Quỏ trỡnh đổi mới tỏc động đến làng nghề một cỏch sõu rộng bởi tớnh chất kinh tế hàng húa của nú như: ỏp dụng kỹ thuật, cụng nghệ vào quy trỡnh sản xuất, sự thay đổi về cụng năng sử dụng
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo bộ văn hóa thể thao và du lịch
Viện văn hóa nghệ thuật việt nam
Trang 2Viện Nghiên cứu Văn hóa
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Viện
Tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam
32 Hào Nam, Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội
Vào hồi:… giờ… , ngày… tháng…… năm 2013
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tớnh cấp thiết của đề tài
Việt Nam cho đến thời điểm hiện nay, về cơ bản vẫn là xó hội nụng nghiệp
mà làng nghề được coi là một kiểu làng điển hỡnh Quỏ trỡnh đổi mới tỏc động đến làng nghề một cỏch sõu rộng bởi tớnh chất kinh tế hàng húa của nú như: ỏp dụng
kỹ thuật, cụng nghệ vào quy trỡnh sản xuất, sự thay đổi về cụng năng sử dụng của cỏc sản phẩm thủ cụng, sự thay đổi mức sống, vấn đề lao động việc làm, mụi trường… Đặc biệt, quỏ trỡnh này khụng chỉ tỏc động đến đời sống xó hội mà cũn làm biến đổi về văn húa như: biến đổi tõm lý cộng đồng làng nghề, cơ cấu tổ chức
và văn húa làng nghề truyền thống… Sự biến đổi này đó và đang ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xó hội đương đại Vỡ vậy, nghiờn cứu biến đổi văn húa làng nghề trong thời kỳ đổi mới là điều hết sức cần thiết và cấp bỏch
2 Mục đớch nghiờn cứu
- Phõn tớch, đỏnh giỏ thực trạng biến đổi của văn húa làng nghề ở chõu thổ sụng Hồng trong thời kỳ đổi mới qua nghiờn cứu trường hợp 3 làng nghề Sơn Đồng (Hoài Đức, Hà Tõy cũ), Bỏt Tràng (Gia Lõm, Hà Nội) và Đồng Xõm (Kiến Xương, Thỏi Bỡnh)
- Đề xuất một số giải phỏp bảo tồn và phỏt huy cỏc giỏ trị văn húa của cỏc làng nghề, nhằm gúp phần giỳp cỏc làng nghề phỏt triển bền vững trong điều kiện phỏt triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ và hội nhập quốc tế
3 Phương phỏp nghiờn cứu
3.1 Phương phỏp nghiờn cứu
Luận ỏn sử dụng một cỏch kết hợp và linh hoạt cỏc phương phỏp nghiờn cứu của nhiều ngành khoa học, trong đú tuỳ theo nhiệm vụ giải quyết vấn đề ở từng mục, từng chương, mà ỏp dụng từng phương phỏp cụ thể với cỏch tiếp cận chủ đạo, bờn cạnh sự hỗ trợ của cỏc phương phỏp khỏc mang tớnh liờn ngành Cú 4 loại phương phỏp được sử dụng như sau: Phương phỏp nghiờn cứu văn húa dõn gian; phương phỏp nghiờn cứu dõn tộc học, nhõn học; phương phỏp nghiờn cứu lịch sử; phương phỏp nghiờn cứu xó hội học
3.2 Thao tỏc nghiờn cứu
Tổng hợp và phõn tớch văn bản; Quan sỏt tham dự; Phỏng vấn nhúm và phỏng vấn sõu cỏ nhõn tại 3 làng nghề Sơn Đồng (Hà Tõy cũ), Đồng Xõm (Thỏi Bỡnh) và Bỏt Tràng (Hà Nội); Điều tra xã hội học (Tổng số phiếu chưa qua xử lý
là 600 phiếu, sau khi làm sạch (xử lý bước 1), kết quả cũn 504 phiếu với cơ cấu giới tớnh 290 nam/214 nữ); Thống kê thực trạng văn hoá làng nghề tại 61 thuộc 3 huyện Hoài Đức, Gia Lõm và Kiến Xương
4 Đúng gúp của luận ỏn
Một là, luận án làm sáng tỏ các khái niệm làng nghề, văn hóa làng nghề, biến đổi văn hóa làng nghề Hai là, trên cơ sở nghiên cứu 3 làng nghề Sơn Đồng, Bát Tràng (Hà Nội), Đồng Xâm (Thái Bình) và đối chiếu so sánh với 61 làng
Trang 4nghề thuộc 3 huyện Hoài Đức, Gia Lâm, Kiến Xương, luận án đã phân tích thực trạng biến đổi văn hóa làng nghề ở châu thổ sông Hồng trên các phương diện: 1/ Biến đổi không gian, cảnh quan và di tích, 2/ Biến đổi hình thức tổ chức sản xuất, kỹ thuật chế tác và sản phẩm, 3/ Biến đổi phương thức truyền nghề và giữ gìn bí quyết nghề nghiệp, 4/ Biến đổi quan niệm và quan hệ xã hội, 5/ Biến đổi tín ngưỡng, lễ hội và phong tục tập quán Ba là, luận án đưa ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự biến đổi văn hóa làng nghề, đồng thời chỉ ra quy luật và
xu hướng biến đổi của văn hóa làng nghề trước tác động của kinh tế thị trường Bốn là, luận án đã đưa ra những giải pháp mang tính ứng dụng khả thi giúp cho các nhà quản lý có cơ sở lý luận và thực tiễn để hoạch định chính sách hợp lý cho sự phát triển của văn hóa làng nghề ở châu thổ sông Hồng trong giai đoạn hiện nay
5 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu
5.1 Đối tượng
Luận án tập trung nghiên cứu sự biến đổi các thành tố cơ bản trong văn hóa
làng nghề ở vùng châu thổ sông Hồng
5.2 Phạm vi nghiờn cứu
Về khụng gian: Luận ỏn tập trung nghiờn cứu về sự biến đổi văn húa làng nghề tại
3 làng nghề Sơn Đồng (huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tõy cũ), Bỏt Tràng (huyện Gia Lõm,
Hà Nội) và Đồng Xõm (huyện Kiến Xương, tỉnh Thỏi Bỡnh) Đồng thời nghiờn cứu so sỏnh, đối chiếu mở rộng với 61 làng nghề tại 3 huyện Hoài Đức, Gia Lõm và Kiến Xương để cú được số liệu cụ thể minh chứng cho sự biến đổi của văn húa làng nghề ở chõu thổ sụng Hồng
Về thời gian: Luận án tiến hành khảo sát, nghiên cứu và đánh giá sự biến đổi
văn hóa làng nghề ở châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay)
6 Cấu trỳc của luận ỏn
Ngoài phần mở đầu (7 trang), kết luận (3 trang), tài liệu tham khảo (10 trang), phụ lục (107 trang), nội dung của luận án được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận (25 trang)
Chương 2 Biến đổi các thành tố trong văn hoá làng nghề ở làng Sơn Đồng, Bát Tràng và Đồng Xâm từ năm 1986 đến nay (76 trang)
Chương 3 Bảo tồn và phát triển văn hóa làng nghề ở châu thổ sông Hồng (38 trang)
Chương 1 TỔNG QUAN TèNH HèNH NGHIấN CỨU VÀ CƠ SỞ Lí LUẬN
1 Tổng quan tỡnh hỡnh nghiờn cứu
1.1.1 Những cụng trỡnh nghiờn cứu về làng nghề và văn hoỏ làng nghề ở chõu thổ sụng Hồng
Cỏc tư liệu thành văn và truyền miệng ở nước ta cú rất nhiều ghi chộp về
làng nghề và nghề cổ truyền Trong cuốn Người nụng dõn chõu thổ Bắc Kỳ của
Trang 5tỏc giả P.Gourou, ụng đó dành hẳn 1 chương viết về cụng nghiệp làng xó Cụng
trỡnh Sơ khảo lịch sử phỏt triển thủ cụng nghiệp Việt Nam của tỏc giả Phan Gia
Bền đó đưa ra những định nghĩa về thủ cụng nghiệp, thợ thủ cụng mà đến nay, cỏc nhà nghiờn cứu vẫn đang sử dụng hoặc đưa ra làm tiền đề cho những nghiờn cứu của mỡnh Sau năm 1975, cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về làng thường sử dụng phương phỏp mụ tả dõn tộc học Các học giả đã đưa ra những định nghĩa về làng nghề thủ cụng, đặt vị trớ làng nghề trong diễn trỡnh lịch sử văn hoỏ Việt Nam và đưa ra một số quan điểm phỏt triển làng nghề
1.1.2 Những cụng trỡnh nghiờn cứu về biến đổi văn húa làng nghề trong thời kỳ đổi mới:
Năm 1979, dựa trờn nghiờn cứu về một xó trong thời kỳ hợp tỏc hoỏ, hai tỏc giả người Bỉ là Francois Houtart và Genevieve Lemercinier đó đưa ra lý thuyết phỏt triển nụng thụn về cỏc xó hội quỏ độ như ở Việt Nam qua cụng trỡnh Hải Võn
- một xó ở Việt Nam Một số cụng trỡnh ỏp dụng cỏc phương phỏp liờn ngành của nhiều ngành khoa học khỏc như: xó hội học, dõn tộc học, để đưa ra những đặc
trưng của làng Việt trong thời điểm hiện tại như: cụng trỡnh Làng ở vựng chõu thổ
sụng Hồng: Vấn đề cũn bỏ ngỏ của tỏc giả Phillippe Papin - Ollivier Tessier (chủ
biờn), Tõm lý cộng đồng làng xó và di sản của Đỗ Long, Trần Hiệp, tỏc giả Mai Văn Hai – Phan Đại Doón với cụng trỡnh Quan hệ dũng họ ở chõu thổ sụng Hồng,
Sự biến đổi của làng xó Việt Nam hiện nay, Tụ Duy Hợp (chủ biờn) và cuốn sỏch Đời sống văn hoỏ ở nụng thụn đồng bằng sụng Hồng và sụng Cửu Long của tỏc
giả Phan Hồng Giang (chủ biờn)
Tỏc giả Dương Bỏ Phượng với cụng trỡnh Bảo tồn và phỏt triển cỏc làng
nghề trong quỏ trỡnh cụng nghiệp húa (2001), Phỏt triển làng nghề truyền thống trong quỏ trỡnh cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ (2003) của tỏc giả Mai Thế Hởn, Làng nghề Việt Nam và mụi trường (2005) của tỏc giả Đặng Kim Chi (chủ biờn)
đó cho chỳng ta thấy cỏc nhõn tố ảnh hưởng đến sự phỏt triển của cỏc làng nghề, tiềm năng và sự vận động của nú trong nền kinh tế thị trường, đồng thời đưa ra
phương hướng bảo tồn và phỏt triển làng nghề truyền thống Cụng trỡnh Làng
nghề thủ cụng huyện Thanh Oai (Hà Nội) truyền thống và biến đổi của tỏc giả
Bựi Xuõn Đớnh nghiờn cứu chuyờn sõu về sự biến đổi làng nghề của huyện Thanh Oai, tỡm ra được nguyờn nhõn khỏch quan, chủ quan dẫn đến sự biến đổi, chỉ ra được vấn đề phỏt sinh trong quỏ trỡnh đổi mới của đất nước
1.1.3 Những cụng trỡnh nghiờn cứu về 3 làng nghề Sơn Đồng, Bỏt Tràng
và Đồng Xõm
Cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về làng nghề gỗ (tạc tượng) Sơn Đồng: Những cụng trỡnh nghiờn cứu, bài viết về làng nghề Sơn Đồng khụng nhiều Cụng trỡnh
phải kể đến đầu tiờn đú là “Tượng Sơn Đồng (Hà Nội)” in trong kỷ yếu Những
phỏt hiện mới về khảo cổ học năm 1979 của tỏc giả Nguyễn Duy Hinh, sau đú là
bài viết “Từ một vài trũ diễn trong lễ – hội làng ’’ của học giả Trần Từ in trong
Tạp chớ NCVHNT số (3) năm 1991 Cỏc tỏc giả khỏc như Nguyễn Xuõn Nghị,
Trang 6Vũ Thị Thanh Tâm, Trương Duy Bích và Nguyễn Thị Hương Liên và gần đây nhất là Nguyễn Thanh Hương đã có những nghiên cứu chuyên sâu về một số khía cạnh của làng nghề Sơn Đồng như: sản phẩm, lễ tục, cách thức hoạt động nghề hiện nay
Các công trình nghiên cứu về làng nghề gốm Bát Tràng: Làng Bát Tràng là một trong những làng nghề nổi tiếng nhất của vùng châu thổ sông Hồng Vì vậy,
đã có rất nhiều nghiên cứu chuyên sâu về làng nghề này dưới nhiều góc độ khác nhau Một trong những người gần như đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về làng nghề Bát Tràng từ trước giải phóng là tác giả Phan Huy Lê và Nguyễn Tuyết Đào
với công trình Hồ sơ khảo sát Bát Tràng năm 1973 Sau đó là các tác giả Phan
Đại Doãn, Nguyễn Đình Chiến, Phan Huy Lê và Đỗ Thị Hảo đã có những nghiên cứu mang tính toàn diện về sản phẩm gốm, văn hoá truyền thống làng nghề Các công trình nghiên cứu về làng nghề chạm bạc Đồng Xâm: Trước năm
1986 đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về làng nghề chạm bạc Đồng Xâm như:
Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ của P.Gourou, Công nghệ mới Việt Nam (1938)
của tác giả Phương Nam, “Kết hợp nông nghiệp và thủ công nghiệp ở Thái Bình” của tác giả Vũ Công Thao Từ sau đổi mới, các bài viết thường tập trung nghiên cứu về phát triển kinh tế, làng nghề Đồng Xâm: “Nông thôn Thái Bình những vấn
đề trăn trở” của tác giả Nguyễn Đức Hợp, “Sản xuất hàng hóa tiểu thủ công nghiệp
Thái Bình” của hai tác giả Vũ Oanh và Phạm Quốc Sử Nghiên cứu về quy trình và văn hoá làng nghề Đồng Xâm có các tác giả Trương Hằng, Trương Duy, Phạm Đức Duật, Nguyễn Thanh, Đào Hồng, Đỗ Thị Tuyết Nhung
Tóm lại, từ những cuốn sách ghi chép lại lịch sử của nhà nước phong kiến cho đến các công trình nghiên cứu thời cận, hiện đại về làng nghề và sự biến đổi của nó, đã cho chúng ta một cái nhìn lịch đại về vị trí và vai trò của làng nghề trong diễn trình lịch sử Mỗi công trình cho dù tiếp cận theo góc độ kinh tế, địa
lý, lịch sử hay văn hóa đều cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về đặc trưng và tính chất của làng nghề Đồng thời, cho chúng ta thấy được sự vận hành của thủ công nghiệp trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường Từ sự chuyển đổi này dẫn đến kéo theo một loạt hệ lụy đó là sự biến đổi của xã hội nông thôn hiện nay
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Biến đổi văn hoá
Có rất nhiều quan điểm lý thuyết liên quan đến vấn đề biến đổi xã hội như: Thuyết Tiến hóa văn hóa (đại diện là E.Taylor, L.Morgan), thuyết Vùng văn hóa (đại
diện là C.L.Wissler, A.L Kroeber), thuyết Tiếp biến văn hóa (đại diện là Redfield, Broom), thuyết Chức năng (đại diện là Brown, Malinowski)… Nhìn chung, các lý
thuyết về biến đổi xã hội đều có những điểm tương đồng và khác biệt Với thuyết duy chức năng, chức năng mới của các nhóm xã hội chính là kết quả của quá trình biến đổi xã hội, còn thuyết xung đột thừa nhận xã hội có nhu cầu biến đổi để xã hội hay nhóm xã hội có thể hoạt động tốt hơn trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể Công trình
Trang 7Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay của tác giả Nguyễn Thị Phương Châm đã
khái quát được hầu hết các quan điểm về biến đổi xã hội, biến đổi văn hoá của các học giả nước ngoài trong thời gian gần đây Công trình này còn nhắc đến tác giả Louise S.Spindler với quan điểm nghiên cứu biến đổi văn hóa ở “ba cấp độ phân tích (văn hóa, xã hội, cá nhân) Tính biến đổi song hành cùng với tính bền bỉ của văn hóa” Thực tế cho thấy, những biến đổi văn hóa là kết quả của các yếu tố chính trị, kinh tế, kỹ thuật công nghệ mới và tiếp xúc giao lưu văn hóa Biến đổi văn hoá diễn
ra theo hai xu hướng: Xu hướng thích ứng và xu hướng bảo thủ Trong nội hàm của khái niệm biến đổi văn hoá còn bao chứa các khái niệm chuyển đổi, tiếp biến, thay
đổi… Biến đổi văn hoá chịu sự tác động của các yếu tố kinh tế, chính trị, kỹ thuật
công nghệ mới và giao lưu văn hoá Những nhân tố này làm biến đổi các thành tố văn hoá, biến đổi cấu trúc văn hoá Mặt khác, văn hoá cũng có tính độc lập tương
đối vì thế song hành với quá trình biến đổi lại là quá trình tái cấu trúc Đây chính là
một trong những tiền đề về lý thuyết để luận án đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về biến đổi văn hoá làng nghề ở châu thổ sông Hồng từ năm 1986 đến nay
1.2.2 Biến đổi văn hoá làng nghề
1.2.2.1 Làng nghề: Có rất nhiều học giả đã đưa ra định nghĩa về làng nghề,
kế thừa những định nghĩa đó, chúng tôi đưa ra định nghĩa về làng nghề mang
tính công cụ của luận án như sau: Làng nghề: là những làng trước đây sống dựa
vào sản xuất nông nghiệp, do điều kiện khách quan nào đó (nguồn nguyên liệu, thổ nhưỡng, vị trí địa lý thuận lợi, nghề phụ có thị trường tiêu thụ trên bình diện vùng, miền ) nên đã chuyển sang sản xuất các sản phẩm thủ công mang tính chuyên biệt nhưng vẫn không tách khỏi nông nghiệp Làng có đội ngũ thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên, có quy trình, bí quyết làm nghề nhất định Những mặt hàng do thợ thủ công sản xuất ra có tính thẩm mỹ và có thị trường tiêu thụ rộng lớn (Ngoài ra, có một số làng nghề hình thành do đặc thù riêng
mà không gắn với nông nghiệp)
1.2.2.2 Văn hoá làng nghề: Dưới đây là các thành tố cấu thành văn hoá
làng nghề sẽ được chúng tôi tiến hành triển khai nghiên cứu:
Văn hoá làng: + Văn hóa vật thể: Diện mạo làng xã, đình, đền, miếu, chùa, nhà thờ họ ; + Văn hóa phi vật thể: Ứng xử (quan hệ gia đình, dòng họ, phe giáp…), tín ngưỡng, lễ hội, phong tục tập quán
Văn hóa nghề: + Văn hóa vật thể: Nơi thờ tổ nghề, nhà ở của thợ thủ công ; + Văn hóa phi vật thể: Quy trình và sản phẩm của nghề thủ công, tâm lý cộng đồng làng nghề, tín ngưỡng thờ tổ nghề, tập tục riêng biệt của làng nghề…
1.2.2.3 Biến đổi văn hoá làng nghề
Khi nghiên cứu các tài liệu viết về văn hoá nghề ở Châu Âu và Hoa Kỳ, chúng tôi thấy rằng, do đã trải qua thời kỳ tiền tư bản từ rất lâu nên nghề thủ công ở các nước phương Tây chủ yếu tập trung ở thành thị và các trung tâm lớn nên chủ yếu những nghiên cứu này là nghiên cứu truyện kể, bài hát, kỹ xảo và phong tục nghề Có ý kiến khác cho rằng, ở các nước phương Tây, người ta chỉ
Trang 8nghiờn cứu một vài thành tố trong văn hoỏ nghề Ở Việt Nam nghề thủ cụng gắn
liền với làng xó – nờn khi nghiờn cứu văn hoỏ làng nghề trước tiờn phải nghiờn cứu văn hoỏ làng bởi văn hoỏ làng được coi là nền tảng cũn văn húa nghề là nhõn tố quyết định cho sự hỡnh thành nờn đặc trưng của văn hoỏ làng nghề
Trờn thực tế, cỏc thành tố văn húa làng và văn húa nghề tồn tại hũa quyện đan xen với nhau, cú sự tỏc động tương hỗ Để tiến hành nghiờn cứu vấn đề mà đề tài đặt ra, chỳng tụi đó tiến hành nghiờn cứu sự biến đổi cỏc thành tố trong văn hoỏ làng nghề để thấy rừ được sự vận hành, quy luật biến đổi của cỏc thành tố này trong toàn bộ cấu trỳc của nú
Tiểu kết
Các công trình nghiên cứu trước đây đã cho chúng ta có cái nhìn tổng quan
về tình hình nghiên cứu mà đề tài luận án đã đặt ra Các công trình này tiếp cận vấn
đề cần nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng khi quy chiếu trong không gian và thời gian thì hầu hết mọi nghiên cứu đều trong trạng thái tĩnh với cấu trúc khá ổn định, nhất đối với các công trình nghiên cứu về làng nghề Kế thừa thành tựu của các nhà khoa học đi trước, đồng thời dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu, chúng tôi đã đưa ra các khái niệm như: làng nghề, văn hoá làng nghề, biến đổi văn hoá làng nghề làm khái niệm mang tính công cụ để triển khai nghiên cứu “Sự biến đổi văn hoá làng nghề ở châu thổ sông Hồng từ năm 1986 đến này” (Qua khảo sát trường hợp một số làng: Sơn Đồng (Hà Tây), Bát Tràng (Hà Nội), Đồng Xâm (Thái Bình))
Chương 2 biến đổi các thành tố trong văn hoá làng nghề
ở làng sơn đồng, Bát tràng và đồng xâm
từ năm 1986 đến nay 2.1 Bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội tác động đến các làng nghề từ năm 1986 đến nay
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, làng nghề Sơn Đồng gần như ngừng hoạt động và quay trở lại với sản xuất nụng nghiệp Hiện nay, Sơn Đồng cú 731
hộ chuyờn làm nghề tạc tượng và làm đồ thờ thu hỳt hơn 4000 thợ thủ cụng trong làng và hơn 1000 lao động tại cỏc địa phương khỏc đến học nghề và làm cụng Thu nhập của nghề chiếm khoảng 75% tổng doanh thu toàn xó Làng nghề Sơn Đồng với quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển được coi là một đại diện điển hỡnh cho một làng nghề đó bị mai một hoàn toàn, tự phục hồi trong nền kinh tế thị trường
Làng nghề Bỏt Tràng cú hướng phỏt triển khỏc so với Sơn Đồng Là một làng nghề lõu đời nờn quỏ trỡnh sở hữu tư nhõn được hỡnh thành rất sớm, mỗi hộ gia đỡnh
là một đơn vị sản xuất độc lập Mặc dự trong thời kỳ bao cấp, cỏc lũ gốm tư nhõn phải ra nhập hợp tỏc xó nhưng về thực chất cỏc hộ gia đỡnh vẫn tự làm trờn chớnh lũ gốm của mỡnh Vỡ vậy, sau khi cú chớnh sỏch đổi mới, cỏc hộ gia đỡnh vẫn dựa trờn
Trang 9nền tảng này để phỏt triển nghề gốm truyền thống Hiện nay, Bỏt Tràng cú 1013 hộ gia đỡnh làm nghề, trong đú 2/3 số hộ cú lũ đốt, mỗi lũ tớnh trung bỡnh từ 5 đến 10 thợ thủ cụng, cú những hộ số lượng thợ lờn đến cũn số hàng trăm, chủ yếu là những người ở nơi khỏc đến làm thuờ cụng nhật Bỏt Tràng cú khoảng 40 doanh nghiệp trong đú 40% vừa sản xuất vừa kinh doanh, cũn lại 60% chỉ kinh doanh mặt hàng gốm sứ
Từ năm 1995 trở lại đõy, nghề chạm bạc Đồng Xõm cú nhiều biến đổi Thu nhập của người làm nghề tăng nhanh, quy mụ sản xuất cũng được mở rộng, mỏy múc kỹ thuật ứng dụng nhiều hơn Trước đõy nghề chạm bạc Đồng Xõm đó xuất hiện ở cỏc xó Trà Giang, Lờ Lợi nhưng vào thời điểm này nghề chạm bạc của xó Lờ Lợi cũn phỏt triển mạnh mẽ hơn cả xó Hồng Thỏi Từ năm 2005 đến năm 2009 mức độ tăng trưởng của nghề ở Đồng Xõm cú dấu hiệu tụt giảm Đõy cũng là một trong sự chuyển đổi mang tớnh chất quyết định về kinh tế đối với làng nghề Đồng Xõm
Kinh tế phỏt triển kộo theo sự thay đổi về mức sống vật chất của người dõn trong cỏc làng nghề Khi so sỏnh biểu đồ mức sống ở Sơn Đồng với Đồng Xõm thỡ số lượng hộ nghốo và hộ giàu từ năm 2005 đến năm 2009 giảm, cũn những
hộ trung bỡnh và hộ khỏ lại tăng lờn Biểu đồ mức sống tại Bỏt Tràng cho thấy sự phỏt triển tịnh tiến: làng khụng cú hộ nghốo từ năm 2005, trong vũng 5 năm trở lại đõy, số lượng hộ giàu tăng lờn đỏng kể từ 19,45% lờn đến 29,23% Điều này cũng phản ỏnh khỏ đỳng với thực tế Bỏt Tràng từ năm 2005 đến nay đó ỏp dụng khỏ tốt cụng nghệ kỹ thuật mới vào sản xuất gốm, đặc biệt là thay thế lũ hộp bằng lũ ga, một mặt là giảm được ụ nhiễm mụi trường, mặt khỏc sản phẩm làm
ra chất lượng tốt hơn, giỏ thành giảm Đõy là một trong những tiền đề quan trọng cho sự phỏt triển của làng nghề này
Túm lại, từ cơ chế quản lý cũ chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xó hội chủ nghĩa, kinh tế làng nghề ở chõu thổ sụng Hồng trong những năm đổi mới cú nhiều biến đổi theo chiều hướng tớch cực, bắt đầu thớch ứng với nền kinh
tế thị trường Nhiều làng nghề truyền thống được phục hồi và nhiều làng nghề mới được hỡnh thành: mở rộng về quy mụ sản xuất, thu hỳt, giải quyết được một số lượng lớn lực lượng lao động ở nụng thụn, đổi mới cải tiến kỹ thuật, từng bước đem lại cuộc sống ổn định và sung tỳc cho người thợ thủ cụng… Nhưng mặt khỏc lại cú những làng do khụng bắt kịp với nền kinh tế thị trường nờn nghề đó bị mai một…
2.2 Biến đổi các thành tố trong văn hoá làng nghề ở làng Sơn Đồng, Bát Tràng và Đồng Xâm
2.2.1 Biến đổi không gian, cảnh quan và di tích
2.2.1.1 Không gian và cảnh quan làng nghề
Cũng giống như cỏc làng nghề khỏc, nhà ở của người thợ Sơn Đồng cũng là nơi sản xuất Trước đõy, diện tớch đất ở chỉ bú gọn trong thụn Nội và thụn Ngoại, đường làng nhỏ, hẹp, rất khú khăn cho việc vận chuyển gỗ – vật liệu chớnh của làng nghề Hiện nay, diện tớch đất thổ cư được mở rộng, cỏc hộ làm nghề chuyển dần ra phớa
Trang 10ngoài đường cái, đặc biệt tập trung đông nhất là khu vực ngã tư Sơn Đồng (nằm trên đường 32 đi trạm Trôi) Nhưng mặt khác, khi đi vào sâu trong làng, đường làng, cổng các xóm, nhà thờ họ hay nhà cổ đều được bảo lưu khá nguyên vẹn Người dân chính gốc làng nghề nếu có tiền vẫn sửa chữa những ngôi nhà cổ chứ không đập nhà
cũ để xây nhà mới (ví dụ như nhà thờ của dòng họ Nguyễn Viết, Nguyễn Trung) Điều này là một điểm khác biệt hẳn so với các làng khác
Làng Bát Tràng là một làng nghề cổ ven đô, do không có quỹ đất nên mỗi
hộ gia đình tính trung bình chỉ có khoảng 200 mét vuông đất vừa để ở, vừa để sản xuất Lò gốm cũng được xây dựng luôn ở sân hoặc ngay trong nhà, đường làng lầy lội, toàn bùn đất do quá trình vận chuyển than và hàng hoá nên diện mạo cảnh quan làng nghề không được chỉnh chu Trong vòng 10 năm trở lại đây, diện mạo làng nghề bắt đầu có những thay đổi đáng kể theo chiều hướng tích cực Do thiếu không gian sống và sản xuất nên tốc độ xây dựng nhà cao tầng ở Bát Tràng tăng tương đối nhanh so với các làng khác
Làng Đồng Xâm do không phải chịu sức ép của quá trình đô thị hóa nên sự thay đổi về diện mạo làng xã không quá nhanh như Sơn Đồng và Bát Tràng nhưng cũng có những thay đổi đáng kể Nhà cửa được xây dựng khang trang, đường làng hầu hết được đổ bê tông hoặc dải nhựa Các nhà làm nghề thường ở phía ngoài mặt đường vừa tiện cho việc sản xuất và bán hàng (gần giống với khu vực 36 phố phường xưa với phía trong nhà là nơi sản xuất, phía ngoài là nơi buôn bán)
2.2.1.2 Di tÝch – c¬ héi trïng tu vµ t«n t¹o
Sơn Đồng lưu giữ được một hệ thống di tích kiến trúc cổ bao gồm: đình, đền, chùa, lăng miếu, từ đường của các dòng họ Từ sau năm 1986 đến nay, cụm di tích này được dân làng trùng tu và sửa chữa 5 lần vào những năm 1990,
1995, 2000, 2005, 2010 Kinh phí để trùng tu sửa chữa chủ yếu là do người dân đóng góp theo xuất đinh, theo xóm và theo dòng họ, có những năm số tiền đóng góp lên đến cả tỷ đồng Tuy là làng nghề nhưng những người thợ thủ công lại đóng góp không nhiều bằng những người không làm nghề
Hệ thống di tích đình, đền, chùa, văn chỉ ở Bát Tràng trong vòng 10 năm trở lại đây được tôn tạo rất khang trang và quy củ Trước đây, đình làng chỉ là một ngôi miếu nhỏ, cho đến đầu những năm 1990 đình làng bị xuống cấp trầm trọng, cả ngôi đình to đẹp chỉ còn lại phần hậu cung Năm 1992, dân làng tự huy động vốn để xây lại cổng đình, năm 1993 làm lại toà đại bái, năm 1998 sửa chữa hậu cung Nhưng những sửa chữa và xây mới này có những bất cập bởi nhận thức chưa thấu đáo của người dân khi tôn tạo di tích Vì vậy, đến năm 2004, dân làng Bát Tràng quyết định xây lại ngôi đình theo đúng như kiến trúc cổ Tổng kinh phí đầu tư để xây dựng đình lên đến 4,2 tỉ, phần kinh phí làm cửa võng, ngai, kiệu bên trong đình lên đến gần 4 tỉ chưa kể hoành phi, câu đối Các di tích như Văn chỉ, chùa Am, đền thờ Quế Hoa công chúa và các nhà thờ họ trong làng cũng được tu sửa thường xuyên với nguồn kinh phí khá lớn
Trang 11Làng Đồng Xâm có hệ thống di tích đồ sộ vào bậc nhất của tỉnh Kiến Xương Quần thể di tích này bao gồm: đền Đồng Xâm, đền thờ tổ nghề chạm bạc Nguyễn Kim Lâu, chùa Thượng Gia (Kim Tiên tự), đền Bà và chùa Thượng Hoà Đền Đồng Xâm và đền thờ tổ nghề đều được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1991 Năm 2008, tiền thu được từ việc công đức khi tổ chức
lễ hội đền Đồng Xâm lên đến con số 584 triệu đồng Số tiền này sau khi trừ chi phí, UBND xã Hồng Thái quyết định tu sửa quần thể di tích của làng Khi tu sửa
di tích, số kinh phí này không đủ, dân làng đã đóng góp số tiền lên tới cả tỉ đồng
Qua đây, chúng ta thấy rằng, kinh tế làng nghề phát triển không những đời sống vật chất của người thợ thủ công được nâng lên, mà các di tích lịch sử văn hóa cũng được người dân chú trọng tu bổ Như vậy, rõ ràng kinh tế làng nghề là yếu tố tiên quyết cho việc người dân quan tâm đến những vấn đề tâm linh
2.2.2 Biến đổi hình thức tổ chức sản xuất, kỹ thuật chế tác và sản phẩm
Phường hội thủ công ở các làng nghề hiện nay: Làng nghề chạm bạc Đồng
Xâm và Bát Tràng trước đây là hai phường nghề có những quy định hết sức chặt chẽ từ việc học nghề, truyền nghề đến giỗ tổ nghề Hiện nay, phường nghề thủ công truyền thống đã không còn mà thay thế vào đó là Hiệp hội làng nghề với chức năng và nhiệm vụ mới Như vậy, khi làng nghề phát triển đến một mức độ nhất định thì nhu cầu tất yếu là phải có sự liên kết để cùng phát triển Hội nghề hay hiệp hội các làng nghề hiện nay tuy không có những quy định chặt chẽ như phường/hội thủ công trước đây nhưng đã và đang phát huy hết khả năng theo yêu cầu mới của nền kinh tế thị trường
Để thích ứng với điều kiện kinh tế xã hội mới, người thợ thủ công đã bước đầu vận dụng tốt tất cả các loại hình sản xuất kinh doanh của nền kinh tế thị trường để phát triển làng nghề như: Hợp tác xã, tổ hợp sản xuất, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình Nhưng
số liệu thực tế lại minh chứng, số lượng các hình thức tổ chức sản xuất mới này
chưa đủ sức làm thay thế cho hộ gia đình, điều này cũng đồng nghĩa với việc
nền kinh tế thị trường chưa thể làm thay đổi tư duy tiểu nông của người thợ thủ
công trong các làng nghề ở châu thổ sông Hồng hiện nay
Làng nghề Sơn Đồng, Đồng Xâm quy trình sản xuất không thay đổi nhiều so với trước đây Một số khâu trong quy trình làm nghề đã được cơ giới hóa nhằm giảm bớt sức lao động cho người thợ Ở Bát Tràng, quy trình sản xuất gốm trong thời điểm hiện tại đã có nhiều thay đổi Những thay đổi này chính là sự thích ứng,
sự năng động sáng tạo của làng nghề Đây cũng chính là điểm khác biệt về đặc trưng, tính chất, con đường phát triển của 3 làng nghề trong thời kỳ kinh tế thị trường và hội nhập: Sơn Đồng càng duy trì quy trình truyền thống, sản phẩm truyền thống bao nhiều thì nghề càng phát triển bấy nhiêu Đồng Xâm duy trì quy trình truyền thống nhưng sản xuất trên chất liệu mới, phù hợp với nhu cầu thực tế Bát Tràng đổi mới về công nghệ, thích ứng với nhu cầu thực tế