1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo, hà tĩnh

114 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, để KKT cửa khẩu quốc tế Cầu Treo phát triển bền vững, là một trong tám KKT trọng điểm của cả nước thì việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về hải quan đối với hàng hó

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

- -

LÝ TRỌNG NGỌC

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỀ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA ĐƯA VÀO, ĐƯA RA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU QUỐC TẾ CẦU TREO –

HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

- -

LÝ TRỌNG NGỌC

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỀ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA ĐƯA VÀO, ĐƯA RA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU QUỐC TẾ CẦU TREO –

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về Hải quan

đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo – Hà

Tĩnh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu trong đề tài này được thu thập và sử dụng một cách trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn nào và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác trước đây

Tác giả

Lý Trọng Ngọc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn tôi nhận được rất nhiều

ý kiến, sự động viên, giúp đỡ từ các đồng nghiệp là CBCC Chi cục Hải quan KKT cửa khẩu Cầu Treo và Ban quản lý Khu kinh tế Cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo Hà Tĩnh

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô, Khoa đào tạo sau Đại học Trường Đại học Nha Trang đã dạy dỗ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu làm nền tảng cho việc thực hiện luận văn này Đặc biệt, tôi xin gửi l ờ i c ả m ơ n chân thành tới Tiến sĩ Đỗ Thị Thanh Vinh là người đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo để tôi có thể hoàn tất luận văn

Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Cục Hải quan Hà Tĩnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian theo học khóa học và hoàn thiện luận văn này

Cuối cùng, tôi cũng xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp, các doanh nghiệp trong Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo đã giúp tôi trả lời đầy đủ câu hỏi khảo sát làm nguồn dữ liệu cho việc phân tích và cho ra kết quả nghiên cứu của luận văn cao học này

Tác giả

Lý Trọng Ngọc

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NỘI DUNG CƠ BẢN CÔNG TÁC QUẢN LÝ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA ĐƯA VÀO, ĐƯA RA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU QUỐC TẾ 6

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý Hải quan đối với Khu kinh tế cửa khẩu 6

1.1.1 Tổng quan về Khu kinh tế cửa khẩu 6

1.1.2 Hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu 11

1.1.3 Quản lý Hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra Khu kinh tế cửa khẩu 12

1.2 Các chính sách quản lý hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế 16

1.2.1 Các qui định hiện hành 16

1.2.2 Quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế 17

1.3 Kinh nghiệm trong và ngoài nước quản lý hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế 20

1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về Quản lý hải quan đối với hàng hóa qua KKTCK 20

1.3.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 24

1.3.3 Bài học cho Chi cục Hải quan Khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA ĐƯA VÀO, ĐƯA RA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU QUỐC TẾ CẦU TREO TẠI CHI CỤC HẢI QUAN KKT CỬA KHẨU CẦU TREO – HÀ TĨNH 29

2.1 Tổng quan về Khu kinh tế và Chi Cục Hải quan KKT cửa khẩu Cầu Treo – Hà Tĩnh 29

Trang 6

2.1.1 Tổng quan về Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo – Hà Tĩnh 29

2.1.2 Khái quát về Chi Cục Hải quan KKT cửa khẩu Cầu Treo – Hà Tĩnh 31

2.2 Thực trạng hoạt động hàng hóa đưa vào, đưa ra Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo 33

2.2.1 Tổng quan về Hàng hóa đưa vào, đưa ra Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo 33

2.2.2 Tăng trưởng khối lượng Hàng hóa đưa vào, đưa ra KKTCK Quốc tế Cầu Treo 35

2.3 Thực trạng công tác quản lý hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra KKTCK quốc tế tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Cầu Treo – Hà Tĩnh 39

2.3.1 Các chính sách quản lý Nhà nước về Hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra KKTCK Quốc tế 39

2.3.2 Quy trình và nội dung quản lý của Chi cục Hải quan khẩu Cầu Treo đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra 41

2.3.3 Tình hình thực hiện nhiệm vụ quản lý hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra của Chi cục Hải quan cửa khẩu Cầu Treo giai đoạn 2010-2014 43

2.4 Điều tra khảo sát ý kiến các doanh nghiệp đánh giá công tác quản lý hàng hóa đưa vào, đưa ra của Chi cục Hải quan Khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo 53

2.4.1 Phương pháp điều tra khảo sát 53

2.4.2 Kết quả điều tra – Thảo luận 55

2.5 Đánh giá chung 62

2.5.1 Thành tích đạt được 62

2.5.2 Những mặt còn hạn chế và nguyên nhân 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71

CHƯƠNG 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỀ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA ĐƯA VÀO, ĐƯA RA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU QUỐC TẾ CẦU TREO TẠI CHI CỤC HẢI QUAN KHU KINH TẾ CỬA KHẨU CẦU TREO – HÀ TĨNH 72

3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 72

3.1.1 Quan điểm và mục tiêu quản lý về Hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra KKTCK 72

3.1.2 Dự báo phát triển hàng hóa đưa vào, đưa ra KKT cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo 74

Trang 7

3.2 Một số giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý về Hải quan

đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra KKT Cửa Khẩu Cầu Treo 75

3.2.1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách và cải cách thủ tục hành chính 75

3.2.2 Nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức cho cán bộ Hải quan 77

3.2.3 Tuyên truyền, hỗ trợ pháp luật cho doanh nghiệp và cộng đồng dân cư 80

3.2.4 Giải pháp đẩy mạnh công tác thu thập xử lý thông tin quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông quan đối với đưa ra, đưa vào KKT 81

3.2.5 Tăng cường chống buôn lậu và gian lận thương mại 83

3.2.6 Nâng cao hiệu quả công tác thanh khoản 84

3.2.7 Xây dựng quy chế phối hợp giữa các đơn vị Hải quan quản lý Khu kinh tế cửa khẩu 85

3.2.8 Hiện đại hóa cơ sở vật chất cho ngành Hải quan 85

3.3 Một số kiến nghị 87

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á BTC : Bộ Tài chính

CBCC : Cán bộ công chức CEPT : Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung

DN : Doanh nghiệp GDP : Tổng sản phẩm quốc nội GTGT : Giá trị gia tăng

HQCK : Hải quan cửa khẩu KCN : Khu công nghiệp KCX : Khu chế xuất KKT : Khu kinh tế KKTCK : Khu kinh tế cửa khẩu NSNN : Ngân sách nhà nước SXKD : Sản xuất kinh doanh TTHC : Thủ tục hành chính WTO : Tổ chức thương mại thế giới XNC : Xuất nhập cảnh

XNK : Xuất nhập khẩu

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Hình 2.1 Trụ sở chi cục Hải quan cửa khẩu Cầu Treo 31

Biểu đồ 2.1 Kim ngạch XNK qua KKTCK quốc tế Cầu Treo 35

Biểu đồ 2 2 Thực trạng quản lý tờ khai thuế tại Chi cục Hải quan KKT cửa khẩu Cầu Treo 44

Biểu đồ 2 3 Công tác quản lý rủi ro tại Chi cục Hải quan KKT cửa khẩu Cầu Treo 46

Biểu đồ 2.4 Thống kê về sản phẩm được XNK 56

Biểu đồ 2.5 Công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại 60

Bảng 2 1 Kim ngạch XNK qua KKTCK quốc tế Cầu Treo giai đoạn 2010-2014 34

Bảng 2.2 Hàng hóa từ nội địa vào Khu kinh tế 36

Bảng 2.3 Hàng hóa từ nước ngoài vào Khu kinh tế 38

Bảng 2.4 Công tác quản lý khai thuế tại Chi cục Hải quan cảng Vũng Áng 43

Bảng 2.5 Công tác quản lý phân luồng tờ khai để quản lý rủi ro 45

Bảng 2.6 Kết quả thu thuế qua Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo 48

Bảng 2.7 Số liệu miễn thuế, hoàn thuế, không thu thuế tại Chi cục Hải quan Khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo từ 2010 đến 2014 50

Bảng 2.8 Công tác báo cáo thanh khoản xuất – nhập – tồn kho 50

Bảng 2 9 Kết quả hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại tại Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo 53

Bảng 2.10 Ý nghĩa giá của trị trung bình trong phân tích thống kê mô tả 55

Bảng 2 11 Thống kê về lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp 55

Bảng 2.12 Hình thức đăng ký khai thuế của doanh nghiệp 57

Bảng 2.13 Quy mô của doanh nghiệp 57

Bảng 2.14 Đánh giá công tác quản lý thuế 58

Bảng 2.15 Đánh giá công tác giám sát báo cáo thanh khoản 59

Bảng 2.16 Đánh giá công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại 61

Bảng 3.1 Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu qua KTCK Cầu Treo đến năm 2020 75

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc ra đời và phát triển các Khu kinh tế (KKT) cửa khẩu ở Việt Nam phù hợp với quan điểm đổi mới, hội nhập, phát triển của Đảng và Nhà nước ta Khi đi vào hoạt động, các Khu kinh tế cửa khẩu đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế, hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư trong và ngoài nước đảm bảo các bên tham gia hoạt động kinh tế, thương mại, dịch vụ đầu tư đều hưởng lợi Việc xây dựng, phát triển bền vững các KKT cửa khẩu tác động tích cực về thị trường, sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, kích thích sản xuất và tăng tính cạnh tranh cho các sản phẩm hàng hóa, đồng thời tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế mới theo hướng tích cực, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng nông nghiệp trong tổng GDP, giải quyết tốt việc làm cho người lao động; tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế nhất là với các nước trong khu vực Đông Nam Á

KKT cửa khẩu quốc tế Cầu Treo - Hà Tĩnh được thành lập theo quyết định 162/2007/QĐ/TTg ngày 19/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ mục đích nhằm đẩy mạnh thông thương giữa Việt Nam với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, các vùng đông bắc Thái Lan, thúc đẩy kinh tế phía Tây Hà Tĩnh và các tỉnh Bắc Trung Bộ KKT cửa khẩu quốc tế Cầu Treo được xác định là loại hình khu phi thuế quan, với định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực: Thương mại, du lịch, dịch vụ và công nghiệp chế biến, gia công lắp ráp hàng dân dụng Vì vậy, để KKT cửa khẩu quốc tế Cầu Treo phát triển bền vững, là một trong tám KKT trọng điểm của cả nước thì việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra tại đây là một yêu cầu cấp bách, là nhiệm vụ trọng tâm của ngành Hải quan nói chung và của Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh nói riêng trong giai đoạn hiện nay Do đó,

việc chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về Hải quan đối với hàng hóa

đưa vào, đưa ra Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo – Hà Tĩnh” vừa có ý nghĩa

về mặt lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong giai đoạn đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội từ nay cho đến các năm tiếp theo

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra tại KKT cửa khẩu quốc tế Cầu Treo – Hà Tĩnh nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; khuyến khích và tạo điều

Trang 11

kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư, hoạt động xuất nhập khẩu phát triển mạnh mẽ và đúng hướng, tạo sự công bằng, bình đẳng cho các đối tượng khi tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư và xuất nhập khẩu

Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, luận văn đã thực hiện một số mục tiêu cu thể sau:

- Phân tích thực trạng công tác quản lý về Hải quan đối với hàng hóa đưa ra, đưa vào KKT cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo – Hà Tĩnh tại trong giai đoạn 2010 - 2014, tìm ra những mặt còn hạn chế trong công tác này

- Thông qua điều tra khảo sát ý kiến các doanh nghiệp để tìm hiểu những vấn đề còn tồn tại, bất cập trong công tác quản lý về Hải quan đối với hàng hóa đưa ra, đưa vào Khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo – Hà Tĩnh

- Đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hải quan tại địa bàn Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo - Hà Tĩnh trong giai đoạn tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Phân tích các vấn đề liên quan đến công tác quản lý hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra KKT cửa khẩu quốc tế Cầu Treo - Hà Tĩnh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý Hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra KKT cửa khẩu quốc tế Cầu Treo - Hà Tĩnh; đối với việc sử dụng, lưu thông hàng hóa trong Khu kinh tế và xuất sang nước thứ 3

4 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu của đề tài dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, khách quan, toàn diện, lịch sử khi xem xét các vấn đề

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tác giả đã sử dụng tổng hợp các

phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, mô tả;

phương pháp phân tích và tổng hợp

Ngoài ra, để có thể đánh giá một cách khách quan về hoạt động quản lý hàng hóa

đưa vào, đưa ra KKT, tác giả cũng sử dụng phương pháp chuyên gia (thông qua hình thức phỏng vấn trực tiếp và thảo luận nhóm) và phương pháp điều tra khảo sát để thu

thập ý kiến của các doanh nghiệp về những hạn chế bất cập trong các chính sách quản

lý hàng hóa của Hải quan Việt nam nói chung và của Chi cục Hải quan KKT cửa khẩu Cầu Treo nói riêng

Trang 12

Phương pháp thu thập thông tin :

Các dữ liệu thứ cấp được tác giả thu thập từ các website, số liệu thống kê của cơ quan quản lý, của Chi cục hải quan KKT cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, sách báo, tạp chí…) Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phỏng vấn 9 chuyên gia và điều tra khảo sát 112 doanh nghiệp thuộc KKTCK Cầu Treo

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

- Về mặt lý luận: Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hải quan đối

với hàng hóa đưa vào, đưa ra KKT (công tác kiểm tra giám sát, quản lý thuế lý thuế,

sở hữu trí tuệ, cải cách hành chính ) trong tiến trình hội nhập, phát triển, hiện đại hóa hải quan

- Về ý nghĩa thực tiễn: Nâng cao hiệu quả công tác quản lý hải quan đối với hàng

hóa đưa vào, đưa ra KKT cửa khẩu quốc tế Cầu Treo - Hà Tĩnh nhằm phát huy vai trò, chức năng nhiệm vụ quản lý hàng hóa đưa vào, đưa ra KKT cửa khẩu quốc tế Cầu Treo góp phần duy trì ổn định, kích thích phát triển thương mại, du lịch và dịch vụ trong KKT

6 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Khu kinh tế cửa khẩu là mô hình mới ở Việt Nam, được Nhà nước áp dụng thí điểm năm 1996, đến nay đã gần 20 năm, tuy nhiên hoạt động của các KKT cửa khẩu

và cơ chế quản lý của nhà nước vẫn chưa hoàn thiện Đã có một số đề tài nghiên cứu được công bố và một số bài viết trên các tạp chí kinh tế nhưng số lượng không nhiều

và chỉ đánh giá chung hoặc về một số khía cạnh riêng lẻ như tình hình hoạt động, cơ chế quản lý…Trong đó có một số nghiên cứu như:

- Trần Kim Chung (2001) - Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương - chủ

nhiệm đề tài nghiên cứu “Đánh giá việc áp dụng một số cơ chế, chính sách về khu

kinh tế cửa khẩu trong những năm qua và định hướng cho giai đoạn tiếp theo” [8]

Nội dung đề tài chủ yếu nghiên cứu vấn đề áp dụng cơ chế chính sách và phát triển giao lưu kinh tế tại khu vực các cửa khẩu biên giới đất liền phía Bắc, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị về cơ chế chính sách và phát triển giao lưu kinh tế tại khu vực các cửa khẩu biên giới đất liền phía Bắc

- Nguyễn Mạnh Hùng (2000), Chủ biên tài liệu “Vai trò, vị trí, lý thuyết về

khuyến khích đầu tư thương mại vào các khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam” [10], đã đề

cập đến nhiều nội dung liên quan đến phát triển KKTCK, đánh giá vai trò, thực trạng

Trang 13

phát triển thương mại tại các KKTCK, sự cần thiết phải phát triển thương mại tại các KKTCK; qua đó đề xuất các cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích đầu tư thương mại vào các KKTCK Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến các chính sách khác liên quan đến đầu tư vào KKTCK như chính sách xây dựng kết cấu hạ tầng trong KKTCK, chính sách thu hút đầu tư, chính sách phát triển các ngành dịch vụ, du lịch trong KKTCK

- Nguyễn Minh Hiếu (2001), “Một số vấn đề kinh tế cửa khẩu Việt Nam trong

quá trình hội nhập” [11], đã nêu được các khái niệm như khái niệm KKTCK, các nhân

tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các khu KKTCK, nêu lên được một số

mô hình và động thái vận hành của các KKTCK, những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển KKTCK như ô nhiễm môi trường, kết cấu hạ tầng, kỹ thuật, nhân lực Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Minh Hiếu chưa đánh giá vai trò của KKTCK mang lại cho phát triển kinh tế - xã hội, như góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động

- Luận văn thạc sỹ của tác giả Bùi Văn Thịnh (2003) "Tăng cường quản lý Nhà

nước bằng pháp luật trong lĩnh vực Hải quan ở Việt Nam hiện nay” tại trường Đại học

Luật Hà Nội [14] Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực Hải quan từ năm 1999 đến năm 2002; phân tích thực trạng, rút

ra điểm mạnh, hạn chế của công tác này từ đó đề xuất kiến nghị các nhóm giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực Hải quan ở Việt Nam đến năm 2010

- Đề tài nghiên cứu của Nguyễn Thị Mẫn - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2007) “Thực

trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh các khu kinh tế cửa khẩu [12] Đề tài chủ yếu nghiên cứu hoạt động kinh doanh tại một số khu kinh tế cửa

khẩu và tác động của việc phát triển khu kinh tế cửa khẩu đến đời sống cư dân biên giới cũng như đưa ra một số vướng mắc trong hoạt động kinh doanh tại KKTCK; quan

hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước có chung đường biên giới

- Năm 2009, tác giả Nguyễn Quốc Anh đã nghiên cứu đề tài “Phát triển khu kinh

tế cửa khẩu ở Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ kinh tế tại trường Đại học Kinh tế quốc

dân [1] Đề tài tập trung nghiên cứu lợi ích và sự cần thiết phát triển KKTCK, phân tích thực trạng và nêu ra những bất cập trong khu vực này từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển các KKTCK

Trang 14

- Luận văn thạc sỹ của Trần Thị Minh Châu (2014) “Quản lý nhà nước của Hải

quan Hà Tĩnh tại Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo” [6], trên cơ sở hệ thống hóa

các vấn đề lý luận về quản lý nhà nước và quan điểm phát triển các Khu kinh tế cửa khẩu của nhà nước, đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý của Hải quan

Hà Tĩnh; xu hướng phát triển của Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, phát hiện những mặt bất cập, hạn chế và nguyên nhân của chúng từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước của Hải quan Hà Tĩnh tại Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo

Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu về công tác quản lý về Hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo – Hà Tĩnh thì chưa được tác giả nào thực hiện trong thời gian qua trong khi cơ chế chính sách liên quan để thực hiện quản lý nhà nước đối với các Khu kinh tế cửa khẩu có nhiều thay đổi Luận văn của tác giả không có sự trùng lắp với các công trình nghiên cứu trước đây

7 Dự kiến kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận văn bao gồm:

Chương 1: Tổng quan về công tác quản lý hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra

Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra

Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo tại Chi cục Hải quan Khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo – Hà Tĩnh

Chương 3: Nâng cao hiệu quả công tác hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra

Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo tại Chi cục Hải quan Khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo – Hà Tĩnh

Trang 15

CHƯƠNG 1 NỘI DUNG CƠ BẢN CÔNG TÁC QUẢN LÝ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA ĐƯA VÀO, ĐƯA RA KHU KINH TẾ CỬA

KHẨU QUỐC TẾ

1.1 Cơ sở lý luận về quản lý Hải quan đối với Khu kinh tế cửa khẩu

1.1.1 Tổng quan về Khu kinh tế cửa khẩu

1.1.1.1 Khái niệm

Cửa khẩu, được hiểu là cửa ngõ của một quốc gia mà nơi đó diễn ra các hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và qua lại biên giới quốc gia đối với người, phương tiện, hàng hoá và các tài sản khác Cửa khẩu có thể thiết lập

ở đường bộ, ga hàng không, đường thuỷ, đường sắt liên thông với các nước trong khu vực và trên thế giới [10]

Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và

kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định KKT được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, KCX, KCN, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng KKT

Khu kinh tế tự do là tên gọi chung cho các KKT đặc biệt được thành lập trong

một hay nhiều quốc gia nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước bằng các biện pháp

ưu đãi đặc biệt

Khu phi thuế quan là khu vực địa lý có ranh giới xác định, được ngăn cách với

lãnh thổ bên ngoài bằng hàng rào, có cổng và cửa ra vào bảo đảm điều kiện cho sự kiểm soát của cơ quan Hải quan và các cơ quan chức năng có liên quan, có cơ quan Hải quan giám sát, kiểm tra hàng hoá và phương tiện ra vào khu Khu phi thuế quan thuộc KKT, KKTCK bao gồm: Khu bảo thuế, KKT thương mại đặc biệt, khu thương mại công nghiệp, khu thương mại tự do và các khu có tên gọi khác được thành lập tuỳ theo từng nước, có quan hệ mua bán trao đổi hàng hoá giữa khu này với bên ngoài (nội địa) là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu [10]

Khu hợp tác kinh tế biên giới (Khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới) là mô hình

KKTCK đặc biệt, liên kết hai quốc gia, tạo ra vùng lãnh thổ đặc thù, hai bên có thể

Trang 16

thoả thuận bằng một hiệp ước, theo đó chỉ ra vùng lãnh thổ hợp lý, có hàng rào, không

có dân cư sinh sống

Hiện nay, thuật ngữ KKTCK được sử dụng trong nhiều văn bản của các cơ quan quản lý nhà nước, trong các văn kiện hội thảo, trong các đề tài, bài viết nghiên cứu về KKTCK Nhiều khái niệm về KKTCK đã được nêu ra như:

Khu kinh tế cửa khẩu là khu vực giới hạn bởi địa giới hành chính nhất định, gắn

với cửa khẩu tạo một không gian kinh tế xác định, được áp dụng những cơ chế, chính sách phát triển riêng, phù hợp với đặc điểm của khu vực nhằm thu hút đầu tư, vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, giao lưu kinh tế, thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp giữa hai nước và trên địa bàn [10] Cho đến nay, nhiều cơ sở lí thuyết liên quan đến kinh tế cửa khẩu được đề cập, đúc kết thế nhưng khái niệm khu kinh tế cửa khẩu vẫn chưa có sự thống nhất cao từ các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tùy thuộc vào điều kiện hình thành và phát triển đặc thù của nước mình

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong đề án quy hoạch phát triển KKTCK Việt

Nam đến năm 2020 cho rằng: “Khu kinh tế cửa khẩu là một loại hình KKT, lấy giao

lưu kinh tế biên giới qua cửa khẩu (cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính) làm nòng cốt, có ranh giới xác định, được thành lập bởi cấp có thẩm quyền, có cơ chế hoạt động riêng, mô hình quản lý riêng và có quan hệ chặt chẽ với khu vực xung quanh và nội địa phía sau” [5]

Từ góc độ nghiên cứu khoa học, tác giả Phan Huy Đường cho rằng “Khu kinh tế

cửa khẩu là một không gian kinh tế xác định, gắn với cửa khẩu có dân cư hoặc không

có dân cư sinh sống và được thực hiện những cơ chế, chính sách phát triển riêng, phù hợp với đặc điểm đó nhằm đưa lại hiệu quả kinh tế xã hội cao hơn” [9]

Khu kinh tế cửa khẩu là địa bàn bao gồm một cửa khẩu biên giới (cửa khẩu quốc

tế hoặc cửa khẩu quốc gia) và một khu vực liền kề bao quanh khu vực cửa khẩu biên giới, được tổ chức, khai thác, sử dụng vào các hoạt động giao lưu kinh tế qua biên giới, được áp dụng các chính sách riêng về thương mại, XNK, XNC, du lịch, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, xây dựng kết cấu hạ tầng, quản lý tài chính, tiền tệ và phát triển xã hội

Những khái niệm về KKTCK còn có sự khác biệt ở điểm này hay điểm khác, tuy nhiên đều thống nhất ở các nội dung cơ bản như sau: KKTCK được xác định là một

Trang 17

không gian kinh tế, tại các cửa khẩu đều diễn ra các hoạt động kinh tế có quan hệ với quốc gia có cùng chung biên giới và nội địa phía sau Dưới góc độ kinh tế, KKTCK được xem là trung tâm giao lưu kinh tế quốc tế, là động lực thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại Đặc trưng hoạt động kinh tế của KKTCK là thương mại, XNK, dịch vụ, đầu

tư, xây dựng, gia công chế biến ; KKTCK được cấp có thẩm quyền thành lập và quản

lý bằng cơ chế, chính sách riêng phù hợp với điều kiện cụ thể Từ những nội dung trên,

có thể nhận dạng, định hình được KKTCK, phân biệt được KKTCK với các loại KKT khác như đã nêu trong phần khái niệm

Từ việc kế thừa các khái niệm về KKTCK của các tác giả đã nghiên cứu trước và

phân tích nội hàm các khái niệm, theo tác giả, “Khu kinh tế cửa khẩu là một không

gian kinh tế xác định, gắn với cửa khẩu, được cấp có thẩm quyền ra quyết định thành lập, được áp dụng các chính sách riêng để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, giao lưu kinh tế, thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp giữa hai nước, nhằm thu lợi ích từ hội nhập, đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội gắn với bảo vệ an ninh biên giới”

Ở Việt Nam, KKTCK là một hoạt động có từ lâu, được hình thành trong quá khứ với các nước lân bang, nhưng quy mô và tầm ảnh hưởng to lớn của nó chỉ mới thể hiện

rõ nét trong thời gian gần đây, nhất là khi nước ta hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Một điều dễ thấy là muốn phát triển kinh tế, khơi dậy các tiềm năng (nhân lực, vị trí địa lí, tài nguyên, thông tin,…) phong phú của các tỉnh biên giới, thu hút các nguồn lực (vốn, kĩ thuật công nghệ, kinh nghiệm quản trị,…) trong và ngoài nước, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân vùng biên giới, rút ngắn khoảng cách phát triển của các vùng miền trong nước

Nước ta có đường biên giới trên bộ chung với Trung Quốc (phía Bắc), Lào (phía Tây) và Campuchia (phía Tây Nam) với tổng chiều dài đường 4512 km, 23 cửa khẩu quốc tế đường bộ và gần 30 cửa khẩu khác

Việt nam hiện có hơn 20 Khu kinh tế cửa khẩu, trong đó có 14 Khu kinh tế gắn với Cửa khẩu quốc tế đường bộ, còn lại gắn với các cửa khẩu chính như Chi Ma - Lạng Sơn, Tà Lùng - Cao Bằng, Khánh Bình - An Giang…

1.1.1.2 Đặc điểm của khu kinh tế cửa khẩu

Là khu vực kinh tế đặc biệt nên KKTCK có những đặc điểm riêng biệt:

- Về không gian thành lập: Khu kinh tế được thành lập trên cơ sở diện tích đất tự nhiên rộng lớn, có tính đặc biệt về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý kinh tế thuận lợi

Trang 18

Các yếu tố thuận lợi này được khai thác trong quá trình quy hoạch, xây dựng mới các khu chức năng, các công trình hạ tầng kĩ thuật, tạo thành một không gian kinh tế rộng lớn và đặc thù bởi sự kết hợp các yếu tố này

- Về quy hoạch tổng thể: Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: Khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm từng khu kinh tế, trong đó chia thành hai khu vực chính: Khu thuế quan và khu phi thuế quan

Khu phi thuế quan là khu vực có ranh giới xác định, được ngăn cách bằng hàng rào cứng với khu vực xung quanh, không có dân cư sinh sống Các hoạt động trong khu phi thuế quan bao gồm: sản xuất hàng xuất khẩu và hàng phục vụ tại chỗ, thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, xúc tiến thương mại và các hoạt động thương mại khác Quan hệ trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa khu phi thuế quan và nước ngoài, giữa các khu phi thuế quan với nhau được xem như quan hệ trao đổi giữa nước ngoài với nước ngoài Hàng hóa từ nước ngoài nhập khẩu vào khu phi thuế quan hoặc từ khu phi thuế quan xuất khẩu ra nước ngoài không thuộc diện phải nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu Khu thuế quan là khu vực còn lại của khu kinh tế, ngoài phạm vi của khu phi thuế quan Trong khu thuế quan có khu công nghiệp, khu chế xuất, khu giải trí đặc biệt, khu du lịch, khu dân cư và hành chính Hàng hóa ra vào khu thuế quan thuộc khu vực kinh tế phải tuân thủ quy định của nhà nước về quản lý mặt hàng, thuế xuất nhập khẩu nhưng được áp dụng những thủ tục hải quan thuận lợi Hàng hóa được tự do lưu thông giữa khu thuế quan và nội địa

- Về lĩnh vực đầu tư: Khu kinh tế cho phép đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực nhưng có mục tiêu trọng tâm phù hợp với từng khu kinh tế được thành lập ở mỗi địa bàn khác nhau

- Về chính sách ưu tiên phát triển: Khu kinh tế được hưởng các ưu đãi nhiều hơn đối với quy định hiện hành như chính sách ưu đãi về xây dựng cơ sở hạ tầng, về đầu tư sản xuất, thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa, thuế … Đặc biệt, Khu kinh tế được hưởng ưu đãi tối đa về thuế, có khu “phi thuế quan” được coi như là trái tim của Khu kinh tế Mọi hoạt động trong khu phi thuế quan được xem như hoạt động của nước ngoài, tương ứng với việc hàng hóa nhập từ nước ngoài vào Khu kinh tế không chịu thuế xuất nhập khẩu Quan hệ giữa khu kinh tế với nội địa Việt Nam mới được coi là quan hệ trao đổi giữa nước ngoài với Việt Nam [11]

Trang 19

1.1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các KKTCK

Về đại thể, có rất nhiều nhân tố và nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các KKTCK bởi lẽ đây là mô hình kinh tế được hình thành và phát triển từ lâu (dưới các hình thức và quy mô khác nhau nhưng tính chất và đặc điểm vẫn giữ nguyên bản chất vốn có của nó), chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng và chi phối dưới nhiều chiều, hướng tác động Trong đó, nổi lên các nhóm nhân tố chính yếu sau :

- Thứ nhất, các yếu tố tự nhiên (vị trí địa lí, khí hậu, địa hình, môi trường,…) Việc lựa chọn xây dựng các KKTCK trước hết phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên, đó phải là nơi có những thuận lợi về vị trí địa lí “đắc địa”, phù hợp với giao lưu kinh tế - thương mại biên giới, là cầu nối kinh tế trong và ngoài nước, bởi đây là đầu mối phát triển không gian kinh tế mở nước ta Ngoài ra, các nước láng giềng thường có sự bổ sung cho nhau về các nhóm hàng (nông nghiệp, chế biến, nguồn tài nguyên, sản vật địa phương,…) vốn được khai thác trên cơ sở tận dụng các yếu tố tự nhiên đặc thù của nước mình, tạo nên những lợi thế cạnh tranh động trên nền tự nhiên tĩnh

- Thứ hai, yếu tố lịch sử Quan hệ giao lưu kinh tế giữa nước ta với các nước láng giềng có lịch sử từ lâu đời, xuất phát từ các chuyến cống phẩm bang giao giữa các nước cũng như hình thành từ các phiên chợ biên giới trao đổi các vật phẩm địa phương phục vụ nhu cầu hằng ngày và sản xuất tại chỗ Cứ như thế, các tuyến đường mòn biên giới hình thành là cơ sở phát triển các tuyến, các hành lang kinh tế - giao thông sau này; các phiên chợ ba hay bảy ngày ngày xưa giờ nâng lên thành chợ thường nhật, chợ biên giới 1, chợ cửa khẩu 2 được tổ chức quy mô với cơ sở hạ tầng khang trang, rộng rãi hiện nay

- Thứ ba, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, các vấn đề giáo dục,

y tế, phong tục tập quán,… cũng ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển KTCK Kinh tế càng phát triển, lượng hàng hóa luân chuyển trên thị trường càng tăng cao nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản và ngày càng cao của người tiêu dùng Muốn thế, các dòng vật chất đầu vào, sản phẩm đầu ra phải đủ lớn để đáp ứng nhu cầu đó Kinh tế trong nội địa phát triển, các dòng hàng hóa, dịch vụ được vận chuyển nhanh với quy mô ngày càng lớn ra các vùng biên, thông qua cửa khẩu đến thị trường các nước Bán kính tiêu thụ càng mở rộng với những hạt nhân là các trung tâm thương mại có tiềm lực về kinh

tế sẽ phát triển càng nhanh, từ đó hình thành nên các cực, tuyến điểm trong giao thương các nước Đồng thời, trình độ phát triển kinh tế còn chi phối cả cơ cấu hàng

Trang 20

xuất nhập khẩu, kim ngạch trao đổi song phương, đa phương lẫn quy mô và bán kính lan tỏa hàng hóa (thị trường ngày càng mở rộng)

- Thứ tư, chính sách đối ngoại và quan hệ kinh tế - chính trị Bầu không khí chính trị của các nước trong khu vực mà trực tiếp là quan hệ giữa các nước láng giềng có chung đường biên ảnh hưởng rất nhiều đến sự hình thành và phát triển KTTCK nước

ta không chỉ trong quá khứ, hiện tại mà cả trong tương lai Lịch sử nước ta đã chứng kiến nhiều thời kì, khi quan hệ hai nước lắng xuống, khu vực biên giới trở thành điểm nóng về an ninh chính trị, phải đóng cửa hàng loạt các cửa khẩu biên giới và khi đó trao đổi thương mại hầu như không diễn ra Chính vì thế, nhóm nhân tố này không chỉ ảnh hưởng mà còn chi phối đến các nhân tố khác, điều này thể hiện qua sự uyển chuyển, linh hoạt trong phân tích, xử lí và ban hành các chính sách phát triển kinh tế cửa khẩu, nhất là khi nước ta hội nhập kinh tế khu vực và thế giới với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn [11]

1.1.1.4 Vai trò của các Khu kinh tế cửa khẩu

KKTCK từ lâu đã đóng góp rất lớn đối với nền kinh tế đất nước, nó tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội cả nước nói chung và các tỉnh biên giới nói riêng

- Tạo điều kiện phát huy tiềm năng, ưu thế các địa phương biên giới;

- Góp phần mở rộng giao lưu buôn bán, mở rộng thị trường, tìm đầu ra cho sản phẩm, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, tạo lợi thế cạnh tranh trước mắt và lâu dài cho các sản phẩm, ngành hàng chủ lực;

- Xây dựng các hệ thống, mạng lưới phân phối, cung cấp các dịch vụ đi kèm;

- Cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương và các khu vực lân cận;

- Hạ tầng cơ sơ vật chất kĩ thuật được cải thiện đáng kể, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương [10]

1.1.2 Hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu

- Hàng hoá buôn bán qua biên giới bao gồm: hàng hoá xuất nhập khẩu biên giới (hàng tiểu ngạch); hàng hoá mua bán, trao đổi của cư dân biên giới; hàng hoá đưa vào chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu [10]

Hàng hoá buôn bán qua biên giới khi xuất khẩu, nhập khẩu: phải nộp thuế và lệ phí (nếu có) theo qui định của pháp luật Việt Nam, trừ hàng hoá trao đổi của cư dân biên giới trong định lượng miễn thuế; được hưởng các ưu đãi về thuế XK, NK hàng

Trang 21

hóa qua biên giới theo các thỏa thuận song phương giữa Chính phủ Việt nam và Chính phủ nước có chung biên giới

Hàng hoá buôn bán qua biên giới phải thực hiện quy định về kiểm tra nhà nước

về chất lượng, kiểm dịch theo qui định hiện hành Hàng hoá buôn bán qua biên giới được hưởng các ưu đãi về thuế theo thoả thuận song phương giữa Chính phủ Việt Nam

và Chính Phủ nước có chung biên giới

Cơ sở để hưởng ưu đãi về thuế là Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá (C/O) Đối với hàng hoá mua bán, trao đổi của cư dân biên giới không yêu cầu có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá, việc xác định xuất xứ căn cứ vào việc kiểm tra thực tế hàng hoá

- Đối với hàng hoá xuất khẩu:

Về khai báo tờ khai hải quan:

Hàng hoá xuất khẩu theo hợp đồng mua bán được sử dụng tờ khai hàng hoá xuất khẩu (HQ/2002-XK); hàng hoá xuất khẩu không có hợp đồng mua bán được sử dụng

tờ khai hàng hoá xuất khẩu biên giới (HQ/2002-XKBG)

Các chứng từ khác thực hiện theo qui định về hồ sơ hải quan, quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo hợp đồng mua bán hàng hoá phù hợp với từng loại hình

Toàn bộ hàng hoá xuất khẩu thuộc loại hình này phải nộp thuế (nếu có) khi xuất khẩu theo quy định, và được hưởng các ưu đãi về thuế NK theo thỏa thuận song phương giữa CP Việt nam và CP nước có chung biên giới

Việc kiểm tra thực tế hàng hóa thực hiện theo 3 hình thức; miễn kiểm tra, kiểm tra xác xuất, kiểm tra toàn bộ theo quy định của luật Hải quan [10]

1.1.3 Quản lý Hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra Khu kinh tế cửa khẩu

1.1.3.1 Khái niệm Quản lý hải quan

Hải quan là ngành có nhiệm vụ đảm bảo an ninh kinh tế đối ngoại thông qua việc thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý Nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu [9]

Là một khâu trong công tác quản lý nhà nước về kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hải quan, thông qua bộ máy nhà nước làm thành hệ thống tổ chức quản lý, điều

Trang 22

khiển đối với quan hệ xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh qua biên giới nhằm mục đích khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu, hướng nhập khẩu phục vụ tốt sản xuất và tiêu dùng, bảo vệ và phát triển sản xuất trong nước, nâng cao hiệu quả sản xuất, mở rộng hợp tác kinh tế thương mại với nước ngoài, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước

Ở Việt Nam, các công cụ chủ yếu được Nhà nước sử dụng để quản lý quan hệ xuất nhập khẩu thực hiện bởi cơ quan hải quan bao gồm: Thủ tục hải quan, Thuế xuất - nhập khẩu, Hạn ngạch xuất - nhập khẩu, Giấy phép xuất - nhập khẩu, Quản lý ngoại tệ Quản lý nhà nước của Hải quan đối với các khu kinh tế cửa khẩu là việc cơ quan Hải quan tổ chức thực hiện các quy định của Nhà nước về việc quản lý, điều chỉnh các mối quan hệ xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh trong địa bàn Khu kinh tế cửa khẩu, giữa nước ngoài với Khu kinh tế cửa khẩu, giữa các Khu kinh tế cửa khẩu với nhau và giữa Khu kinh tế cửa khẩu với nội địa Việt Nam [9]

1.1.3.2 Nội dung quản lý hải quan đối với hàng hóa đưa ra, đưa vào KKT cửa khẩu

Việc quản lý Hải quan đối với các KKTCK là tất yếu khách quan do hình thành quan hệ xuất nhập khẩu hàng hóa tại đây Nhà nước thống nhất quản lý nói chung và quản lý các quan hệ xuất nhập khẩu hàng hóa (thông qua cơ quan Hải quan) bằng pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển

Để đạt được hiệu quả quản lý, có tác động thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn KKTCK nói chung cũng như thúc đẩy sự phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa, đòi hỏi phải thiết lập được hệ thống quản lý với hệ thống các chính sách thương mại, đầu tư, xuất nhập khẩu…hoàn chỉnh, các công cụ quản lý phù hợp với đòi hỏi khách quan của hoạt động thương mại - xuất nhập khẩu

a Quản lý hoạt động thương mại - xuất nhập khẩu tại Khu kinh tế cửa khẩu

Quản lý hải quan đối với hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu bao gồm việc quản lý các hoạt động sau:

- Hoạt động xuất nhập khẩu, chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất, vận chuyển hàng hóa quá cảnh;

- Kho ngoại quan, cửa hàng miễn thuế, hội chợ triển lãm, các cửa hàng giới thiệu sản phẩm;

- Hoạt động kinh doanh thương mại trong các KKTCK;

- Hoạt động của các chợ trong KKTCK, chợ biên giới;

- Dịch vụ thương mại như vận chuyển hàng hóa, bảo quản, kho hàng…

Trang 23

Tại các KKTCK, xuất phát từ những nhu cầu khác nhau giữa các địa phương, giữa các nước láng giềng, xuất phát từ lợi thế riêng của mình, mỗi bên tổ chức sản xuất, tổ chức nguồn hàng nội địa, phát triển xuất nhập khẩu, buôn bán hàng hóa qua biên giới, từ đó thúc đẩy phát triển hợp tác kinh tế giữa nước ta với các nước có chung đường biên giới, đạt hiệu quả kinh tế tối ưu cho địa phương, cho KKTCK, cho nền kinh tế đất nước Chính ưu thế của KKTCK là điều kiện tiền đề cho việc mở cửa nền kinh tế, thực hiện hợp tác kinh tế quốc tế Nếu được mở cửa thì những điều kiện khu vực được chuyển hóa thành ưu thế quốc tế, làm cho thị trường quốc tế gần hơn, thị trường nội địa trở thành cầu nối trung gian liên kết nội địa với quốc tế

Tham gia hoạt động xuất nhập khẩu tại các KKTCK bao gồm các chủ thể kinh doanh như: Doanh nghiệp quốc doanh, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, các hộ kinh doanh cá thể và cả các thương nhân nước ngoài

Hàng hóa lưu thông qua KKTCK không chỉ là hàng hóa từ địa phương có Khu kinh tế cửa khẩu mà còn bao gồm hàng hóa từ các địa phương khác trong cả nước Do

đó, công tác quản lý đối với hàng hóa xuất nhập khẩu qua KKTCK hết sức phức tạp Đối tượng của quản lý nhà nước của Hải quan tại KKTCK gồm quản lý các hành

vi thương mại, quản lý các chủ thể tham gia hoạt động thương mại xuất nhập khẩu trên địa bàn [9]

b Hoạt động tổ chức kiểm tra, giám sát của Hải quan ở Khu kinh tế cửa khẩu

Đây là hoạt động thực thi pháp luật về Hải quan của cơ quan Hải quan đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, xuất nhập cảnh trong địa bàn KKTCK, bao gồm:

Quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu: Là việc cơ quan Hải quan áp dụng các quy

trình, thủ tục, quy định của pháp luật nhằm quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, lưu giữ, tiêu thụ trong KKTCK; Bao gồm: quản lý khai hải quan; quản lý hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu ra, vào, lưu giữ, tiêu thụ trong KKTCK …[9]

Khai hải quan: Là việc người khai hải quan khai đầy đủ, chính xác, rõ ràng về

tên và mã số hàng hoá, đơn vị tính, số lượng, trọng lượng, chất lượng, xuất xứ, đơn giá, trị giá hải quan, các loại thuế suất và các tiêu chí khác quy định tại tờ khai hải quan; tự tính để xác định số thuế, các khoản thu khác phải nộp ngân sách nhà nước [9]

Quản lý hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu vào, ra, lưu giữ, tiêu thụ trong Khu kinh tế cửa khẩu: Là việc quản lý hàng hóa xuất, nhập, vào, ra, tồn tại địa bàn

Khu kinh tế, nhằm đảm bảo hàng hóa được sử dụng đúng mục đích và đúng khai báo,

Trang 24

tránh việc hàng hóa thẩm lậu vào nội địa Doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong KKTCK phải báo cáo với cơ quan hải quan về hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong kỳ báo cáo và lượng hàng hóa tồn tại doanh nghiệp cuối kỳ Định kỳ, cơ quan Hải quan sẽ tiến hành kiểm tra thực tế lượng hàng tồn trong Khu kinh tế nhằm đảm bảo mục tiêu quản

lý và quản lý đối với hàng hóa được miễn thuế theo chế độ ưu đãi của Nhà nước [9]

Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu: Là việc nhà nước thông qua cơ quan Hải quan,

tác động có tổ chức và bằng pháp quyền đối với các quá trình kinh tế xã hội (xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới, lãnh thổ Việt Nam hay từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước và ngược lại) và hành vi của con người nhằm thực hiện các mục tiêu chung thông qua công cụ thuế quan, cụ thể là thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu Quan hệ giữa khu kinh tế với nội địa Việt Nam mới được coi là quan hệ trao đổi giữa nước ngoài với Việt Nam, do đó quan hệ hàng hóa giữa thị trường trong nước và Khu kinh tế là quan hệ xuất nhập khẩu hàng hóa và phải chịu thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam [9]

Công tác quản lý thu thuế xuất, nhập khẩu, bao gồm họa động Quản lý khai thuế; Quản lý nộp thuế; Quản lý các trường hợp miễn, xét miễn, hoàn thuế, không thu thuế; Kiểm tra sau thông quan đối với thuế xuất, nhập khẩu; Thanh tra thuế; Xử lý vi phạm

về thuế…

Quản lý phương tiện vận tải: Bao gồm quản lý nhà nước đối với phương tiện

xuất cảnh, phương tiện nhập cảnh ra, vào KKTCK; quản lý phương tiện được lưu hành trong Khu kinh tế và ra khỏi Khu theo quy định Phương tiện vận tải khi ra, vào Khu kinh tế phải thực hiện đầy đủ các thủ tục hải quan và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan

Nội dung quản lý phương tiện vận tải tại KKTCK gồm: Quản lý phương tiện ra, vào Khu kinh tế và Quản lý phương tiện được mua theo chế độ miễn thuế, sử dụng trong Khu kinh tế [9]

Đấu tranh chống buôn lậu: Là việc cơ quan Hải quan áp dụng các biện pháp

nghiệp vụ nhằm ngăn chặn các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới nhằm trốn thuế Đối với KKTCK, hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa là việc đưa hàng hóa ra khỏi Khu một cách trái phép, nhằm trốn thuế do KKTCK được hưởng chính sách miễn thuế nhập khẩu từ nước ngoài vào Khu [9]

Cơ quan Hải quan tổ chức kiểm tra, giám sát đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, xuất nhập cảnh trong địa bàn KKTCK bằng thủ tục hải quan, kiểm tra hải quan, giám sát hải quan, kiểm soát hải quan…

Trang 25

Thông qua việc quản lư về hải quan đối với các hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập khẩu tại KKTCK, cơ quan Hải quan tiến hành đánh giá các hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng, ngoài ra còn đánh giá các hoạt động tại KKTCK thông qua hoạt động xuất nhập khẩu như: Hoạt động của doanh nghiệp trong Khu, sự phù hợp của các chính sách nhà nước áp dụng trong Khu, kiến nghị thay đổi chính sách phù hợp nhằm quản lý có hiệu quả hơn…

1.2 Các chính sách quản lý hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra Khu kinh

tế cửa khẩu quốc tế

1.2.1 Các qui định hiện hành

Các quan hệ xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh nói chung và hàng hóa đưa ra, đưa vào tại KKTCK chịu sự chi phối bởi rất nhiều nguồn luật trong nước và quốc tế, các cam kết trong hội nhập kinh tế quốc tế Đối với pháp luật trong nước, các quan hệ xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh tại KKTCK chịu sự tác động của các văn bản Luật và qui phạm pháp luật có liên quan sau:

+ Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014;

+ Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005;

+ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2013;

+ Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ qui định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục Hải quan, kiểm tra giám sát hải quan; + Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về khu chế xuất, khu công nghiệp và khu kinh tế;

+ Nghị định 87/2010/NĐ-CP ngày 18/8/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật thuế xuất nhẩu, thuế nhập khẩu;

+ Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế;

+ Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan;

+ Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg ngày 26/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành cơ chế, chính sách tài chính đối với khu kinh tế cửa khẩu;

+ Quyết định số 24/2009/QĐ-TTg ngày 17/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế về kinh doanh hàng miễn thuế;

Trang 26

+ Thông tư số 120/2009/TT-BTC ngày 16/6/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành quy chế về kinh doanh bán hàng miễn thuế ban hành kèm theo Quyết định số 24/2009/QĐ-TTg ngày 17/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ

+ Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài Chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;

+ Thông tư 28/2011/TT-BTC ngày 28/2/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 của Chính phủ;

+ Thông tư 190/2013/TT-BTC ngày 12/12/2013 của Bộ Tài Chính quy định chi tiết thi hành Nghị định số 127/2013/NĐ-CP 15/10/2013 của Chính phủ qui định việc

xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực Hải quan;

+ Thông tư 109/2014/TT-BTC ngày 15/08/2014 có hiệu lực thi hành từ 1/10/2014 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định

số 72/2013/QĐ-TTG ngày 26/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế, chính sách tài chính đối với khu kinh tế cửa khẩu

1.2.2 Quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế

Tất cả hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (kể cả có thuế và không có thuế) đều phải khai báo làm thủ tục hải quan.Việc kê khai phải đảm bảo đầy đủ, chi tiết về đặc điểm,

số lượng, trọng lượng, trị giá, quy cách, phẩm chất và mã số của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra ra KKTCK quốc tế được áp dụng như hàng hóa xuất nhập khẩu theo Quyết định 1842/QĐ-BTC ngày 30/7/2014 của Bộ tài chính [4], cụ thể như sau:

Bước 1: Chủ hàng hoặc người khai hải quan phải khai báo tờ khai hải quan nộp

và xuất trình hồ sơ lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu với hải quan cửa khẩu đồng thời xuất

Trang 27

trình hàng hóa để Hải quan cửa khẩu kiển tra, giám sát, đối chiếu với khai báo của chủ hàng trên tờ khai hải quan và hồ sơ kèm theo (nếu có) theo quy định về thủ tục hải quan cụ thể đối với từng loại hình hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập-tái xuất, tạm xuất-tái nhập, quá cảnh qua biên giới theo quy định

Bước 2: Cơ quan Hải quan tiếp nhận hồ sơ do chủ hàng hoặc người khai hải

quan nộp và xuất trình và thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để kiểm tra, giám sát đối chiếu xác định sự phù hợp giữa thực tế hàng hóa với khai báo của chủ hàng trên tờ khai hải quan và hồ sơ kèm theo để giải quyết các chế độ thuế, lệ phí (nếu có), xử lý vi phạm (nếu có) và quyết định thông quan qua biên giới theo trình tự thủ tục hải quan đã được quy định đối với từng loại hình hàng hóa xuất, nhập cụ thể theo quy định

b Cách thức thực hiện: Trực tiếp tại trụ sở Chi cục Hải quan cửa khẩu

c Thành phần, số lượng hồ sơ:

Hồ sơ đối với hàng hóa xuất nhập khẩu nộp 01 bộ cho Chi cục hải quan cửa khẩu

làm thủ tục đối với từng loại hàng hóa như sau:

* Đối với hàng nhập khẩu

- Tờ khai hải quan: Sử dụng tờ khai hàng hóa nhập khẩu theo Tờ khai Hải quan

do Bộ Tài chính quy định

- Các chứng từ khác về hồ sơ hải quan, quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo hợp đồng mua bán do Bộ Tài chính quy định, trừ vận đơn và hợp đồng thương mại

- Phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch y tế do cơ quan kiểm dịch y tế cấp (đối với hàng hoá thuộc đối tượng kiểm dịch y tế); và Giấy đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hoá đối với hàng hoá thuộc diện phải kiểm tra

- Hàng hoá nhập khẩu qua biên giới được hưởng các ưu đãi về thuế nhập khẩu nếu có đủ điều kiện theo thoả thuận song phương giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước có chung biên giới; việc khai báo hải quan, nộp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá (C/O) đối với hàng hóa được hưởng ưu đãi về thuế nhập khẩu, thực hiện theo Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ Tài chính Quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và Thông tư số 45/2007/TT-BTC ngày 07 tháng 5 năm 2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt Đối với trường hợp áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt thì đối tượng nhập

Trang 28

khẩu phải xuất trình Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá-C/O (trừ trường hợp tổng trị giá lô hàng (FOB) không vượt quá 200 USD)

- Kiểm tra thực tế hàng hoá thực hiện theo quy định của pháp luật Hải quan hiện hành

* Đối với hàng xuất khẩu:

- Tờ khai hải quan:

+ Trường hợp hàng hoá xuất khẩu theo hợp đồng mua bán: Sử dụng theo Tờ khai Hải quan do Bộ Tài chính quy định

+ Trường hợp hàng hoá xuất khẩu không có hợp đồng mua bán: Sử dụng tờ khai hàng hoá xuất khẩu biên giới do Bộ Tài chính quy định

- Các chứng từ khác về hồ sơ hải quan, quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo hợp đồng mua bán thực hiện theo quy định của pháp luật Hải quan hiện hành

- Phải có giấy chứng nhận kiểm dịch y tế do cơ quan kiểm dịch y tế cấp đối với hàng hoá xuất khẩu phải kiểm dịch y tế theo yêu cầu của nước nhập khẩu hoặc theo yêu cầu của chủ hàng

- Hàng hoá xuất khẩu qua biên giới được hưởng các ưu đãi về thuế xuất khẩu theo thoả thuận song phương giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước có chung biên giới

e Thời hạn giải quyết: Trong 08 giờ hành chính/ngày; nếu hết giờ hành chính

mà lô hàng chưa kiểm tra xong thì được tiếp tục làm ngoài giờ hành chính cho xong

f Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cá nhân, tổ chức

g Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:

- Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Chi cục Hải quan

- Cơ quan hoặc người có thẩm quyền được uỷ quyền hoặc phân cấp thực hiện (nếu có): Không có

- Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC: Chi cục Hải quan

- Cơ quan phối hợp thực hiện TTHC (nếu có): Không có

h Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Xác nhận thông quan

i Phí, lệ phí: theo quy định đối với từng loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

k Yêu cầu điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:

Chủ thể Việt Nam được xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới:

- Thương nhân Việt Nam

Trang 29

- Doanh nghiệp và Hộ kinh doanh được thành lập theo quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng ký doanh nghiệp

1.3 Kinh nghiệm trong và ngoài nước quản lý hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế

Trong sự phát triển các hình thức buôn bán qua biên giới, thực tiễn đã ghi nhận nhiều tác động tích cực của xuất nhập khẩu hàng hóa tới sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, nhưng cũng đồng thời nhắc đến các tệ nạn xã hội, cướp bóc, xung đột biên giới, các dịch bệnh, thất thu thuế, buôn lậu qua biên giới…Đó chính là bài học quý giá cho thế hệ sau phải biết khai thác mặt tích cực, có cơ chế chính sách phù hợp nhằm phát huy hiệu quả của xuất nhập khẩu hàng hóa đồng thời hạn chế những mầm mống tiêu cực có thể xuất hiện, gây tác hại về mặt kinh tế xã hội đối với đất nước

1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về Quản lý hải quan đối với hàng hóa qua KKTCK

1.3.1.1 Kinh nghiệm của Thái Lan

Thái Lan được xem là một trong những quốc gia khai thác được nhiều lợi thế trong trao đổi kinh tế – thương mại cửa khẩu biên giới Có thể thấy rằng, thông qua việc khai thác lợi thế thương mại cửa khẩu biên giới, hàng hoá của Thái Lan đã xâm nhập rất mạnh sang các nước láng giềng

Thương mại hàng hoá qua biên giới của Thái Lan được hiểu là hoạt động mua bán, giao dịch hàng hoá tại các cửa khẩu biên giới của nước này cựng các nước láng giềng với sự tham gia của các doanh nghiệp hoặc cư dân địa phương dọc biên giới Mậu dịch biên giới của Thái Lan tồn tại dưới hai hình thức chủ yếu: Mậu dịch chính ngạch và mậu dịch tiểu ngạch trong đó rất ưu tiên phát triển xuất nhập khẩu tiểu ngạch Hàng mậu dịch phi chính thức của Thái Lan nhiều hơn từ 1/3 đến 1 lần so với thương mại chính thức Thái – Lào, gấp 2 lần thương mại chính thức Thái – Mianma, Thái – Malaixia

Xuất, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới được chính phủ Thái Lan rất coi trọng Hiện nay, Thái Lan đã có nhiều cơ quan có chức năng quản lý và hoàn thiện chính sách mậu dịch biên giới như: Uỷ ban phát triển mậu dịch biên giới, Phân ban về giải quyết các vấn đề biên mậu, Trung tâm thông tin thương mại biên giới, Hải quan cửa khẩu… Trong quá trình phát triển giao lưu kinh tế biên mậu của Thái Lan khá đa dạng và phong phú, nhà nước tạo nhiều điều kiện thông thoáng cho hàng ra, nhiều thủ tục hải

Trang 30

quan được đơn giản hóa, các cửa hàng miễn thuế tại khu vực cửa khẩu có quy mô lớn, với nhiều ưu đãi khác đó thu hút rất đông khách du lịch, họ được mua hàng hoá với giá

rẻ và thuận tiện trong các thủ tục, hàng hoá không nhằm mục đớch thương mại thì không phải khai báo…Quá trình sử dụng các hình thức thương mại cửa khẩu biên giới đem lại nhiều lợi ích trong việc thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại giữa các quốc gia

có đường biên giới chung Do đó, các nước Thái Lan, Lào, Mianma, Trung Quốc đang hoàn tất dự thảo kế hoạch tự do hoá việc trao đổi sản phẩm và đi lại của cư dân sống trong vùng có sông Mê Kông chảy qua của 4 nước này

Ngoài ra, còn nhiều thoả thuận ở cấp quốc gia trong việc phát triển quan hệ thương mại biên giới, theo hướng khai thác tốt hơn những đặc điểm kinh tế – xã hội của khu kinh

tế cửa khẩu, tìm kiếm các mô hình kinh tế linh hoạt với các cơ chế chính sách cởi mở để thông qua đó trọng tâm là đẩy mạnh trao đổi hàng hoá biên giới, kéo theo việc phát triển các loại hình dịch vụ, du lịch, các hình thức hội chợ, hội thảo giữa các quốc gia…Trên cơ

sở đó, hình thành một số vùng kinh tế gắn với các cửa khẩu, có điều kiện phát triển nhanh hơn để lôi kéo các khu vực khác cùng phát triển [12]

1.3.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Là một đất nước có đường biên giới trên bộ tiếp giáp với 15 nước, với chiều dài 2,2 vạn kilomet đường biên giới, Trung Quốc rất chú trọng việc phát triển kinh tế biên mậu, coi mở cửa miền biên giới sau khi mở của miền duyên hải là một bước quan trọng của việc mở rộng cửa đối với nước ngoài Trên cơ sở đó, các cửa khẩu biên giới trên bộ của Trung Quốc được khuyến khích phát triển quan hệ kinh tế thương mại, lấy

đa dạng hoá thương mại làm khởi điểm để tích luỹ phát triển hạ tầng đô thị biên giới Xây dựng và mở rộng phạm vi hoạt động của một số xí nghiệp công nghiệp địa phương một cách năng động linh hoạt hướng mạnh về lắp ráp, sơ chế, bảo quản …tạo

ra nhiều chủng loại hàng hoá phù hợp với nhu cầu trao đổi hàng hoá chính ngạch và tiểu ngạch qua biên giới, qua đó nhằm thực hiện “tam khứ nhất bổ”, tức là xuất khẩu

ba thứ: hàng hoá, lao động và thiết bị kỹ thuật để lấy về một thứ bổ là mặt hàng thiếu

và khan hiếm Với chính sách này, Trung Quốc đã thực hiện tương đối thành công việc phát triển thành công kinh tế biên mậu Sau đây là một số kinh nghiệm điển hình:

* Chính sách biên mậu

- Mọi hoạt động mậu dịch biên giới được quản lý thống nhất từ Trung ương đến địa phương

Trang 31

- Khuyến khích xuất nhập khẩu tiểu ngạch bằng các chính sách ưu đãi

- Ưu tiên phát triển khu thương mại, du lịch, dịch vụ tại các vùng cửa khẩu biên giới

- Địa phương được hưởng một số khoản thu qua các hoạt động mậu dịch biên giới để đầu tư phát triển

- Mở rộng quyền tự chi cho các địa phương biên giới tự quyết định các hạng mục đầu

tư xây dựng cơ sở vật chất phát triển kinh tế khu vực, chính sách về quản lý biên mậu

* Quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa

- Trung quốc quản lý theo một nguyên tắc chung là: cửa khẩu quốc mậu là do Trung ương quản lý (giao cho hải quan chủ trì chính) và toàn bộ số thu của Hải quan nộp về ngân sách Trung ương Cửa khẩu biên mậu do địa phương quản lý, số thu được nộp về ngân sách địa phương Mức thuế Quốc mậu do chính phủ Trung ương quy định Mức thuế biên mậu do chính phủ địa phương quy định Về nguyên tắc mức thuế địa phương quy định phải thấp hơn mức thuế Trung ương quy định, do vậy thuế biên mậu (tiểu ngạch) thu rất thấp so với biểu thuế quốc mậu

- Nếu chủ hàng khai báo không trung thực, có hiện tượng gian lận, khi bị phát hiện

sẽ phạt rất nặng và có thể tịch thu hàng hóa và xử lý hành chính, nếu nặng có thể xử lý hình sự Trạm kiểm soát có đầy đủ các thành phần của các cơ quan như hải quan, công an, thuế vụ, Cục biên mậu, Cục công thương và Kiểm dịch động thực vật, có sự chỉ huy thống nhất, có bộ phận của Thanh tra chính phủ giám sát để chống các hiện tượng thông đồng, móc ngoặc giữa các chủ hàng với các cán bộ kiểm tra, kiểm soát và cấp hóa đơn vận chuyển hàng hóa Trạm này hoạt động rất có hiệu quả, các quy định về thủ tục cũng như mức thuế phải nộp cho từng mặt hàng và từng đối tượng được hưởng các chính sách ưu đãi niêm yết công khai, rõ ràng, do vậy vừa tạo môi trường thông thoáng cho các chủ hàng, vừa quản lý được chặt chẽ hàng hóa nhập vào nội địa để tiêu thụ, thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế biên mậu ở khu vực biên giới

- Trung quốc đề cao vai trò của lực lượng hải quan, vì vậy đã tăng cường thêm cả

số lượng và chất lượng, thay đổi một số quan chức lãnh đạo ngành hải quan từ tỉnh đến huyện, thị và hải quan cửa khẩu, thực hiện chính sách luân chuyển cán bộ từ chỗ này sang chỗ khác, tránh tình trạng cán bộ Trung ương thông đồng với các quan chức của địa phương để giải quyết các lợi ích cục bộ Trung Quốc đã bỏ Cục Biên mậu ở cấp tỉnh và huyện, thị xã Cục biên mậu của các cấp này được sáp nhập với cục Kinh mậu Trong cục kinh mậu chỉ còn một phòng theo dõi chỉ đạo công tác biên mậu

Trang 32

- Trừ một số mặt hàng như thuốc lá, rượu, mỹ phẩm, đồ trang sức…, hàng hoá nhập khẩu tiểu ngạch được giảm 50% thuế so với chính ngạch Tiêu chuẩn chất lượng,

kỹ thuật của hàng hoá tiểu ngạch cũng được nới lỏng so với quy định của trung ương

- Việc kiểm hoá hàng hóa xuất khẩu tiểu ngạch được thực hiện tại bãi kiểm hoá liên hợp, cách biên giới một khoảng nằm trên tuyến đường chính đến cửa khẩu Tại đây tập trung toàn bộ các cơ quan quản lý

* Chủ thể quản lý mậu dịch biên giới:

Chính phủ Trung Quốc có văn phòng quản lý mậu dịch biên giới Thông tư của Quốc vụ viện Trung Quốc về các vần đề có liên quan đến mậu dịch biên giới (3/1/1996) quy định Chính phủ nhân dân các Tỉnh và khu tự trị biên giới chỉ định ra cơ quan chủ quản về mậu dịch biên giới Tổng cục Hải quan giảm quản, Văn phòng hỗn hợp chống buôn lậu biên giới thuộc Chính Phủ phụ trách hoạt động chống buôn lậu và

Uỷ ban kế hoạch nhà nước và Uỷ ban kinh tế mậu dịch tiểu ngạch biên giới của năm trước và tình hình cung cầu của thị trường trong nước cấp hạn ngạch nhập khẩu mậu dịch biên giới cho từng địa phương đối với mặt hàng quản lý bằng hạn ngạch Bộ kinh

tế mậu dịch đối ngoại thẩm duyệt danh mục xí nghiệp mậu dịch biên giới, các dự án hợp tác kinh tế kỹ thuật đối ngoại được phân cấp và cùng Tổng cục Hải quan biên soạn biện pháp quản lý hoạt động mậu dịch biên giới [12]

1.3.1.3 Kinh nghiệm từ Hải quan Nhật Bản

Hải quan Nhật Bản là một trong những cơ quan hải quan tiên tiến nhất trên thế giới Các kinh nghiệm của Nhật Bản về tổ chức thực hiện kiểm tra sau thông quan rất hữu ích cho các nước đang trong quá trình cải cách và hiện đại hoá

Năm 1996, nhờ vào việc áp dụng kỹ thuật QLRR đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, thủ tục thông quan hàng nhập khẩu của Nhật Bản chuyển từ hệ thống hải quan tính thuế sang hệ thống người nhập khẩu tự khai báo và tính thuế Mục tiêu cơ bản của hệ thống tự khai báo, tự tính thuế là khuyến khích người nhập khẩu nộp thuế hải quan trên cơ sở khai báo mà người đó cho là chính xác Tuy nhiên, các khai báo tự nguyện không phải lúc nào cũng chính xác do thiếu kiến thức hay do hiểu chưa đúng

về các văn bản pháp luật và các quy định có liên quan, hoặc về hoạt động thương mại quốc tế Vì vậy, mỗi tờ khai cần được kiểm tra và rà soát thật kỹ tại thời điểm làm thủ tục nhập khẩu Việc kiểm tra và rà soát kỹ các tờ khai có thể sẽ làm chậm việc thông quan hàng hoá Chính vì vậy, hải quan Nhật Bản phải sử dụng tiêu chí đánh giá, phân tích rủi ro

Trang 33

Hải quan Nhật Bản hiện đang kiểm soát khoảng 180.000 tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) Qua phân tích rủi ro theo các tiêu chí như kim ngạch giao dịch, số lần vi phạm, tần suất hoạt động… Hải quan Nhật Bản đưa vào diện đối tượng kiểm tra tiềm năng khoảng 46.000 đơn vị Kết hợp với kế hoạch kiểm tra hàng năm và hàng quý, hàng tháng và các khu vực có khả năng xảy ra rủi ro cao, Hải quan Nhật Bản đưa vào diện đối tượng kiểm tra khoảng 5.000 doanh nghiệp mỗi năm Hải quan Nhật Bản chủ yếu sử dụng các tiêu chí QLRR như: kim ngạch nhập khẩu tăng bất thường; mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp; mặt hàng nhập khẩu, thuế suất và số thuế phải nộp; hồ sơ kiểm tra sau thông quan trước đó; hồ sơ thông quan, số thuế có khả năng gian lận; thông tin tình báo khác [12]

1.3.1.4 Kinh nghiệm của một số nước ở khu vực Tây Âu và Bắc Mỹ

Ở khu vực Tây Âu và Bắc Mỹ, hình thức mậu dịch biên giới đã được một số nước sử dụng thành công Tại Bắc Mỹ, lợi dụng những điểm khác biệt về chế độ thuế giữa Mỹ và Canada, Mỹ đã chủ động mở nhiều điểm bán hàng giữa biên giới hai nước, khai thác những điểm hạn chế về thuế quan để thu lợi cho mình Hơn nữa, Mỹ và Canada đã phối hợp xây dựng hàng loạt các xí nghiệp gia công, chế tác theo hình thức liên doanh trên tuyến biên giới Một số nước khác cũng sử dụng hình thức này như quan hệ Mêxico và Mỹ, với nhiều thị trường tự do được xây dựng, trong đó có những

ưu đãi về cơ chế chính sách, thuế và mậu dịch, tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ kinh tế – thương mại qua cửa khẩu biên giới

Đối với các nước Tây Âu, có đặc điểm về lãnh thổ là các nước tiếp giáp nhau có khoảng cách qua lại gần Trên cơ sở những chính sách chung của khối EEC, nhiều quốc gia đã xây dựng những chính sách nhằm phối hợp chặt chẽ hơn về kinh tế và thương mại Nước Pháp, một nền kinh tế phát triển mạnh ở châu Âu cũng chủ trương khai thác những thế mạnh trờn cỏc tuyến biên giới trong trao đổi kinh tế – thương mại Phỏp đó xây dựng nhiều khu kinh tế mở ở biên giới phía Đông, biến khu vực này thành trung tâm kinh tế phát triển [12]

1.3.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước

1.3.2.1 Kinh nghiệm từ Khu kinh tế cửa khẩu của Hải quan Tây Ninh

Tây Ninh là tỉnh có hai KKTCK, đó là KKTCK Mộc Bài và KKTCK Xa Mát, trong đó KKTCK Mộc Bài có quy chế hoạt động riêng theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Đây là KKTCK có chung đường biên giới với Campuchia, là một trong những cửa ngõ giao thương giữa Campuchia với biển Đông

Trang 34

KKTCK Mộc Bài có diện tích 21.284ha, với dân số năm 2012 là 67 nghìn người,

là Khu kinh tế cửa khẩu có hoạt động nhộn nhịp nhất khu vực các KKTCK giao thương với Campuchia Năm 2012, Khu kinh tế này đóng góp vào ngân sách nhà nước 14,2 tỷ đồng với kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 861.680 triệu USD

Các khu kinh tế đều có dân cư sinh sống, do đó hàng hóa từ nội địa được xuất khẩu vào Khu kinh tế cửa khẩu nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cư dân sinh sống tại đây, cũng như để xuất khẩu ra nước ngoài Hàng hóa này khi xuất khẩu vào Khu kinh tế cửa khẩu thì được hoàn thuế Giá trị gia tăng Quy định này đã gây nhiều khó khăn cho việc quản lý Hải quan nói chung cũng như quản lý ngân sách nhà nước nói riêng khi các doanh nghiệp lợi dụng chính sách, thẩm lậu hàng hóa trở lại nội địa và hưởng phần thuế Giá trị gia tăng được hoàn

Để hạn chế tình trạng này, Hải quan tỉnh Tây Ninh đã đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh không nên hoàn thuế cho tất cả hàng hóa vào KKTCK Mộc Bài, mà nên chọn lọc

và tập trung ưu tiên hoàn thuế cho một số mặt hàng, bỏ một số loại hàng hóa không khuyến khích nhập khẩu ra khỏi danh sách hàng hóa được hoàn thuế Giá trị gia tăng Với sự đồng thuận của Lãnh đạo Tỉnh, việc quản lý trở nên thuận lợi hơn, hạn chế thất thu cho Ngân sách nhà nước [12]

1.3.2.2 Kinh nghiệm của Hải quan Quảng Trị

Quảng Trị là tỉnh có Khu kinh tế đặc biệt: Khu kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo, được Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế hoạt động riêng Quảng Trị là một trong những tỉnh có hoạt động xuất nhập khẩu nhộn nhịp nhất trong số các tỉnh có chung đường biên giới với Lào, với đặc điểm là khu vực có giao thông thuận lợi Đối diện với Khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo qua đường biên giới làKhu thương mại biên giới Den Savanh của Lào, ngay cạnh sông Sepon Hai khu này là một nút quan trọng trên Hành lang kinh tế Đông - Tây

Khu kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo có tổng diện tích 15.804 ha, dân số năm 2012 khoảng 45 nghìn người, là Khu kinh tế cửa khẩu cótính chất đặc thù hoạt động nhộn nhịp nhất nhóm các Khu kinh tế cửa khẩu giáp Lào với số thu nộp ngân sách nhà nước năm 2012 lên đến 482,2 tỷ đồng, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 342,2 triệu USD

Với chính sách ưu đãi đối với ô tô nhập khẩu vào KKTCK và sự phát triển kinh

tế cũng như nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp trong Khu kinh tế cửa khẩu,

Trang 35

việc nhập khẩu ô tô vào Khu kinh tế cửa khẩu sẽ ngày càng nhiều Tuy nhiên quản lý đối với các xe được ưu đãi này hiện nay đang là một bài toán khó đối với cơ quan hải quan nói chung Đối với Hải quan Quảng Trị, việc quản lý loại hình phương tiện này khá thuận tiện nhờ sử dụng một phần mềm tin học riêng

Phần mềm tin học được thiết kế dùng để quản lý xe ô tô nhập khẩu và lưu hành trong Khu kinh tế cửa khẩu theo diện được miễn thuế Phần mềm được thiết kế khá dễ

sử dụng, theo dõi đối với các xe ô tô riêng Với chức năng theo dõi quá trình xe ra, vào Khu, hệ thống giúp cơ quan Hải quan kiểm soát việc vi phạm quy định hay thực hiện đúng quy định về thời hạn xe được lưu hành trong nội địa Sự giúp sức của phần mềm

đã giúp Hải quan Quảng Trị quản lý xe ô tô đăng ký lưu hành trong KKTCK dễ dàng hơn, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với loại xe này [12]

1.3.3 Bài học cho Chi cục Hải quan Khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo

Cũng như các KKTCK khác, KKTCK quốc tế Cầu Treo cũng xuất hiện các hiện tượng gian lận của các đối tượng nhằm hưởng lợi từ các chính sách ưu đãi đối với KKTCK, trong đó thủ đoạn làm thủ tục xuất khẩu hàng hóa từ nội địa vào KKTCK, sau đó đề nghị hoàn thuế Giá trị gia tăng, nhưng lại tiếp tục vận chuyển lậu hàng hóa

đó quay trở lại nội địa, tiếp tục bán ở nội địa với giá thấp hơn… xẩy ra với nhiều thủ đoạn tinh vi, liều lĩnh và khó kiểm soát

Qua việc tham khảo cách quản lý của hai đơn vị Hải quan trên, có thể rút ra những gợi ý trong việc tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước của Hải quan tại KKTCK Cầu Treo như sau:

- Đối với quản lý hàng hóa từ nội địa vào KKTCK: Rà soát, chọn lọc và đề xuất các cấp có thẩm quyền chỉ tập trung ưu tiên hoàn thuế cho một số mặt hàng nhất định,

bỏ một số loại hàng hóa không khuyến khích nhập khẩu ra khỏi danh sách hàng hóa được hoàn thuế Giá trị gia tăng

- Phải nhận thức việc áp dụng kỹ thuật QLRR là yêu cầu tất yếu của hải quan các nước trong xu thế hội nhập và phát triển, nhằm cân bằng giữa kiểm soát và tạo thuận lợi cho thương mại, giữa khối lượng công việc của hải quan tăng lên hàng ngày mà nguồn lực không tăng tương ứng Do áp dụng kỹ thuật QLRR cần nhiều điều kiện tương thích nên cách tốt nhất của Việt Nam là chủ động và khẩn trương chuẩn bị điều kiện để triển khai nhanh kỹ thuật QLRR trong các khâu nghiệp vụ hải quan

- Tăng cường kiểm tra, thanh tra, chống thất thu và gian lận thương mại; Kiểm soát hải quan nghiêm ngặt không để tổ chức, cá nhân lợi dụng một số cơ chế, chính

Trang 36

sách về phân loại hàng hóa, trị giá tính thuế để trốn thuế Tăng cường kiểm tra sau thông quan, phát hiện kịp thời các sai sót và các hành vi gian lận, trốn thuế; Cần rà soát, đánh giá lại công tác phúc tập tờ khai tại Chi cục Hải quan để tìm ra những bất cập và có biện pháp chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả của công tác này, ngăn ngừa tình trạng sau nhiều năm mới kiểm tra sau thông quan, phát hiện truy thu thuế gây khó khăn cho cả cơ quan hải quan và DN

- Việc quản lý Hải quan phải được triển khai gắn với quá trình hiện đại hóa hải quan, trong đó áp dụng tin học vào quá trình thực hiện thủ tục hải quan sẽ tạo điều kiện triển khai quản lý Hải quan một cách hiệu quả Các hoạt động thông quan điện tử, một cửa sẽ góp phần làm tăng giá trị của việc phân loại doanh nghiệp theo luồng xanh, vàng và đỏ

- Cần coi trọng công tác phối hợp liên ngành trong quản lý Hải quan đối với hàng hóa XNK Công tác phối hợp đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện có hiệu quả trong việc thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Cơ quan hải quan phải có thẩm quyền tiếp cận và sử dụng các hồ sơ, các dữ liệu thương mại về hoạt động mua hàng hoá, giao dịch ngoại tệ, vận chuyển hàng hoá, bán hàng hoá sau khi nhập khẩu có liên quan của các doanh nghiệp từ ngân hàng, cơ quan thuế nội địa, cơ quan bảo hiểm, cơ quan quản lý thị trường, cơ quan công an cũng như các

cơ quan khác có liên quan

- Xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp trong ngành Hải quan, trong cơ quan Tổng cục Hải quan và Tổng cục Hải quan với các đơn vị thuộc Bộ Tài chính Việc xây dựng quy chế nội bộ trong Ngành phải đáp ứng yêu cầu: Phân định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, từng khâu nghiệp vụ, từng cá nhân đồng thời chỉ rõ điều kiện, cách thức phối hợp giữa các khâu, các bộ phận trong quá trình phân loại hàng hóa; Phát huy vai trò, chức năng, ưu thế của từng bộ phận trong các khâu Trên cơ sở đó kết hợp để đạt được hiệu quả cao nhất trong công tác phân loại hàng hóa Trường hợp đã có quy chế thì quán triệt việc thực hiện đến từng cấp, kịp thời chấn chỉnh nếu công tác phối hợp giữa các cấp, các bộ phận chưa tốt, chưa hiệu quả

Ngoài ra, việc phối hợp giữa các đơn vị chức năng quản lý nhà nước, cơ quan chuyên môn còn được thể hiện như: công tác giám định, đánh giá, kiểm tra các tiêu chuẩn, định mức cũng như việc hỗ trợ lực lượng và phương tiện kỹ thuật trong các trường hợp cần thiết

Trang 37

Với chủ trương phát triển các KKTCK của Nhà nước và xu hướng phát triển ngày càng cao của nền kinh tế, công tác quản lý nhà nước của Hải quan sẽ đứng trước nhiều yêu cầu mới cao hơn, do đó việc áp dụng nhiều biện pháp quản lý một cách linh hoạt không những tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp chân chính mà còn giúp

tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, góp phần phát triển nền kinh tế nước nhà

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, luận văn đã khái quát hóa cơ sở lý luận về quản lý Hải quan nói chung và quản lý Hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cũng như các chính sách, nội dung quản lý hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế đang được áp dụng hiện nay

Bên cạnh đó, luận văn đã phân tích kinh nghiệm quản lý Hải quan của một số quốc gia trên thế giới như Hải quan Thái Lan, Hải quan Nhật Bản, Hải quan Trung Quốc và Hải quan các nước Tây Âu Hơn nữa, kinh nghiệm của Hải quan một số địa phương trong nước cũng được tác giả phân tích để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý Hải quan tỉnh Hà Tĩnh nói chung và Chi cục Hải quan cửa khẩu cầu treo nói riêng Đây là những cơ sở, quan trọng để tác giả tiến hành phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý Hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra KKTCK Cầu Treo trong thời gian tới

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA ĐƯA VÀO, ĐƯA RA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU QUỐC TẾ CẦU TREO TẠI CHI CỤC HẢI QUAN KKT CỬA

KHẨU CẦU TREO – HÀ TĨNH

2.1 Tổng quan về Khu kinh tế và Chi Cục Hải quan KKT cửa khẩu Cầu Treo –

Hà Tĩnh

2.1.1 Tổng quan về Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo – Hà Tĩnh

KKTCK quốc tế Cầu Treo được thành lập và hoạt động theo Quyết định số 162/2007/QĐ-TTg ngày 19/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ [15]

KKTCK quốc tế Cầu Treo nằm phía Tây, trên địa hình núi cao 300-800 m của tỉnh Hà Tĩnh thuộc địa bàn huyện Hương Sơn, trên quốc lộ 8A, gắn với cửa khẩu quốc

tế Cầu Treo qua biên giới Việt - Lào Cách Thành phố Hà Tĩnh khoảng 75 km; cách Thành phố Vinh – Nghệ An khoảng 60 km; cách cảng Vũng Áng khoảng 145 km; cách Thị trấn Lạc Xao (Lào) khoảng 35 km Diện tích đồi núi chiếm 85%, diện tích đất bằng phẳng rất ít, nằm rải rác ở các thung lũng ven sông Ngàn Phố Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo có 4 đơn vị hành chính, bao gồm: 3 xã: Sơn Kim 1, Sơn Kim 2, Sơn Tây và thị trấn Tây Sơn, với tổng diện tích đất tự nhiên trên 56 nghìn ha, dân số trên 2,1 vạn người Khu kinh tế được xác định là loại hình khu phi thuế quan, với định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực: Thương mại, du lịch, dịch vụ và công nghiệp chế

biến, gia công lắp ráp hàng dân dụng

KKTCK quốc tế Cầu Treo sở hữu một vị trí chiến lược đặc biệt đối với tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung, được quy hoạch thành trọng điểm của khu vực Bắc Trung bộ Việt Nam Khu kinh tế này gắn liền với cửa khẩu quốc tế Cầu Treo (sang cửa khẩu Nậm Pao, huyện Khamkheuth, tỉnh Bolykhamxai, Lào), nằm trên Quốc

lộ 8A qua biên giới Việt – Lào, có vị trí chiến lược trong phát triển Hành lang kinh tế Đông – Tây, trung tâm của nhiều mối liên kết giao thông Hành lang Đông – Tây và xuyên đại dương nhiều tiềm năng, đóng vai tṛ quan trọng trong hợp tác Tiểu vùng sông

Mê Kông mở rộng Hành lang đường bộ qua cửa khẩu Cầu Treo là hành lang vận tải

Trang 39

đường bộ thuận tiện nhất từ đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ sang phía Tây.Đây là vùng kinh tế quá cảnh cho 8 tỉnh của 3 nước sử dụng Quốc lộ 8A Ngoài ra, Cầu Treo còn kết nối với đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc - Nam chạy qua, rất thuận lợi cho việc giao thương hàng hóa, có khả năng xây dựng vùng hấp dẫn đầu tư thương mại, dịch vụ, du lịch và công nghiệp chế biến lắp ráp Nhờ vị trí chiến lược đó, những năm qua các hoạt động thương mại tại Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo đã diễn ra sôi động (chủ yếu là hàng hóa của Việt Nam, Lào, Thái Lan) Việt Nam xuất sang Lào và Thái Lan các sản phẩm như hải sản đông lạnh, nông sản, tơ tằm, vật liệu xây dựng Đồng thời, Việt Nam nhập khẩu từ Lào và Thái Lan một lượng tương đối lớn các sản phẩm như

gỗ, khoáng sản, hàng tiêu dùng như đồ điện, nước giải khát, nông sản …

Ngoài việc sở hữu một vị trí khá đắc địa, Cầu Treo còn được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho nguồn tài nguyên rất quý giá Cầu Treo có mỏ thiếc Sơn Kim trữ lượng 70.000 tấn, mỏ nước khoáng Sơn Kim nằm trong vùng quy hoạch Khu du lịch Nước Sốt với suối nước khoáng nóng rất tốt cho sức khỏe Khu vực Cầu Treo còn có hệ rừng

tự nhiên chiếm đến 80% diện tích được bảo tồn còn mang đậm nét hoang sơ, khí hậu trong lành, là điều kiện thuận lợi để đầu tư xây dựng các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch mạo hiểm, khu vui chơi giải trí

KKTCK Cầu Treo là một trong 8 khu kinh tế cửa khẩu trọng điểm của cả nước được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại văn bản số 2074/TTg-KTTH ngày 7/12/2012

để tập trung đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng khu kinh tế từ nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2013 - 2015 Hiện nay, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào đã

có chủ trương thành lập “Khu hợp tác kinh tế biên giới Hà Tĩnh - Bolykhamxay” trên

cơ sở KKT CKQT Cầu Treo và thành lập mới Khu kinh tế đối xứng phía Lào, tạo thành “Một khu vực, hai quốc gia, một chính sách” Nhiều chính sách ưu đãi đặc biệt được áp dụng cho khu hợp tác kinh tế biên giới này sẽ tạo động lực phát triển nhanh chóng cho khu vực biên giới của hai nước

Quy hoạch Phát triển các KKTCK của Việt Nam đến năm 2020 đã xác định, Khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo là một trong 9 cửa khẩu quốc tế trong cả nước

sẽ được Chính phủ đầu tư xây dựng đồng bộ về kết cấu hạ tầng, mô hình tổ chức quản

lý, cơ chế, chính sách [16]

Trang 40

2.1.2 Khái quát về Chi Cục Hải quan KKT cửa khẩu Cầu Treo – Hà Tĩnh

Hình 2.1 Trụ sở chi cục Hải quan cửa khẩu Cầu Treo

Chi cục Hải quan KKT cửa khẩu Cầu Treo là đơn vị trực thuộc Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về Hải quan thông qua việc quản

lý các hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn Khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo nhằm góp phần giữ vững ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của Khu kinh tế nói riêng và của tỉnh Hà Tĩnh nói chung

Chi cục Hải quan KKT cửa khẩu Cầu Treo được thành lập theo quyết định số 725/QĐ–BTC ngày 06 tháng 04 năm 2010 của Bộ Tài chính, thực hiện chức năng nhiệm vụ quy định tại quyết định 1169/QĐ-TCHQ ngày 09/06/2010 của Tổng cục Hải quan và Quyết định 162/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ Chi cục có chức năng và nhiệm vụ trực tiếp quản lý nhà nước về Hải quan trên địa bàn Khu kinh tế Cửa khẩu Cầu Treo; Thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa XNK, phương tiện vận tải XNC, đấu tranh phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại, vận chuyển tàng trữ trái phép các chất ma tuý trong phạm vi địa bàn hoạt động; Thực hiện công tác thanh khoản hồ sơ hàng hóa xuất-nhập-tồn của các doanh nghiệp trong Khu kinh tế; Tiến hành thu thuế

và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; Thực hiện việc theo dõi đốc thu thuế nợ đọng, cưỡng chế thuế và phúc tập hồ sơ Hải quan; Đảm bảo thu đúng, thu đủ, nộp kịp thời vào ngân sách Nhà nước; Thực hiện việc lập Biên bản, ra Quyết định tạm giữ hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính về Hải quan và ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính về Hải quan; Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Nhà nước trên địa bàn hoạt động của Chi cục để thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao; Tạo điều kiện tốt nhất cho Doanh nghiệp mở tờ khai hàng hóa XNK ra, vào Khu kinh tế [7]

Ngày đăng: 12/07/2016, 20:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quốc Anh (2009), “Phát triển khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam”, luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Quốc Anh
Năm: 2009
3. Ban Quản lý Khu kinh tế CKQT Cầu Treo (2007), Đề án “Phát triển Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo giai đoạn 2007-2010 và định hướng đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo giai đoạn 2007-2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Ban Quản lý Khu kinh tế CKQT Cầu Treo
Năm: 2007
4. Bộ tài Chính (2014), Quyết định 1842/QĐ-BTC ngày 30/7/2014 công bố TTHC mới/TTHC được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế/TTHC bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ trong lĩnh vực hải quan thuộc phạm vị chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tài Chính (2014)
Tác giả: Bộ tài Chính
Năm: 2014
5. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2013), Đề án "Rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển các khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển các khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Bộ Kế hoạch và đầu tư
Năm: 2013
6. Trần Thị Minh Châu (2014), “Quản lý nhà nước của Hải quan Hà Tĩnh tại Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo”, luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thị Minh Châu (2014), "“Quản lý nhà nước của Hải quan Hà Tĩnh tại Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo”
Tác giả: Trần Thị Minh Châu
Năm: 2014
7. Chi cục Hải quan Khu kinh tế CK Cầu Treo, Báo cáo tổng kết công tác các năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi cục Hải quan Khu kinh tế CK Cầu Treo
8. Trần Kim Chung (2001), “Đánh giá việc áp dụng một số cơ chế, chính sách về khu kinh tế cửa khẩu trong những năm qua và định hướng cho giai đoạn tiếp theo” - Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Kim Chung (2001)," “Đánh giá việc áp dụng một số cơ chế, chính sách về khu kinh tế cửa khẩu trong những năm qua và định hướng cho giai đoạn tiếp theo”
Tác giả: Trần Kim Chung
Năm: 2001
9. Phan Huy Đường (2012), Giáo trình Quản lý nhà nước về kinh tế, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Huy Đường (2012), Giáo trình "Quản lý nhà nước về kinh tế
Tác giả: Phan Huy Đường
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2012
10. Nguyễn Mạnh Hùng (2000), Vai trò, vị trí, lý thuyết về khuyến khích đầu tư thương mại vào các khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Mạnh Hùng (2000), "Vai trò, vị trí, lý thuyết về khuyến khích đầu tư thương mại vào các khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2000
11. Nguyễn Minh Hiếu (2001), Một số vấn đề kinh tế cửa khẩu Việt Nam trong quá trình hội nhập, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Hiếu (2001), "Một số vấn đề kinh tế cửa khẩu Việt Nam trong quá trình hội nhập
Tác giả: Nguyễn Minh Hiếu
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2001
12. Nguyễn Thị Mẫn (2007), “Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh các khu kinh tế cửa khẩu”, đề tài NCKH cấp Bộ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Mẫn (2007), "“Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh các khu kinh tế cửa khẩu”, đề tài NCKH cấp Bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Mẫn
Năm: 2007
14. Bùi Văn Thịnh (2003), "Tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực Hải quan ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực Hải quan ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Bùi Văn Thịnh
Năm: 2003
19. Tổng cục Thuế (2010), Chương trình cải cách và hiện đại hóa ngành Thuế đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình cải cách và hiện đại hóa ngành Thuế đến năm 2020
Tác giả: Tổng cục Thuế
Năm: 2010
2. Ban Quản lý Khu kinh tế CKQT Cầu Treo, Báo cáo tổng kết tình hình hoạt động Khu kinh tế qua các năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 Khác
15. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định số 162/2007/QĐ-TTg ngày 19/10/2007 về việc thành lập khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo tỉnh Hà Tĩnh Khác
16. Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 961/QĐ-TTg ngày 25/6/2010 về việc phê duyệt quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2025 Khác
17. Tổng cục hải quan (2009), Quyết định 1171/QĐ-TCHQ ngày 15/06/2009 ban hành quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Trụ sở chi cục Hải quan cửa khẩu Cầu Treo - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo, hà tĩnh
Hình 2.1. Trụ sở chi cục Hải quan cửa khẩu Cầu Treo (Trang 40)
Sơ đồ 2. 1. Cơ cấu tổ chức của Chi cục Hải quan KKT cửa khẩu Cầu Treo - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo, hà tĩnh
Sơ đồ 2. 1. Cơ cấu tổ chức của Chi cục Hải quan KKT cửa khẩu Cầu Treo (Trang 41)
Bảng 2. 1. Kim ngạch XNK qua KKTCK quốc tế Cầu Treo giai đoạn 2010-2014 - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo, hà tĩnh
Bảng 2. 1. Kim ngạch XNK qua KKTCK quốc tế Cầu Treo giai đoạn 2010-2014 (Trang 43)
Bảng 2.3. Hàng hóa từ nước ngoài vào Khu kinh tế - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo, hà tĩnh
Bảng 2.3. Hàng hóa từ nước ngoài vào Khu kinh tế (Trang 47)
Bảng 2.4.  Công tác quản lý khai thuế tại Chi cục Hải quan cảng Vũng Áng - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo, hà tĩnh
Bảng 2.4. Công tác quản lý khai thuế tại Chi cục Hải quan cảng Vũng Áng (Trang 52)
Bảng 2.6. Kết quả thu thuế qua Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo, hà tĩnh
Bảng 2.6. Kết quả thu thuế qua Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo (Trang 57)
Bảng 2.7.  Số liệu miễn thuế, hoàn thuế, không thu thuế tại Chi cục Hải quan Khu - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo, hà tĩnh
Bảng 2.7. Số liệu miễn thuế, hoàn thuế, không thu thuế tại Chi cục Hải quan Khu (Trang 59)
Bảng 2.8. Công tác báo cáo thanh khoản xuất – nhập – tồn kho - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo, hà tĩnh
Bảng 2.8. Công tác báo cáo thanh khoản xuất – nhập – tồn kho (Trang 59)
Bảng 2.12. Hình thức đăng ký khai thuế của doanh nghiệp - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo, hà tĩnh
Bảng 2.12. Hình thức đăng ký khai thuế của doanh nghiệp (Trang 66)
Hình thức   Tần suất  Tỷ lệ phần trăm (%) - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo, hà tĩnh
Hình th ức Tần suất Tỷ lệ phần trăm (%) (Trang 66)
Bảng 2.14. Đánh giá công tác quản lý thuế - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo, hà tĩnh
Bảng 2.14. Đánh giá công tác quản lý thuế (Trang 67)
Bảng kết quả 2.15 cho thấy, “CBHQ luôn đốc thúc, nhắc nhở DN kịp thời để DN - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo, hà tĩnh
Bảng k ết quả 2.15 cho thấy, “CBHQ luôn đốc thúc, nhắc nhở DN kịp thời để DN (Trang 68)
Bảng 2.16. Đánh giá công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo, hà tĩnh
Bảng 2.16. Đánh giá công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại (Trang 70)
Bảng 3.1. Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu qua KTCK Cầu Treo đến năm 2020 - Nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hải quan đối với hàng hóa đưa vào, đưa ra khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cầu treo, hà tĩnh
Bảng 3.1. Dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu qua KTCK Cầu Treo đến năm 2020 (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w