1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh nghiệm của TQ về giải quyết tranh chấp TMHH trong WTO

127 338 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa của việc nghiên cứu bài học kinh nghiệm của Trung Quốc về giải quyết tranh chấp thương mại hàng hóa trong WTO đối với Việt Nam.. 50 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VẬN DỤNG BÀI HỌC KINH NGHI

Trang 1

CƠ SỞ II TẠI TP HỒ CHÍ MINH

-*** -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế

KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC VỀ GIẢI QUYẾT

TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA

TRONG WTO VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Anh

Mã sinh viên: 0852015016 Lớp: Anh 1

Khóa: K47 Người hướng dẫn khoa học: ThS Nguyễn Tiến Hoàng

Tp Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2012

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2012 Người hướng dẫn khoa học

ThS Nguyễn Tiến Hoàng

Trang 3

MỤC LỤC

NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA TRONG WTO 4

1.1 Khái quát về WTO và quá trình gia nhập WTO của Trung Quốc 4

1.1.1 Tổng quan về WTO 4

1.1.2 Quá trình gia nhập WTO của Trung Quốc 5

1.2 Tranh chấp và cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 6

1.2.1 Khái quát chung về tranh chấp, tranh chấp thương mại quốc tế và tranh chấp trong khuôn khổ quy định của WTO 6

1.2.2 Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 10

1.3 Thương mại hàng hóa 16

1.3.1 Khái quát chung về hàng hóa 16

1.3.2 Phân loại hàng hóa theo quy định của WTO 18

1.3.3 Cam kết của Trung Quốc và Việt Nam đối với WTO về thương mại hàng hóa 18

1.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu bài học kinh nghiệm của Trung Quốc về giải quyết tranh chấp thương mại hàng hóa trong WTO đối với Việt Nam 21 1.4.1 Đối với Cơ quan quản lý Nhà nước 22

1.4.2 Đối với các hiệp hội ngành hàng 23

1.4.3 Đối với các doanh nghiệp 23

1.4.4 Đối với các nhà nghiên cứu 24

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA CỦA TRUNG QUỐC TRONG WTO 26

2.1 Thực trạng giải quyết tranh chấp về thương mại hàng hóa của Trung Quốc trong WTO 26

2.1.1 Về số lượng các vụ tranh chấp 26

2.1.2 Về đối tượng gây tranh chấp 28

Trang 4

2.1.3 Về tư cách trong các vụ tranh chấp 302.1.4 Về mức độ tuân thủ trong các vụ tranh chấp 32

2.2 Phân tích một số tranh chấp điển hình của Trung Quốc về thương mại hàng hóa trong WTO 35

2.2.1 Hoa Kỳ kiện Trung Quốc về thuế giá trị gia tăng đối với mạch tích hợp - DS309 362.2.2 Trung Quốc kiện EC về biện pháp chống bán phá giá chính thức đối với chốt sắt thép nhập khẩu từ Trung Quốc - DS397 382.2.3 Mexico kiện Trung Quốc về các biện pháp liên quan tới hoạt động xuất khẩu các mặt hàng nguyên liệu thô - DS398 42

2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ các vụ tranh chấp của Trung Quốc về thương mại hàng hóa trong WTO 48

2.3.1 Sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật tương đồng với các quy định của WTO 482.3.2 Đầu tư đội ngũ chuyên gia Luật trong giải quyết tranh chấp thương mại hàng hóa 482.3.3 Hợp tác tốt với các nước Thành viên WTO 492.3.4 Tích cực tham gia vào các tranh chấp nếu có quyền lợi bị ảnh hưởng với

tư cách bên thứ ba 492.3.5 Cân nhắc kĩ lưỡng trong mỗi giai đoạn tranh chấp 502.3.6 Cẩn trọng khi bảo hộ nền sản xuất trong nước 50

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VẬN DỤNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA TRONG WTO ĐỐI VỚI VIỆT NAM 52 3.1 Đánh giá các điều kiện đảm bảo vận dụng bài học kinh nghiệm của Trung Quốc tại Việt Nam hiện nay 52

3.1.1 Các điều kiện thuận lợi 523.1.2 Các điều kiện khó khăn 57

3.2 Giải pháp vận dụng bài học kinh nghiệm của Trung Quốc về giải quyết tranh chấp thương mại hàng hóa trong WTO đối với Việt Nam 63

3.2.1 Giải pháp về phía Nhà Nước 64

Trang 5

3.2.2 Giải pháp về phía các hiệp hội ngành hàng 71 3.2.3 Giải pháp về phía doanh nghiệp 75

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Số

thứ tự

Từ viết

tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

1 ACWL Advisory Center on WTO

2 APEC Asia-Pacific Economic

Cooperation

Cộng đồng kinh tế châu Á - Thái Bình Dương

3 ASEAN Association of Southeast

Asian Nations Tổ chức các nước Đông Nam Á

4 ASEM The Asia-Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á - Âu

6 DSB Dispute Settlement Body Cơ quan giải quyết tranh chấp

7 DSU Dispute Settlement

Understanding

Thỏa thuận về các Quy tắc và Thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp

10 GATS General Agreement on Trade

in Services Hiệp định chung về Dịch vụ

11 GATT General Agreement on Tariffs

System

Hệ thống hài hòa mô tả và mã

hóa hàng hóa

14 IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế

15 INR Initial Negotiating Rights Quyền đàm phán ban đầu

16 ITO International Trade

Organization Tổ chức Thương mại quốc tế

Trang 7

17 MFN Most Favored Nation Tối huệ quốc

19 S&D Special and Differential Đặc biệt và khác biệt

21 SPS Sanitary and Phytosanitary

Measures

Hiệp Định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật

22 SSG Special Safeguard Measures Các biện pháp tự vệ đặc biệt

23 TRIPS Trade-Related Aspects of

Intellectual Property Rights

Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

27 VCCI Vietnam Chamber of

Commerce and Industry

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

28 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Danh mục bảng biểu

STT Số bảng

biểu Tên bảng biểu Trang

1 Bảng 2.1 Số tranh chấp các loại được giải quyết theo Cơ chế giải

quyết tranh chấp của WTO (tính tới tháng 04/2012) 26

2 Bảng 2.2 Các Hiệp định được trích dẫn trong các tranh chấp thương

mại hàng hóa của Trung Quốc (tính tới tháng 04/2012) 29

3 Bảng 2.3 Đối tượng trong các tranh chấp về thương mại hàng hóa

của Trung Quốc (tính tới tháng 04/2012) 30

4 Bảng 2.4

Số tranh chấp của Trung Quốc về thương mại hàng hóa trong WTO phân theo tư cách của các Thành viên (tính tới tháng 04/2012)

31

5 Bảng 2.5 Số kháng cáo trong các tranh chấp về thương mại hàng

hóa của Trung Quốc (tính tới tháng 04/2012) 34

Danh mục hình vẽ

STT Số hình

1 Hình 1.1 Sơ đồ quy trình và thời gian giải quyết tranh chấp thương

2 Hình 2.1

Biểu đồ số tranh chấp về thương mại hàng hóa có liên quan tới Trung Quốc được giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

32

4 Hình 3.1 Sơ đồ quy trình hoạch định chính sách của Việt Nam 60

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 11/01/2007 đánh dấu mốc son quan trọng trong lịch sử hiện đại của Việt Nam khi trở thành Thành viên chính thức thứ 150 của WTO Đây là một sân chơi lớn, với sự tham gia của rất nhiều quốc gia trên thế giới, và chứng kiến sự giao thương thường xuyên giữa các Thành viên Sự kiện này đã mang đến cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức phải vượt qua Một trong những điểm mới của WTO chính là sự ra đời của một cơ chế giải quyết tranh chấp minh bạch, rõ ràng Thực tiễn hơn 15 năm tồn tại của nó đã chứng tỏ được tính hiệu quả

và niềm tin của các quốc gia đang phát triển với cơ chế mới

Là nền kinh tế tăng trưởng đứng thứ hai Đông Nam Á, Việt Nam đang thoát dần hình ảnh đất nước nông nghiệp một cách ấn tượng Cùng với sự phát triển trên tất cả các lĩnh vực, ngành nghề, Việt Nam cũng phải đối mặt với tương lai tất yếu phải tham gia hoặc chủ động hoặc bị động vào các tranh chấp khác nhau Mặc dù Việt Nam đã và đang thể hiện thái độ nghiêm túc trong việc tuân thủ các quy định, Hiệp định của WTO, nhưng vẫn có thể vô tình vi phạm một số điều khoản, hoặc bị các Thành viên khác phương hại đến quyền lợi chính đáng của mình Dù trong trường hợp nào, thì nguyên nhân chính xuất phát từ những khó khăn hiện tại của Việt Nam, với môi trường pháp lý đang còn nhiều điểm cần hoàn thiện, đội ngũ chuyên gia còn chưa đủ kinh nghiệm và kiến thức để tìm hiểu hết tất cả các quy định,… Trong

ba lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ, và sở hữu trí tuệ, thì không riêng gì Việt Nam, mà tất

cả các Thành viên khác, số lượng tranh chấp chiếm ưu thế đều liên quan đến thương mại hàng hóa Thực tiễn từ sự phức tạp của các quy định và cách hiểu không thống nhất giữa các nước đã chứng minh được điều này

Mới đây nhất, Việt Nam vừa khởi kiện Hoa Kỳ trong hai tranh chấp, liên quan tới các biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm tôm Lần đầu tiên tham gia với tư cách nguyên đơn, Việt Nam đã tự rút ra cho mình được nhiều bài học quý báu Một phần nguyên nhân của những thành công bước đầu là nhờ sự nghiên cứu

kĩ lưỡng bài học kinh nghiệm từ các Thành viên khác trong WTO Đặc biệt, Trung Quốc với điều kiện kinh tế, chính trị xã hội tương đồng với Việt Nam, tuy mới chỉ hơn 5 năm “tuổi đời” gia nhập chính thức WTO, nhưng khá dày dạn kinh nghiệm

Trang 10

đối mặt với các tranh chấp nói chung, và tranh chấp về thương mại hàng hóa nói riêng trong khuôn khổ WTO Đây là một tấm gương lớn, một ví dụ điển hình để Việt Nam nghiên cứu và noi theo một cách phù hợp hoàn cảnh nhất

Có thể tóm lại, việc nghiên cứu bài học kinh nghiệm của Trung Quốc về giải quyết tranh chấp thương mại hàng hóa và cách thức vận dụng các bài học vào bối cảnh hiện tại là cực kì quan trọng đối với tương lai của Việt Nam Xuất phát từ

những lý do kể trên, tác giả đã chọn đề tài “Kinh nghiệm của Trung Quốc về giải

quyết tranh chấp thương mại hàng hóa trong WTO và bài học đối với Việt Nam” làm Khóa luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài là nhằm các mục đích sau:

- Tìm hiểu về Trung Quốc cùng lịch sử của Thành viên này đối với WTO, phân tích cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và quy định của WTO về thương mại hàng hóa, dựa trên đó đánh giá ý nghĩa của việc nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc về giải quyết tranh chấp thương mại hàng hóa trong WTO đối với Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết tranh chấp thương mại hàng hóa của Trung Quốc trong WTO; Nghiên cứu, nhận xét một số vụ tranh chấp điển hình và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- Trên cơ sở đánh giá các điều kiện triển khai vận dụng các bài học kinh nghiệm của Trung Quốc về giải quyết tranh chấp thương mại hàng hóa trong WTO đối với Việt Nam, Khóa luận đề xuất giải pháp nhằm vận dụng các bài học kinh nghiệm này tại Việt Nam trong giai đoạn 2012 - 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc về giải

quyết tranh chấp thương mại hàng hóa trong WTO

Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu thực tiễn và kinh nghiệm của Trung Quốc

về giải quyết tranh chấp thương mại hàng hóa kể từ khi chính thức gia nhập WTO (11/12/2001) đến nay (04/2012), từ đó đề xuất một số giải pháp vận dụng tại Việt Nam từ nay đến năm 2020

- Phạm vi không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc

Trang 11

với tư cách là một Thành viên chính thức của WTO, không bao gồm các vùng lãnh thổ Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao

4 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu: thu thập, thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp các thông tin và số liệu từ các nguồn như: sách, báo, tạp chí, văn bản luật, báo cáo chuyên ngành, một số đề tài nghiên cứu và Internet Đồng thời, tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) với một số tranh chấp cụ thể để làm cơ sở đề xuất giải pháp ở chương 3

5 Kết cấu đề tài

Ngoài lời mở đầu và kết luận, Khóa luận có kết cấu ba chương:

Chương 1: Tổng quan về giải quyết tranh chấp thương mại hàng hóa trong WTO Chương 2: Tình hình giải quyết tranh chấp về thương mại hàng hóa của Trung Quốc trong WTO

Chương 3: Giải pháp vận dụng bài học kinh nghiệm của Trung Quốc về giải quyết tranh chấp thương mại hàng hóa trong WTO đối với Việt Nam

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ, giảng viên Cơ sở II Trường Đại học Ngoại thương tại Tp Hồ Chí Minh trong suốt thời gian theo học tại trường Đồng thời, xin được đặc biệt cảm ơn ThS Nguyễn Tiến Hoàng, người đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt thời gian thực hiện đề tài này Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự giúp đỡ, hỗ trợ, động viên từ phía gia đình, người thân và bạn bè

Do hạn chế về kinh nghiệm nghiên cứu, Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong nhận được sự nhận xét, ý kiến đóng góp chân thành từ phía Quý thầy cô và bạn đọc để Khóa luận được hoàn thiện hơn nữa

Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Huyền Anh

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA TRONG WTO

1.1 Khái quát về WTO và quá trình gia nhập WTO của Trung Quốc

1.1.1 Tổng quan về WTO

WTO là tên viết tắt của Tổ chức Thương mại thế giới, với tiền thần là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) GATT đã tồn tại trong suốt 46 năm (1948 - 1994), nhưng sự ra đời của nó lại là điều không được định trước (Trần Thanh Hải, 2006, tr.6) Khởi phát đầu tiên là từ Hội nghị Bretton Woods ở bang New Hampshire (Hoa Kì) vào năm 1944, với ý định thiết lập các định chế chung về kinh tế để hỗ trợ công cuộc tái thiết các nước sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc Một tổ chức chung về thương mại cũng được đề xuất thành lập sau hội nghị này với tên gọi Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO), tuy nhiên, việc đàm phán Hiến chương của ITO mất khá lâu Vì vậy, năm 1946, một nhóm 23 nước tự tiến hành đàm phán riêng rẽ, đạt được thống nhất về một số ưu đãi thuế quan nhất định,

và ràng buộc các ưu đãi đó bằng việc biến một phần về chính sách thương mại trong

dự thảo hiến chương ITO thành Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực từ 01/01/1948 GATT trong suốt giai đoạn này trở thành cơ cấu đa phương duy nhất điều chỉnh thương mại quốc tế cho đến khi WTO

ra đời

GATT chỉ điều chỉnh thương mại hàng hóa, với các nguyên tắc quan trọng nhất

là đối xử công bằng với các đối tác thương mại khác nhau và đối xử công bằng giữa hàng hóa trong nước và nước ngoài sau khi hàng hóa nước ngoài đã đi qua biên giới (Peter Kleen, 2004, tr.19) Vẫn tiếp nối hai nguyên tắc này, vòng đàm phán Uruguay - vòng đàm phán cuối cùng của GATT (1986 - 1993) đã dẫn tới sự ra đời của WTO như một tổ chức chính thức để giám sát các hoạt động thương mại đa phương WTO chính thức thành lập ngày 01/01/1995 theo Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới ký tại Marrakesh (Maroc) ngày 15/04/1994, tuy nhiên, GATT vẫn tồn tại với tư cách một trong các văn bản pháp lý của WTO

WTO có năm chức năng chính: Hỗ trợ và giám sát việc thực hiện các Hiệp định WTO; Thúc đẩy tự do hóa thương mại và là diễn đàn cho các cuộc đàm phán thương mại; Giải quyết tranh chấp thương mại giữa các Thành viên; Rà soát chính

Trang 13

sách thương mại giữa các Thành viên; Hợp tác với IMF và Ngân hàng Thế giới với mục tiêu đạt được sự hài hòa trong chính sách kinh tế toàn cầu (WTO, 1995 C) Những chức năng và sứ mệnh của WTO đều nhằm mang lại lợi ích thương mại cho các quốc gia Thành viên, và sự phát triển thương mại toàn cầu

Tính tới tháng 03/2012, WTO hiện có tất cả 153 Thành viên Hiện tại còn nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đang còn trong quá trình thúc đẩy đàm phán song và đa phương với các Thành viên WTO như Lào, Sudan, Yemen Theo dự báo của các chuyên gia, số lượng Thành viên của Tổ chức này trong thời gian tới sẽ vượt 192 -

số Thành viên chính thức của Liên hiệp quốc Điều này phần nào minh chứng sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của WTO - Tổ chức thương mại lớn nhất thế giới

1.1.2 Quá trình gia nhập WTO của Trung Quốc

Quá trình gia nhập WTO của Trung Quốc kéo dài 15 năm được coi là một điển hình cho sự nỗ lực của toàn bộ quốc gia này trong việc theo đuổi mục tiêu lớn Trung Quốc luôn hy vọng gia nhập WTO sẽ là động lực tăng tốc quá trình cải cách

mở cửa, hiện đại hóa đất nước Ông Mike Moore, Tổng giám đốc WTO lúc bấy giờ

có nhận xét: "Với sự tham gia của Trung Quốc, WTO sẽ có một bước tiến lớn hướng tới việc trở thành một Tổ chức mang tính quốc tế thực sự Việc chấp nhận gần như hầu hết hệ thống luật lệ của nước này sẽ đóng một vai trò quan trọng trong nền tảng hợp tác kinh tế toàn cầu" (WTO, 2001)

Sau khi nước CHND Trung Hoa ra đời, có một thời gian dài quốc gia này không còn ở trong GATT, và tới tháng 07/1986, Trung Quốc chính thức đề nghị được khôi phục tư cách nước ký kết Hiệp định chung thuế quan Từ đó bắt đầu một chặng đường dài 15 năm "trở lại GATT" và sau đó là gia nhập WTO (VCCI, 2004) Thời điểm năm 1995 khi WTO chính thức thành lập, do một số nước e ngại chế độ chính trị của Trung Quốc, đã ra sức ngăn cản “sự trở lại” GATT của họ Nhưng chính từ

đó, Trung Quốc đã càng quyết tâm kiên trì các cuộc đàm phán song phương với các Thành viên của WTO, như New Zealand, Hàn Quốc, Hungary, Czech,

Các đối tác lớn và “sừng sỏ” trên thế giới như Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU cũng đã lần lượt chấp thuận Trung Quốc nhờ chính sách nhu cương kết hợp Đáp lại những

nỗ lực bền bỉ và sự cứng rắn từ một nước tự nhận mình là “đang phát triển” nhưng sẵn sàng cư xử như một nước lớn này, ngày 10/11/2001, tại Doha (thủ đô Cata),

Trang 14

trong Hội nghị bộ trưởng của WTO, diễn ra ở thành phố Doha (Qatar), Bộ trưởng Thương mại từ hơn 140 nước trên khắp thế giới đã chấp thuận cho Trung Quốc vào WTO, đưa thị trường 1,3 tỷ dân này hội nhập với nền kinh tế toàn cầu (Đoan Trang, 2011) Sau đó 30 ngày, 11/12/2001 đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của Trung Quốc khi chính thức trở thành Thành viên thứ 143 của WTO

Tuy nhiên, không thể nói thành công của Trung Quốc trong việc gia nhập WTO hoàn toàn, hoặc chủ yếu là do kết quả đàm phán mà nên Trích lời một thành viên trong phái đoàn đàm phán của Trung Quốc nói rằng: "Trong quá trình đàm phán người ta đã đặt ra cho Trung Quốc hơn 40.000 câu hỏi, nhưng tựu trung chỉ là một câu: “Trung Quốc có chấp nhận kinh tế thị trường hay không?" (VCCI, 2004) Nguyên nhân sâu xa đưa tới thành công của Trung Quốc trong việc gia nhập WTO chính là những thành tựu trong cải cách, mở cửa, phát triển kinh tế hơn 20 năm qua Với những chính sách mở cửa hiện nay, Trung Quốc hứa hẹn sẽ đóng góp đáng kể hơn nữa cho sự phát triển của WTO nói riêng, và kinh tế toàn cầu nói chung

1.2 Tranh chấp và cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

1.2.1 Khái quát chung về tranh chấp, tranh chấp thương mại quốc tế và tranh chấp trong khuôn khổ quy định của WTO

1.2.1.1 Tranh chấp

Theo từ điển tiếng Việt của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia

Việt Nam (1998), “Tranh chấp là tranh giành cái gì khi chưa rõ thuộc về bên nào,

là đấu tranh giằng co, khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa các bên” Đây là định nghĩa căn bản nhất về tranh chấp, xuất phát từ sự bất đồng về

mặt phân chia quyền lợi hoặc quyền sở hữu giữa các bên liên quan

Thực tế, tranh chấp có thể diễn ra ở bất cứ đâu, giữa bất cứ tổ chức cá nhân nào,

về bất cứ vấn đề gì, mà cái gốc của nó là từ sự mâu thuẫn mà ra Triết học phương Tây kết luận rằng mâu thuẫn là động lực của sự phát triển bởi vì trong mỗi một sự vật đều có ít nhất hai mặt, hai lập trường, hai thế lực đối kháng, và các thế lực đó sẽ tìm cách triệt tiêu nhau để chiếm lĩnh chủ thể, quá trình đó đẩy mâu thuẫn phát triển đến đỉnh điểm và khi mâu thuẫn phát triển đến đỉnh điểm thì chủ thể sẽ biến đổi cả

về lượng và chất sang một hình thái mới (Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui, 2003) Mâu thuẫn vì vậy được coi là đương nhiên tồn tại trong bản chất mỗi sự vật,

Trang 15

sự việc, hiện tượng, và không phải mâu thuẫn, tranh chấp nào cũng là xấu

Theo tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về WTO, thì “Tranh chấp là sự bất đồng về

quyền lợi, lợi ích, quan điểm mà trong đó yêu cầu hay đòi hỏi của một bên bị bên kia từ chối hay khiếu kiện lại” (Nguyễn Vĩnh Thanh và Lê Thị Hà, 2006, tr.14)

Hoặc đây có thể được hiểu theo cách “Tranh chấp là sự mâu thuẫn, hoặc bất đồng;

sự mâu thuẫn về các yêu cầu hay quyền; sự đòi hỏi về quyền, yêu cầu hay đòi hỏi từ một bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược của bên kia”

(William J Davey, 2005)

Tóm lại, tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau về tranh chấp, mọi góc nhìn đều phản ánh chung, rằng tranh chấp là một dạng mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên

1.2.1.2 Tranh chấp thương mại quốc tế

Tranh chấp thương mại quốc tế là một trong những hiện tượng không thể tránh khỏi trong quá trình hoạt động, giao thương giữa các tổ chức, cá nhân trong môi trường quốc tế Tranh chấp thương mại quốc tế được hiểu nôm na là những tranh chấp có tính chất quốc tế, với ý nghĩa “vượt phạm vi quốc gia” Theo tập 2, từ điển

Bách khoa toàn thư Việt Nam, thì “Thương mại là toàn bộ hoạt động trao đổi hàng

hóa thông qua mua và bán các hàng hóa, dịch vụ, các chứng từ có giá trị trong xã hội” Theo Luật thương mại của Việt Nam, hoạt động thương mại là thực hiện một

hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội

Một cách hiểu đơn giản, “Tranh chấp trong quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế

chính là sự mâu thuẫn, xung đột về quyền, nghĩa vụ, lợi ích giữa các nhà đầu tư, sản xuất kinh doanh, giữa các chủ thể khi có sự vi phạm các hiệp định quốc tế, các hợp đồng đã kí kết” (Hoàng Ngọc Thiết, 2002)

Theo một định nghĩa khác thì “Tranh chấp thương mại quốc tế là tranh chấp xảy

ra trong quan hệ giữa các quốc gia về vấn đề quan hệ quốc tế” Tranh chấp quốc tế

có thể xảy ra giữa hai bên hay nhiều bên, có thể xuất hiện trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau của các quốc gia có liên quan đến việc giải thích hay áp dụng điều ước quốc tế nào đó, đến trách nhiệm của một quốc gia cụ thể Sự bất đồng giữa các

Trang 16

quốc gia có thể không dẫn tới tranh chấp giữa các quốc gia đó Khi đã xuất hiện tranh chấp, tranh chấp đó cần phải được giải quyết bằng các biện pháp hoà bình trên

cơ sở nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế” (Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, 2005)

Một cách hiểu khác thì “Tranh chấp thương mại quốc tế là tranh chấp diễn ra

khi một nước cho rằng một nước khác vi phạm thỏa thuận đã cam kết với nhau”

(Công ty cổ phần EXIM Việt Nam, 2011), vì vậy tranh chấp thường xoay quanh một số nội dung chính gồm các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự

vệ Biện pháp chống bán phá giá là để đối phó với hành vi bán sản phẩm với giá thấp nhằm chiếm lĩnh thị trường và tiến tới loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh thì biện pháp chống trợ cấp được áp dụng để loại bỏ tác động tiêu cực gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa trong nước xuất phát từ các chính sách trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu Ngược lại, biện pháp tự vệ thường được nói đến như một công cụ bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp trong nước trong trường hợp khẩn cấp do tình trạng gia tăng bất thường của hàng hóa nhập khẩu nhằm hạn chế những tác động không thuận lợi gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước Như vậy, biện pháp tự vệ có thể được áp dụng kể cả khi các đối tác thương mại thực hiện kinh doanh một cách chính đáng, không có tình trạng bán phá giá hoặc trợ cấp Chính vì vậy, biện pháp tự vệ được áp dụng một cách khắt khe hơn

so với hai biện pháp còn lại

Như vậy, tranh chấp thương mại quốc tế là một loại tranh chấp quốc tế, phát sinh trên cơ sở xung đột về mặt quyền lợi hay mâu thuẫn về lợi ích giữa các đơn vị kinh

tế hoặc giữa các quốc gia trong mối quan hệ thương mại quốc tế Xét một cách toàn diện, tranh chấp thương mại quốc tế sẽ gồm có: tranh chấp giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế liên chính phủ về hoạt động thương mại; tranh chấp giữa các quốc gia với các pháp nhân, thể nhân nước ngoài liên quan đến các hoạt động thương mại; tranh chấp giữa các pháp nhân, các thể nhân liên quan đến việc thực hiện các hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại quốc tế

1.2.1.3 Tranh chấp theo quy định của WTO

Dựa vào mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại quốc

tế, các tranh chấp thương mại quốc tế phát sinh cũng được phân thành ba loại tương

Trang 17

ứng (Phan Huy Hồng, 2009), bao gồm: Một là, tranh chấp giữa các chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động thương mại quốc tế, được giải quyết bằng tòa án, hoặc trọng tài thương mại sau khi con đường hòa giải, thương lượng không thành công; Hai là, tranh chấp giữa Nhà nước với nhà đầu tư nước ngoài, được giải quyết theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư đó và theo các công ước quốc tế mà quốc gia đó là Thành viên; Ba là, tranh chấp giữa các quốc gia, được giải quyết theo Hiệp định về giải quyết tranh chấp, với đại diện đứng ra là Chính phủ của các nước, đứng sau là các doanh nghiệp, hiệp hội, cùng với sự tham vấn của các luật sư

Tranh chấp thuộc thẩm quyền của WTO, trước hết đó là các tranh chấp về kinh

tế, có liên quan tới thương mại quốc tế Tuy nhiên, WTO có bản chất là một tổ chức liên chính phủ, chỉ xử lý mối quan hệ giữa các chính phủ với nhau, nên trường hợp các doanh nghiệp tranh chấp nhau, hoặc có tranh chấp với chính phủ một nước khác

sẽ không được xét đến trong phạm vi của WTO Nói chính xác hơn, tranh chấp theo quy định của WTO là tranh chấp thương mại quốc tế giữa các Thành viên của tổ chức này, mà đại diện là các Chính phủ, các quốc gia và lãnh thổ độc lập về mặt hải quan (Hoàng Ngọc Thiết, 2002) Phạm vi tranh chấp có thể liên quan đến việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo các Hiệp định, thỏa thuận của WTO, cũng như các cam kết của từng Thành viên khi gia nhập WTO

Tranh chấp giữa các Thành viên WTO phát sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau Có thể xuất phát từ thực tế một Thành viên vi phạm thỏa thuận của WTO, dẫn tới tổn hại lợi ích của Thành viên khác, hoặc có thể từ các vụ kiện chống bán phá giá, việc áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu,… Mỗi tranh chấp khi được yêu cầu giải quyết phải tuân theo Thỏa thuận về các thủ tục và quy tắc điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU), dẫn tới hậu quả cuối cùng là rút lại nhượng bộ thương mại tương đương từ quốc gia bị vi phạm, hoặc phải nhận trả đũa chéo Vì vậy, Việt Nam, với tư cách một Thành viên của WTO, khi có yêu cầu giải quyết tranh chấp, hoặc theo kiện với tư cách bị đơn hay bên thứ ba, chắc chắn phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của tổ chức này

Tranh chấp theo sự phân chia của WTO được xếp vào ba lĩnh vực, gồm: tranh chấp về thương mại hàng hóa, tranh chấp về thương mại dịch vụ, và tranh chấp về thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (Peter Galangher, 2002) Tỉ lệ các

Trang 18

tranh chấp liên quan đến thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ là chưa đáng kể so với lĩnh vực còn lại xét về số lượng, đối tượng liên quan, cũng như thời gian xét xử Trong phạm vi Khóa luận này, tác giả tập trung nghiên cứu các tranh chấp của Trung Quốc phát sinh trong lĩnh vực thương mại hàng hóa

1.2.2 Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

1.2.2.1 Hoàn cảnh ra đời

WTO giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các Thành viên theo những quy tắc và thủ tục nêu tại Bản ghi nhớ về Giải quyết Tranh chấp (DSU) DSU áp dụng để giải quyết tất cả tranh chấp liên quan đến Hiệp định thành lập WTO, các Hiệp định về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, các Hiệp định thương mại nhiều bên và ngay chính các vấn đề liên quan tới DSU Vì vậy, bản thỏa thuận này

có một vị trí rất quan trọng trong các văn kiện của WTO và được coi là một kết quả tích cực của Vòng đàm phán Uruguay (Trần Thanh Hải, 2002, tr.75)

Hệ thống giải quyết tranh chấp trong WTO đôi khi còn được nhắc tới như sự

“đóng góp đặc biệt của WTO cho sự ổn định của kinh tế toàn cầu” Tuy nhiên, hệ thống này không phải là một sự đổi mới hoàn toàn, mà nó được xây dựng dựa trên

hệ thống giải quyết tranh chấp trước kia của GATT cùng với những sự hoàn thiện đáng kể (Ủy ban hợp tác quốc gia về kinh tế quốc tế, 2005) Trong gần 50 năm tồn tại, hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT đã tồn tại và phát triển đáng kể, trên

cơ sở điểu XII và XIII của GATT 1947 Nguyên tắc chính vẫn được duy trì xuyên suốt quá trình giải quyết các tranh chấp là nguyên tắc đồng thuận Mỗi quyết định nhận được sự đồng thuận có nghĩa là không có sự phản đối từ bất cứ bên ký kết nào đối với mỗi quyết định đó Nhưng các bên tranh chấp vẫn có thể tham gia vào quá trình ra quyết định, bên bị khiếu kiện có thể cản trở việc thông qua Báo cáo của Ban hội thẩm, bên thua kiện có thể phản đối để làm vô hiệu một phán xử nào

Thời gian đầu áp dụng hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT, từ cơ sở nghiên cứu thực nghiệm, người ta kết luận rằng phần lớn trường hợp đã mang lại những giải pháp thỏa đáng cho các bên Tuy nhiên, thực tế còn có rất nhiều tranh chấp chưa từng được đưa ra trước GATT vì những nghi ngại bên bị khiếu kiện có thể thực hiện quyền phủ quyết của mình Động cơ đưa ra phán quyết của các thành viên trong Ban hội thẩm không còn xuất phát từ cơ sở pháp lý, mà chủ yếu nhằm vào

Trang 19

một giải pháp mang tính ngoại giao, đi đến một thỏa hiệp có tính chấp nhận được cho cả nguyên đơn và bị đơn

Từ thực trạng nêu trên, các nước Thành viên của GATT thống nhất cần cải thiện,

hệ thống giải quyết tranh chấp hiện hành Nội dung này được ưu tiên trong chương trình nghị sự của các cuộc đàm phàn trong vòng Uruguay, và từ đó, DSU ra đời Thay đổi dễ dàng thấy nhất trong DSU chính là quy tắc “đồng thuận nghịch” cùng với việc rà soát phúc thẩm các Báo cáo của Ban hội thẩm và giám sát thực hiện sau khi Báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm đã được thông qua

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là bắt buộc đối với tất cả các quốc gia Thành viên Thành viên bị khiếu nại không có cơ hội nào khác ngoài việc chấp nhận tham gia giải quyết tranh chấp theo đúng thủ tục Tính bắt buộc này khiến các Thành viên phải thận trọng hơn khi có bất cứ mâu thuẫn nào phát sinh, và cân nhắc

kĩ về tiềm lực tài chính cũng như nhân lực để bắt đầu tham gia tranh chấp Từ đây

đã mở ra một giai đoạn mới trong giải quyết tranh chấp nói chung, và tranh chấp thương mại hàng hóa nói riêng, với kết quả khả quan hơn về cả số lượng và chất lượng các tranh chấp được xét xử theo thời gian

1.2.2.2 Ƣu điểm của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

Mức độ thành công của hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO dựa trên tiêu chí đánh giá của mỗi người Chỉ riêng so sánh hệ thống này với hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT 1947 trước đây, thì hệ thống hiện hành chứng tỏ được ưu điểm và hiệu quả hơn nhiều Khi so với các hệ thống giải quyết tranh chấp theo luật quốc tế khác, bản chất cưỡng chế và cơ chế thực thi của hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO thực sự là ưu việt hơn ở rất nhiều điểm (Ủy ban hợp tác quốc gia về kinh tế quốc tế, 2005, tr.199) Những ưu điểm nổi trội của cơ chế này có thể được phân tích như dưới đây

Thứ nhất, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO ổn định, rõ ràng, và có tính hệ thống cao

Ưu điểm này có thể nhận thấy khi nhìn lại, các quy định trong hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT chỉ mang tính nguyên tắc, hướng dẫn, tạo kẽ hở cho bên vi phạm không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ theo các phán quyết do Ban hội thẩm đưa ra Mặt khác, hệ thống của GATT 1947 có nhiều văn bản pháp lý

Trang 20

không thống nhất được với nhau như: Điều XII, XIII - GATT 1947; Bản ghi nhớ về việc thông báo, tham vấn, giải quyết tranh chấp và giám sát (1979); Bản tuyên bố chung cấp Bộ trưởng về việc giải quyết tranh chấp (1982); Quyết định của GATT

về việc cải tiến quy tắc và thủ tục tranh chấp (1989)

Hình 1.1: Sơ đồ quy trình và thời gian giải quyết tranh chấp thương mại quốc

tế theo quy định của WTO

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ DSU của WTO (WTO, 1995 A)

Rút kinh nghiệm từ thực tiễn gần 50 năm hoạt động của GATT, khi DSU ra đời

đã có sự thống nhất giữa hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT 1947, các Hiệp

Trang 21

định thương mại đa phương cùng việc tạo ra các quy định mới bổ sung DSU gồm

có 27 điều, với 4 phụ lục, được hoàn thiện thông qua từ tháng 12/1996 Trong đó có điều 1.2 của DSU nêu rõ, trường hợp khi có sự khác biệt giữa các quy tắc, thủ tục quy định trong DSU so với các quy tắc, thủ tục quy định trong các hiệp định riêng biệt, thì các quy tắc, thủ tục riêng biệt sẽ được áp dụng

Thời gian giải quyết tranh chấp cho từng giai đoạn được quy định rất chi tiết và

cụ thể Thời gian tham vấn gần như có tính chất quyết định xem một tranh chấp có được đưa ra giải quyết bởi DSB hay không, và chiếm đáng kể thời gian - 60 ngày Quy trình tuần tự và thời gian xét xử có thể được minh họa qua sơ đồ ở trang trước Thời gian hạn định dành cho mỗi giai đoạn trong quá trình xét xử tuy rõ ràng, nhưng cũng còn những hạn chế nhất định Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO không đủ sức mạnh cưỡng chế các bên tuân thủ nghiêm ngặt quy trình về mặt thời gian, và hạn chế này sẽ được phân tích rõ hơn trong chương 2

Thứ hai, quá trình giải quyết tranh chấp được tiến hành thận trọng, công bằng, qua hai bước bởi một cơ quan giải quyết tranh chấp độc lập

Trong WTO có lập ra riêng một cơ quan giải quyết tranh chấp tương đối độc lập

là DSB Ngoài ra, còn có cơ quan giám sát việc thi hành các khuyến nghị, phán quyết do DSB đưa ra, thực hiện quyền của Hội đồng chung, quyền của các Ủy ban WTO trong việc giải quyết tranh chấp DSB là cơ quan thành lập ra Ban hội thẩm sau khi các bên tham vấn thất bại, thông qua Báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm Khi kết thúc vụ tranh chấp thì DSB giám sát thực thi các phán quyết, khuyến nghị, cũng như các biện pháp trả đũa khi bên vi phạm không chấp hành phán quyết này Với từng vụ tranh chấp, Ban hội thẩm sẽ được thành lập riêng, và

sẽ giải thể sau khi tranh chấp đó đã được giải quyết xong Đặc biệt, nếu như theo quy định của GATT, Ban hội thẩm chủ yếu ưu tiên các quan chức chính phủ của các Thành viên, thì theo quy định của WTO, thành viên Ban hội thẩm được ưu tiên lựa chọn từ những chuyên gia độc lập, không làm việc cho bất kì cơ quan chính phủ nào, và phải là những người có uy tín trong luật thương mại quốc tế

Một ưu điểm nổi bật khác của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO chính là sự xuất hiện thường trực của Cơ quan phúc thẩm trong quá trình giải quyết tranh chấp Điều này đảm bảo mỗi tranh chấp đều được xét xử qua hai cấp khi có kháng cáo của

Trang 22

một trong hai bên nguyên đơn và bị đơn Giai đoạn phúc thẩm hạn chế được những thiếu sót về mặt pháp lý xảy ra trong Báo cáo của Ban hội thẩm Hai cấp sơ thẩm,

và phúc thẩm đã khiến các khuyến nghị, phán quyết của DSB có trọng lượng hơn,

và đảm bảo công bằng, chính xác hơn cho các bên

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, không chỉ tập trung xoay quanh mối quan hệ giữa nguyên đơn và bị đơn, mà còn tạo điều kiện cho các Thành viên khác cùng tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp với tư cách Bên thứ ba Đó có thể

là các nước có nhiều quyền lợi đáng kể liên quan tới các tranh chấp, được nước bị đơn đồng ý tham gia với tư cách bên thứ ba Các nước đó có quyền tham gia vào giai đoạn hội thẩm, được trình bày lý lẽ, đệ trình các chứng cứ cho Ban hội thẩm một cách độc lập Điều này vừa có tác dụng tránh trùng lặp, phải giải quyết các tranh chấp tương tự nhau nhiều lần, đồng thời còn làm cho quá trình xét xử được khách quan hơn, với lý lẽ được cung cấp từ nhiều nguồn, nhiều góc nhìn khác nhau

Thứ ba, hiệu quả giải quyết tranh chấp được đảm bảo xuất phát từ quy tắc

“đồng thuận nghịch”

Quy tắc đồng thuận nghịch ra đời đã đảm bảo hơn về mặt quyền lợi cho bên bên

bị vi phạm trong các tranh chấp Chỉ khi nào tất cả các Thành viên của DSB đồng thuận không thông qua một quyết định nào thì quyết định đó mới bị bác bỏ Chính

vì vậy, quy tắc này cũng đồng nghĩa với một cơ chế tự động: Tự động trong thành lập Ban hội thẩm; Tự động thông qua các Báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm; Tự động thực thi các khuyến nghị, phán quyết của DSB

DSU có quy định rõ: Khi yêu cầu của nước khiếu nại đã thỏa mãn các điều kiện đưa ra, và các bên tiến hành tham vấn thất bại thì Ban hội thẩm sẽ được thành lập, trừ khi các Thành viên nhất trí phản đối việc thành lập này Tuy nhiên, khả năng thành lập Ban hội thẩm bị phản đối gần như là không thể, vì Thành viên bị khiếu nại muốn vậy sẽ phải thuyết phục tất cả các Thành viên khác, kể cả nước chủ động khiếu kiện đồng ý với mình, tương đương một thỏa thuận tham vấn mới Vì vậy, trong hầu hết các tranh chấp, Ban hội thẩm sẽ được tự động thành lập để giải quyết tranh chấp

Cũng theo cơ chế này, nếu không có kháng cáo thì Báo cáo của Ban hội thẩm sẽ

tự động thông qua trong vòng 60 ngày, kể từ ngày Báo cáo được gởi đến các Thành

Trang 23

viên của WTO, trừ khi các Thành viên nhất trí không thông qua Tương tự, Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm sẽ được tự động thông qua trong vòng 30 ngày kể từ ngày Báo cáo được gởi đến các Thành viên của WTO, trừ khi các Thành viên nhất trí không thông qua Như vậy, không một Thành viên đơn lẻ nào có thể ngăn chặn việc thông qua các báo cáo, mặc dù đôi khi dẫn tới hạn chế của sự tự động này khi các Thành viên không còn đánh giá cao về tính thực thi của nó

Sau khi Báo cáo cuối cùng đã được thông qua, Thành viên bị kết luận là có hành

vi vi phạm phải thi hành các khuyến nghị và phán quyết của DSB trong một khoảng thời gian hợp lý theo thỏa thuận giữa các bên, hoặc đưa ra xét xử tiếp bằng thủ tục trọng tài Nếu không có gì được thực hiện trong thời gian đó, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải bồi thường cho các thiệt hại đã gây ra tính tới thời điểm tranh chấp được đưa ra giải quyết Sau thời hạn này 30 ngày, nếu không đạt được thỏa thuận bồi thường, Thành viên bị vi phạm sẽ yêu cầu DSB cho phép họ tiến hành các biện pháp trả đũa thương mại với bên kia

Tất cả các khả năng xảy ra đã được tính toán, đề cập, và có biện pháp đảm bảo thực hiện nhờ có cơ chế tự động này của WTO Phần nào quyền lực chính trị, sức

ép từ các nước lớn được giảm đi đáng kể qua quy tắc đồng thuận nghịch Các “bế tắc” có thể xảy ra nếu có Thành viên cố tình trì hoãn thực hiện các phán quyết đều

đã được tính đến, và với tư cách Thành viên WTO, các Thành viên này không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tuân thủ Vì vậy, các nước đang và kém phát triển có nhiều cơ hội đạt được công bằng hơn qua các vụ kiện, qua đó giành lại những quyền lợi chính đáng của mình

Thứ tư, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO có nhiều ưu đãi cho các Thành viên là nước đang và kém phát triển

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được coi là cơ chế giải quyết tranh chấp theo luật, vì cơ quan phán quyết được thành lập độc lập, căn cứ vào các thỏa thuận trước đó Một số ưu đãi của WTO dành cho các nước đang và kém phát triển có thể làm dẫn chứng thuyết phục như:

- Khi vụ việc có liên quan đến một nước đang phát triển, trong mọi trường hợp Bên khiếu kiện là nước phát triển cần kiềm chế đưa vụ việc ra giải quyết theo DSU, yêu cầu bồi thường hay tiến hành các biện pháp trả đũa

Trang 24

- Trường hợp Bên khiếu kiện là một nước đang phát triển, khi cân nhắc đến các hành động phù hợp, DSB cần phải tính đến không chỉ vi phạm thương mại của biện pháp bị khiếu kiện, mà còn phải lưu ý đến tác động của biện pháp đó đối với toàn

bộ nền kinh tế của nước đang phát triển có liên quan

- Ban Thư ký WTO phải cung cấp tư vấn pháp lý một cách khách quan trung lập (trợ giúp kỹ thuật) cho Thành viên là nước đang phát triển

- Khi giải quyết tranh chấp có liên quan đến nước đang phát triển, trong Thành viên của Ban hội thẩm nhất thiết phải có một Thành viên là công dân của một nước đang phát triển nếu có yêu cầu của một nước đang phát triển là một bên tranh chấp

- Trường hợp nước đang phát triển là Bị đơn trong một khiếu kiện, các Bên có thể thỏa thuận kéo dài thời gian tham vấn; và khi đã thành lập Ban hội thẩm, Ban này có trách nhiệm xác định thời hạn của các thủ tục phù hợp sao cho Bên tranh chấp là nước đang phát triển có đủ thời gian để chuẩn bị và trình bày lập luận của mình

Như vậy, những ưu đãi được dành cho các nước đang phát triển chủ yếu là về thời hạn, hạn chế áp dụng những biện pháp có thể gây thiệt hại cho lợi ích kinh tế của các nước này, và các biện pháp hỗ trợ về tư vấn pháp lý Thiết nghĩ, những đổi mới này của WTO so với cơ chế cũ của GATT đã phần nào khiến các nước đang và kém phát triển có niềm tin hơn khi tham gia vào thương mại quốc tế

Tóm lại, sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO tới thời điểm này chính là cách thức có hiệu quả nhất để các Thành viên giải quyết các tranh chấp xảy

ra trong khuôn khổ tổ chức thế giới này, đảm bảo kể cả quyền lợi kinh tế cũng như quyền lợi pháp lý của mình

1.3 Thương mại hàng hóa

1.3.1 Khái quát chung về hàng hóa

Hàng hóa là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế Theo nghĩa hẹp, hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian và có thể trao đổi, mua bán được Theo nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì có thể trao đổi, mua bán được Tính tới nay, vẫn có nhiều cách diễn đạt về định nghĩa hàng hóa khác nhau cùng tồn tại

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, “Hàng hóa là sản phẩm của lao

Trang 25

động có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán” (Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia Việt

Nam, 1998) Hàng hóa là một phạm trù lịch sử, xuất hiện và tồn tại khi có phân công lao động xã hội và có những chủ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất hoặc những chủ thể tự chủ kinh doanh, và xuất phát từ những khác biệt trong lao động Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng hóa là sản phẩm của lao động xã hội trực tiếp,

về cơ bản là để thoả mãn nhu cầu của xã hội, của con người, trong đó giá trị thặng

dư không bị nhà tư bản nào bóc lột, mà nó thuộc về xã hội, dùng vào tích luỹ tái sản xuất xã hội mở rộng và vào phúc lợi của người lao động và của toàn xã hội

Trong kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa cũng được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán Hàng hóa có thể là hữu hình như sắt thép, quyển sách hay ở dạng vô hình như sức lao động Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó (Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui, 2003) Để đồ vật trở thành hàng hóa cần phải có những thuộc tính căn bản: có tính hữu dụng đối với người dùng, có giá trị kinh tế, nghĩa là được chi phí bởi lao động và có sự hạn chế

để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm của hàng hóa

David Ricardo cho rằng hàng hóa có hai thuộc tính cơ bản là: giá trị sử dụng và giá trị (Từ điển Wikipedia, 2001) Giá trị sử dụng của hàng hóa là ích dụng của hàng hóa thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Giá trị của hàng hóa là lao động

xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa, có sự chi phí về thời gian, sức lực và trí tuệ của con người khi sản xuất chúng Khi đưa ra ngoài thị trường để trao đổi, mua bán thì giá trị của hàng hóa thể hiện qua giá trị trao đổi hay giá cả của hàng hóa

Tóm lại, hàng hóa được hiểu đơn giản nhất là vật hữu hình, là sản phẩm kết tinh của lao động và có thể trao đổi, mua bán được Ngày nay, với sự phát triển của thương mại quốc tế, hàng hóa được sản xuất, lưu thông và tiêu dùng không chỉ trong phạm vi một quốc gia, mà được mở rộng giao thương trên quy mô toàn cầu Đây cũng là thứ mang lại lợi ích nhiều cho quốc gia khi mang đi trao đổi, nhưng cũng đem đến nhiều tranh chấp phát sinh từ các quy định, chính sách khác nhau đối với hàng hóa ở mỗi nước

Trang 26

1.3.2 Phân loại hàng hóa theo quy định của WTO

Trên thực tế, WTO không có một tài liệu chính thống nào định nghĩa về hàng hóa

và phân loại hàng hóa của riêng mình Các Thành viên WTO trong giao dịch thương mại quốc tế đều tham gia Công ước về “Hệ thống hài hòa trong mô tả và quy tắc đánh số thứ tự hàng hoá” Công ước HS được coi là bộ luật quốc tế về ngôn ngữ chung toàn cầu về hàng hoá Đó là một sản phẩm trí tuệ của đại biểu 60 tổ chức Hải quan các nước Thành viên sáng lập và 20 tổ chức quốc tế khác nghiên cứu trong thời gian gần 10 năm (1976 - 1983) để đúc kết và kế thừa có chọn lọc những kết quả đã đạt được từ trước tới nay và phát triển nó (Trần Thanh Hải, 2002, tr.29)

Hệ thống HS tuân theo sáu quy tắc cơ bản, áp dụng để tìm tên các mục và tên Điều ước Toàn bộ hàng hóa lưu thông trên thế giới qua lãnh thổ hải quan của bất kì quốc gia nào cũng đều tuân theo các quy tắc này để được phân loại, vì thế, cách phân loại hàng hóa trong WTO cũng được coi tương tự như cách phân loại hàng hóa theo mô tả của hệ thống HS

Để phân tích phân loại khoảng 350.000 mặt hàng, Công ước HS đưa ra 5228 thuộc tính cơ bản của toàn bộ hàng hóa dưới dạng Điều ước phân bổ tại 96 chương của HS, tập trung vào bốn chuyên ngành: Nông sản thực phẩm, hoá chất, vải, giấy, plastic, thiết bị máy móc Việt Nam đã ký kết tham gia công ước HS, có hiệu lực chính thức từ ngày 01/01/2000, và Hải quan Việt Nam đã hoàn thành tốt công tác phối hợp với các Bộ ngành có liên quan để phân loại và hài hòa được hàng hóa theo chuẩn quốc tế

Với chuẩn của Công ước HS, việc nhận định và phân loại hàng hóa đã trở nên dễ dàng hơn, có tính thống nhất chung giữa các quốc gia khi giao thương với nhau Đồng thời, trên cơ sở đó, các tranh chấp giữa các Thành viên trong WTO về thương mại hàng hóa cũng căn cứ rõ ràng để phân loại hàng hóa thuộc tranh chấp nào Về cách thống kê của Tổ chức này trên trang web chính thức wto.org, WTO tạm chia hàng hóa các loại này vào 138 nhóm khi có tranh chấp xảy ra, được xếp theo thứ tự ABC Tuy nhiên, sự phân loại này của WTO chỉ có tính chất tham khảo, giúp dễ dàng tra cứu các đối tượng tranh chấp

1.3.3 Cam kết của Trung Quốc và Việt Nam đối với WTO về thương mại hàng hóa

Trang 27

Các Thành viên WTO thường yêu cầu các nước xin gia nhập vào tổ chức này phải cam kết: (i) ràng buộc mức trần cho tất cả các dòng thuế trong biểu thuế nhập khẩu của mình, (ii) chỉ dùng thuế nhập khẩu để bảo hộ, và (iii) tại cửa khẩu, ngoài thuế nhập khẩu, không sử dụng phí, lệ phí và các khoản thu khác ngoài thuế nhập khẩu nhằm mục đích thu ngân sách WTO còn yêu cầu phải giảm thuế, nhất là các mặt hàng có mức thuế suất áp dụng cao, yêu cầu các nước này còn phải cắt giảm thuế theo ngành với mức cắt giảm tới 0% Tuy nhiên, Trung Quốc và Việt Nam khi gia nhập vào WTO đã có những cam kết tương đối khác nhau về quy trình thực hiện các cam kết của mình trong lĩnh vực thương mại hàng hóa

1.3.3.1 Cam kết của Trung Quốc đối với WTO về thương mại hàng hóa

Trong gần 1.000 trang nghị định thư gia nhập WTO về các cam kết thực hiện, Trung Quốc thể hiện những thay đổi sẽ diễn ra ở tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân với mức độ không giống nhau, tuy nhiên đem lại cho Trung Quốc một diện mạo trên thế giới (Phạm Thị Quỳnh Trang, 2011)

Đối với nông nghiệp, Trung Quốc sẽ hạn chế chi phí trợ cấp nông nghiệp ở mức

8,5% trị giá sản lượng nông nghiệp trong nước Thuế đối với sản phẩm nông nghiệp giảm từ 22% xuống còn 17% Thuế nhập khẩu các sản phẩm như dầu hạt cải, bơ, quýt và rượu vang còn khoảng 9% đến 18% so với 25% đến 85% trước khi Trung Quốc gia nhập Các nhà sản xuất Trung Quốc sẽ thiệt hại lớn do cắt giảm thuế, tự

do nhập khẩu hơn sẽ làm cho ngũ cốc Trung Quốc như ngô và đậu tương phải cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu có chất lượng cao hơn Nhập khẩu thịt lợn giá rẻ cũng sẽ đe dọa ngành chăn nuôi trong nước Riêng đối với sản phẩm nông nghiệp của Mỹ, mức thuế trung bình 31% sẽ giảm xuống còn 14%

Đối với ngành công nghiệp ô tô, đây sẽ là một trong những ngành bị ảnh hưởng

nặng nhất khi Trung Quốc gia nhập WTO do phải cạnh tranh mạnh mẽ trong điều kiện nhập khẩu ô tô và phụ tùng ô tô tăng mạnh sau khi giảm thuế Thuế đối với linh kiện ô tô sẽ giảm từ mức trung bình 23,4% xuống còn trung bình 10% Ngoài

ra, các hãng nước ngoài được phép hoạt động mua bán và mạng lưới dịch vụ riêng trong vòng 3 năm sau khi Trung Quốc vào WTO

Đối với lĩnh vực dệt may, Trung Quốc là một trong số ít Thành viên sẽ có lợi nhờ

gia nhập WTO khi xoá bỏ hạn ngạch nhập khẩu Theo hiệp định WTO, Trung Quốc

Trang 28

chấm dứt hạn ngạch nhập khẩu sản phẩm dệt may vào ngày 01/01/2005 Tuy nhiên, việc này sẽ cho phép các nước nhập khẩu hàng dệt may Trung Quốc hạn chế hàng nhập khẩu khi hàng Trung Quốc phá vỡ thị trường của họ

Ngoài ra, Trung Quốc đã đồng ý mở cửa các lĩnh vực dầu thô và dầu chế biến

cho các thương gia tư nhân qua việc tự do hoá dần và giảm sự độc quyền mậu dịch bằng việc cho lĩnh vực tư nhập nhập khẩu 4 triệu tấn các sản phẩm dầu và 10% dầu thô nhập khẩu Trung Quốc cũng mở cửa lĩnh vực phân phối bán lẻ mặt hàng này sau 3 năm gia nhập WTO và cho phép các công ty nước ngoài có ít nhất 30% ở mỗi trạm xăng dầu, thị trường bán buôn được cam kết mở cửa sau 5 năm gia nhập WTO

1.3.3.2 Cam kết của Việt Nam đối với WTO về thương mại hàng hóa

Những cam kết của Việt Nam đối với WTO về thương mại hàng hóa có nội dung chính là việc mở cửa thị trường nông sản và phi nông sản đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước Thành viên khác của WTO (Nguyễn Thị Mơ, 2007 A)

Đối với thị trường nông sản, Việt Nam đã đưa ra các cam kết sau:

- Cam kết về thuế quan: Việt Nam đã đưa ra cam kết về mức thuế nhập khẩu tối

đa được phép áp dụng đối với 100% số dòng thuế hàng nông sản Mức thuế bình quân hàng nông sản vào thời điểm gia nhập là 23,5% giảm xuống còn 20,9% thực hiện trong vòng 3 - 5 năm, tức giai đoạn 2009 - 2012 là thời điểm các cam kết này được thực hiện, với một lộ trình cắt giảm thuế được vạch ra rõ ràng Các loại nông sản chế biến phải được giảm nhiều hơn nông sản thô, trong khi mức thuế nhập khẩu các sản phẩm thô lại rất ít, hầu như là không giảm Tuy nhiên, trong thực tế, các mức thuế suất hiện hành đang áp dụng ở Việt Nam thấp hơn so với mức cam kết, đồng nghĩa mức độ mở cửa thị trường của Việt Nam đã rộng hơn cả mức cam kết

- Cam kết về các biện pháp phi thuế quan: Việt Nam đã đưa ra cam kết liên quan đến các biện pháp hạn chế định lượng nhập khẩu, các biện pháp kiểm dịch động thực vật và vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), các biện pháp quản lý xuất nhập khẩu đối với một số mặt hàng thuộc diện quản lý chuyên ngành nông nghiệp, biện pháp

tự vệ (SG) và tự vệ đặc biệt (SSG) Trong đó, biện pháp hạn chế định lượng nhập khẩu thuộc diện quản lý chặt chẽ nhất, gồm có: cấm nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan (TRQ),… Việt Nam được phép áp dụng TRQ với 04

Trang 29

nhóm hàng hóa, gồm: Đường ăn, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối

- Cam kết về quyền đàm phán ban đầu (INR): Trong quá trình thực hiện cam kết, trong một số trường hợp nhất định không lường trước được, Việt Nam có thể tăng thuế cao hơn mức cam kết Trong trường hợp đó, Việt Nam phải đàm phán trước với những nước dành được Quyền đàm phán ban đầu Tên những nước dành được INR sẽ được ghi bên cạnh mỗi dòng sản phẩm trong Biểu cam kết Những nước đề

nghị INR đối với nông sản của Việt nam chủ yếu là Mỹ, Úc, New Zealand, Braxin

Đối với thị trường hàng hóa phi nông sản, Việt Nam khi gia nhập WTO tập

trung vào vấn đề thuế nhập khẩu và các biện pháp phi thuế Cụ thể:

- Ràng buộc tất cả các dòng thuế trong Biểu thuế nhập khẩu: Việt Nam cam kết

về các mức thuế nhập khẩu tối đa có thể áp dụng đối với tất cả các mặt hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam Thuế nhập khẩu sẽ là công cụ để bảo hộ duy nhất

- Cắt giảm thuế nhập khẩu, nhất là các mặt hàng đang có thuế suất áp dụng cao

và các mặt hàng mà các Thành viên WTO khác có lợi ích thương mại lớn

Ngoài ra, Việt Nam còn tham gia các hiệp định tự do hoá theo ngành của WTO

để cắt giảm toàn bộ thuế áp dụng cho ngành đó xuống mức 0% Các hiệp định này gồm có: Hiệp định công nghệ thông tin, Hiệp định về hàng dệt may, thiết bị y tế Đồng thời Việt Nam cũng mới tham gia một phần, cam kết hài hòa thuế suất ở mức thấp theo các Hiệp định như Hiệp định hoá chất, Hiệp định về thiết bị xây dựng và Hiệp định thiết bị máy bay dân dụng

Tóm lại, cả Việt Nam và Trung Quốc đều nghiêm túc, tỏ thiện chí thông qua các

cam kết gia nhập WTO Về cơ bản, hai Thành viên đều cam kết các nội dung tương

tự nhau, nhưng lộ trình thực hiện có điểm khác biệt, lí do căn cứ vào sự chênh lệch trong tình hình phát triển kinh tế giữa hai nước, cũng như thời điểm gia nhập cách nhau 5 năm Một điểm tương đồng quan trọng, có ảnh hưởng tới cả hai nước, là việc Trung Quốc và Việt Nam đều chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường Điều này gây trở ngại lớn, đặc biệt khi có các nghi ngại về bán phá giá hoặc trợ cấp bởi các nước khác, Việt Nam và Trung Quốc sẽ bị điều tra, xử “ép” Bất lợi này sẽ được phân tích kĩ hơn trong phân tích chương 2 và đánh giá ở chương 3

1.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu bài học kinh nghiệm của Trung Quốc về giải quyết tranh chấp thương mại hàng hóa trong WTO đối với Việt Nam

Trang 30

1.4.1 Đối với Cơ quan quản lý Nhà nước

Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước bao gồm Chính phủ, các Bộ và cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ, các chính quyền địa phương (Gregory Shaffer, 2006) Theo cách hoạt động của mình, thì Thành viên của WTO chính là các chính phủ chứ không phải các hiệp hội hay doanh nghiệp, và khi có tranh chấp xảy ra giữa các quốc gia, Chính phủ mới là chủ thể tham gia các vụ kiện Đồng thời,

Cơ quan quản lý Nhà nước đóng vai trò hướng dẫn thi hành luật và đảm bảo thực hiện các cam kết của Việt Nam với WTO một cách hợp lý

Thứ nhất, học hỏi kinh nghiệm giải quyết tranh chấp về thương mại hàng hóa trong WTO của Trung Quốc giúp Chính phủ Việt Nam chủ động trong các tranh chấp có thể xảy ra Trung Quốc cũng là một nước đang phát triển, lịch sử phát triển

có nhiều điểm tương đồng với kinh nghiệm dày dặn 10 năm gia nhập, từng tham gia nhiều tranh chấp với tư cách nguyên đơn và bị đơn Việc chủ động nghiên cứu trước các vấn đề Trung Quốc từng gặp phải sẽ tránh được cho Chính phủ tổn thất thời gian, công sức và tiền bạc vào những gì tương tự mà Trung Quốc phải trả giá thời gian qua Đồng thời, rút kinh nghiệm từ nước bạn, từng lộ trình, kế hoạch rà soát chính sách, quy định Luật pháp sẽ được vạch ra rõ ràng hơn, khiến các nước khác khó có cớ kiện Việt Nam hơn

Thứ hai, kinh nghiệm trong các hoạt động ngoại giao từ Trung Quốc là hữu ích trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay Cách tiếp cận của Trung Quốc với các Thành

viên khác có phần mềm mỏng hơn, nhưng vẫn giữ được căn bản những nguyên tắc của quốc gia này khi trong suốt quá trình tham vấn Đây là điểm hay mà không phải nước nào cũng học tập và áp dụng được chỉ trong một thời gian ngắn Sự khéo léo của Trung Quốc và khả năng cân nhắc lợi hại khi tháo bỏ một biện pháp vi phạm của chính nước này sẽ được phân tích kĩ ở chương 2

Thứ ba, bài học từ các tranh chấp của Trung Quốc giúp các Cơ quan quản lý Nhà nước định hướng được chiến lược lâu dài về nhân lực, tài lực để theo đuổi các

vụ kiện Bối cảnh hiện nay, Việt Nam vẫn còn kinh nghiệm ít ỏi trên trường quốc tế,

hiện sở hữu một đội ngũ chuyên gia chưa đảm bảo tốt được cả hai yếu tố gồm ngoại ngữ và chuyên môn Tài chính cho quá trình dàn trải mỗi giai đoạn trong tranh chấp cũng lại là trở ngại khác Bên cạnh đó, vai trò chủ đạo định hướng phát triển dài hạn

Trang 31

lại thuộc về các nhà quản lý, nên việc học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc là tối

cần thiết

1.4.2 Đối với các hiệp hội ngành hàng

Hiệp hội ngành hàng là nơi tập hợp các doanh nghiệp trong một ngành nhất định nhằm thúc đẩy lợi ích chung và hỗ trợ các doanh nghiệp thành viên (Bộ Công Thương Việt Nam, 2012) Nghiên cứu áp dụng các bài học kinh nghiệm của Trung Quốc vì vậy không chỉ có ý nghĩa ở tầm vĩ mô, mà còn hữu ích với chính các Hiệp hội ngành hàng tại Việt Nam

Thứ nhất, Hiệp hội doanh nghiệp ý thức được tầm quan trọng của mình trong các tranh chấp khi nghiên cứu và học hỏi từ trường hợp của Trung Quốc Khi tham

gia vào WTO, các doanh nghiệp sẽ không còn được hỗ trợ, ưu đãi từ phía Nhà nước như trước đó, mà phải dựa vào các hiệp hội ngành hàng là chỗ dựa tin cậy cho họ trong quá trình tìm đối tác, xúc tiến các quan hệ thương mại Đồng thời, khi có tranh chấp xảy ra, các Hiệp hội ngành hàng không chỉ là đại diện hợp pháp cho các doanh nghiệp cùng ngành trong các vụ kiện, mà còn có thể là đại diện sở hữu của thương hiệu sản phẩm quốc gia (Đào Ngọc Tiến, 2005, tr.51)

Thứ hai, các hiệp hội doanh nghiệp sẽ học được cách phát huy vai trò, là cầu nối quan trọng giữa Nhà nước và doanh nghiệp Các doanh nghiệp không thể đứng một

mình chống chọi, theo đuổi các vụ kiện mà cần có sự hậu thuẫn từ phía hiệp hội, không chỉ trong quá trình tìm kiếm chứng cứ, văn bản, lý lẽ, mà cả trong giai đoạn chấp hành các quy định của Pháp luật Vụ kiện đầu tiên của nước ta về biện pháp chống bán phá giá đối với sản phẩm tôm nước ấm đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam là một minh chứng rõ ràng cho điều này

1.4.3 Đối với các doanh nghiệp

Doanh nghiệp là đối tượng trực tiếp tham gia vào các hoạt động thương mại quốc

tế, chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng như các nước Thành viên Nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc trong nhiều trường hợp là bài học không chỉ trong phạm vi WTO, mà còn sử dụng cho các tranh chấp thương mại quốc tế khác, nơi mà sự tham gia trực tiếp của các doanh nghiệp mang dấu ấn đậm nét hơn

Thứ nhất, hiểu biết cách đối phó với từng tranh chấp quan trọng không kém việc

Trang 32

sản xuất, phân phối sản phẩm đối với từng doanh nghiệp Thiết nghĩ, trong quá

trình vận hành, các doanh nghiệp thức thời không chỉ chú trọng đến sản xuất, phân phối sản phẩm đơn thuần, mà đã chủ động cập nhật các thay đổi trong chính sách, các kiến thức, và kinh nghiệm từ các vụ kiện, tranh chấp về thương mại hàng hóa trước đây Nếu các doanh nghiệp chỉ chú tâm sản xuất, tiêu thụ, mà không biết học hỏi kinh nghiệm, quan sát cách điều hành chính sách, và phản ứng của các doanh nghiệp đi trước, chắc hẳn họ sẽ gặp ít nhiều khó khăn để theo kịp các diễn tiến phức tạp của thương trường thế giới hiện nay

Thứ hai, bài học kinh nghiệm về Trung Quốc trong WTO có thể được các doanh nghiệp áp dụng hiệu quả trong các tranh chấp thương mại quốc tế khác ngoài phạm

vi của WTO Có thể lấy các vụ việc doanh nghiệp Việt Nam bị cho là bán phá giá

hàng hoá vào thị trường một số nước phát triển như Mỹ, EU làm ví dụ Hoặc trường hợp Việt Nam bị áp thuế chống bán phá giá hoặc các vụ việc doanh nghiệp Việt Nam bị cho là vi phạm các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, nuôi trồng thuỷ sản khi xuất khẩu thủy sản vào Mỹ thời gian qua chính là các tranh chấp điển hình của thời WTO Đa phần các cuộc điều tra về chống bán phá giá dẫn tới các điều tra trong tranh chấp thương mại được đưa ra trước WTO,

và vai trò của các doanh nghiệp chiếm tỉ trọng xuất nhập khẩu lớn là rất quan trọng trong quá trình điều tra Vì vậy, học hỏi kinh nghiệm Trung Quốc đối phó với những tình huống tương tự sẽ có ý nghĩa lớn với các doanh nghiệp nước nhà

1.4.4 Đối với các nhà nghiên cứu

Thứ nhất, quá trình nghiên cứu tranh chấp thương mại hàng hóa của Trung Quốc sẽ thỏa mãn được nhiều mục đích khác nhau của các nhà nghiên cứu Các

nghiên cứu luật có thể hướng đến nhiều mục đích khác nhau: để xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy định của pháp luật thực định; để tìm ra các giải pháp áp dụng hay thực hiện pháp luật một cách có hiệu quả hơn; để phổ biến, giáo dục, nâng cao

ý thức pháp luật cho doanh nghiệp,…(Chad P Bown, 2010) Một trong số những nguyên nhân phổ biến dẫn tới tranh chấp thương mại hàng hóa là do chính sách của Chính phủ các nước có sự vi phạm căn bản đối với các quy định và thỏa thuận trong WTO Tuy nhiên, vẫn có một số nước, điển hình như Trung Quốc và Việt Nam, vì những hạn chế trong cách hiểu và lập luận các điều khoản mà áp dụng sai, hoặc tệ

Trang 33

hơn là bị “khép” vào những tội khá phổ biến như bán phá giá, áp thuế nhập khẩu cao,… mà chưa tìm ra cách phản ứng lại Hoạt động của các chuyên gia luật sẽ hiệu quả hơn nhờ các nghiên cứu thực tiễn trường hợp của Trung Quốc

Thứ hai, sự chuyên nghiệp trong tư vấn từ các đội ngũ chuyên gia nghiên cứu luật sẽ có rất nhiều hữu ích đối với tương lai Việt Nam Một mặt, họ sẽ cung cấp

cho cơ quan quản lý Nhà nước, các Bộ ngành những tham vấn cần thiết để xem xét, thay đổi và điều chỉnh luật pháp tương thích Mặt khác, họ có thể được thuê bởi các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng để tích cực tìm ra các chứng cứ, lý lẽ trong mỗi tranh chấp Bên cạnh đó, những nhà nghiên cứu này có điều kiện được đầu tư chuyên sâu cho các vụ tranh chấp trước đây của Trung Quốc, những nét tương đồng giữa hai quốc gia, họ sẽ rút ra được bài học “xương máu” qua mỗi tình huống cụ thể, tránh được tranh chấp tương tự sẽ xảy đến với Việt Nam, hoặc có thể biết được đâu là điều kiện tốt để chúng ta có thể bắt đầu đưa một tranh chấp ra khởi kiện chính thức tại WTO

Tóm lại, chương 1 đã khái quát được những nền căn bản về WTO, quá trình gia

nhập của Trung Quốc và sự hình thành của cơ chế giải quyết tranh chấp mới của Tổ chức này Các quy định của WTO về tranh chấp thương mại quốc tế và về hàng hóa nói chung đã được làm rõ, thông qua tóm tắt về những cam kết của Trung Quốc và Việt Nam đối với WTO về thương mại hàng hóa Việc nghiên cứu chi tiết những kinh nghiệm của Trung Quốc về giải quyết tranh chấp thương mại hàng hóa trong WTO là một bài học giá trị, không chỉ riêng với Thành viên của WTO - các Chính phủ, mà còn đặc biệt có ý nghĩa đối với các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu Qua đó có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp, đồng thời biến Việt Nam thành một môi trường lành mạnh để đầu tư và kinh doanh thuận lợi Công bằng, hiệu quả, nhanh chóng là những kết quả cuối cùng của mỗi nước đều muốn đạt được đối với các tranh chấp diễn ra Dựa trên những cơ sở tổng quan vừa trình bày trong chương 1, tác giả thông qua chương 2 sẽ

đi sâu vào nghiên cứu và phân tích chi tiết tình hình giải quyết tranh chấp về thương mại hàng hóa trong WTO của Trung Quốc, đi đến những bình luận, nhận xét cụ thể, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong thời gian tới

Trang 34

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THƯƠNG MẠI

HÀNG HÓA CỦA TRUNG QUỐC TRONG WTO 2.1 Thực trạng giải quyết tranh chấp về thương mại hàng hóa của Trung Quốc trong WTO

2.1.1 Về số lượng các vụ tranh chấp

Tính tới thời điểm tháng 04/2012, WTO đã và đang giải quyết được tổng số 434 tranh chấp giữa các Thành viên Vụ việc đầu tiên được đưa ra xét xử là DS01 - Singapore kiện Malaixia về lệnh cấm nhập khẩu đối với Polyethylene và Polypropylene vào ngày 10/01/1995 Trong số 434 tranh chấp xảy ra trên, với tư cách Thành viên WTO, Trung Quốc có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới tổng cộng 122 tranh chấp, trong đó số tranh chấp về thương mại hàng hóa lên tới 112 vụ Chỉ trong vòng 10 năm gia nhập, mà Trung Quốc đã tham gia tới hơn 28,1% tổng

số tranh chấp như vậy, có thể cho thấy mức độ hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp đối với quốc gia này Đặc biệt, tỉ lệ gần 91,8% (112 trong tổng 122 tranh chấp) thuộc về lĩnh vực thương mại hàng hóa, cũng chứng tỏ rằng thương mại hàng hóa

đã và đang là lĩnh vực gây nhiều tranh cãi, có khả năng xảy ra nhiều vi phạm nhất giữa các quốc gia Bảng 2.1 dưới đây có thể tóm tắt rõ nhất những con số “biết nói” này

Bảng 2.1: Số tranh chấp các loại được giải quyết theo Cơ chế giải quyết tranh

chấp của WTO (tính tới tháng 04/2012) Lĩnh vực

tranh chấp

Thương mại hàng hóa

Thương mại dịch vụ Sở hữu trí tuệ Tổng

Trung Quốc 112 7 3 122

Tỉ lệ (%) 29,2 31,8 10,7 28,1

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ www.wto.org (WTO, 2012)

Ngoài ra, còn có thể so sánh với một số quốc gia khác gia nhập cùng khoảng thời gian trước Trung Quốc không lâu để sự so sánh được rõ nét hơn Các Thành viên này gồm: Albani, Croatia, Gergia, Jordan, Oman (gia nhập WTO năm 2000), Lithuania và Cộng hòa Mondova (gia nhập WTO năm 2001) Tất cả các nước đã kể

Trang 35

đây đều chưa tham gia vào bất cứ một tranh chấp nào theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, ngoại trừ Croatia có 1 tranh chấp, và Cộng hòa Moldova tham gia 2 tranh chấp

Qua số liệu đã tóm lược, tác giả rút ra được 3 kết luận: Thứ nhất, Trung Quốc là

một nước có nền kinh tế thương mại phát triển mạnh mẽ, có sự giao thương với nhiều quốc gia trên thế giới Sự giao thương rộng khắp này dẫn tới khả năng va

chạm, xảy ra tranh chấp giữa Trung Quốc với các Thành viên khác tăng cao; Thứ

hai, Trung Quốc là một Thành viên tích cực trong WTO, luôn nỗ lực chứng tỏ vị

thế của mình, không ngại tham gia các tranh chấp, khiến các nước khác khó có thể

dùng áp lực để “xử ép” được quốc gia này; Thứ ba, thương mại hàng hóa luôn là

lĩnh vực gây ra nhiều tranh chấp nhất trong cả phạm vi WTO nói chung và đối với Trung Quốc nói riêng

Để làm rõ hơn sự tích cực của Trung Quốc trong việc tham gia quá trình giải quyết các tranh chấp theo cơ chế của WTO, biểu đồ dưới đây sẽ tóm lược số vụ tranh chấp về thương mại hàng hóa có liên quan tới Trung Quốc qua các năm

Hình 2.1: Biểu đồ số tranh chấp về thương mại hàng hóa có liên quan tới Trung Quốc được giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

là nguyên đơn hoặc bị đơn

Số tranh chấp

Năm

Trang 36

Tính trung bình, mỗi năm Trung Quốc có liên quan tới hơn 8 tranh chấp thuộc lĩnh vực thương mại hàng hóa trong WTO Nhìn chung, các tranh chấp diễn ra liên tục, ngoại trừ năm 2001 Trung Quốc không hề tham gia hay liên quan tới một tranh chấp nào Năm 2001 là năm Trung Quốc phải dồn toàn bộ lực để hoàn thiện thủ tục, các đàm phán để trở thành Thành viên chính thức của WTO Đồng thời, qua biểu đồ

2.2 có thể phát hiện ra hai điểm khá “thú vị” về Trung Quốc: Thứ nhất, vào thời

điểm năm 2000, ngay cả khi chưa là Thành viên chính thức của WTO, Trung Quốc

đã tham gia vào 2 tranh chấp với tư cách bên thứ ba Một vụ là DS207 - Achentina kiện Chile về hệ thống dải giá và biện pháp tự vệ liên quan tới hàng nông sản, và DS212 - EC kiện Hoa Kỳ về các biện pháp chống trợ cấp đối với một số sản phẩm nhập khẩu từ EC Sự chủ động này còn được thể hiện rõ hơn ở các năm liền sau đó,

giai đoạn 2002 - 2005 Thứ hai, từ kinh nghiệm rút được ở giai đoạn trước, Trung

Quốc ngày càng mạnh dạn đưa các tranh chấp ra WTO và theo kiện ở tư cách nguyên đơn hoặc bị đơn, điển hình cao nhất là năm 2009 với 7 tranh chấp Sự lớn mạnh của Trung Quốc khiến nhiều nước để ý, và đưa kiện Trung Quốc cũng nhiều hơn Có thể tóm lại, Trung Quốc đã và đang là một Thành viên tích cực sử dụng hiệu quả cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

2.1.2 Về đối tƣợng gây tranh chấp

Trong các Hiệp định được các bên trích dẫn khi có tranh chấp xảy ra, Hiệp định

về các biện pháp trợ cấp và biện pháp đối kháng được sử dụng nhiều nhất Số liệu

từ bảng dưới đây có thể cho thấy được điều này Các vi phạm chủ yếu xoay quanh vấn đề trợ cấp, chống bán phá giá (chiếm hơn một nửa số tranh chấp xảy ra) Những vấn đề chi tiết được viện dẫn ra ở mỗi Hiệp định sẽ được xem xét, nghiên cứu cụ thể hơn trong Mục 2 của chương này

Các quy định trong GATT 1994, đến nay vẫn đã và đang là nguồn được trích dẫn nhiều nhất Trong trường hợp đặc biệt của Trung Quốc, toàn bộ số tranh chấp đều

có liên quan tới Hiệp định này Có thể lí giải điều này bởi 2 lí do: Một là, GATT

1994 vẫn còn 1 số điểm chưa hoàn thiện, dẫn đến tình trạng các nước có cách hiểu

và áp dụng khác nhau trong quá trình vận dụng quy định Hai là, tuy hiểu rõ sự vi

phạm đó nhưng một số nước lại cố tình vi phạm các quy định nhằm mục đích trục lợi cho nền kinh tế trong nội địa Thiết nghĩ, dù vì lí do nào thì việc mỗi Thành

Trang 37

viên, trong đó có Việt Nam, chủ động nghiên cứu các điều khoản, quy định, Hiệp định đồ sộ của WTO mới có thể tránh được những tranh chấp không đáng xảy ra

Bảng 2.2: Các Hiệp định được trích dẫn trong các tranh chấp thương mại hàng

hóa của Trung Quốc (tính tới tháng 04/2012) Hiệp định Số vụ Tên tranh chấp

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ www.wto.org (WTO, 2012)

Đồng thời, một thực tế dễ nhận thấy, Trung Quốc cũng tương đồng với Việt Nam

về điểm mạnh trong xuất khẩu các sản phẩm thô, nông sản, hoặc những hàng hóa có quá trình gia công tận dụng được nguồn nhân lực giá rẻ Số liệu thống kê bảng 2.4 trên cho thấy các tranh chấp về thương mại hàng hóa của Trung Quốc chủ yếu xoay quanh các mặt hàng sản phẩm công nghiệp, gồm: Thép, phụ tùng ô tô, mạch tích hợp, lốp xe, giày da, giấy, Một số ít sản phẩm nông nghiệp như gia cầm, tôm cũng

có 2 tranh chấp liên quan Mặt khác, cũng dễ dàng nhận ra rằng, các bất đồng liên quan đến mọi mặt hàng đều có thể xảy ra bất cứ lúc nào Tuy nhiên, tùy theo thế mạnh xuất nhập khẩu của mỗi nước cũng như sự tuân thủ của Thành viên đó về các quy định trong WTO về sự đối xử công bằng của các nước mới quyết định việc bất đồng đó có dẫn đến tranh chấp hay không Ngay cả những “ông lớn” như Hoa Kỳ hay EU vẫn lạm dụng lợi thế của mình để bảo hộ nền sản xuất trong nước, gây sức

ép cho sản phẩm tương tự xuất xứ từ các nước đang phát triển như Trung Quốc hay

Trang 38

Việt Nam

Bảng 2.3: Đối tượng trong các tranh chấp về thương mại hàng hóa của Trung

Quốc (tính tới tháng 04/2012) Đối tượng Số vụ Tên vụ

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ www.wto.org (WTO, 2012)

Các biện pháp liên quan tới việc hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô của Trung Quốc luôn gặp sự phản đối của các nước lớn, gồm Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản Từ đó

đã kéo theo một số nước khác cũng kiện Trung Quốc với cùng nội dung Có thể nhận thấy, xét về các đối tượng hàng hóa, mặt hàng thường xuyên liên quan tới tranh chấp của Trung Quốc là các sản phẩm công nghiệp, các hàng hóa chiểm tỉ trọng xuất khẩu lớn sang các nước khác Đây là những lĩnh vực trong tương lai có thể Việt Nam sẽ trở thành một địa điểm sản xuất chuyên môn, nên bài học rút ra từ trường hợp của Trung Quốc sẽ càng giá trị hơn bao giờ hết đối với các doanh nghiệp Việt Nam

2.1.3 Về tư cách trong các vụ tranh chấp

Trong lịch sử tham gia các tranh chấp về thương mại hàng hóa của WTO tới nay,

có tất cả 3/4 số này (84 tranh chấp) mà Trung Quốc chỉ tham gia với tư cách bên thứ ba Số còn lại, 28 tranh chấp Trung Quốc giữ tư cách nguyên đơn hoặc bị đơn,

Trang 39

phân bổ đều qua các năm Bảng tóm tắt dưới đây sẽ trình bày số lượng các tranh chấp theo tư cách của đối phương thời gian qua

Bảng 2.4: Số tranh chấp của Trung Quốc về thương mại hàng hóa trong WTO

phân theo tư cách của các Thành viên (tính tới tháng 04/2012)

Nhóm

nước

Tư cách

Các nước phát triển

Các nước đang phát triển

Tổng Hoa

Kì EU Canada

Nhật Bản Mexico Guatemala Nguyên đơn 9 5 1 1 3 1 20

Bị đơn 6 2 0 0 0 0 8 Tổng 15 7 1 1 3 1 28

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ www.wto.org (WTO, 2012)

Đến nay, WTO vẫn luôn được coi là diễn đàn của các nước lớn, và điều này vẫn đúng khi nhìn từ phía Trung Quốc nói riêng Khi mà số lần Trung Quốc bị các nước phát triển kiện ra WTO gần gấp rưỡi con số đó khi Trung Quốc chủ động làm nguyên đơn (16 tranh chấp là bị đơn so với 8 tranh chấp là nguyên đơn) Mặt khác, nếu chỉ nhìn vào số liệu này, chúng ta thấy các nước đang phát triển (Mexico và Guatemala) cũng từng xảy ra tranh chấp với Trung Quốc Tuy nhiên, khi nghiên cứu sâu hơn, dễ dàng nhận thấy thực ra các tranh chấp này là một chuỗi do chính các nước phát triển khởi kiện trước, với “thuận đà” đó, các nước đang phát triển này mới mạnh dạn kiện Trung Quốc lên WTO Thực tiễn này sẽ còn được phân tích sâu hơn trong phần các tranh chấp điển hình trong phần sau của chương 2 bài Khóa luận này

Từ bảng 2.4 nêu trên, một thực tế khác cũng được phản ánh, số lượng các nước Trung Quốc thực sự có tranh chấp khá hạn chế, chỉ gồm có 6 nước Hoa Kỳ dẫn đầu

về số tranh chấp, kế theo là EU - mà tiền thân là EC và các nước Canada, Nhật Bản, Mexico, Guatemala Trung Quốc là một nước đang phát triển nhưng ở trình độ cao, việc tham gia các tranh chấp như vậy là một bài học lớn cho các nước đang phát triển khác Theo một thống kê năm 2010, Trung Quốc đứng thứ 7 trong số các Thành viên thường đưa các tranh chấp ra WTO (Phạm Thị Quỳnh Trang, 2011) và

Trang 40

là quốc gia tiêu biểu cho nhóm nước đang phát triển, đi đầu về việc dẫn chứng, lập luận, đưa ra các lý lẽ bảo vệ mình qua từng tranh chấp Hoa Kỳ là quốc gia lớn, có nhiều tranh chấp xảy ra trong WTO nhất, và với trường hợp Trung Quốc, kết luận này vẫn đúng Có tới 24 trong tổng 28 tranh chấp là xoay quanh nhóm nước phát triển, điều này cho thấy thực tế khó khăn mà có thể sắp tới Việt Nam cũng sẽ gặp phải Giao thương càng lớn, khối lượng giao dịch càng cao, nguy cơ bị kiện hoặc phải chủ động khởi kiện cũng lớn hơn với mỗi nước

2.1.4 Về mức độ tuân thủ trong các vụ tranh chấp

2.1.4.1 Về việc chấp hành thủ tục giải quyết tranh chấp

Nhìn chung, theo cơ chế mới của WTO, việc các bên phải bắt buộc ngồi lại tham vấn với nhau trước khi thành lập Ban hội thẩm để xét xử đã tạo điều kiện cho Trung Quốc và bên còn lại có cơ hội chủ động thương lượng, hòa giải Qua đó, đôi bên tìm được giải pháp cùng có lợi cho cả hai, giúp giải quyết các mâu thuẫn nhanh chóng Trong số 28 vụ tranh chấp với tư cách nguyên đơn hoặc bị đơn, có thể tóm lược qua biểu đồ dưới đây về tình hình chấp hành thủ tục tranh chấp của các bên

Hình 2.2: Biểu đồ tình hình giải quyết các tranh chấp về thương mại hàng hóa

của Trung Quốc trong WTO (tính tới tháng 04/2012)

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ www.wto.org (WTO, 2012)

Cũng theo các phân tích đã làm rõ ở các mục trước, Trung Quốc tham gia tranh chấp thương mại hàng hóa với tư cách hoặc nguyên đơn hoặc bị đơn nhiều nhất là

Ngày đăng: 12/07/2016, 21:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ quy trình và thời gian giải quyết tranh chấp thương mại quốc - Kinh nghiệm của TQ về giải quyết tranh chấp TMHH trong WTO
Hình 1.1 Sơ đồ quy trình và thời gian giải quyết tranh chấp thương mại quốc (Trang 20)
Bảng 2.1: Số tranh chấp các loại đƣợc giải quyết theo Cơ chế giải quyết tranh - Kinh nghiệm của TQ về giải quyết tranh chấp TMHH trong WTO
Bảng 2.1 Số tranh chấp các loại đƣợc giải quyết theo Cơ chế giải quyết tranh (Trang 34)
Hình 2.1: Biểu đồ số tranh chấp về thương mại hàng hóa có liên quan tới  Trung Quốc đƣợc giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO - Kinh nghiệm của TQ về giải quyết tranh chấp TMHH trong WTO
Hình 2.1 Biểu đồ số tranh chấp về thương mại hàng hóa có liên quan tới Trung Quốc đƣợc giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (Trang 35)
Bảng 2.2: Các Hiệp định được trích dẫn trong các tranh chấp thương mại hàng - Kinh nghiệm của TQ về giải quyết tranh chấp TMHH trong WTO
Bảng 2.2 Các Hiệp định được trích dẫn trong các tranh chấp thương mại hàng (Trang 37)
Bảng 2.4: Số tranh chấp của Trung Quốc về thương mại hàng hóa trong WTO - Kinh nghiệm của TQ về giải quyết tranh chấp TMHH trong WTO
Bảng 2.4 Số tranh chấp của Trung Quốc về thương mại hàng hóa trong WTO (Trang 39)
Hình 2.2: Biểu đồ tình hình giải quyết các tranh chấp về thương mại hàng hóa - Kinh nghiệm của TQ về giải quyết tranh chấp TMHH trong WTO
Hình 2.2 Biểu đồ tình hình giải quyết các tranh chấp về thương mại hàng hóa (Trang 40)
Bảng  2.7  dưới  đây  sẽ  thống  kê  tình  hình  giải  quyết  các  tranh  chấp  thương  mại  hàng hóa của Trung Quốc qua từng năm - Kinh nghiệm của TQ về giải quyết tranh chấp TMHH trong WTO
ng 2.7 dưới đây sẽ thống kê tình hình giải quyết các tranh chấp thương mại hàng hóa của Trung Quốc qua từng năm (Trang 42)
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình hoạch định chính sách của Việt Nam - Kinh nghiệm của TQ về giải quyết tranh chấp TMHH trong WTO
Hình 3.1 Sơ đồ quy trình hoạch định chính sách của Việt Nam (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w