam hiện nay như thế nào? Yếu tố nào ảnh hưởng hơn cả đến mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ? Như vậy, luận án sẽ đo mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ ở ba chiều cạnh: số lượng loại hình giúp
đỡ, tính chất giúp đỡ và hoàn cảnh giúp đỡ Cuối cùng, luận án sẽ tìm hiểu xem các yếu tố nào có ảnh hưởng nhiều hơn cả đến mức độ đối xứng và bất đối xứng này
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án này đặt mục đích đầu tiên vào việc tìm ra một số logic xã hội hay chính
là đặc trưng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của người Việt Nam Thứ hai, luận
án này nhằm bổ sung một khung phân tích mới về mạng lưới quan hệ xã hội thông qua việc đo lường định lượng và kiểm chéo thông tin bằng phương pháp định tính về tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội
Để đạt được hai mục đích nghiên cứu trên, luận án xác định hai nhiệm vụ cần thực hiện như sau Thứ nhất là đo lường mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ giữa những bạn bè thân thông qua ba chiều cạnh nêu trên Đồng thời, luận án cũng sẽ đo lường mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ giữa người được hỏi với bố mẹ và con họ Các kết quả định lượng sẽ được kiểm định chéo bằng các phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp Thứ hai, luận án sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng hơn cả đến mức độ đối xứng và bất đối xứng của các quan hệ giúp đỡ này
Trang 123 Đối tượng, khách thể, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án này là tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của người Việt Nam Cụ thể, đó là tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ giữa những bạn bè thân và trong đó, quan hệ giúp đỡ giữa người được hỏi với bố mẹ và con họ sẽ là trường hợp đặc thù để làm rõ thêm cho quan hệ giúp đỡ trong xã hội, bởi gia đình cũng là một xã hội thu nhỏ Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng hơn cả đến mức độ đối xứng và bất đối xứng của các quan hệ giúp đỡ này
3.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận án này là cá nhân, đại diện cho các hộ gia đình
từ 20 tuổi trở lên và cộng đồng nơi cá nhân sống Các cá nhân tham gia khảo sát thuộc các ngành nghề khác nhau và mức thu nhập trung bình tháng của hộ gia đình không giống nhau Cộng đồng nơi cá nhân sống bao gồm cả khu vực nông thôn và đô thị Các thông tin cơ bản về khách thể được khảo sát được trình bày trong phụ lục 4
từ năm 2013 đến năm 2015
Về địa bàn nghiên cứu, điều tra bảng hỏi của đề tài "Sự hình thành và phát triển vốn xã hội tại Việt Nam" được tiến hành ở 5 tỉnh thành bao gồm: Hà Nội, Thành phố
Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Dương, Bình Dương Địa bàn tiến hành phỏng vấn sâu và
nghiên cứu trường hợp bổ sung riêng cho luận án này được thực hiện ở các khu vực nông thôn và đô thị thuộc các tỉnh thành như Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang
Về nội dung nghiên cứu: luận án này đo lường mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng này ở ba chiều cạnh: số lượng các loại hình giúp đỡ, tính chất loại hình giúp
đỡ, hoàn cảnh giúp đỡ Bên cạnh đó, tác giả luận án cũng tổng hợp và phân tích thêm
Trang 13các kết quả nghiên cứu của một số nghiên cứu đi trước bàn về mạng lưới xã hội của cộng đồng các dân tộc thiểu số mà dữ liệu định lượng của luận án chưa bao phủ hết được Việc tìm hiểu đặc điểm quan hệ giúp đỡ của cả cộng đồng các dân tộc thiểu số
sẽ đảm bảo cho luận án có tính khái quát cao hơn
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Ở phần này chúng tôi chỉ mô tả khái quát về phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án Các mô tả chi tiết về phương pháp nghiên cứu sẽ được trình bày cụ thể hơn trong chương 2 Luận án này sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính như sau:
- Phân tích cơ sở dữ liệu định lượng:
Cơ sở dữ liệu định lượng được sử dụng trong luận án là một phần dữ liệu của
bộ dữ liê ̣u từ cuộc khảo sát 1430 đại diện hộ gia đình tại 5 tỉnh/thành phố ở Việt Nam, bao gồm: Hà Nội, Hải Dương, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương trong khuôn khổ của đề tài do Quỹ Khoa học và công nghệ Quốc gia Việt Nam tài trợ
Các chiến lược phân tích đa dạng như kiểm định T, kiểm định McNemar được
áp dụng để mô tả và kiểm định các số liệu thống kê ở các chiều cạnh như: số lượng loại hình giúp đỡ, tính chất loại hình giúp đỡ và hoàn cảnh giúp đỡ Chi tiết về từng chiến lược phân tích sẽ được trình bày trong chương 2, trang 50-53
Các mô hình hồi quy tuyến tính bội được áp dụng để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ ở chiều cạnh số lượng loại hình giúp đỡ Trong khi đó, các mô hình hồi quy logistic được áp dụng để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ
ở chiều cạnh tính chất loại hình giúp đỡ và hoàn cảnh giúp đỡ
- Phân tích dữ liệu phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp:
Ngoài dữ liệu định lượng, tác giả đã thực hiện thêm 25 phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp để phục vụ riêng cho luận án này Thông tin chi tiết về số lượng các khách thể được khảo sát được trình bày trong phần dữ liệu định tính, trang 49
- Phân tích dữ liệu từ các biên bản phỏng vấn sâu của đề tài
Ngoài các trường hợp phỏng vấn sâu do tác giả trực tiếp thực hiện, luận án đã tham khảo và sử dụng 15 trường hợp phỏng vấn sâu từ các biên bản phỏng vấn sâu của
đề tài "Sự hình thành và phát triển vốn xã hội tại Việt Nam" Thông tin cụ thể về các trường hợp phỏng vấn sâu này sẽ được trình bày trong phần dữ liệu định tính, trang 49
Trang 14- Dữ liệu từ các bản ghi chép quan sát trực tiếp
Bên cạnh các nguồn dữ liệu định tính nêu trên, tác giả cũng tiến hành quan sát
tự do, quan sát có tham dự và ghi chép lại các kết quả quan sát được về quan hệ giúp
đỡ giữa bạn bè thân và giữa các thế hệ trong gia đình
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Về ý nghĩa khoa học: Luận án góp phần làm sáng tỏ một số thuật ngữ và một
vài logic xã hội liên quan đến quan hệ giúp đỡ có đi có lại, đó chính là tính đối xứng
và tính bất đối xứng Việc đo lường và phân tích quan hệ giúp đỡ hai chiều cho – nhận cũng là một đóng góp mới về khung phân tích mà nhiều nghiên cứu về mạng lưới quan
hệ xã hội chưa khai thác triệt để Bên cạnh đó, luận án đã chứng minh được tính phù hợp và phổ biến của việc áp dụng một số lý thuyết vào việc nghiên cứu quan hệ xã hội
và vốn xã hội, mở ra một hướng nghiên cứu mới về vốn xã hội
Về ý nghĩa thực tiễn: Trong bối cảnh hiện đại hóa, toàn cầu hóa của nền kinh
tế thị trường hiện nay, quan hệ xã hội nói chung và quan hệ cho – nhận nói riêng đã và đang có nhiều biến đổi theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực Mặt tích cực dễ nhận thấy nhất là tính đa dạng của các loại hình giúp đỡ Ngày nay con người có nhiều điều kiện hơn để giúp đỡ nhau không chỉ về tinh thần mà còn về vật chất Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường khiến không ít người có suy nghĩ lệch lạc về văn hóa cho - nhận là phải luôn đối xứng và sòng phẳng mà không thấy hết được rằng bất đối xứng cũng là xu hướng giúp đỡ cần có trong những loại hình và hoàn cảnh giúp đỡ nhất định Do vậy, kết quả của luận án này sẽ góp phần định hướng đúng đắn hơn về văn hóa giúp đỡ của người Việt Nam Mặt khác, nhìn ở góc độ giao lưu quốc tế, có thể thấy rằng thế giới đang ngày càng phẳng Do vậy, sự khác biệt giữa các quốc gia chỉ dựa vào những bản sắc và đặc trưng văn hóa Bằng việc chứng minh rằng đặc trưng văn hóa giúp đỡ của người Việt Nam vẫn không bị hòa tan trong quá trình hội nhập sẽ góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho các nhà hoạch định chính sách có quan tâm đến việc phát triển mạng lưới quan hệ xã hội bền vững
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án này sẽ trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: (1) Đặc điểm về mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của người Việt Nam được
Trang 15biểu hiện như thế nào thông qua số lượng loa ̣i hình , tính chất và hoàn cảnh của sự
"giúp đỡ - được giúp đỡ"? (2) Những yếu tố nào có ảnh hưởng nhiều hơn cả đến tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hô ̣i của người Viê ̣t Nam?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Để trả lời cho hai câu hỏi nghiên cứu trên, luận án này đặt ra hai giả thuyết chính Giả thuyết chính H1 là quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của người Việt Nam không bất đối xứng hoàn toàn và mức độ đối xứng/bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ phụ thuộc vào mức độ gắn kết tình cảm Tức là, quan hệ giúp đỡ có thể bất đối xứng ở chiều cạnh số lượng loại hình giúp đỡ nhưng lại đối xứng ở các chiều cạnh khác Và những người bạn có tình cảm thân thiết hơn thì mức độ bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ cũng được biểu hiện rõ hơn và ngược lại Theo đó, giả thuyết phụ H1.1 là nhìn chung, quan hệ giúp đỡ giữa bạn bè thân thường mang tính đối xứng rõ rệt Giả thuyết H1.2 là quan hệ giúp đỡ trong gia đình thường mang tính bất đối xứng rõ nét
Giả thuyết chính H2 là mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội chịu ảnh hưởng đan xen của cả ba nhóm yếu tố cá nhân, gia đình và cộng đồng/xã hội Trong đó, nhóm yếu tố gia đình chắc hẳn sẽ ảnh hưởng nhiều hơn
cả đến việc làm tăng hay làm giảm mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp
đỡ trong gia đình và nhóm yếu tố cá nhân sẽ ảnh hưởng rõ nhất đến việc làm tăng hay làm giảm mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ giữa bạn bè thân thiết
6 Cấu trúc luận án
Luận án này được cấu thành bởi ba phần chính: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó, phần nội dung bao gồm bốn chương Chương 1 là phần tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đặc tính mạng lưới quan hệ xã hội, tính có đi có lại như một thành tố của vốn xã hội và tính đối xứng và bất đối xứng như một trường hợp riêng của tính có đi có lại Chương 2 sẽ đưa ra các cơ sở lý luận, thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Nội dung chính của luận án được trình bày trong chương 3
và chương 4 Chương 3 tìm hiểu đặc điểm về mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ Chương 4 tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng hơn cả đến tính đối xứng
và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Chương này sẽ khảo sát lịch sử nghiên cứu vấn đề theo ba chủ điểm chính Thứ nhất là các nghiên cứu về mạng lưới quan hệ xã hội, thứ hai là các nghiên cứu về tính chất có đi có lại như một thành tố của vốn xã hội và thứ ba là các nghiên cứu về tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội Từ đó, chúng tôi sẽ
nêu rõ những vấn đề luận án cần tập trung làm rõ
1.1 Các nghiên cứu về mạng lưới quan hệ xã hội
Trong phần này, chúng tôi sẽ khảo sát lịch sử nghiên cứu liên quan đến các vấn
đề như khái niệm, đặc tính của mạng lưới quan hệ xã hội, đặc trưng của quan hệ giúp
đỡ trong quan hệ xã hội nói chung và trong gia đình Việt Nam nói riêng
1.1.1 Khái niệm mạng lưới quan hệ xã hội
Nhiều quan điểm cho rằng nhà xã hội ho ̣c ngườ i Đức Georg Simmel là người đầu tiên đưa ra khái niê ̣m "tính xã hô ̣i" (sociability), tiền thân của khái niệm "mạng lưới xã hội" Theo ông, tính xã hô ̣i được hiểu như mô ̣t tâ ̣p hợp các mối quan hê ̣ giữa cá nhân/nhóm với những cá nhân khác/nhóm khác [A Degenne, M Forsé, 1994, tr 38] Tức là, Simmel xác định mạng lưới bao gồm các mối liên hệ của các cá nhân trong trạng thái vận động tương tác lẫn nhau [Lê Ngọc Hùng, 2003, tr 68] Sau đó, các nhà
xã hô ̣i ho ̣c theo trường phái Chicago đã ứng du ̣ng khái niê ̣m "tính liên kết xã hô ̣i" của Simmel vào các chủ đề nghiên cứu như quan hê ̣ lá ng giềng, quan hê ̣ gia đình, quan hê ̣ bạn bè trong đời sống đô thi ̣ [Xem Lê Minh Tiến, 2006, tr 68-69]
Tuy nhiên, một số quan điểm lại cho rằng nhà nhân ho ̣c người Anh J.A Barnes mới là ngườ i sáng ta ̣o ra khái niê ̣m "mạng lưới xã hô ̣i" (social network) Trong bài viết
"Giai cấp và cộng đồng ở đảo Parish, NaUy" được công bố năm 1954, ông dùng thuâ ̣t ngữ "mạng lưới xã hô ̣i" để chỉ loại hình tổ chức xã hô ̣i bao gồm toàn bô ̣ các mối quan
hê ̣ phi chính thức giữa các thành viên của đảo [Lê Minh Tiến, 2006, tr.70] Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứ u đề u đồ ng ý rằng nhà tâm lý học ngườ i Mỹ gốc Romania J.L.Moreno mớ i là người có công đầu tiên phá t minh ra phương phá p phân tích mạng lưới xã hội Ngay từ tác phẩm "Ai sẽ sống sót?", ông đã đưa ra khái niệm "mạng lưới
xã hội" là một lược đồ các quan hệ đan chéo lẫn nhau, trong đó mỗi cá nhân đều có
Trang 17một vị trí xác định trong lược đồ đó và liên kết với các cá nhân khác bởi những lý do khác nhau và theo những phương thức khác nhau [xem Lê Minh Tiến, 2006, tr.70]
Hiểu một cách chung nhấ t, mạng lưới xã hội là tâ ̣p hơ ̣p các quan hê ̣ xã hô ̣i giữa các chủ thể (actor) Các mối quan hê ̣ này mang nhiều nô ̣i dung khác nhau như giúp đỡ về tinh thần hay vâ ̣t chấ t, trao đổi thông tin v v [Xem Lê Minh Tiế n, 2006, tr 66] Vậy mạng lưới xã hội và vốn xã hội có phải là một hay không?
Về bản chất mạng lưới quan hệ xã hội, có nhiều quan điểm coi nó như một nơi chứa đựng, nguồn tạo lập vốn xã hội Tiêu biểu cho quan điểm này là Nan Lin trong
định nghĩa "Vốn xã hội là nguồn vốn được tiếp cận thông qua các liên kết xã hội của
cá nhân " [Nan Lin, 1999, tr 28] Nan Lin đã khẳng định mạng lưới xã hội hay chính
là các liên kết xã hội là nơi sản sinh ra vốn xã hội Đồng quan điểm với Nan Lin, Pierre Bourdieu từng định nghĩa vốn xã hô ̣i như “một tập hợp các nguồn lực hiện hữu
hoặc tiềm tàng, gắn với việc sở hữu một mạng lưới bền vững của các mối quan hệ quen biết hoặc thừa nhận lẫn nhau ít nhiều được thể chế hóa” [Pierre Bourdieu, 1983,
tr 3] Mạng lưới xã hội mà Bourdieu nói đến ở đây là tổng hòa các mối quan hê ̣ xã hô ̣i của một cá nhân với đặc trưng là ít nhiều đã được thể chế hóa dựa trên sự quen biết hoă ̣c thừa nhâ ̣n lẫn nhau Theo đó, từ mối quan hê ̣ vốn đã được gắn kết chă ̣t chẽ và thừa nhâ ̣n từ lâu như quan hê ̣ gia đình , họ hàng, bạn bè thân thiết đến những quan hệ chỉ là quen biết như quan hệ bạn bè thông thường và nhiều quan hệ xã giao khác đều
có thể đan kết thành một mạng lưới dày đặc, đa da ̣ng và cũng khá phức ta ̣p
Cùng xem xét mạng lưới quan hệ xã hội ở góc độ cấu trúc như Bourdieu, Hoàng Bá Th xã cho rằng mho rằng Hoàng Bá Th xã hô ̣i ở góc đô ̣ cấu trúc̉a mạng lưới quan hệ xã hội là nơi chứa đựng vốn xã hội trưng là ít nhiều Vốn xã hội được sinh ra
từ tập hợp các giao điểm này [Hoàng Bá Th đư, 2009, tr 44] Đồng quan điểm với Nan Lin còn nhiuan điểm vớkhác như Bourdieu (1986), Coleman (1988) v.v
Bên cBourdieudòng quan điểm thứ hai với đại diện tiêu biểu là nhà xã hn điểm
thứ hai với đại diện tiêu1995) đã cho rằng " v rằng điểm thứ hai với đại diện tiêu
biểu là nàyác mối quan hê ̣ xã hội của một cá [Putnam, 1995, tr 664-665; D.Hapern,
2005, tr 1] Putnam kh5, tr 66mạng lưới xã hội chg lưới xã hộitr 664-665; D.Hapern,
2005, tr nàyác mối quan hê ̣ xã hô ̣i của mô ̣t cá nhân với đă ̣c trưng là ít nhiều đã được thể chế hóa dựa trên sự quen biết hoă ̣c thừa nhâ ̣n lẫn nhau The
Trang 18Tuy nhiên, xét về bản chất, mạng lưới xã hội và vốn xã hội không phải là hai phạm trù biệt lập mà là một phạm trù thống nhất Mạng lưới xã hội và vốn xã hội nằm trong nhau và được tạo nên theo một chu trình khép kín gồm hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là các quan hệ xã hội sinh ra các nguồn vốn xã hội, đến lượt mình ở giai đoạn thứ hai, các nguồn vốn xã hội trong quá trình tương tác với nhau lại tạo nên các mạng lưới quan hệ xã hội mới Như vậy, thực chất hai dòng quan điểm nêu trên chỉ là sự nhấn mạnh hơn đến giai đoạn thứ nhất hay giai đoạn thứ hai mà thôi
Như vậy, mạng lưới xã hội là vốn xã hội Tuy nhiên, trong một mạng lưới xã hội rộng lớn, không phải quan hệ xã hội nào cũng được coi là nguồn vốn xã hội hữu ích Vấn đề này đã từng được chúng tôi bàn đến trong các nghiên cứu trước "Mạng lưới quan hệ xã hội" hiểu theo nghĩa rộng là tổng hòa tất cả các đối tác mà cá nhân đã xây dựng và duy trì các quan hệ một cách có chủ đích Nhưng xét theo nghĩa hẹp, mạng lưới quan hệ xã hội có thể chỉ là số người ba ̣n mà cá nhân có thể tìm đến như nguồn hỗ trợ đầu tiên khi họ gặp những khó khăn trong cuộc sống cần có sự trợ giúp Như vậy, số lượng những người được xem như là bạn thân cùng với các thành viên trong gia đình ruột thịt luôn sẵn sàng sẻ chia giúp đỡ chính là mạng lưới quan hệ xã hội lõi của mỗi chủ thể [Nguyễn Quý Thanh và Cao Thị Hải Bắc, 2015, tr 38] Do vậy, luận án này sẽ đo tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong mạng lõi của người Việt Nam
1.1.2 Các đặc tính của mạng lưới quan hệ xã hội
Để có được thông tin về một mạng lưới quan hệ xã hội thì cần nắm được các đặc tính về mạng lưới đó Các đặc tính thường được nhắc đến của mạng lưới xã hội bao gồm qui mô, mật độ, tần suất tiếp xúc, cơ chế hình thành, có đi có lại v.v
Về đặc tính qui mô mạng lưới xã hội, chúng tôi đã từng khảo sát ba dòng quan điểm chính Thứ nhất, qui mô mạng lưới quan hệ xã hội của một cá nhân là tổng số lượng các chủ thể mà cá nhân quen biết Quan điểm này giới hạn qui mô mạng lưới xã hội của một cá nhân trong các liên kết mạnh (strong ties) Tiêu biểu cho dòng quan điểm này là nghiên cứu của Pool, Kochen (1978) Khác với dòng quan điểm cổ điển là quan điểm cho rẳng qui mô mạng lưới quan hệ xã hội là mạng lưới của cả những người quen biết và người lạ Tiêu biểu cho dòng quan điểm này là Chang, Fu (2003) Dòng quan điểm thứ ba có thể tìm thấy trong nghiên cứu của Lee Jae Yeol (2000) về
"Mạng lưới quan hệ xã hội của người Hàn Quốc" Trong nghiên cứu của Lee Jae Yeol,
Trang 19qui mô mạng lưới quan hệ xã hội được tính là tổng số người được liệt kê như là nguồn giúp đỡ đầu tiên trong cuộc sống và những người được tin cậy để chia sẻ và bàn luận những việc quan trọng [Nguyễn Quý Thanh, Cao Thi ̣ Hải Bắc, 2015, tr 36-37]
Ở Việt Nam có lẽ cũng chưa có nghiên cứu nào đo lường qui mô ma ̣ng lưới quan hê ̣ xã hô ̣i Do vậy, nghiên cứu về "Quan hê ̣ xã hô ̣i và vốn xã hô ̣i: nghiên cứu so sánh Việt Nam và Hàn Quốc " của chúng tôi được thực hiện năm 2012 có lẽ là một trong số ít các nghiên cứu có bàn đến chủ đề này Chúng tôi cũng đã so sánh với kết quả nghiên cứu của Lee Jae Yeol (2000) và đưa ra kết luận rằng qui mô mạng lưới quan hệ xã hội của người Việt Nam lớn hơn qui mô này của người Hàn Quốc Các nghiên cứu trước của chúng tôi về mạng lưới quan hệ xã hội cũng đã giới hạn rõ ràng qui mô mạng lưới xã hội của người Việt Nam được đo lường là qui mô lõi và thuộc về loại các quan hệ xã hội do cá nhân kiến tạo chứ không phải là loại quan hệ xã hội mặc định Cụ thể, qui mô lõi mạng lưới quan hệ xã hội được đo trong nghiên cứu của chúng tôi chính là tổng số bạn bè thân thiết nhất, là những người sẵn sàng cung cấp các trợ giúp cho bạn của mình [Nguyễn Quý Thanh, Cao Thi ̣ Hải Bắc, 2015, tr 38]
Về đặc tính cơ chế hình thành mạng lưới quan hệ xã hội, phần lớn tác giả nhấn mạnh đến đặc tính đồng dạng Miller McPherson , Lynn Smith-Lovin, James M Cook (2001) trong tác phẩm "Birds of a feather homophily in social network" đã chỉ ra rằng
sự tương đồng tạo ra cá c liên kết, nghĩa là các mạng lưới quan hệ xã hội liên kết với nhau dựa trên những đă ̣c điểm tương đồng nhất đi ̣nh Sự tương đồng đó có thể là về tuổi, giới tính, nghề nghiê ̣p, vị trí công tác, quê quán, sở thích v.v [Miller McPherson, Lynn Smith-Lovin, James M.Cook, 2001, tr 415-416] Trướ c khi lý thuyết đồng da ̣ng này ra đờ i, đã có nhiều nghiên cứu thực nghiê ̣m đề câ ̣p đế n ma ̣ng lướ i đồ ng nhấ t
Chẳng ha ̣n như Portney , Berry (1997) cho rằng “Sự đồng thuận thường được tìm thấy
phổ biến hơn ở các mạng lưới đồng nhất so với các mạng lưới không đ ồng nhất”
Sampson và đồng sự (1997) cũng cho rằng: “Các hàng xóm đồng nhất hơn thì tinh
thần tập thể cao hơn” [Xem Anirudh Krishna, 2002, tr 59-60]
Nghiên cứu của Lee Jae Yeol (2000) hay nghiên cứu của chúng tôi năm 2012
về "Quan hệ xã hô ̣i và vốn xã hô ̣i : nghiên cứu so sánh Viê ̣t Nam và Hàn Quốc " cũng bàn về tính đồng dạng của mạng lưới quan hệ xã hội Kết quả nghiên cứu của Lee Jae Yeol cho thấy mứ c đô ̣ đồng da ̣ng trong ma ̣ng lưới quan hê ̣ xã hô ̣i của người Hàn cao hơn mức độ này trong ma ̣ng lưới của người Mỹ Trong khi đó, nghiên cứu của chúng
Trang 20tôi mới chỉ đo lường sơ lược một số chỉ số đồng dạng như cùng giới tính, cùng quê, cùng học, cùng họ hàng mà chưa phân tích sâu về các chỉ số này
Năm 2015 chúng tôi tiếp tục thực hiện một nghiên cứu về "Nguyên lý đồng dạng: cơ chế hình thành mạng lưới quan hệ xã hội của người Việt Nam" để đi sâu hơn vào việc đo lường các chỉ số đồng dạng của mạng lưới quan hệ xã hội của người Việt Nam theo 6 tiêu chí: cùng giới tính, cùng học, cùng nơi làm việc (đồng nghiệp), cùng
vị trí làm việc (đồng cấp), cùng quê và cùng họ hàng Bên cạnh đó, chúng tôi đã phân tích sự khác biệt theo giới tính, vùng miền nông thôn-đô thị của các chỉ số đồng dạng này và đo lường được các yếu tố ảnh hưởng đến đặc tính đồng dạng của mạng lưới quan hệ xã hội của người Việt Nam Một số kết luận được rút ra như sau Cùng với nguyên lý bù trừ, tính đồng dạng là một trong hai cơ chế hình thành mạng lưới xã hội
cơ bản nhất và cũng là đặc tính tương đối phổ biến của người Á Đông, trong đó tương đối rõ nét với người Việt Nam Tính chất đồng dạng đươ ̣c thể hiê ̣n rõ rê ̣t nhất qua các tiêu chí như cùng đặc tính giới, đồng môn, đồng hương và ngang cấp
Ngoài các đặc tính cơ bản như qui mô, mật độ, tính đồng dạng, một mạng lưới quan hệ xã hội còn chứa đựng nhiều đặc tính khác, trong đó có tính chất có đi có lại
mà tính đối xứng/bất đối xứng chính là trường hợp riêng của tính có đi có lại này Có
đi có lại là một nguyên tắc phổ biến và dễ nhận thấy trong mọi sự trao đổi xã hội, đặc biệt là các quan hệ giúp đỡ Nhưng tính chất có đi có lại có luôn đối xứng hay không là điều khó nhận thấy ngay trong cuộc sống Cũng khó tìm được nhiều nghiên cứu tại Việt Nam bàn về đặc tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ, trong khi đây là một đặc tính khá thú vị giúp hiểu hơn đặc điểm tâm lý cũng như tư duy tình cảm của người Việt Nam Do vậy, trong các phần sau, luận án sẽ khảo sát kỹ hơn về các nghiên cứu liên quan đến tính chất có đi có lại và đặc tính đối xứng/bất đối xứng này
1.1.3 Đặc trưng quan hệ giúp đỡ trong mạng lưới quan hệ xã hội
Như đã đề cập ở trên, luận án này bàn về mạng lưới quan hệ xã hội lõi của cá
nhân Đó là mạng lưới thân gần như một nguồn vốn xã hội hữu ích nhất Mạng lưới này chính là các quan hệ bạn bè thân thiết và các quan hệ gia đình ruột thịt (bố mẹ và con cái) Do vậy, ở phần này, chúng tôi sẽ khảo sát các nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến quan hệ giúp đỡ trong cả các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ gia đình ruột thịt nói riêng như Granovetter (1973, 1983); Lee Jae Yeol (2000); Hirasawa Ayami
Trang 21(2011), Russell J Dalton và cô ̣ng sự (2001), Lê Ngọc Hùng (2003, 2008), Hoàng Bá Thịnh (2009), Đặng Nguyên Anh (1998), Phan Đại Doãn (1994), Lê Ngọc Văn (2004),
Lê Ngọc Lân (2011, 2012), Nguyễn Hữu Minh (2012) v.v
Granovetter (1973) đã nhắc đến hai kiểu loại giúp đỡ bao gồm những giúp đỡ mang tính tình cảm (emotion) như chia sẻ, động viên trong lúc khó khăn; chăm sóc, thăm hỏi lúc ốm đau v.v và những giúp đỡ mang tính công cụ (instrumental) như hỗ trợ tiền bạc để xây/mua nhà hay để làm ăn v.v Tuy nhiên, còn nhiều loại hình giúp đỡ khác khó xếp hẳn về kiểu loại nào như giúp sức lao động, giúp cung cấp thông tin v.v
Do vậy, trong phần này, luận án tập trung khảo sát các nghiên cứu bàn về bốn loại hình giúp đỡ được cho là cơ bản, thiết yếu và thường gặp nhất trong cuộc sống bao gồm: kinh tế, tinh thần, sức lao động và thông tin, tri thức
1.1.3.1 Quan hệ giúp đỡ về kinh tế
Mạng lưới di cư là chủ đề được bàn đến nhiều trong nghiên cứu thực nghiệm về vai trò mạng lưới xã hội Nghiên cứu tiêu biểu của Hirasawa Ayami (2011) về "Nhà hàng Việt Nam - một hiện tượng về vốn xã hội của người Việt Nam định cư ở Nhật" cho thấy hầu hết những người Việt Nam định cư tại Nhật khi cần những hỗ trợ kinh tế thường tìm đến bạn bè như hội đồng hương, hội đồng học, hội cùng nhà thờ Hình thức giúp đỡ phổ biến là cho nhau vay vốn làm ăn Cùng chủ đề nghiên cứu về mạng lưới di
cư, Đặng Nguyên Anh (1998) trong bài viết "Vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di cư" đã đưa ra những bằng chứng thực nghiệm rằng trong quá trình thích ứng với cuộc sống thành thị, người di cư đã huy động sự giúp đỡ về kinh tế từ chính những bạn đồng hương hay đồng học như vay mượn tiền, nhờ chuyển tiền v.v
Như vậy đặc trưng giúp đỡ về kinh tế của mạng lưới di cư là sự nương tựa lẫn nhau giữa các thành viên trong cùng mạng lưới Và hình thức giúp đỡ phổ biến nhất là cho nhau vay mượn tiền Khác với mạng lưới di cư, các giúp đỡ về kinh tế trong quan
hệ gia đình lại phản ánh nhiều đặc trưng riêng Phan Đại Doãn đã phác họa lại hình
ảnh gia đình Việt Nam trong xã hội truyền thống: "Gia đình là đơn vị giáo dục, truyền
thụ những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp Đây đó chúng ta gặp những gia đình là 'thầy thuốc gia truyền', 'thợ mộc truyền nghề', 'thợ gốm truyền nghề' v.v " [Phan Đại
Doãn, 1994, tr 4] Hiện tượng này vẫn còn khá phổ biến trong xã hội ngày nay tạo nên đặc trưng về sự giúp đỡ "cha truyền con nối" trong quan hệ gia đình người Việt Dựa
Trang 22vào sự giúp đỡ này, các cá nhân có được công ăn việc làm và con đường sự nghiệp cho riêng mình, tức là gia đình Việt Nam xưa và nay đã và đang góp phần không nhỏ trong việc tạo kế sinh nhai cho các thành viên trong gia đình Cùng quan điểm này, nghiên cứu của Lê Ngọc Lân và đồng nghiệp cũng đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giúp đỡ về kinh tế giữa người cao tuổi và con cháu Trong đó, các tác giả nhấn mạnh hiện nay người cao tuổi cũng mang lại nhiều trợ giúp về kinh tế cho con cháu như đóng góp thu nhập, góp vốn làm ăn, phổ biến kinh nghiệm làm ăn [Lê Ngọc Lân, 2011, tr 61-62]
Một đặc trưng giúp đỡ kinh tế khác trong các gia đình Việt Nam được giới thiệu trong nghiên cứu của Mai Văn Hai, Ngô Thị Thanh Quý (2012) Nghiên cứu cho thấy, trong các hình thức liên kết làm kinh tế ở Duy Tắc, mạng lưới gia đình và họ hàng lấy
cá nhân làm trung tâm có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, cải thiện cuộc sống trong bối cảnh kinh tế thị trường Hình thức giúp đỡ chủ yếu là cùng hợp tác làm ăn, kinh doanh như cho nhau vay tiền, cung cấp thông tin v.v Thêm một đặc trưng giúp đỡ khác không thể không nhắc đến, đó là, gia đình thường là nguồn giúp đỡ đầu tiên trong hoạt động kinh doanh của mỗi cá nhân Đặc trưng này đã được rút ra từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm về "Sự giao thoa giữa vốn xã hô ̣i với các giao dịch kinh tế trong gia đình : so sánh gia đình Viê ̣t Nam và gia đình Hàn Quốc" Kết quả nghiên cứu cho thấy gia đình luôn là nguồn hỗ trợ đắc lực nhất trong viê ̣c cho cá nhân vay vốn khởi nghiê ̣p , vay vốn luân chuyển , vận hành kinh doanh, thực hiện những giao dịch đối ngoại v.v [Nguyễn Quý Thanh, 2005]
Cũng là một nghiên cứu thực nghiệm tại làng Quỳnh Đôi, tỉnh Nghệ An, tác giả Nguyễn Tuấn Anh trong nghiên cứu "Dòng họ như một nguồn vốn xã hội: Các chiều cạnh kinh tế và văn hóa của sự biến đổi quan hệ dòng họ ở một làng thuộc miền Bắc Việt Nam" đã chứng minh được rằng quan hệ họ hàng, đặc biệt là dòng họ bên nội, trong đó có bao hàm cả quan hệ giữa các thành viên gia đình ruột thịt có vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp các giúp đỡ có đi có lại giữa các thành viên và hộ gia đình trong dòng họ Tác giả nhấn mạnh đến các giúp đỡ về vật chất và tài chính trong các hoạt động như sản xuất nông nghiệp, sản xuất thủ công nghiệp và cho vay vốn làm ăn [Nguyễn Tuấn Anh, 2010]
Trang 231.1.3.2 Giúp đỡ về tinh thần
Cũng trong nghiên cứu của Đặng Nguyên Anh (1998) nêu trên, những người bạn, đặc biệt là những người cùng quê còn được nhấn mạnh là nguồn vốn xã hội hữu ích trong việc cung cấp những giúp đỡ về tinh thần cho người di cư Đó là việc tâm sự những vui buồn, thuận lợi và khó khăn trong quá trình sống nơi nhập cư hay là những
trao đổi và chia sẻ về tin tức quê nhà v.v
Tuy nhiên, Granovetter (1973) đã nhấn mạnh rằng những giúp đỡ mang tính tình cảm (emotional helps) luôn gắn liền hơn với các quan hệ gia đình Về điều này,
Phan Đại Doãn cũng nhấn mạnh rằng gia đình Việt Nam có chức năng nuôi dưỡng người già Con cái có một ý nghĩa tinh thần vô cùng quan trọng trong gia đình người Việt Con cái là của để dành Con cái được kì vọng sẽ phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già, có thể về vật chất, có thể về tình cảm hoặc bằng nhiều hình thức giúp đỡ khác Nhưng trên tất cả, việc làm tròn đạo hiếu với cha mẹ chính là thể hiện rõ nét nhất của
sự giúp đỡ về tinh thần của con cái với cha mẹ Về phần cha mẹ, tác giả cũng đề cập đến vai trò quan trọng của cha mẹ trong việc giáo dục con cái [Phan Đại Doãn, 1994, tr.6] Đồng nhất với quan điểm của Phan Đại Doãn, Vũ Thị Cúc cũng tiến hành một nghiên cứu định tính ở Hưng Yên để tìm hiểu quan niệm của người dân về giá trị con cái Nghiên cứu này cho thấy đối với hầu hết các bậc cha mẹ thì con cái có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt tinh thần Sự giúp đỡ đặc biệt mà con cái mang lại cho cha mẹ chính là sự giúp đỡ tinh thần lúc cha mẹ về già [Vũ Thị Cúc, 2012]
Nhấn mạnh đến một đặc trưng khác trong giúp đỡ về tinh thần giữa người cao tuổi với con cháu, nghiên cứu của Lê Ngọc Văn đã phản ánh rõ những biến đổi trong quan hệ giúp đỡ giữa người cao tuổi và con cháu Xu hướng biến đổi rõ nhất là nhìn chung ngày nay người cao tuổi và con cháu đều muốn nương tựa vào nhau để giúp đỡ lẫn nhau chứ không theo mô hình người cao tuổi chỉ sống phụ thuộc hoàn toàn vào con cháu hay con cháu thường cảm thấy nhiều áp lực khi phải phụng dưỡng người cao tuổi như trước đây Kết quả nghiên cứu đã khẳng định gia đình luôn là nơi đáng tin cậy nhất trong việc cung cấp cho cá nhân những giúp đỡ về tinh thần, tình cảm [Lê Ngọc Văn, 2004] Cũng bàn về quan hệ giúp đỡ giữa người cao tuổi và con cháu, Nguyễn Hữu Minh đã phát hiện ra một số đặc trưng thú vị như: nhìn chung người Việt Nam có
xu hướng chia sẻ tâm sự với con ruột nhiều hơn là với con dâu và con rể, tỷ lệ về thăm
Trang 24Các bài viết trên đã phản ánh rõ về đặc trưng của những giúp đỡ về tinh thần trong gia đình người Việt Đó là sự sẻ chia và động viên tinh thần có đi có lại mang tính liên thế hệ Sự kì vọng của các thế hệ trước vào thế hệ sau về sự giúp đỡ tinh thần lúc họ về già có thể xuất phát từ sự tính toán lợi ích như quan điểm của Becker (1999) trong những bối cảnh nhất định Nhưng trên tất cả, sự giúp đỡ về tinh thần trong các gia đình người Việt xuất phát từ những chuẩn mực đạo đức có từ lâu đời
1.1.3.3 Giúp đỡ về sức lao động
Trở lại với nghiên cứu về mạng lưới di cư của Hirasawa Ayami (2011) nêu trên, mạng lưới bạn bè tại cộng đồng nơi nhập cư còn đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ về sức lao động Hình thức giúp đỡ phổ biến được đề cập là làm giúp hoặc làm
thuê tại nhà hàng với các công việc như bồi bàn, dọn dẹp, chuyên chở hàng hóa v.v
Về mạng lưới quan hệ gia đình, Phan Đại Doãn cũng đề cập đến vai trò của gia đình trong việc giúp đỡ sức lao động cho các cá nhân Tác giả lập luận rằng trong xã hội nông nghiệp, sức lao động là nguồn tài sản quan trọng Do vậy, trong công việc nhà nông, các thành viên trong gia đình, mở rộng ra là trong họ hàng thường được huy động về sức để giúp đỡ nhau cầy cấy, trồng trọt hay chăn nuôi Đối với các gia đình nông nghiệp có thêm thủ công nghiệp hay buôn bán thì các thành viên gia đình, họ hàng vẫn có thể giúp đỡ nhau về sức lao động như sản xuất, vận chuyển và trông nom hàng hóa Đây chính là sự giúp đỡ mang tính nghĩa vụ [Phan Đại Doãn, 1994, tr 6]
Cùng nhấn mạnh tầm quan trọng của gia đình trong sự giúp đỡ về sức lao động, Nguyễn Quý Thanh đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm để khẳng định lao động gia đình có năng suất cao hơn lao động bên ngoài trong khi chi phí lại thấp hơn Một ví dụ thực nghiệm là khi các ông chủ cần bốc dỡ hàng ngoài giờ mà những người lao động
họ thuê đã kết thúc giờ làm việc thì lúc này, các thành viên gia đình chính là lực lượng lao động rẻ nhất và không kêu ca nhiều về công việc nặng nhọc [Nguyễn Quý Thanh , 2005] Từ đây có thể rút ra một đặc trưng của quan hệ giúp đỡ về sức lao động trong gia đình giống như đã tìm thấy trong nghiên cứu của Phan Đại Doãn Đó là những giúp đỡ về sức lao động trong gia đình thường luôn mang tính tự nguyện và nghĩa vụ
1.1.3.4 Giúp đỡ về thông tin, tri thức
Cùng nghiên cứu về vai trò của mạng lưới quan hệ xã hội trong tìm kiếm việc làm, Granovetter và Lê Ngọc Hùng lại lựa chọn các đối tượng khảo sát khác nhau và
Trang 25thu được những kết quả nghiên cứu không giống nhau Granovetter (1973) đã tiến hành khảo sá t 266 người đã thay đổi công viê ̣c ta ̣i vù ng Newton , thuô ̣c thà nh phố Boston và thấy rằng trong trườ ng hơ ̣p tì m kiếm viê ̣c là m, các liên kết yếu có vai trò
đă ̣c biê ̣t quan tro ̣ng trong viê ̣c ta ̣o ra cơ hô ̣i di đô ̣ng cho cá nhân, thâ ̣m chí còn mang lại nhiề u thông tin viê ̣c là m hơn cá c liên kế t ma ̣nh [Granovetter, 1973, tr 1373; Granovetter, 1983, tr 205] Khác với Granovetter, Lê Ngọc Hùng chỉ giới hạn chủ thể nghiên cứu là sinh viên Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các liên kết ma ̣nh hay chí nh là các quan hệ gia đình vẫn có sức ảnh hưởng lớn hơn các liên kết yếu trong tìm kiếm viê ̣c làm của người Viê ̣t Nam [Lê Ngo ̣c Hùng, 2003]
Cũng bàn về mạng lưới di cư nhưng Hirasawa Ayami (2011) lại lựa chọn đối tượng khảo sát là những người Việt Nam kinh doanh nhà hàng định cư tại Nhật Kết quả khảo sát của Hirasawa Ayami cho thấy bạn bè giúp đỡ rất nhiều trong việc cung cấp thông tin về nguồn nhân lực (giới thiệu người lao động Việt Nam biết tiếng Nhật)
hay địa điểm phù hợp để mở nhà hàng v.v
Không chỉ mạng lưới bạn bè, gia đình cũng được bàn đến như một nguồn vốn
xã hội hữu ích trong việc cung cấp các giúp đỡ về thông tin Dựa trên chỉ báo đo được rằng đại đa số thanh thiếu niên nói chuyện lần đầu tiên chủ yếu với bố mẹ về biểu hiện dậy thì, Nguyễn Hữu Minh khẳng định gia đình chính là nguồn cung cấp thông tin quan trọng về sức khỏe giới tính cho thanh thiên và trẻ vị thành niên [Nguyễn Hữu Minh, 2006] Phan Đại Doãn cũng nhấn mạnh rằng mỗi khi cần giúp đỡ về thông tin hay tri thức, các cá nhân thường tìm đến gia đình như nguồn đáng tin cậy đầu tiên bởi gia đình chính là cái nôi kiến thức đã nuôi lớn mỗi cá nhân [Phan Đại Doãn, 1994]
1.2 Các nghiên cứu về tính chất có đi có lại nhƣ một thành tố của vốn xã hội
Tính chất có đi có lại là một trong những thành tố quan trọng của vốn xã hội
Do vậy, phần này sẽ tập trung tìm hiểu các nghiên cứu liên quan đến các vấn đề như tính chất có đi có la ̣i trong khái ni ệm vốn xã hô ̣i, tính chất có đi có la ̣i như một chỉ báo
đo lường vốn xã hô ̣i, tính chất có đi có la ̣i của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hô ̣i 1.2.1 Tính chất có đi có la ̣i trong khái niệm vốn xã hô ̣i
Trong nhiều định nghĩa về vốn xã hội đã bao hàm tính chất có đi có lại
Bourdieu định nghĩa vốn xã hội là nguồn lực dựa trên mạng lưới được thừa nhận hoặc
quen biết, trong đó các thành viên tương tác qua lại với nhau [Bourdieu, 1986: tr
Trang 26248] Hay như Nan Lin (2001: 25) đã nhấn ma ̣nh: " Để sản sinh ra lợi ích , các cá
nhân tiến hành tương tác lẫn nhau trong các mạng lưới quan hê ̣ xã hội của ho ” Như
vâ ̣y, cả Bourdieu và Nan Lin đều nhắc đến cái gọi là "tương tác qua la ̣i với nhau " hay chính là tính chất có đi có lại trong vốn xã hô ̣i Theo Bourdieu và Nan Lin , vốn xã hô ̣i không tự nhiên có được mà được sinh ra từ chính sự có đi có la ̣i trong ma ̣ng lưới quan
hê ̣ xã hô ̣i và sẽ trở lên đa da ̣ng hơn tùy thuô ̣c vào sự đa da ̣ng của các liên kết xã hô ̣i Nói một cách khác, "có đi có lại" chính là một tính chất quan trọng của vốn xã hô ̣i
Nhấn mạnh hơn đặc trưng của vốn xã hội, Portes khẳng định sự trao đổi qua lại
và lòng tin là nguồn gốc của vốn xã hội [Portes, 1998, tr 7] Còn nhà chính tr ị học
người Mỹ gốc Nhâ ̣t Fukuyama la ̣i đ ề cập đến tính chất có đi có lại trong vốn xã hô ̣i ở góc độ văn hóa , thái độ Ông nhấn ma ̣nh chuẩn mực có đi có lại là đặc trưng quan trọng nhất của v ốn xã hô ̣i Trong bài viết "Vốn xã hô ̣i và xã hô ̣i dân sự " (Social
Capital and Civil Society) Fukuyama đa ̃ đi ̣nh nghĩa về vốn xã hô ̣i như sau : "Trong các
chuẩn mực làm nên vốn xã hội c ó chuẩn mực có đi có lại Chuẩn mực có đi có lại tồn tại trong tiềm thể (in potentia), trong lối xử sự của tôi với mọi người , nhưng nó chỉ được hiê ̣n thực hóa khi tôi xử sự với bạn bè của tôi mà thôi" [Fukuyama, 2000, tr.3]
Tính chất có đi có lại tiếp tục được khẳng định là một trong ba tính chất quan
trọng nhất tạo nên vốn xã hội trong khái niệm về vốn xã hội của Putnam: "Tóm lại, vốn
xã hội chỉ các liên kết xã hội (social connection) và các chuẩn mực và sự tin tưởng kèm theo” [Putnam, 1995, tr 664-665] Hay như Lê Minh Tiến tiếp câ ̣n vốn xã hô ̣i
theo 3 cấp độ: vĩ mô, trung mô và vi mô , trong đó "Ở cấp độ vĩ mô , vốn xã hội được
hiểu là là các giá tri ̣ và chuẩn mực của nền văn hóa xã hội , bao gồm cả lòng tin và sự
có đi có lại " [Lê Minh Tiến , 2007, tr 72-73] Nguyễn Ngọc Bích (2006) và Ngô Đức
Thịnh (2008) cũng cùng chung một quan tâm là nêu lên các biểu hiện ra bên ngoài của vốn xã hội, trong đó có tính chất có đi có lại Thêm mô ̣t bằng chứng nữa là nhâ ̣n đi ̣nh
của Trần Hữu Dụng (2006) rằng "không giống mọi loại vốn khác, vốn xã hội tùy vào
“lòng tốt” của kẻ khác, sự “có đi có lại” của nhiều người, và lợi ích của nó là của chung" Tất cả các quan điểm trên đều hướng tới mô ̣t mu ̣c đích chung là chỉ ra mối liên hê ̣ mâ ̣t thiết giữa vốn xã hô ̣i và "có đi có lại", trong đó "có đi có lại" là một thành
tố để tạo nên vốn xã hội và vốn xã hội chỉ được duy trì khi tồn tại "có đi có lại"
Trang 271.2.2 "Có đi có lại" như mô ̣t chỉ báo đo lường vốn xã hô ̣i
"Có đi có lại " không chỉ đươ ̣c nhắc đến như mô ̣t tính ch ất của vốn xã hô ̣i mà còn được nhấn mạnh như một ch ỉ báo đo lường vốn xã hô ̣i mô ̣t cách hiê ̣u quả Thời kì đầu những năm 1990, các nhà nghiên cứu thường lựa chọn phương pháp đo lường vốn
xã hội thông qua qui mô ma ̣ng quan hê ̣ xã hô ̣i Nhưng kể từ sau năm 2000, nhiều tiêu chí đo lường đa dạng hơn đã được sử dụng Chẳng ha ̣n như Ton van Schaik đã tiến hành đo lường vốn xã hô ̣i của người Châu Âu thông qua 4 chiều ca ̣nh : 1) Lòng tin giữa các cá nhân , 2) Lòng tin đối với thể chế , 3) Sự tham gia vào x ã hội dân sự , 4) Chuẩn mực có đi có la ̣i Như vâ ̣y, chuẩn mực có đi có la ̣i đã được đề câ ̣p đến như mô ̣t tiêu chí quan tro ̣ng để đo lường vốn xã hô ̣i [Ton van Schaik, 2002]
Hay như Hilde Coffe´ (2009) cũng lựa chọn tính chất "có đi có lại" là một trong những tiêu chí để đo lường vốn xã hô ̣i ta ̣i Flemish - mô ̣t vùng đất thuô ̣c Bỉ Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác đã đề cập đến nhiều tiêu chí đo lường đa da ̣ng như bô ̣ tiêu chí của hai nghiên cứu thuộc cơ quan Thống kê Canada là C A Bryant và D.Norris, bô ̣ tiêu chí của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), bộ tiêu chí của cơ quan thống kê Úc hay bộ tiêu chí của hai tác giả V.Vella (Nam Phi) và D Narajan (Ngân hàng thế giới) [Lê Minh Tiến , 2007, tr 74] Tuy nhiên, có thể thấy một trong những tiêu chí chung được lựa cho ̣n để đo lường vốn xã hô ̣i vẫn là sự giúp đỡ có đi có lại
1.2.3 Tính chất có đi có la ̣i của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hô ̣i
Có thể rút ra nghĩa vu ̣ tối cần thiết cho đi phải đá p la ̣i trong hà nh vi trao đổi từ
câu nói nổi tiếng của nhà triết ho ̣c La Mã Cicero: "Không có nghĩa vụ nào cần thiết hơn
nghĩa vụ phải đá p trả lại lò ng tốt Tất cả loà i người sẽ đều không tin nhữ ng kẻ hay quên ơn huê ̣" [Howard Becker, 1956, tr 1] Tính chất "có đi có lại" này cũng đã được
đề câ ̣p đến như mô ̣t nguyên tắ c trong trao đổi quà cũng như các giao di ̣ch kinh tế giản đơn ngay từ các xã hô ̣i cổ sơ trong tá c phẩm "Luâ ̣n về biếu tă ̣ng " của Mauss Mauss cho rằng trao đổi là mẫu số chung của nhiều sinh hoa ̣t xã hô ̣i và thực chất của trao đổi luôn cho thấy "ba sự bắt buô ̣c: Tă ̣ng, nhâ ̣n và đáp tă ̣ng" [Mauss, 1925, tr.207]
Ở góc độ kinh tế, Homans trong tác phẩm "Hành vi xã hội như một sự trao đổi"
đã xem tính chất có đi có la ̣i như mô ̣t khuôn mẫu trao đổi trong giao di ̣ch kinh tế nói riêng và trong mọi trao đổi xã hội nói chung [Cropanzano, Russell; Mitchell, Marie,
2007, tr 878] Điểm giống nhau gi ữa Mauss và Homans là cùng thừa nhâ ̣n "có đi có
Trang 28lại" là bản chất của mọi mối quan hệ trao đổi trong vốn xã hội nhưng vớ i Mauss , nguyên tắc này chi ̣u sự kiểm soát của các qui ước xã hô ̣i , còn Homans lại cho rằng sự tính toán đến chi phí và lợi ích đã tạo nên nguyên tắc có đi có lại này Gouldner (1960) cũng có mô ̣t đóng góp quan tro ̣ng trong viê ̣c chỉ ra ba da ̣ng t hức có đi có lại dựa trên quan điểm liên ngành Ba da ̣ng thức đó là: (1) Có đi có lại là một mô hình trao đổi phụ thuộc lẫn nhau, (2) Có đi có lại như một tín ngưỡng dân gian, (3) Có đi có lại như một chuẩn mực đạo đức [Cropanzano, Russell; Mitchell, Marie S, 2007, tr 876]
Nhưng đến những năm 1980, các nhà nghiên cứ u mới bắt đầu nhìn nhâ ̣n tính chất "có đi có lại " trong vốn xã hội như một hành vi ứng xử xã hô ̣i để nghiên cứ u sâu hơn về nó như mô ̣t chỉnh thể đô ̣c lâ ̣p Bài viết "Sự có đi có la ̣i : Cung cấp hàng hóa công thông qua những đóng góp tự nguyê ̣n " (1984) của Sugden là mô ̣t nghiên cứu tiêu biểu về hành vi trao đổi có đi có lại thông qua việc đó ng góp tự nguyê ̣n để cung cấ p hàng hóa công Sugden đã đưa ra giả thuyế t rằng mỗi chủ thể đề u chú ý đến số lượng đóng gó p mà họ muốn ngườ i khá c cung cấ p cho mì nh Nếu số lượng đó ng gó p đó
bằng hoă ̣c lớn hơn e thì họ cũng sẽ cảm thấy có nghĩa vu ̣ phải đóng góp trở la ̣i mô ̣t số lươ ̣ng ít nhất bằng e Và Sugden go ̣i đây là nguyên tắc có đi có lại [Sugden, 1984, tr
775] Sugden đã nhấn mạnh rằng sự hợp tá c đươ ̣c thực hiê ̣n không phải do lựa cho ̣n
hơ ̣p lý về kinh tế mà do chi ̣u sự chi phối của "qui tắc đa ̣o đức"
Tuy nhiên, phải đến những năm 1990, các nghiên cứu về tính chất "có đi có lại" mới bắt đầu chú ý đến viê ̣c phát hiê ̣n các lý thuyết cơ bản liên quan đế n đă ̣c tính này Nhà kinh tế học người Mỹ Mattheww Rabin được coi là mô ̣t trong những nhà nghiên cứu đầu tiên chính thức xây dựng khái niê ̣m "có đi có lại" thành mô ̣t mô hình lý thuyết Rabin đã đưa ra mô ̣t khuôn mẫ u có đi có lại dựa trên sự nhấ n ma ̣nh về ý đi ̣nh (intention) và mứ c đô ̣ lòng tốt (không tốt) chứ không phải kết quả của hành đô ̣ng [trích dẫn theo Armin Falk and Urs Fischbacher, 2006, tr 298]
Tóm lại, nhìn ở mặt cấu trúc , "có đi có lại " là một thành tố của vốn xã hô ̣i hay nói cách khác "có đi có lại" chính là vốn xã hội và vốn xã hội chính là các quan hệ giúp đỡ có đi có lại Mặt khác, về chức năng, nó là chỉ báo hiê ̣u quả để đo lường vốn
xã hội và là một nguyên tắc cơ bản quan trọng nhất để tạo ra và duy t rì sự cân bằng, ổn
đi ̣nh trong mo ̣i trao đổi xã hô ̣i Nó nhấn mạnh đến qui luật cho đi thì phải đáp lại hay cho thì phải được nhâ ̣n, nhâ ̣n rồi thì phải cho đi Tức là, mọi mối quan hệ xã hội muốn phát triển tốt đẹp và bền vững thì phải có sự giúp đỡ lẫn nhau , đôi bên cùng có lợi
Trang 29Nhưng nhìn về nô ̣i dung , điều nà y có đúng ở mo ̣i loa ̣i hì nh giúp đỡ, trong mo ̣i loa ̣i hình ma ̣ng lướ i xã hô ̣i hay không ? Ví dụ, những giúp đỡ qua la ̣i về tình cảm có luôn sòng phẳng đươ ̣c như nhữ ng giúp đỡ nhau về tiền ba ̣c hay không ? Finch and Mason (1993) chỉ ra rằ ng có đi có lại giữa các thành viên trong gia đì nh và họ hàng là quá trình liên tu ̣c và phải mất nhiều năm mớ i nhâ ̣n ra Sự có đi có lại này được thực hiê ̣n rất linh hoa ̣t, dựa trên nền tảng của nghĩa vu ̣ gia đình [Xem Wendy Stone, 2001, tr 30]
Như vâ ̣y, nhiều nghiên cứu về quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội đã nhấn mạnh đến tính chất có đi có la ̣i như một thành tố hay chỉ báo đo lường quan trọng của vốn xã hội Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này mới chỉ xem xét tính có đi có lại là đối xứng mà chưa đề cập hoặc không phân tích đầy đủ về mặt bất đối xứng Do vậy, trong
phần tiếp theo, luận án sẽ khảo sát các nghiên cứu có bàn đến trường hợp riêng này 1.3 Các nghiên cứu về cách đo tính đối xƣ́ng và bất đối xƣ́ng của quan hệ giúp đỡ
Như đã đề cập ở trên, mạng lưới quan hệ xã hội có nhiều đặc tính như qui mô, mật độ, tần suất liên lạc, tính đồng dạng, tính đối xứng và bất đối xứng v.v Trong cuốn sách "Mạng lưới quan hệ xã hội và lòng tin: một phân tích xã hội học về vốn xã hội ở Việt Nam" chúng tôi đã biên soạn và dự kiến xuất bản trong năm 2015, chúng tôi
đã khảo sát một số nghiên cứu đi trước có bàn đến vấn đề đo lường các đặc tính của mạng lưới xã hội nói chung và đặc tính đối xứng/bất đối xứng nói riêng Nhiều nghiên
cứu đã cố gắng đo lường các đặc tính cơ bản này như mô hình đo lường ma ̣ng lưới cá nhân của Burt (1983) với các tiêu chí đo gồm qui mô , tần suất, mâ ̣t đô ̣, tính đồng nhất của mạng lưới; mô hình đo lỗ hổng cấu trúc của Burt (1992); mô hình đo đô ̣ tâ ̣p trung của mạng lưới thông qua các tiêu chí như mức đô ̣ thân thiết và tính tương hỗ lẫn nhau của mạng lưới của Freeman (1979); mô hình đo mức đô ̣ tâ ̣p trung nhóm của Everett & Borgatti (1999) vớ i các tiêu chí đo là qui mô , mức đô ̣ gần gũi và mức đô ̣ tương tác lẫn nhau của nhóm [Tổng hợp theo Stephen P Borgatti, Candace Jones & Martin G Everett, 1998] Nan Lin (1999) cũng lập thành bảng các tiêu chí đo lường mạng lưới
xã hội bao gồm sự khác nhau của các nguồn mạng lưới , cơ hô ̣i tiếp xúc , lỗ hổng cấu trúc, tính mở, đô ̣ thân mâ ̣t, mức đô ̣ tiếp xúc của ma ̣ng lưới, sự tương tác và có đi có lại trong ma ̣ng lưới [Nan Lin, 1999, tr 37] Dưới đây sẽ là các nghiên cứu bàn về đo
lường tính đối xứng/bất đối xứng - đặc tính quan trọng của quan hệ giúp đỡ lẫn nhau
Trang 30Georg Simmel khẳng định "Tất cả cá c tiếp xúc giữa con ngườ i với con ngườ i
đều được xây dựng trên mô hì nh cho đi và nhận lại tương đương " [Georg Simmel,
1950, tr 387] Hay như theo Florencia Torche & Eduardo Valenzuela: "Trong mô ̣t quan hê ̣ xã hội, khi ta nhận một cá i gì đó từ đối phương là bản thân ta cũ ng đã phải nghĩ đến một sự đá p trả lại tương đương " [Florencia Torche & Eduardo Valenzuela,
2011, tr 188] Wendy Stone và Jody Hughes cũng nhấn mạnh "sự tương đương " khi
cho rằng "sự „có đi có lại‟ là quá trình trao đổi trong các quan hệ xã hội, được biểu
hiện dưới dạng thức: hàng hóa và dịch vụ được cung cấp bởi một bên sẽ được trả lại cho chính bên đó bởi một bên khác – bên mà đã nhận được hàng hóa và dịch vụ ban đầu” Dễ nhận thấy rằng cả cả ba nghiên cứu trên đều mới chỉ xem xét đến mặt hình
thức của các trao đổi giúp đỡ cho đi - nhận lại là luôn "tương đương" vớ i nghĩa là "đối xứng" Tuy nhiên nhìn về mặt nội dung, khả năng xảy ra tính bất đối xứng trong các giúp đỡ vẫn chưa được đề cập trong các nghiên cứu này Ví dụ như A giúp B tiền bạc nhưng B chỉ giúp lại được A về tình cảm [Wendy Stone và Jody Hughes, 2001, tr 27] Khác với các nghiên cứu trên, Park Kyeong Suk (2008) lại nhấn mạnh đến tính bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ giữa bố me ̣ và con cái Trong gia đình Hàn Quốc hiê ̣n
đa ̣i, quan hê ̣ của bố me ̣ với con cái thời xế bóng được cho là quan hê ̣ mô ̣t chiều với viê ̣c con cái chăm sóc bố me ̣ già là chủ yếu Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây ở Hàn Quốc cho thấy khác với quan niệm truyền thống , viê ̣c cha me ̣ nhâ ̣n sự giúp đỡ hay phụng dưỡng từ con cái là điều đương nhiên , con cái đang coi viê ̣c phu ̣ng dưỡng này như mô ̣t gánh nă ̣ng Vấn đề Park Kyeong Suk kết luâ ̣n ở đây chính là tính bất đối xứng trong quan hê ̣ cho - nhâ ̣n giữa bố me ̣ và con cái khi bố mẹ về già theo xu hướng bố me ̣ nhâ ̣n từ con nhiều hơn là con nhâ ̣n từ bố me ̣ Hàm ý được ẩn chứa ở đây nữa là xã hội Hàn Quốc đang có sự bất đối xứng trong cả ý thức (intention) giữa một bên là mong muốn được trông cậy vào con cái lúc về già với một bên là cảm giác gánh nặng khi phải phụng dưỡng cha mẹ già [Park Kyeong Suk, 2008, tr 175-176] Trái với Park Kyeong Suk (2008), một nghiên cứu gần hơn của Kim Choong Soon la ̣i phản ánh mô ̣t
xu thế mới của gia đình Hàn Quốc hiê ̣n đa ̣i , đó là, các gia đình hạt nhân gồm vợ chồng
và con cái thích lựa chọn sống gần bố mẹ đẻ , bố me ̣ đằng vợ hay bố me ̣ đằng chồ ng để vừa thuâ ̣n tiê ̣n phu ̣ng dưỡng cha me ̣ vừa có thể nhờ ông bà chăm sóc con cái và trông nom nhà cửa mô ̣t cách miễn phí Điều này cho thấy bố me ̣ và con cái trong gia đình Hàn Quốc hiện đại đang cố gắng đi tìm sự cân bằng h ay còn go ̣i là đối xứng trong
Trang 31quan hê ̣ "giúp đỡ - nhâ ̣n được giúp đỡ" [Kim Choong Soon, 2012, tr 192]
Bàn đến tính chất có đi có lại một cách đầy đủ hơn ở cả hai mặt đối xứng và bất đối xứng, Luigino, Mario và Vittorio đã trích dẫn quan điểm của nhà kinh tế học Crespo
như sau: "có đi có lại không nhất thiết là sự đáp trả lại những vật giống với những gì đã
nhận được nhưng nó đòi hỏi một sự cân bằng nhất định trong những thứ được đem ra trao đổi qua lại Đó là lý do khiến cho các thứ được mang ra trao đổi qua lại thường không đồng nhất với cái ban đầu ý nghĩa của sự trao đổi “có đi có lại” không nằm ở vật trao đổi mà nằm ở giá trị của sự trao đổi và điều đó có ý nghĩa đối với những bên liên quan Nói cách khác, “có đi có lại” ám chỉ kết quả chứ không phải là các phương tiện trao đổi" [Luigino, Mario và Vittorio, 2008, tr 13] Theo quan điểm của Crespo, sự
“có đi có lại” không phải lúc nào cũng hoàn toàn đối xứng, nghĩa là nhận được vật A không nhất thiết phải trả lại vật A và sự bất đối xứng đó không phải lúc nào cũng mang nghĩa tiêu cực Ý nghĩa của sự “có đi có lại” không nằm ở phương tiện trao đổi là vật A hay vật B mà nằm ở giá trị, kết quả trao đổi có làm hài lòng các bên liên quan hay không Có thể nói, quan điểm của Crespo đề cập rõ ràng nhất về tính đối xứng/bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội, nhưng Crespo cũng như các tác giả trên đều chưa đo lường được thế nào là tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ này Tiếp cận ở góc độ thực nghiệm, trong nghiên cứu về sự hình thành vốn xã hội của các cô dâu nước ngoài thông qua hoạt động hỗ trợ người di trú của trung tâm Seong Nam được thực hiện năm 2012, tôi đã phát hiện thấy rằng, đến trung tâm, các cô dâu nước ngoài không chỉ nhận được sự chia sẻ về tinh thần và giúp đỡ về vật chất mà còn trực tiếp tham gia giúp đỡ người khác như trẻ em mồ côi, người già neo đơn thông qua các hoạt động tình nguyện của trung tâm Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ xem xét mặt hình thức của tính chất có đi có lại và kết luận quá trình cho và nhận sự giúp đỡ qua la ̣i giữa trung tâm Seongnam và các cô dâu nước ngoài mang tính đối xứng Trên thực tế, xét về mặt nội dung, quan hệ này đang mang tính bất đối xứng bởi vì loại hình hay nội dung các giúp đỡ mà hai bên có thể cung cấp cho nhau không hoàn toàn giống nhau Điều này chưa được làm rõ trong nghiên cứu này [Cao Thị Hải Bắc, 2012] Như đã đề cập ở trên, ở Viê ̣t Nam, chưa có nghiên cứu nào bàn luâ ̣n trực diê ̣n đến vấn đề tính đối xứng và bất đối xứng c ủa quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hô ̣i Vấn đề này chỉ được bàn luận gián tiếp trong các nghiên cứu về vai trò của m ạng lưới xã hội trong viê ̣c cung cấp các giúp đỡ cho cá nhân Các nghiên cứu tiêu biểu đã kể trên như
Trang 32Lê Ngo ̣c Hùng (2003) nhấn ma ̣nh tầm quan trọng của sự giúp đỡ đến từ gia đình ở Viê ̣t Nam trong bối cảnh tìm kiếm viê ̣c làm ; Đặng Nguyên Anh (1998) chỉ ra rằng người di
cư thường nhâ ̣n được sự giúp đỡ nhiều từ liên kết ma ̣nh hơn từ các liên kết yếu ; Nguyễn Quý Thanh (2005) đã khẳng định gia đình luôn là nguồn hỗ trợ đắc lực nhất trong viê ̣c giúp cá nhân vay vốn khởi nghiê ̣p, cung cấp sức lao đô ̣ng v.v
Bên cạnh những nghiên cứu kinh tế học hay xã hội học, nhiều nghiên cứu nhân học cũng bàn luận về tính có đi có lại của quan hệ giúp đỡ Tiêu biểu trong số này là luận án tiến sĩ mới hoàn thành gần đây của Emmanuel Pannier (2012) với nhan đề "Có
đi có lại mới toại lòng nhau" Tác giả đã tiến hành những khảo sát thực địa về các giao dịch phi thương mại diễn ra tại một làng thuộc khu vực nông thôn phía Bắc Việt Nam nhằm tìm ra một vài đặc trưng trong nguyên tắc xã hội của người Việt Nam Những giao dịch phi thương mại này được định nghĩa là một hệ thống các trao đổi giúp đỡ lẫn nhau, các cử chỉ có đi có lại và các món nợ đạo đức Có thể nói đây là một mô tả khá chân thực về quan hệ giúp đỡ qua lại của người Việt Nam thông qua việc tặng quà hay đổi công v.v Kết quả của luận án đã chỉ rõ đặc trưng có đi có lại khá đậm nét trong quan hệ giúp đỡ lẫn nhau của người Việt Tuy nhiên, vấn đề quan hệ giúp đỡ có đi có lại này có luôn luôn đối xứng hay không vẫn chưa được bàn đến trong luận án này
Cùng chủ đề nghiên cứu với Emmanuel Pannier, Oliver Tessier đã thực hiện một nghiên cứu nhân học với chủ đề "Giúp đỡ và tương trợ trong cộng đồng làng quê
ở miền Bắc Việt Nam: Quan hệ giữa tình đoàn kết và sự phụ thuộc" Tác giả đã tiến hành một loạt các cuộc điều tra, quan sát tại làng Hay thuộc tỉnh Phú Thọ Trong nghiên cứu này, tác giả đã phân biệt rất rõ ràng giữa hệ thống trao tặng (cho không) và trao đổi (giúp đỡ) Trong đó, tác giả tập trung phân tích nhiều đến hệ thống giúp đỡ mà người dân trong làng trao đổi qua lại với nhau vào ba sự kiện chính trong đời: lễ cưới, làm nhà, tang lễ Từ những mô tả định tính, kết luận mà tác giả đưa ra đồng nhất với kết luận của Emmanuel Pannier ở chỗ thừa nhận sự trao đổi giúp đỡ có đi có lại nhằm tăng cường tinh thần đoàn kết trong cộng đồng làng xã Tuy nhiên điểm khác trong nghiên cứu của Oliver Tessier so với nghiên cứu của Emmanuel Pannier là đã đưa ra được các mô tả và phân tích cụ thể để chứng minh rằng sự trao đổi giúp đỡ qua lại này đôi khi còn bị ràng buộc bởi hệ thống pháp lý chung của địa phương Tức là, những người làng nằm trong một hệ thống phụ thuộc lẫn nhau buộc họ thấy cần phải giúp đỡ qua lại lẫn nhau nếu họ không muốn bị loại trừ ra khỏi hệ thống [Oliver Tessier, 2012]
Trang 33Một nghiên cứu nhân học tiêu biểu khác về hành vi có đi có lại thông qua việc tặng quà nhau là nghiên cứu của Lương Văn Hy (2013) với chủ đề "Quà và vốn xã hội
ở hai cộng đồng nông thôn Việt Nam" Tác giả đã tiến hành khảo sát dòng quà ở hai cộng đồng nông thôn Việt Nam là làng Hoài Thị (Tỉnh Bắc Ninh) và xã Khánh Hậu (Tỉnh Long An) Khác với nghiên cứu của Emmanuel Pannier hay nghiên cứu của Oliver Tessier, Lương Văn Hy tiến hành so sánh hành vi trao đổi quà có đi có lại giữa hai cộng đồng nông thôn và rút ra một kết luận tương đối mới Ông kết luận để hiểu về dòng quà tại hai cộng đồng nêu trên, chúng ta cần lưu tâm không chỉ đến mối tương tác giữa một mặt là sự lựa chọn có tính chiến lược của cá nhân và mặt khác là qui ước
xã hội mà còn cần lưu ý đến quan hệ của dòng quà với những khác biệt về vốn xã hội giữa vùng này và vùng khác hay giữa những giai tầng xã hội
Cả ba nghiên cứu của Emmanuel Pannier, Oliver Tessier và Lương Văn Hy đều
đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm cho thấy rõ sự giúp đỡ hay tặng quà hai chiều cho
và nhận Tuy nhiên, do lựa chọn không gian nghiên cứu là các làng nông thôn Việt Nam nên kết quả các nghiên cứu chỉ giúp chúng ta hình dung được phần nào đặc trưng của hành vi giúp đỡ lẫn nhau hay tặng quà của các vùng nông thôn Việt Nam mà chưa thể khái quát được thành đặc trưng chung của người Việt Nam
Nghiên cứu của chúng tôi năm 2014 về "vốn xã hô ̣i của người Viê ̣t Nam: đối xứng hay bất đối xứng ?" đã bước đầu đo lường tính đối xứng và bất đối xứng c ủa quan hệ giúp đỡ giữa những người bạn thân, tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các số liệu thô mà chưa phân tích sâu về ý nghĩa của các số liệu này Hơn nữa, lúc thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi chưa đo lường được tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong gia đình và cũng chưa tiến hành những phỏng vấn sâu
để kiểm chéo kết quả định lượng
Mong muốn lấp đầ y đươ ̣c phầ n nào điểm khuyết trong cá c nghiên cứ u nêu trên, luận án này sẽ đi sâu tìm hiểu trường hợp riêng của tính có đi có lại là đặc tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội Cụ thể, tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ bạn bè được đo lường thông qua ba chiều cạnh: số lượng loại hình giúp đỡ, tính chất các giúp đỡ và hoàn cảnh giúp đỡ
Khi khảo sát các nghiên cứu bàn về vấn đề tính có đi có lại trong quan hệ giúp
đỡ cũng phải kể đến các nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm tăng hay làm giảm mức độ của đặc tính này Lê Ngọc Văn (2004) đã chỉ rõ có sự khác biệt
Trang 34theo vùng miền trong quan hệ giúp đỡ giữa người cao tuổi và con cháu theo qui luật càng là người miền Nam càng nhận hỗ trợ về kinh tế từ con nhiều hơn người cao tuổi miền Bắc và miền Trung Điều này phản ánh đúng qui luật tâm lý của các bậc cha mẹ người miền Bắc thường tích lũy của cải nên ít phải cậy nhờ những hỗ trợ kinh tế từ con hơn các vùng miền khác Hay như Lê Ngọc Lân chỉ ra rằng giới tính (con trai/con gái), thứ bậc (con trưởng/con thứ), độ tuổi, mức sống, khu vực (nông thôn, đô thị) là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến hình thức chăm sóc, thăm hỏi của con cái đối với cha
mẹ [Lê Ngọc Lân, 2012]
Bên cạnh đó, một vài biến số ảnh hưởng đế n tính chất có đi có lại của quan hệ giúp đỡ đươ ̣c nhắc đến trong cá c nghiên cứ u khác bao gồm: lòng tin theo quan điểm của Portes (1998), Blau (1964), Ngô Đức Thịnh (2008); giới tính theo quan điểm của Judee K Burgoon và cô ̣ng sự (1987); di cư theo quan điểm của Lê Ngo ̣c Hù ng (2008)
và Đặng Nguyên A nh (1998); khu vực sống là nông thôn hay đô thi ̣ và có hay không sự hòa thuâ ̣n và hòa bình trong cô ̣ng đồng theo quan điểm của Putnam (2000), có hay không phu ̣ng dưỡng cha me ̣ của Park Kyeong Suk (2008), có hay không sống cùng hoă ̣c gần bố me ̣ trong nghiên cứu của Kim Choong Soon (2012); có hay không sống
xa nhà trong nghiên cứu của Cao Thi ̣ Hải Bắc (2012)
Các bi ến số trên có thể được chia thành ba cấp độ: cá nhân , gia đình , cô ̣ng đồng/xã hội Tuy nhiên, mọi sự phân chia chỉ là tương đối Bởi có những biến số rất khó xác định là thuộc nhóm yếu tố nào Mă ̣t khác, mỗi cá nhân chi ̣u sự chi phối bởi
mô ̣t môi trường phức hợp từ trong gia đình đến ngoài xã hô ̣i , thâ ̣m chí bởi cả các đă ̣c điểm của chính bản thân cá nhân đó Do vâ ̣y, mă ̣c dù mỗi nhóm yếu tố chắc hẳn sẽ có ảnh hưởng ở những mức độ khác nha u nhưng chúng luôn đan xen nhau và cùng tác
đô ̣ng đến tính đối xứng/bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hô ̣i
1.4 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
Thông qua việc khảo sát các nghiên cứu đi trước trên đây, có thể nhận thấy một vài điểm hạn chế chưa được giải quyết triệt để Thứ nhất, phần lớn các nghiên cứu mới chỉ đề cập đến những giúp đỡ một chiều theo kiểu các thành viên trong mạng lưới đã cung cấp cho cá nhân những giúp đỡ gì mà chưa phân tích chiều ngược lại Tức là, chưa phân tích được trường hợp riêng của tính chất có đi có lại là đặc tính đối xứng/bất đối xứng Thứ hai, mặc dù một số nghiên cứu về quan hệ giúp đỡ trong gia
Trang 35đình như Lê Ngọc Văn (2004), Lê Ngọc Lân (2011), Nguyễn Hữu Minh (2012) đã bàn đến mối quan hệ giúp đỡ hai chiều giữa người cao tuổi và con cháu nhưng chưa đo được xem những giúp đỡ của con cháu cho người cao tuổi so với những giúp đỡ họ nhận lại được từ người cao tuổi đang theo xu hướng cân bằng hay mất cân bằng? Mặt khác, đặc trưng quan hệ giúp đỡ trong gia đình thường mang tính liên thế hệ Để tìm hiểu đặc trưng này, cần đặt quan hệ giúp đỡ trong gia đình thông qua ba chủ thể, trong
đó cá nhân là trung tâm nhận sự giúp đỡ từ thế hệ trước và thế hệ sau Qua đó, người nghiên cứu sẽ thấy được sự biến đổi giữa các thế hệ của quan hệ giúp đỡ Tuy nhiên, tính liên thế hệ của quan hệ giúp đỡ chưa được bàn đến trong các nghiên cứu này Thứ
ba, phần lớn các nghiên cứu về tính có đi có lại mới chỉ tìm hiểu đặc tính này ở góc độ
lý thuyết mà chưa phân tích nó ở góc đô ̣ thực nghiê ̣m , tức là chưa đo lườ ng được thế nào là đối xứ ng/bất đố i xứ ng, trường hợp riêng của tính có đi có lại Thứ tư, các nghiên cứu bàn nhiều hơn cả đến quan hệ giúp đỡ hai chiều đối xứng và bất đối xứng chủ yếu là các nghiên cứu thuộc ngành nhân học Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này mới chỉ khảo sát vấn đề ở địa bàn nông thôn Hơn nữa, các nghiên cứu này đều sử dụng phương pháp định tính mang tính miêu tả chứ chưa đo lường định lượng được thế nào là tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ cho - nhận? Bên cạnh đó, một hạn chế quan trọng khác là ph ần lớn các nghiên cứu chưa phân tích đến các yếu tố ảnh hưởng đến m ức độ đối xứng hay bất đối xứng của tính chất có đi có la ̣i Giải qu yết đươ ̣c vấn đề này cũng là mô ̣t đóng góp thú vi ̣ Tuy nhiên, rất khó tìm được nghiên cứu nào tìm hiểu mô ̣t cách đầy đủ và hê ̣ thống về vấn đề này
Kế thừa các nghiên cứu đi trước, luận án này mong muốn tiếp tục nghiên cứu các vấn đề chưa được bàn đến và chưa được giải quyết triệt để Cụ thể, luận án này không đặt mục đích vào việc tìm hiểu xem một hành vi giúp đỡ có thể hiện tính có đi
có lại hay không mà sẽ chỉ tập trung nghiên cứu một trường hợp riêng của tính chất có
đi có lại, đó là đặc tính đối xứng và bất đối xứng Bởi có đi có lại đã được thừa nhận là nguyên tắc cơ bản luôn tồn tại để duy trì mọi trao đổi xã hội Như vậy, luận án sẽ tập trung tìm hiểu hai phần chính Thứ nhất là đặc điểm về mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ Quan hệ giúp đỡ được đo trong mạng lưới quan hệ xã hội lõi của cá nhân bao gồm quan hệ giữa người được hỏi với ba người bạn thân nhất và với các thế hệ gia đình ruột thịt như bố mẹ hai bên và con của họ ở ba chiều cạnh: số lượng loại hình giúp đỡ, tính chất giúp đỡ và hoàn cảnh giúp đỡ Tuy nhiên, quan hệ
Trang 36gia đình chỉ được xem xét như một trường hợp riêng của quan hệ giúp đỡ trong xã hội
Cụ thể, người được hỏi được coi là nhân vật trung tâm hình thành mối quan hệ cho và nhận các giúp đỡ với bố mẹ (bố mẹ đẻ và bố mẹ vợ/chồng) và con họ Theo nghiên cứu gần đây nhất của Nguyễn Quý Thanh, Nguyễn Thị Khánh Hòa về lòng tin xã hội thì chỉ số lòng tin với các thành viên gia đình trực tiếp tương đối cao so với chỉ số lòng tin với các đối tượng khác, trong đó chỉ số lòng tin với bố mẹ ruột là cao nhất với 9,6 điểm và tiếp đến là chỉ số lòng tin với con là 9,2 điểm trên thang điểm 10 [Nguyễn Quý Thanh, Nguyễn Thị Khánh Hòa, 2013, tr 25] Do vậy, luận án này đã lựa chọn các thành viên gia đình gồm bố mẹ hai bên và con của người trả lời để đưa vào phân tích mối quan hệ giúp đỡ trong gia đình Như vậy, chúng tôi sẽ đo lường mức độ đối xứng và bất đối xứng giữa hai cặp quan hệ "Bố mẹ đẻ giúp đỡ" so với "nhận giúp đỡ
từ con"; "Bố mẹ vợ/chồng giúp đỡ" so với "nhận giúp đỡ từ con"
Cần lưu ý số lượng loại hình giúp đỡ ở đây không phải là số lượng vật chất qui đổi được thành giá trị tiền cụ thể mà là số lượng của các loại hình giúp đỡ đã kể trên như tiền bạc, tình cảm v.v Bên cạnh đo lường định lượng, luận án cũng thực hiện các phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp để giải thích rõ hơn cho các kết quả định lượng xem tại sao loại hình giúp đỡ hay hoàn cảnh giúp đỡ này lại thường đối xứng hay bất đối xứng hơn loại hình và hoàn cảnh giúp đỡ khác? Tại sao tính đối xứng và bất đối xứng lại thể hiện giống hoặc khác nhau trong quan hệ giúp đỡ với ba người bạn thân và trong phạm vi gia đình?
Phần chính thứ hai của luận án là tập trung tìm hiểu xem các yếu tố nào ảnh hưởng hơn cả đến mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của người Việt Nam Đồng thời, luận án cũng sẽ so sánh đối chiếu kết quả nghiên
cứu được với kết quả các nghiên cứu đi trước và với khung lý thuyết của luận án
Trang 37CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương 1, luận án đã tổng hợp và phân tích các nghiên cứu đi trước liên quan đến các mảng đề tài như mạng lưới quan hệ xã hội, tính có đi có lại trong vốn xã hội, tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ Trong chương này, luận án trình bày cơ sở lý luận chung và một số lý thuyết của các nhà khoa học nổi tiếng như John von Neumann, Goerge Homans, Gary Becker, Mattheww Rabbin, Marcel Mauss
để giải thích cho các vấn đề nghiên cứu Sau khi chỉ ra khung lý thuyết riêng cho luận
án, chúng tôi sẽ trình bày về thiết kế nghiên cứu để thấy rõ các giai đoạn triển khai thực hiện luận án này Tiếp đến, phần phương pháp nghiên cứu sẽ trình bày cụ thể về thao tác hóa khái niệm, công cụ đo, dữ liệu phân tích, mô hình và chiến lược phân tích
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Nguyên lý mối liên hệ phổ biến và quan điểm lịch sử cụ thể
Theo nguyên lý mối liên hệ phổ biến của Mac - Lê Nin, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến cùng ràng buộc, chi phối lẫn nhau,
vận động và biến đổi không ngừng Sự liên hệ biểu hiện ở 3 mặt: giữa các mặt trong
cùng một sự vật hiện tượng, giữa các sự vật khác với nhau, giữa các sự vật với môi trường [Nguyễn Ngọc Long, 2006, tr 135-145] Áp dụng nguyên lý này vào vấn đề
nghiên cứu của luận án có thể thấy tính đối xứng và tính bất đối xứng là hai mặt của một vấn đề giống như hai mặt của một đồng xu Trong đó, khi mặt này tăng thì mặt kia
sẽ giảm và ngược lại Do vậy, khi bàn về tính chất có đi có lại của quan hệ giúp đỡ thì phải xem xét cả xu hướng đối xứng và bất đối xứng của các quan hệ giúp đỡ này Tuy nhiên, muốn hiểu rõ được trong trường hợp nào các quan hệ giúp đỡ thường mang tính đối xứng hay tính bất đối xứng thì phải xem xét mối liên hệ giữa đặc tính đối xứng/bất đối xứng của các quan hệ giúp đỡ với các lý thuyết và yếu tố tác động khác (yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình và yếu tố cộng đồng/xã hội) Mặt khác, Mác nói phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét một sự vật hiện tượng Tức là, khi nhận thức về sự vật
và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, trong đó sự vật sinh ra tồn tại và phát triển Do vậy, trong luận án này, mức độ đối xứng và bất đối xứng được đặt vào quan hệ giúp đỡ giữa người được hỏi với ba người bạn thân và giữa người được hỏi với bố mẹ và con họ ở ba chiều cạnh: số lượng loại hình giúp đỡ, tính
Trang 38chất loại hình giúp đỡ và hoàn cảnh giúp đỡ Từ cơ sở lý luận chung của các nguyên lý
duy vật biện chứng Mác - Lê Nin, chúng tôi muốn xây dựng một khung lý thuyết riêng
cho luận án dựa trên sự tiếp cận ba nhóm lý thuyết: nhóm lý thuyết trò chơi, nhóm lý
thuyết xã hội học tiếp cận theo kinh tế học hành vi, nhóm lý thuyết về vốn xã hội nhấn
mạnh đặc tính có đi có lại trong quan hệ giúp đỡ
2.1.2 Nhóm lý thuyết trò chơi (Game theory)
Lý thuyết trò chơi tồn tại như một ngành khoa học độc lập chỉ sau khi John von
Neumann cho ra đời một loạt các bài báo về lý thuyết này năm 1928 Ban đầu được
phát triển như là một công cụ để nghiên cứu hành vi kinh tế học nhưng ngày nay lý
thuyết trò chơi được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học như triết học, tâm lý
học, xã hội học v.v Nội dung cốt lõi của lý thuyết được phát biểu như sau: Lý thuyết
trò chơi nghiên cứu các quyết định được đưa ra trong một môi trường trong đó các
đối thủ tương tác với nhau Nói cách khác, lý thuyết trò chơi nghiên cứu cách lựa chọn
hành vi tối ưu cho cả đôi bên khi chi phí và lợi ích của mỗi lựa chọn là không cố định
mà phụ thuộc vào lựa chọn của các cá nhân khác [Morgenstern, Oskar and John von
Neumann (1947); dẫn lại theo William Poundstone, 1992, tr 43] Phát biểu này giúp
chúng ta mường tượng được rằng trong một cuộc chơi giữa hai hay nhiều người, mỗi
người có một cách ứng xử riêng Nhưng họ sẽ luôn phải cân nhắc xem đối phương sẽ
hành xử như thế nào nếu mình lựa chọn cách ứng xử A hay B nào đó? Căn cứ vào đó,
họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng nên ứng xử thế nào để có lợi cho mình nhất hoặc ít
nhất là đôi bên cùng có lợi ngang nhau
Luận án này chỉ áp dụng một khía cạnh của lý thuyết trò chơi Đó là khía cạnh
nhấn mạnh làm sao để tối đa hóa lợi ích trên cơ sở những thông tin mình có Tức là sự
cân nhắc về thái độ và hành động của đối phương (A đối xử tốt với B nhưng liệu B có
đối xử lại với A như thế không? A mừng đám cưới B như thế này thì liệu sau này B có
mừng lại A như thế không?) Một cá nhân giúp đỡ đối phương trên cơ sở chưa biết đối
phương sẽ hành động lại như thế nào? nhưng dựa trên thông tin mình có thì cá nhân
có thể dự đoán được xu hướng hành động của đối phương Như vậy, luận án này muốn
áp dụng khía cạnh lý thuyết này để tìm hiểu xem trên cở sở những thông tin có được,
Trang 39người được hỏi sẽ xây dựng các mối quan hệ giúp đỡ như thế nào? Lý do mà các chủ thể lựa chọn cách thức giúp đỡ A hay B nào đó là gì? Và kì vọng mà họ đặt vào hành
vi đáp trả của đối phương có phải là một sự đối xứng hay không?
2.1.3 Nhóm lý thuyết xã hội học tiếp cận theo quan điểm kinh tế học hành vi
Trong nhóm lý thuyết xã hội học tiếp cận theo quan điểm kinh tế học hành vi, chúng tôi tiếp cận hai lý thuyết là lý thuyết trao đổi xã hội của Goerge Homans và lý thuyết hành vi của Gary Becker
Trong bài nói chuyện đoạt giải Nobel với nhan đề "Xét hành vi theo hướng kinh tế" cũng như trong tác phẩm "Vốn con người" viết năm 1975, Gary Becker đã nêu lên quan điểm lý thuyết về việc đầu tư vào vốn con người với nội dung chính như sau:
Bản chất của mối quan hệ giúp đỡ giữa các thành viên trong gia đình xét theo góc độ kinh tế là sự đầu tư vào vốn con người nhằm tối đa hóa nguồn lợi cho họ sau này bởi
họ nghĩ rằng sự đầu tư này là hiệu quả hơn bất kì hình thức đầu tư nào khác Điều này
có thể thấy qua việc bố mẹ đầu tư, giúp đỡ con cái lúc nhỏ và con giúp lại khi bố mẹ
về già, hay anh chị em giúp nhau từ lúc nhỏ đến lúc trưởng thành Để đảm bảo cho sự
có đi có lại xảy ra thì người cho giúp đỡ sẽ tăng cường giáo dục, khắc sâu cho đối phương về cảm giác nghĩa vụ, ý muốn giúp đỡ lại người đã giúp đỡ mình [Gary
Becker, 1975, tr 45-81; Gary Becker, 1995, tr 86-88]
Tuy nhiên, Gary Becker đang chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh vật chất Tức là, ông quan tâm nhiều đến sự đầu tư vật chất của bố mẹ vào con cái với kì vọng con cái cũng sẽ đáp trả lại bằng vật chất cho bố mẹ sau này Mở rộng hơn quan điểm lý thuyết của Becker là lý thuyết trao đổi xã hội của George Homans Nội dung chí nh của lý thuyết trao đổi xã hô ̣i có thể được tóm tắt thành các luâ ̣n điểm sau Thứ nhất, hành vi
xã hội là kết quả của một quá trình trao đổi lợi ích giữa các cá nhân Lợi ích này không chỉ dừng lại ở các yếu tố vật chất mà còn có thể là sự cảm thông, chia sẻ, cảm giác được tôn trọng mà cá nhân nhận được Thứ hai, mục đích mà mọi người hướng đến trong các mối quan hệ là: Tăng lợi ích, giảm chi phí cho bản thân Thứ ba, kỳ vọng của mỗi cá nhân vào các mối quan hệ là khác nhau nên mức độ hài lòng của họ đối với kết quả cũng sẽ khác nhau Thứ tư, khi không hài lòng với các mối quan hệ, người ta sẽ từ
bỏ nó và tìm đến "các lựa chọn thay thế" hứa hẹn nhiều lợi ích hơn mối quan hệ hiện tại [George Homans, 1974, tr 16-25] Lý thuyết của George Homans và Gary Becker
Trang 40là những cách tiếp cận kinh tế học trong xã hội học Cả hai tác giả đều đặt ra bài toán kinh tế là chí phí - lợi ích nhưng lợi ích của Homans bao hàm ý nghĩa rộng, gồm cả vật chất và tinh thần
Áp dụng khía cạnh lý thuyết nhấn mạnh đến sự cân nhắc giữa chi phí và lợi ích trong việc đầu tư vào vốn con người của Gary Becker và trong việc trao đổi các giúp
đỡ ở mọi lĩnh vực của George Homans, chúng tôi muốn kiểm chứng xem khi cá nhân tính toán đến nguyên tắc chi phí - lợi ích thì họ sẽ có hành động cho và nhận giúp đỡ như thế nào với đối phương? Và nguyên tắc chi phí - lợi ích này thường được cân nhắc trong những mối quan hệ giúp đỡ nào? ở những loại hình giúp đỡ gì? Cá nhân có kì vọng về sự đối xứng hoặc bất đối xứng theo chiều nhận được nhiều hơn cho hay không?
2.1.4 Nhóm lý thuyết về vốn xã hội
Như đã lập luận ở các phần trước, vốn xã hội là sự có đi có lại của quan hệ giúp
đỡ Do vậy ở phần này, chúng tôi tiếp cận hai lý thuyết về vốn xã hội có nhấn mạnh đến đặc tính có đi có lại trong quan hệ giúp đỡ Đó là lý thuyết có đi có lại trong trao đổi giao dịch kinh tế của Mattheww Rabin và lý thuyết có đi có lại trong biếu tặng quà của Marcel Mauss
Nhà kinh tế học người Mỹ Mattheww Rabin được coi là mô ̣t trong nhữ ng nhà nghiên cứu đầu tiên chính thức xây dựng khá i niê ̣m "có đi có lại" (reciprocity) thành
mô ̣t mô hình lý thuyết Tư tưởng cốt lõi của Rabin đư ợc phát biểu như sau: "người ta
không tìm kiếm mô hình thống nhất để giúp đỡ người khác; thay vào đó, họ bày tỏ một sự chắc chắn có lựa chọn về hành động có đi có lại của họ Trên thực tế, mọi người sẽ
vị tha vớ i những người vi ̣ tha khá c và cũng có động lực làm tổn thương những người gây tổn thương cho họ Nói cách khác, mọi người phản ứng khác nhau với hành vi ứng xử của người khác phụ thuộc vào ý tưởng mà họ gắn vào hành động (intention of act)"
[Rabin, 1993, tr 1281-1282] Rabin đã đưa ra một ví dụ trong lĩnh v ực làm ăn kinh doanh Trong đó, nhiều đối tác hợp tác làm ăn với nhau Đối tác A sẵn sàng bỏ nhiều tiền bạc để đầu tư cho dây chuyền sản xuất của đối tác B mặc dù trong vòng 3 năm tiếp theo A có thể chưa thu được nhiều lợi ích từ B Nếu B tiếp tục mang lại lợi ích cho
A thì A sẽ tiếp tục đầu tư Ngược lại, A cũng có thể cắt giảm chi phí đầu tư cho B nếu
A cảm thấy B không thể mang lại nguồn lợi cho mình hoặc thậm chí, A sẽ trừng phạt
B nếu B có hành vi bất hợp tác hay gây thiệt hạ cho A Tức là, A và B làm việc dựa trên nguyên tắc có đi có lại, anh tốt với tôi thì tôi tốt với anh và ngược lại Và yếu tố