1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của vườn quốc gia phú quốc

335 677 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 335
Dung lượng 23,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- Đặng Minh Quân NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT THEO CÁC HỆ SINH THÁI RỪNG CỦA VƯỜN QUỐC GIA PHÚ QUỐC LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC Hà Nội - 2015...

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Đặng Minh Quân

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT

THEO CÁC HỆ SINH THÁI RỪNG

CỦA VƯỜN QUỐC GIA PHÚ QUỐC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Đặng Minh Quân

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT

THEO CÁC HỆ SINH THÁI RỪNG CỦA VƯỜN QUỐC GIA PHÚ QUỐC

Chuyên ngành: Sinh thái học

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình để bảo vệ luận án Thạc sĩ hay Tiến sĩ nào Các hình và ảnh sử dụng trong công trình là của tác giả và tập thể cộng tác

Tác giả luận án

Đặng Minh Quân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận án được hoàn thành là kết quả của sự nỗ lực học tập của bản thân, cùng với sự gúp đỡ chân thành, nhiệt tình của Quí thầy, cô Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, Trường Đại học Cần Thơ, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến GS TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn và PGS TS Lê Thu Hà, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của Quý thầy cô, cán bộ Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, Quý thầy cô Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã đóng góp ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận án

Chân thành cảm ơn Kỹ sư Vũ Văn Cần, Viện Điều tra và Quy hoạch rừng

đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thực địa, định danh một số mẫu cây ThS Phạm Thị Bích Thủy, ThS Phùng Thị Hằng, Trường Đại học Cần Thơ đã giúp tôi trong việc thu mẫu, ép mẫu, ghi chép số liệu trong các đợt nghiên cứu thực địa ThS Đặng Văn Sơn, Phòng Bảo tàng Thực vật, Viện Sinh học Nhiệt đới đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình tra cứu phân loại, xác định tên loài phục vụ cho luận án ThS Lê Thanh Nghề, Bộ môn Địa lý, Khoa Sư phạm, Trường Đại học Cần Thơ đã giúp tôi trong việc xây dựng các bản đồ trong luận

án Các học viên cao học chuyên ngành Sinh thái học khóa 14, 15, 16 của Trường Đại học Cần Thơ đã giúp tôi trong quá trình thu mẫu, đo đạc ô tiêu chuẩn trong nghiên cứu thực địa

Chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, cán bộ Phòng kỹ thuật, kiểm lâm viên công tác tại VQG Phú Quốc đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình điều tra thực địa và cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến luận án

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi cả về tinh thần và vật chất để tôi yên tâm hoàn thành bản luận án này

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận án

Đặng Minh Quân

Trang 5

1

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

MỤC LỤC ……… …1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… …5

DANH MỤC CÁC BẢNG……… …6

DANH MỤC CÁC HÌNH……….……… …8

MỞ ĐẦU……… 10

1 Tính cấp thiết của đề tài 10

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài……… 11

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ……… 11

4 Những điểm mới của luận án ……… 11

5 Bố cục của luận án 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 13

1.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU……… 13

1.1.1 Nghiên cứu về hệ thực vật……… 13

1.1.1.1 Trên thế giới ……… 13

1.1.1.2 Ở Việt Nam……… 13

1.1.1.3 Ở VQG Phú Quốc……… 16

1.1.2 Nghiên cứu về hệ sinh thái rừng……… 17

1.1.2.1 Trên thế giới……… 17

1.1.2.2 Ở Việt Nam……… 19

1.1.2.3 Ở VQG Phú Quốc……… 22

1.1.3 Nghiên cứu về dạng sống thực vật 23

1.1.3.1 Trên thế giới 23

1.1.3.2 Ở Việt Nam 25

1.1.3.3 Ở VQG Phú Quốc 27

1.1.4 Nghiên cứu về yếu tố địa lý thực vật……… 28

1.1.4.1 Trên thế giới……… 28

1.1.4.2 Ở Việt Nam……… 28

1.1.4.3 Ở VQG Phú Quốc……… 30

1.1.5 Nghiên cứu về cây có giá trị sử dụng, cây quý hiếm và tình trạng bảo tồn 30 1.1.5.1 Trên thế giới……… 30

1.1.5.2 Ở Việt Nam……… 31

1.1.5.3 Ở VQG Phú Quốc……… 32

Trang 6

2

1.1.6 Về nguyên nhân gây suy giảm và các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học… 33

1.1.6.1 Trên thế giới ……… 33

1.1.6.2 Ở Việt Nam……… 34

1.2 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU……… 36

1.2.1 Điều kiện tự nhiên……… 36

1.2.1.1 Vị trí địa lý……… 36

1.2.1.2 Địa hình……… 36

1.2.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng……… 37

1.2.1.4 Khí hậu và thuỷ văn……….…… 38

1.2.2 Điều kiện kinh tế và xã hội……… 41

1.2.2.1 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập……… 41

1.2.2.2 Sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp……… 41

1.2.2.3 Nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi……… 42

1.2.2.4 Giáo dục và y tế……… 42

1.2.2.5 Giao thông……… 42

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU… 43

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ……… 43

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU……… 43

2.2.1 Đa dạng hệ sinh thái rừng ở VQG Phú Quốc……… 43

2.2.2 Đa dạng thực vật bậc cao có mạch theo từng HST rừng ở VQG Phú Quốc… 43

2.2.3 Đa dạng hệ thực vật bậc cao có mạch của VQG Phú Quốc……… … 43

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……….…… 43

2.3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu……… 43

2.3.1.1 Thời gian nghiên cứu……… 43

2.3.1.2 Địa điểm nghiên cứu……… 43

2.3.2 Phương tiện nghiên cứu……… 44

2.3.2.1 Phương tiện nghiên cứu ngoài thực địa……… 44

2.3.2.2 Phương tiện nghiên cứu trong phòng thí nghiệm……… 44

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu……… 44

2.3.3.1 Phương pháp luận……… 44

2.3.3.2 Phương pháp kế thừa……… 45

2.3.3.3 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa……… 45

2.3.3.4 Phương pháp xử lý trong phòng thí nghiệm……… 46

2.3.3.5 Phương pháp nghiên cứu đa dạng HST rừng và lập bản đồ phân bố các HST rừng ở VQG Phú Quốc……… 47

2.2.3.6 Phương pháp đánh giá đa dạng hệ thực vật……… 48

Trang 7

3

2.2.3.7 Phương pháp xác định các nguyên nhân gây suy giảm và đề xuất giải

pháp bảo tồn hệ thực vật……… 50

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN……… 51

3.1 ĐA DẠNG CÁC HỆ SINH THÁI RỪNG Ở VƯỜN QUỐC GIA PHÚ QUỐC 51

3.1.1 Các nhóm nhân tố sinh thái phát sinh HST rừng ở VQG Phú Quốc………… 51

3.1.1.1 Nhóm nhân tố sinh thái phát sinh địa lý - địa hình……… 51

3.1.1.2 Nhóm nhân tố sinh thái khí hậu - thuỷ văn……… 51

3.1.1.3 Nhóm nhân tố sinh thái phát sinh địa chất - thổ nhưỡng……… 52

3.1.1.4 Nhóm nhân tố sinh thái phát sinh khu hệ thực vật……… 52

3.1.1.5 Nhóm nhân tố sinh thái phát sinh hoạt động của con người………… 53

3.1.2 Đa dạng các HST rừng ở VQG Phú Quốc……… 53

3.1.2.1 Hệ sinh thái rừng ngập mặn……… 54

3.1.2.2 Hệ sinh thái rừng úng phèn……… 58

3.1.2.3 Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 61

3.1.3 Bản đồ phân bố các hệ sinh thái rừng ở VQG Phú Quốc 68

3.2 ĐA DẠNG THỰC VẬT THEO TỪNG HST RỪNG Ở VƯỜN QUỐC GIA PHÚ QUỐC……… 68

3.2.1 Hệ sinh thái rừng ngập mặn……… 68

3.2.1.1 Đa dạng các taxon của hệ thực vật trong HST RNM……… 68

3.2.1.2 Đa dạng về dạng sống của thực vật trong HST RNM……… 73

3.2.1.3 Đa dạng về các yếu tố địa lý thực vật……… 76

3.2.1.4 Đa dạng nguồn tài nguyên cây có giá trị sử dụng trong HST RNM……… 77

3.2.1.5 Đa dạng tài nguyên cây quý hiếm và tình trạng bảo tồn……… 80

3.2.2 Hệ sinh thái rừng úng phèn……… 80

3.2.2.1 Đa dạng các taxon của hệ thực vật trong HST RUP……… 80

3.2.2.2 Đa dạng về dạng sống của thực vật trong HST RUP……… 86

3.2.2.3 Đa dạng về các yếu tố địa lý thực vật……… 89

3.2.2.4 Đa dạng nguồn tài nguyên cây có có giá trị sử dụng trong HST RUP…… 90

3.2.2.5 Đa dạng tài nguyên cây quý hiếm và tình trạng bảo tồn……… 93

3.2.3 Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới……… 94

3.2.3.1 Đa dạng các taxon của hệ thực vật trong HST RKTXMANĐ……… 94

3.2.3.2 Đa dạng về dạng sống của thực vật trong HST RKTXMANĐ……… 99

3.2.3.3 Đa dạng về các yếu tố địa lý thực vật……… 102

3.2.3.4 Đa dạng nguồn tài nguyên cây có giá trị sử dụng trong HST RKTXMANĐ……… 105

3.2.3.5 Đa dạng tài nguyên cây quý hiếm và tình trạng bảo tồn……… 108

3.3 ĐA DẠNG HỆ THỰC VẬT VƯỜN QUỐC GIA PHÚ QUỐC……… 109

Trang 8

4

3.3.1 Kết quả bổ sung và xây dựng hoàn chỉnh danh lục TVBCCM ở VQG

Phú Quốc……… 109

3.3.2 Đánh giá sự đa dạng các taxon hệ thực vật VQG Phú Quốc… 109

3.3.2.1 Đa dạng taxon ở bậc ngành……… 109

3.3.2.2 Đa dạng taxon ở bậc họ……… 114

3.3.2.3 Đa dạng taxon ở bậc chi……… 116

3.3.3 Đa dạng về dạng sống của hệ thực vật VQG Phú Quốc……… 117

3.3.4 Đa dạng về các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật VQG Phú Quốc……… 120

3.3.5 Đa dạng nguồn tài nguyên cây có giá trị sử dụng và cây quý hiếm………… 123

3.3.5.1 Đa dạng tài nguyên cây có giá trị sử dụng……… 123

3.3.5.2 Đa dạng tài nguyên cây quý hiếm và tình trạng bảo tồn……… 127

3.4 CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY SUY GIẢM VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG THỰC VẬT Ở VƯỜN QUỐC GIA PHÚ QUỐC……… 129

3.4.1 Các nguy cơ gây suy giảm tính đa dạng hệ thực vật VQG Phú Quốc… 129

3.4.1.1 Sự suy giảm diện tích đất rừng……… 129

3.4.1.2 Chặt phá rừng và khai thác lâm sản trái phép……… 131

3.4.1.3 Sự gia tăng dân số……… 132

3.4.1.4 Tác động của du lịch……… 132

3.4.1.5 Cháy rừng……… 133

3.4.1.6 Do thiếu nhân lực làm công tác quản lý, chăm sóc và bảo vệ rừng………… 133

3.4.2 Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn đa dạng HTV ở VQG Phú Quốc… 134

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 136

A KẾT LUẬN……… 136

B KIẾN NGHỊ……… 137

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ……… 138

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 139 PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Một số biểu mẫu dùng trong điều tra thực địa

Phụ lục 2 Một số yếu tố khí hậu đo được tại Trung tâm Khí tượng thủy văn tỉnh Kiên Giang

Phụ lục 3 Bản đồ và ảnh vệ tinh

Phụ lục 4 Danh lục thực vật bậc cao có mạch VQG Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

Phụ lục 5 Danh lục các loài thực vật bậc cao có mạch quý hiếm ở VQG Phú

Quốc và tình trạng bảo tồn

Phụ lục 6 Một số hình ảnh hoạt động ngoài thực địa của nhóm nghiên cứu

Phụ lục 7 Một số loài thực vật phổ biến ở Vườn Quốc gia Phú Quốc

Trang 9

5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CITES Convention on International Trade in Endangered Species of Wild

Fauna and Flora

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

ĐDSH Đa dạng sinh học

HST Hệ sinh thái

HTV Hệ thực vật

I Phụ lục I – Loài đã bị đe dọa

IA Loài nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại

II Phụ lục II – Loài sắp bị đe dọa tuyệt diệt

IIA Loài hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại

III Phụ lục III – Loài do qui định từng nước để ngăn chặn hoặc hạn chế

khai thác IUCN International Union for Conservation of Nature

KBTTN Khu Bảo tồn thiên nhiên

NĐ32 Nghị định 32/2006/NĐ-CP

RKTXMANĐ Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

Trang 10

6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng Nội dung Trang

1.1 Số liệu về khí hậu ở khu vực nghiên cứu……… 40

2.1 Các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật Việt Nam……… 48

2.2 Mười hai nhóm giá trị sử dụng của các loài thực vật……… 49

3.1 Sự phân bố của các taxon trong các ngành thực vật ở HST RNM………… 68

3.2 Số lượng cây NMCY và cây tham gia RNM ở VQG Phú Quốc so với Việt Nam………

69

3.3 Tỉ lệ của Magnoliopsida so với Liliopsida trong HST RNM……… 70

3.4 Các chỉ số đa dạng của hệ thực vật trong HST RNM……… 71

3.5 Mười họ đa dạng nhất của hệ thực vật trong HST RNM……… 72

3.6 Mười chi đa dạng nhất của hệ thực vật trong HST RNM……… 73

3.7 Số lượng và tỉ lệ các nhóm dạng sống của hệ thực vật trong HST RNM…… 74

3.8 Thống kê các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật trong HST RNM……… 76

3.9 Các nhóm giá trị sử dụng của hệ thực vật trong HST RNM……… 78

3.10 Sự phân bố của các taxon trong từng ngành thực vật ở HST RUP………… 81

3.11 Số lượng các taxon trong HST RUP ở VQG Phú Quốc so với VQG U Minh Thượng và VQG Tràm Chim……… 82

3.12 Tỉ lệ của hai lớp trong Magnoliophyta ở HST RUP……… 82

3.13 Các chỉ số đa dạng của hệ thực vật trong HST RUP……… 83

3.14 Các chỉ số đa dạng của hệ thực vật trong các HST RUP ở VQG Phú Quốc so với VQG U Minh Thượng và VQG Tràm Chim……… 83

3.15 Mười họ đa dạng nhất của hệ thực vật trong HST RUP……… 84

3.16 Mười chi đa dạng nhất của hệ thực vật trong HST RUP……… 85

3.17 Số lượng và tỉ lệ các nhóm dạng sống của hệ thực vật trong HST RUP…… 86

3.18 Thống kê các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật trong HST RUP……… 89

3.19 Các nhóm giá trị sử dụng của hệ thực vật trong HST RUP……… 91

3.20 Sự phân bố của các taxon trong các ngành thực vật ở HST RKTXMANĐ 94

3.21 Tỉ lệ của 2 lớp của Magnoliophyta trong HST RKTXMANĐ……… 95

3.22 Các chỉ số đa dạng của hệ thực vật trong HST RKTXMANĐ……… 96

3.23 Mười họ đa dạng nhất của hệ thực vật trong HST RKTXMANĐ………… 97

3.24 Mười chi đa dạng nhất của hệ thực vật trong HST RKTXMANĐ………… 98

3.25 Số lượng và tỉ lệ các nhóm dạng sống của hệ thực vật trong HST RKTXMANĐ……… 99

3.26 Thống kê các yếu tố địa lý thực vật của HTV trong HST RKTXMANĐ… 103

3.27 Danh sách các loài đặc hữu Phú Quốc……… 105

Trang 11

7

3.28 Các nhóm giá trị sử dụng của hệ thực vật trong HST RKTXMANĐ……… 105 3.29 Sự phân bố các taxon trong các ngành thực vật ở VQG Phú Quốc……… 110 3.30 Tỉ lệ của hệ TVBCCM VQG Phú Quốc so với hệ TVBCCM Việt Nam… 111 3.31 Tỉ lệ hai lớp trong Magnoliophyta ở hệ TVBCCM của VQG Phú Quốc… 112 3.32 Các chỉ số đa dạng của hệ thực vật VQG Phú Quốc……… 113

3.33 So sánh các chỉ số đa dạng của HTV VQG Phú Quốc với HTV VQG

3.34 Mười họ đa dạng nhất của hệ thực vật VQG Phú Quốc……… 115 3.35 Mười chi đa dạng nhất của hệ thực vật VQG Phú Quốc……… 116 3.36 Số lượng và tỉ lệ các nhóm dạng sống của HTV VQG Phú Quốc………… 117 3.37 Các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật VQG Phú Quốc……… 121 3.38 Các nhóm giá trị sử dụng của hệ thực vật VQG Phú Quốc……… 123 3.39 Số lượng các loài quý hiếm ở VQG Phú quốc và cấp độ bảo tồn………… 127 3.40 Thống kê diện tích đất canh tác ở Phú Quốc từ năm 2010 đến năm 2012… 129

3.41 Thống kê diện tích đất rừng ở các xã vùng lõi của VQG Phú Quốc

3.42 Thống kê diện tích đất trồng cây công nghiệp và cây ăn trái ở các xã

3.43 Thống kê dân số các xã trong vùng lõi của VQG Phú Quốc từ năn 2010

3.44 Thống kê số lượt khách du lịch đến Phú Quốc từ năm 2010 đến 2012…… 133

3.45 Các nguyên nhân gây suy giảm hệ thực vật rừng ở VQG Phú Quốc và

Trang 12

8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình Nội dung Trang

1.1 Bản đồ hành chính đảo Phú Quốc (2009)……… 36

1.2 Biểu đồ mối tương quan giữa nhiệt độ và lượng mưa trung bình các tháng của 12 năm ở đảo Phú Quốc……… 39

2.1 Sơ đồ các tuyến và điểm điều tra thực địa tại VQG Phú Quốc……… 43

3.1 RNM trên vùng đất bùn ven cửa sông Rạch Tràm (xã Bãi Thơm)………… 57

3.2 RNM trên vùng đất bồi cao, chỉ ngập khi triều cường (xã Gành Dầu)……… 57

3.3 RNM trên vùng đất bùn, nước lợ ven sông Rạch Tràm (xã Bãi Thơm)…… 57

3.4 RNM trên vùng đất cát có lớp bùn mỏng ven biển Bãi Bổn (xã Hàm Ninh) 57

3.5 Rừng tràm trên những giồng cát cố định, ít khi bị ngập nước vào mùa mưa (đồng Sáu Điển, xã Bãi Thơm)……… 60

3.6 Rừng tràm trên những vùng đất cát pha sét, chỉ ngập nước vào mùa mưa (đồng Sáu Điển, xã Bãi Thơm)……… 60

3.7 Rừng tràm trên những vùng đất trũng, ngập nước gần như quanh năm (Lung lớn, xã Cửa Cạn)……… 60

3.8 Rừng tràm trên những vùng đất thấp ven rạch, gần cửa biển, thường bị ngập mặn khi triều cường (sông Rạch Tràm, xã bãi Thơm)……… 60

3.9 Truông Nhum (Oncosperma tigillaria) ở xã Cửa Cạn……… 61

3.10 Truông Nhum (Oncosperma tigillaria) ở xã Bãi Thơm……… 61

3.11 Rừng nguyên sinh với mật độ dày (đường lên đỉnh núi Chúa)……… 67

3.12 Rừng nguyên sinh cây họ Dầu (đường Biên phòng)……… 67

3.13 Rừng nguyên sinh cây họ Dầu với những cây đã được định danh và được chọn làm nguồn giống để phục hồi rừng (xã Bãi Thơm)……… 67

3.14 Rừng thứ sinh kín cây lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, ưu thế là tầng cây gỗ nhỏ và cây bụi, dây leo khá phát triển (phía Nam chân núi Hòn Chảo)……… 67

3.15 Trảng cỏ Tranh (Imperata cylindrica) ở phía Tây chân núi Hòn Chảo…… 67

3.16 Trảng cỏ Tranh (Imperata cylindrica), Sim (Rhodomyrtus tomentosa) và Mua (Melastoma spp.) (đường Biên Phòng)……… 67

3.17 Trảng cây bụi Sim (Rhodomyrtus tomentosa) và Mua (Melastoma spp.) (Bãi Bổn, Hàm Ninh)……… 67

3.18 Rừng thứ sinh trên cát ven biển Vũng Bầu (xã Cửa Cạn)……… 67

3.19 Bản đồ phân bố các hệ sinh thái rừng ở VQG Phú Quốc……… 68

3.20 Biểu đồ tỉ lệ các bậc taxon của các ngành thực vật trong HST RNM……… 69

3.21 Biểu đồ tỉ lệ các bậc taxon trong hai lớp của Magnoliophyta ở HST RNM… 70

Trang 13

9

3.22 Biểu đồ tỉ lệ 10 họ đa dạng nhất của hệ thực vật trong HST RNM………… 72

3.23 Biểu đồ tỉ lệ 10 chi đa dạng nhất của hệ thực vật trong HST RNM………… 73

3.24 Phổ dạng sống của hệ thực vật trong HST RNM……… 74

3.25 Tỉ lệ các dạng sống của nhóm cây chồi trên trong HST RNM……… 75

3.26 Biểu đồ tỉ lệ các yếu tố địa lý của hệ thực vật trong HST RNM……… 77

3.27 Tỉ lệ các nhóm giá trị sử dụng của hệ thực vật trong HST RNM……… 78

3.28 Biểu đồ tỉ lệ các bậc taxon của các ngành thực vật trong HST RUP……… 81

3.29 Biểu đồ tỉ lệ các bậc taxon của hai lớp trong Magnoliophyta ở HST RUP… 82

3.30 Biểu đồ tỉ lệ 10 họ đa dạng nhất của hệ thực vật trong HST RUP………… 84

3.31 Biểu đồ tỉ lệ 10 chi đa dạng nhất của hệ thực vật trong HST RUP………… 85

3.32 Phổ dạng sống của hệ thực vật trong HST RUP……… 86

3.33 Tỉ lệ các dạng sống của nhóm cây chồi trên trong HST RUP……… 87

3.34 Biểu đồ tỉ lệ các yếu tố địa lý của hệ thực vật trong HST RUP……… 90

3.35 Tỉ lệ các nhóm giá trị sử dụng của hệ thực vật trong HST RUP……… 91

3.36 Biểu đồ tỉ lệ các bậc taxon của các ngành thực vật trong HST RKTXMANĐ……… 95

3.37 Biểu đồ tỉ lệ các bậc taxon của hai lớp trong Magnoliophyta ở HST RKTXMANĐ……… 96

3.38 Biểu đồ tỉ lệ 10 họ đa dạng nhất của hệ thực vật trong HST RKTXMANĐ 97

3.39 Biểu đồ tỉ lệ 10 chi đa dạng nhất của hệ thực vật trong HST RKTXMANĐ 99

3.40 Phổ dạng sống hệ thực vật trong HST RKTXMANĐ……… 100

3.41 Tỉ lệ các dạng sống của nhóm cây chồi trên trong HST RKTXMANĐ…… 101

3.42 Biểu đồ tỉ lệ các yếu tố địa lý của hệ thực vật trong HST RKTXMANĐ…… 104

3.43 Tỉ lệ các nhóm giá trị sử dụng của hệ thực vật trong HST RKTXMANĐ… 106

3.44 Biểu đồ tỉ lệ các bậc taxon của các ngành thực vật ở VQG Phú Quốc…… 110

3.45 Biểu đồ tỉ lệ các bậc taxon trong hai lớp của Magnoliophyta ở VQG Phú Quốc……… 112

3.46 Biểu đồ tỉ lệ 10 họ đa dạng nhất của hệ thực vật VQG Phú Quốc………… 115

3.47 Biểu đồ tỉ lệ 10 chi đa dạng nhất của hệ thực vật VQG Phú Quốc………… 117

3.48 Phổ dạng sống hệ thực vật VQG Phú Quốc……… 118

3.49 Tỉ lệ các nhóm dạng sống cây chồi trên trong HTV VQG Phú Quốc……… 119

3.50 Tỉ lệ các nhóm yếu tố địa lý của hệ thực vật VQG Phú Quốc……… 122

3.51 Biểu đồ tỉ lệ các yếu tố địa lý của hệ thực vật VQG Phú Quốc……… 122

3.52 Tỉ lệ các nhóm giá trị sử dụng của hệ thực vật VQG Phú Quốc……… 124

Trang 14

10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, vấn đề nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) đã trở thành một chiến lược toàn cầu Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời nhằm mục đích để hướng dẫn, giúp đỡ, tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển ĐDSH trên toàn thế giới Đặc biệt là tại Hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và ĐDSH được tổ chức tại Rio de Janeiro (Braxin) vào năm 1992, đã có 150 nước ký vào Công ước về ĐDSH

và bảo vệ chúng, trong đó có Việt Nam [119] Điều này cho thấy, sự nhận thức của thế giới về tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc bảo tồn ĐDSH

Việt Nam được công nhận là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á phong phú về loài, giàu về ĐDSH và là một trong những điểm nóng về ĐDSH với khoảng 10% trong tổng số các loài sinh vật được biết hiện nay trên thế giới [91] Do

đó, vấn đề bảo tồn ĐDSH là một yêu cầu cấp bách đã được Đảng và Nhà nước rất quan tâm

Vườn Quốc gia (VQG) Phú Quốc nằm ở phía Bắc của đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, trong Vịnh Thái Lan, cận xích đạo, có khí hậu nhiệt đới gió mùa (nóng

ẩm, mưa nhiều), nên hệ thực vật (HTV) rừng và hệ sinh thái (HST) rừng ở đây rất đa dạng và phong phú Với tổng diện tích là 31.422 ha, trong đó có tới 29.135,9 ha rừng

tự nhiên [136, 137] Đặc biệt, ở VQG Phú Quốc còn khoảng 3.000 ha rừng nguyên sinh với ưu thế là các loài cây gỗ thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), đây là nguồn tài nguyên quý giá cần được nghiên cứu để bảo tồn Ngoài ra, nơi đây còn có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, là vốn quý để phát triển du lịch sinh thái

Tuy nhiên, từ khi thành lập VQG đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về tính đa dạng của HTV rừng

và HST rừng ở VQG Phú Quốc Các nghiên cứu trước đây chỉ mới thống kê một cách tổng quát số lượng loài, chi, họ và ngành thực vật có ở VQG Phú Quốc mà chưa có đầy đủ bộ mẫu các loài để so sánh, đối chiếu Thêm vào đó, tốc độ đô thị hóa và phát triển du lịch ở đây diễn ra rất nhanh, dẫn đến nhiều loài thực vật bị khai thác mạnh phục vụ cho du lịch (làm đồ mỹ nghệ, đóng ghe tàu, làm thùng ủ rượu, ủ nước mắm, làm thuốc, làm cảnh ), nhiều nơi rừng tự nhiên bị lấn chiếm để xây nhà nghỉ, các hoạt động vui chơi, giải trí nên ở đây rừng đang bị suy thoái dần, đặc biệt là ở đai thấp

Do đó, đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của

Trang 15

11

Vườn Quốc gia Phú Quốc” được thực hiện nhằm điều tra, đánh giá sự đa dạng thực

vật về các taxon, các yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật, đa dạng về dạng sống, đa dạng về tài nguyên cây có giá trị sử dụng và cây quý hiếm cần bảo vệ, đa dạng về các HST rừng là rất cần thiết cho công tác bảo tồn để làm giảm thiểu những tác động của

du lịch với môi trường tự nhiên và phát triển bền vững các giá trị ĐDSH của VQG Phú Quốc

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Phân tích và đánh giá được sự đa dạng các kiểu HST rừng ở VQG Phú Quốc theo quan điểm sinh thái phát sinh và xây dựng được bản đồ phân bố các HST rừng ở VQG Phú Quốc

- Phân tích và đánh giá được mức độ đa dạng của hệ thực vật bậc cao có mạch (TVBCCM) theo từng HST rừng và của cả VQG Phú Quốc

- Bổ sung và xây dựng hoàn chỉnh danh lục TVBCCM cho VQG Phú Quốc Phân tích các nguyên nhân gây suy giảm HTV, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng HTV rừng ở VQG Phú Quốc có hiệu quả hơn

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa thực tiễn

+ Kết quả của luận án cung cấp những luận cứ khoa học, giúp các nhà quản lý xây dựng được chiến lược và kế hoạch bảo tồn các HST rừng và HTV rừng cho VQG Phú Quốc, nhất là việc bảo tồn các loài thực vật có giá trị và quý hiếm, khu rừng nguyên sinh ở VQG Phú Quốc

+ Xác định được các nguyên nhân gây suy giảm đa dạng thực vật, từ đó xây dựng các giải pháp bảo tồn nhằm hạn chế tối đa sự suy giảm này

4 Những điểm mới của luận án

- Lần đầu tiên tổng hợp được 5 nhóm nhân tố sinh thái phát sinh HST rừng ở VQG Phú Quốc (địa lý – địa hình, khí hậu – thủy văn, địa chất – thổ nhưỡng, khu hệ thực vật và hoạt động của con người) Từ đó xác định được VQG Phú Quốc có 3 HST

Trang 16

12

rừng (HST rừng ngập mặn, HST rừng úng phèn và HST rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới)

- Lần đầu tiên đánh giá đầy đủ và hệ thống về đa dạng TVBCCM của cả VQG Phú Quốc và của mỗi HST rừng về thành phần loài, dạng sống, yếu tố địa lý thực vật, giá trị sử dụng và các loài quý hiếm

- Lần đầu tiên xây dựng được bản đồ phân bố các HST rừng ở VQG Phú Quốc với tỉ lệ 1/145.000

5 Bố cục của luận án

Luận án bao gồm 150 trang:

Mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng, danh mục các hình: 9 trang (1 – 9);

Mở đầu: 03 trang (10 – 12);

Chương 1: Tổng quan tài liệu - 30 trang (13 - 42);

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu - 8 trang (43 - 50);

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận - 85 trang (51 - 135);

Kết luận và kiến nghị: 2 trang (136 - 137);

Danh mục các công trình công bố của tác giả liên quan đến luận án: 01 trang (138);

Tài liệu tham khảo: 168 tài liệu (từ trang 139 – 150);

Phụ lục: 7 phụ lục

Trang 17

13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Nghiên cứu về hệ thực vật

1.1.1.1 Trên thế giới

Việc nghiên cứu các hệ thực vật trên thế giới đã có từ rất lâu, đến nay đã thống

kê được khoảng 90.000 loài có mặt ở vùng nhiệt đới, 50.000 loài ở vùng ôn đới Bắc

Mỹ và Âu – Á Vùng nhiệt đới Nam Mỹ là nơi giàu loài nhất, chiếm 1/3 tổng số loài trên toàn thế giới, trong đó, Baxin có thể có tới 55.000 loài, Colombia có khoảng 35.000 loài và Venezuela có 15.000 – 25.000 loài Kế tiếp là vùng Đông Nam Á, trong

đó Niu Ghinea có khoảng 15.000 – 20.000 loài, Indonesia có tới 20.000 loài, Malaysia

và Thái Lan có khoảng 12.000 loài, Đông Dương đạt tới 15.000 loài Châu Phi có sự

đa dạng thấp hơn, các nước giàu loài nhất vùng này gồm Tanzania có khoảng 10.000 loài, Camơrun có khoảng 8.000 loài, Gabon có 6.000 – 7.000 loài [101, 105]

Theo số liệu của Trung tâm giám sát Bảo tồn thế giới (2000) thì trên thế giới đã thống kê được khoảng 1.700.000 loài sinh vật, trong đó TVBCCM có khoảng 250.000 loài (số loài ước tính khoảng 300.000 loài) (theo [41])

Đối với các nước có nền khoa học và kinh tế phát triển sớm như Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nga… thì việc nghiên cứu HTV trên toàn lãnh thổ quốc gia đã được hoàn thành từ lâu, các mẫu thực vật đã được thu thập, lưu trữ tại các phòng mẫu khô (herbarium) nổi tiếng thế giới như Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Paris (Pháp), Kew (Anh quốc), Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên New York (Hoa Kỳ), Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Leiden (Hà Lan) nên khi xây dựng các Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN), các VQG rất thuận lợi và đơn giản

Một số nước đang phát triển thuộc khu vực Châu Á, với sự giúp đỡ và tài trợ của nước ngoài, cơ bản cũng đã hoàn thành bộ Thực vật chí, tiêu biểu như Thực vật chí Hồng Kông (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí Ấn độ (1872 – 1897) gồm 7 tập, Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 – 1925), Thực vật chí Hải Nam Trung Quốc (1964 – 1977), Thực vật chí Vân Nam Trung Quốc (1977 – 1997), Thực vật chí Trung Quốc (1959 – 2000) (theo [161])

1.1.1.2 Ở Việt Nam

Lịch sử nghiên cứu về đa dạng HTV ở Việt Nam có thể chia làm 3 thời kỳ:

* Thời kỳ trước năm 1954

Trong thời kỳ này, tài nguyên thực vật phong phú ở nước ta đã hấp dẫn nhiều

nhà nghiên cứu phương Tây, họ đã để lại một số công trình tiêu biểu như: “Flora

Trang 18

14

Cochinchinensis” (Thực vật Nam bộ) của Loureiro (1790) đã mô tả gần 700 loài cây [165]; “Flore forestiere de la Cochinchine” (Thực vật rừng Nam bộ) gồm 4 tập của Pierre (1879 - 1907) đã mô tả khoảng 800 loài cây gỗ [167]; “Supplément à la Flore générale de l’Indo-Chine” (Bổ sung thực vật chí đại cương Đông Dương) của

Humbert (1938) đã bổ sung, chỉnh lý để hoàn thiện việc đánh giá thành phần loài cho

toàn vùng Đông Dương [163]; “Les plantes medicinalles du Cambodge, du Laos et du Vietnam” (Các cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam) gồm 4 tập của Pétélot

(1952 – 1954) đã khảo sát nguồn tài nguyên cây thuốc của toàn Đông Dương [166]…Công trình nổi tiếng nhất, được xem là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng

thực vật Việt Nam, đó là bộ “Flore générale de l’Indo-Chine” (Thực vật chí Đông

Dương) do Lecomte chủ biên (1907 – 1952) Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương [164] Dựa trên cơ sở bộ sách này, Thái Văn Trừng (1978) đã thống kê được hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài, 1.850 chi và 289 họ [133]

Đối với mỗi miền: Ở miền Bắc, Pócs Tamás (1965) dựa trên cơ sở các công

trình đã có, thống kê được ở miền Bắc có 5.190 loài [168] Sau đó, Phan Kế Lộc (1969) thống kê và bổ sung, nâng số loài ở miền Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và

140 họ, trong đó có 5.069 loài thực vật Hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại

[68] Bên cạnh các công trình này còn có bộ "Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam" gồm

6 tập do Lê Khả Kế chủ biên (1969 – 1976) [60] Ở miền Nam có công trình nổi

tiếng của Phạm Hoàng Hộ (1970 - 1972) công bố trong hai tập “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” đã giới thiệu 5.326 loài, trong đó có 60 loài Thực vật bậc thấp và 20 loài

Rêu, còn lại 5.246 loài TVBCCM [48]

* Thời kỳ từ 1975 đến nay

Trên phạm vi cả nước: Công trình tiêu biểu nhất là bộ “Cây cỏ Việt Nam”

của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) [50] gồm 3 tập trong 6 quyển, xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam (1999 - 2000) gồm 3 quyển [51] Đây được xem là bộ danh sách đầy đủ thông tin khoa học và dễ sử dụng nhất

để tra cứu tên loài, đã góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam

Song song với bộ sách nổi tiếng đó, các nhà thực vật học Liên Xô (cũ) và

Việt Nam cũng đã thống kê lại HTV Việt Nam và đã đăng trong 2 tập “Vascular

Trang 19

15

Plants Synopsis of Vietnamese Flora” (Kỷ yếu cây có mạch của thực vật Việt Nam)

tập 1, 2 và Tạp chí Sinh học số 4 và 5 (Số chuyên đề hệ thực vật Việt Nam) (1994,

1995) [130, 131] Một công trình rất có giá trị nữa là bộ “Danh lục các loài thực vật Việt nam” (2001, 2003, 2005) do tập thể các nhà thực vật Việt Nam tập hợp và

xây dựng với trên 20.000 loài thực vật bao gồm tảo, nấm và thực vật bậc cao trên phạm vi toàn quốc đã được công bố [7, 132] Đây là tài liệu tổng hợp được cập nhật đầy đủ nhất, đáng tin cậy nhất từ trước tới nay, là cơ sở để tra cứu và chỉnh lý tên gọi [107]

Bên cạnh đó, từng bộ, họ riêng biệt trên phạm vi cả nước cũng đã được công

bố như: “họ Lan – Orchidaceae” (1994) [139], “Phong lan Việt Nam” (1998) [54],

“Khóa xác định và hệ thống phân loại họ Thầu dầu Việt Nam” (1999, 2007) [102, 157], “họ Na – Annonaceae” (2000) [6], “họ Bạc hà – Lamiaceae” (2000) [88],

“họ Cói – Cyperaceae” (2002) [63], “họ Đơn nem – Myrsinaceae” (2002) [66], “họ Trúc đào – Apocynaceae” (2007) [74], “họ Cỏ roi ngựa – Verbenaceae” (2007) [89], “họ Cúc – Asteraceae” (2007) [8], “bộ Hoa loa kèn – Liliales” (2007) [38],

“họ Rau răm – Polygonaceae” (2007) [39], “họ Lan – Orchidaceae (chi Dendrobium)” (2007) [58] Mặc dù số lượng các chuyên khảo còn rất ít so với số

họ thực vật hiện có ở Việt Nam, song đây là những nghiên cứu chuyên sâu, các thông tin về các loài trong họ được trình bày rất đầy đủ, là nguồn tài liệu rất quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại thực vật Việt Nam

Để cung cấp những tư liệu mang tính tổng quát về HTV Việt Nam trong phạm vi cả nước, phục vụ cho việc giảng dạy và đánh giá tính đa dạng HTV, một

số tác giả cũng đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã có trước đó theo những hệ thống khác nhau: Nguyễn Tiến Bân (1990) dựa trên hệ thống của Takhtajan đã thống kê được thực vật Hạt kín trong HTV Việt Nam hiện biết là 8.500 loài, 2.050 chi, trong đó, lớp Hai lá mầm có 1.590 chi và trên 6.300 loài, lớp Một lá mầm có

460 chi với 2.200 loài (theo [107]) Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết HTV Việt Nam

có 10.361 loài, 2.256 chi, 305 họ chiếm 4%, 15% và 57% tổng số các loài, chi và

họ của thế giới, trong đó 9.628 loài, 2.010 chi, 291 họ cây hoang dại có mạch và

733 loài, 246 chi và 14 họ cây trồng [68] Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp

và chỉnh lý các tên theo hệ thống Brummitt (1992) đã chỉ ra hệ thực vật bậc cao ở Việt Nam hiện biết 11.398 loài, 2.524 chi, 397 họ, trong đó có 24 họ có số loài từ

100 trở lên với tổng số là 5.220 loài chiếm tỉ lệ 45,80% số loài của hệ [101]

Trong phạm vi từng vùng, tỉnh, VQG, KBTTN: Từ năm 1990 đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về đa dạng HTV được công bố như: HTV Lam sơn của Lê Trần Chấn (1990) [18]; HTV VQG Cúc Phương của Nguyễn Nghĩa Thìn (1994, 1997) [153, 154], Phùng Ngọc Lan và cộng sự (1997) [65], VQG Cúc

Trang 20

16

Phương (2002) [138]; Đa dạng thực vật núi đá vôi Hòa Bình của Nguyễn Nghĩa Thìn và Trần Quang Ngọc (1995) [108]; HTV tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu của Đoàn Cảnh (1997) [16]; HTV ở vùng núi cao Phansipan và VQG Hoàng Liên của Trần Đình Lý (1995) [72], Trần Đình Lý và cộng sự (1996) [75], Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (1996, 1998, 2004, 2005, 2008) [107, 110, 115, 118, 155]; Đa dạng thực vật ở các tỉnh ven biển Nam Trung bộ của Nguyễn Nghĩa Thìn và Vũ Văn Cần (1999) [111]; HTV VQG Pù Mát của Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (1999, 2001, 2004) [103, 113, 116], Đặng Quang Châu và cộng sự (1999) [21], Nguyễn Thanh Nhàn và Nguyễn Văn Sinh (2009) [81]; HTV KBTTN Na Hang của Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (1996, 2006) [100, 119]; HTV VQG Nam Cát Tiên của Nguyễn Nghĩa Thìn, Phạm Phú Long và Trần Văn Mùi (2000) [112]; HTV VQG Bạch Mã của Nguyễn Nghĩa Thìn và Mai Văn Phô (2003) [114], Đỗ Ngọc Đài và cộng sự (2008) [36]; Nghiên cứu về đa dạng và tài nguyên thực vật VQG Xuân Sơn của Trần Minh Hợi và cộng sự (2005, 2008) [45, 46]; Hệ TVBCCM trên vùng núi đá vôi VQG Bến En của Đỗ Ngọc Đài và cộng sự (2007) [35]; HTV VQG Vũ Quang của Đỗ Ngọc Đài, Phan Thúy Hà (2008) [34], Phạm Hồng Ban (2010) [3]; Tính đa dạng, giá trị bảo tồn nguồn tài nguyên thực vật ở VQG Núi Chúa của Lý Ngọc Sâm (2009) [93]; Hệ TVBCCM ở KBTTN Xuân Liên của Phạm Hồng Ban (2010) [4],

Đỗ Ngọc Đài và cộng sự (2010) [37]; HTV KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng của Hoàng Thị Thanh Thúy, Lê Ngọc Công, Đinh Thị Phượng (2009) [125], Ngô Xuân Hải và Đặng Kim Vui (2010) [40]; ĐDSH VQG Bidoup – Núi Bà của Nguyễn Đăng Hội và Kuznetsov (2011) [52]; Đa dạng thực vật có hoa ở Tây Nguyên của Trần Thế Bách và cộng sự (2013) [1]

Ngay cả những đảo xa xôi của Tổ quốc, những nghiên cứu về đa dạng thực vật cũng được tiến hành, tiêu biểu như: HTV đảo Trường Sa lớn và Nam Yết của Nguyễn Khắc Khôi và Vũ Xuân Phương (1995) [64]; Tài nguyên sinh vật ở VQG Côn Đảo của Nguyễn Đức Ngắn (1997) [80], Trần Đình Huệ (2011) [56]; HTV VQG Cát Bà của Kim J W và Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) [152], Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) [157]; Đa dạng thực vật thuộc ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) ở KBTTN Hòn Bà của Trần Thế Bách và cộng sự (2013) [2]; Đa dạng TVBCCM tại đảo Bạch Long Vĩ của Bùi Đức Quang và Nguyễn Thế Cường (2013) [90]…

1.1.1.3 Ở VQG Phú Quốc

Phú Quốc đã được khảo sát từ rất sớm bởi các nhà thực vật học người Pháp Tiêu biểu như Pierre (1879 – 1907) đã khảo sát đảo này và mô tả hơn 400 loài cây

rừng trong bộ sách kinh điển “Flore forestière de Cochinchine” Sau Pierre đến

Godefroy khảo sát đảo vào năm 1876 Tiếp theo là Geoffray cũng đã khảo sát đảo vào

Trang 21

17

đầu thế kỷ 20 (1904 – 1905), các kết quả được công bố trong bộ “Flore Générale de l’Indochine” (1907 – 1944) (theo [49])

Năm 1983, nhóm nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ đã tiến hành 2 đợt khảo sát ở

đảo Phú Quốc Kết quả đã được công bố trong cuốn “Thực vật ở đảo Phú Quốc”

(1985) gồm 24 loài nấm, 112 loài cây trồng và 793 loài TVBCCM mọc tự nhiên, trong

đó có 19 loài TVBCCM mới ghi nhận cho Việt Nam [49]

Năm 2003, Phân Viện điều tra Qui hoạch rừng II – thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành điều tra sơ bộ thành phần loài TVBCCM của VQG Phú Quốc Dựa trên kết quả nghiên cứu thực địa và kế thừa các kết quả nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ trước đây, đã lập bảng danh lục các loài thực vật rừng ở VQG Phú Quốc gồm 1.164 loài/dưới loài thuộc 531 chi, 137 họ (theo [83]) Trong bảng danh lục này, tên Việt

Nam và tên khoa học của các loài, chi, họ được hiệu đính theo bộ sách “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ [50, 51]

Từ năm 2007 đến 2009, Lý Thọ với sự tài trợ của Tổ chức WAR (Wildlife At Risk) đã khảo sát các loài Lan hoang dã ở đảo Phú Quốc Kết quả đã ghi nhận được 53

chi với 99 loài trong cuốn “Lan hoang dã Phú Quốc – Hướng dẫn định danh ngoài thực địa” (2009) [122]

Hiện nay, việc nghiên cứu về thực vật nhằm kiểm kê thành phần và số lượng loài phục vụ cho việc bảo tồn ở VQG Phú Quốc chủ yếu do các cán bộ, nhân viên của VQG Phú Quốc thực hiện nhưng qui mô còn nhỏ, chưa đánh giá đầy đủ giá trị ĐDSH của VQG Phú Quốc

1.1.2 Nghiên cứu về hệ sinh thái rừng

1.1.2.1 Trên thế giới

HST đã được nghiên cứu từ lâu, khái niệm này đã được Xucasov (1944) đưa

ra dưới các tên gọi khác nhau như “Sinh vật quần lạc” rồi được mở rộng thành khái niệm “Sinh vật địa quần thể” (Biogeocenose) (theo [134]) Thuật ngữ hệ sinh thái (Ecosystem) được nhà sinh thái học người Anh là Tansley đưa ra vào năm 1935, khi ông nghiên cứu về sự hình thành và tiến hóa của các thảm thực vật trên các đảo

đá ở nước Anh [97] Từ đó đến nay, thuật ngữ này được diễn giải và trình bày tuy

có khác nhau, nhưng nội dung căn bản vẫn giống nhau HST là một hệ thống chức năng và cấu trúc cơ sở bao gồm sinh vật và môi trường tác động lẫn nhau và ở đó thực hiện vòng tuần hoàn vật chất, dòng năng lượng và dòng thông tin Tuy nhiên, HST vẫn là khái niệm chung chưa chỉ ra phạm vi và đối tượng cụ thể Đối tượng và phạm vi của HST chỉ được xác định khi có định ngữ kèm theo, chẳng hạn như HST rừng khộp, HST rừng ngập mặn… [73, 82]

Trang 22

18

Có nhiều quan điểm trong phân loại HST như: Quan điểm hình thái ngoại mạo của Ellenberg và Mueller – Dombois (1967), quan điểm theo chức năng của Ellenberg (1973) và quan điểm địa lý khí hậu của Walter (1976) Theo Schubert (1986) thì một HST cơ bản là một hệ thống bao gồm quần xã sinh vật cụ thể (Biocenose) và môi trường sống của nó (Biotope) Để xác định ranh giới của một HST cụ thể trong một vùng phải căn cứ vào các hợp phần tổng thể của nó, mà trước hết là các loài sinh vật ưu thế, bởi vì chính các loài ưu thế ảnh hưởng có tính quyết định đến chu trình vật chất và dòng năng lượng trong HST Trong một HST rừng có thể phân loại thành các tầng phiến hay quần phiến (Synusium) khác nhau như tầng cây gỗ (tầng A1, A2, A3), tầng cây bụi (tầng B), tầng cỏ (tầng C), ngoài ra còn có quần phiến dây leo, quần phiến cây phụ sinh, quần phiến cây ký sinh và bán ký sinh (theo [73, 82])

Ở châu Âu, theo Schmitthusen (1959) có 2 hệ thống phân loại HST rừng chủ yếu, đó là hệ thống phân loại các quần xã thực vật của Braun - Blanquet (1928), được thực hiện chủ yếu bởi các nhà thực vật học theo trường phái của Pháp và hệ thống phân loại các quần thể thực vật, chủ yếu được thực hiện bởi những nhà địa thực vật của Đức (theo [104]) Theo hệ thống phân loại các quần xã thực vật của Braun – Blanquet (1928) thì các đặc điểm chủ yếu quyết định phân chia các quần

xã thực vật là hợp loài (bao gồm các loài tiêu biểu, loài phân cách và các loài có tính ổn định cao trong quần xã), kích thước khu phân bố tối thiểu của quần xã và số lượng tuyệt đối của các loài trong quần xã (theo [73])

Ở Nga, người đầu tiên đặt nền móng chắc chắn cho vấn đề phân loại các HST rừng phục vụ kinh doanh là Morodop (1912) Với quan niệm, kiểu rừng là tập hợp các lâm phần có thể khác nhau về những đặc trưng thứ yếu nhưng lại tương tự nhau về lập địa, đặc biệt là nhân tố thổ nhưỡng, ông đã phân loại rừng theo 5 yếu tố hình thành rừng bao gồm: đặc tính sinh thái học của các loài cây cao, hoàn cảnh địa lý (khí hậu, thổ nhưỡng, địa chất…), quan hệ giữa các thực vật tạo nên quần lạc và quan hệ giữa chúng với động vật, nhân tố lịch sử địa chất và tác động của con người Kế thừa quan điểm này, Xucasov (1944) đã xây dựng nên trường phái phân loại kiểu rừng dựa trên nguyên lý sinh địa quần lạc với yếu tố đầu tiên cần phải chú ý khi phân loại kiểu rừng

là địa hình, sau đó là thực bì và thổ nhưỡng Cũng xuất phát từ quan điểm coi rừng là thể thống nhất giữa sinh vật rừng và hoàn cảnh, Pogrenhiac cho rằng hoàn cảnh là cái

có trước, chủ đạo và tương đối ổn định Ông đưa ra hệ thống phân loại bao gồm 3 cấp: Kiểu lập địa (bao gồm mọi khu đất có điều kiện thổ nhưỡng giống nhau, trong điều kiện thổ nhưỡng thì độ phì và độ ẩm được chú trọng hơn cả), kiểu rừng (kiểu lập địa trong một điều kiện khí hậu nhất định) và kiểu lâm phần (bao gồm những khoảng rừng giống nhau cả về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu quần lạc thực vật) (theo [104])

Trang 23

19

Ở Mỹ, phân loại HST rừng chủ yếu theo học thuyết cực đỉnh (Climax) của Colleman Climax là một quần xã thực vật ổn định trong quá trình phát triển lâu dài

trên những vùng lãnh thổ rộng lớn với đất đai đã được hình thành từ lâu Khí hậu là

nhân tố để xác định Climax Ngoài khái niệm Climax, các nhà lâm học Hoa Kỳ còn

đưa ra khái niệm tiền đỉnh cực (á đỉnh cực), đơn đỉnh cực, đa đỉnh cực (theo [104])

Năm 1973, UNESCO đã công bố một khung phân loại các hệ sinh thái thảm thực vật trên thế giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo, cấu trúc và được thể hiện trên bản đồ tỉ lệ 1:2.000.000 [160]

1.1.2.2 Ở Việt Nam

Việc nghiên cứu các HST rừng và các điều kiện hoàn cảnh, hoặc nghiên cứu các quần hệ thực vật rừng ở nước ta đã có từ lâu Tuy nhiên, hầu hết những công trình này đều có phạm vi khu vực địa lý hẹp, giới hạn trong một tỉnh hay một vùng như: Nghiên cứu về rừng ngập mặn ở Cà Mau của Moquillon (1944) và Thái Văn Trừng (1948); Những quần hệ thực vật trên những cao nguyên Trung bộ Việt Nam

và các vùng tiếp giáp” của Champsoloix (1956); Góp phần nghiên cứu khu rừng già Cúc Phương ở Ninh Bình của Dương Hữu Thời (1960); Sinh thái hệ thực vật và thực bì vùng ven biển miền Bắc của Phan Nguyên Hồng (1968)… (theo [134])

Việc phân loại rừng theo trạng thái đã được Loschau (1960) đưa ra khi nghiên cứu rừng ở Quảng Ninh Ông đã phân thành 4 trạng thái như sau: Rừng loại I - gồm những đất đai hoang trọc, trảng cỏ và cây bụi; Rừng loại II - gồm những rừng non mới mọc; Rừng loại III - gồm tất cả các rừng đã bị khai thác trở nên nghèo kiệt, tuy còn có thể khai thác lấy gỗ trụ mỏ; Rừng loại IV - rừng nguyên sinh chưa bị khai phá Đây là

hệ thống phân loại rừng đã được áp dụng khá rộng rãi ở nước ta trong việc điều tra tái sinh rừng cũng như điều tra tài nguyên rừng theo trạng thái Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã áp dụng hệ thống này vào việc phân loại trạng thái rừng phục vụ công tác quy hoạch, thiết kế kinh doanh rừng (theo [104])

Việc phân loại các HST rừng theo đai cao và điều kiện sinh thái đã được Trần Ngũ Phương (1970, 1995) [85, 86] đưa ra khi xây dựng bảng phân loại rừng miền Bắc Việt Nam Ngoài việc phân chia các đai trên cơ sở độ cao, còn chú ý đến việc nghiên cứu qui luật diễn thế thứ sinh, diễn biến độ phì, các tính chất vật lý, hóa học và dinh dưỡng đất qua các giai đoạn phát triển của rừng Bảng phân loại này gồm các đai rừng và kiểu rừng như sau:

A Đai rừng nhiệt đới mưa mùa

• Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh ngập mặn

• Kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh

• Kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh

Trang 24

20

• Kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thung lũng

• Kiểu phụ rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi

B Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa

• Kiểu rừng á nhiệt đới lá rộng thường xanh

• Kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi

• Kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đất

C Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao

Đai này có 3 loại là Pơmu (Fokienia hodginsii), Sa mộc (Cunninghamia lanceolata), Đỗ quyên (Rhododendron simsii)

Bảng phân loại rừng của Trần Ngũ Phương được cho là đơn giản, cụ thể, quá trình diễn thế thứ sinh của từng kiểu rừng được trình bày rất tỉ mỹ Tuy nhiên, bảng phân loại này vẫn còn những hạn chế như không giải thích được vì sao ở vùng này lại có kiểu phụ này, ở vùng khác, độ cao khác lại có loại hình khác, kiểu phụ khác (theo [134])

Schmid (1974) đã nghiên cứu các hệ sinh thái thảm thực vật ở Nam Trung

bộ Ngoài điều kiện khí hậu với chế độ thoát nước khác nhau, các tiêu chuẩn phân biệt các quần xã là sự phân hoá khí hậu và thành phần thực vật đai cao Tác giả xác nhận, các loài thuộc về hệ thực vật Malêzi ở đai thấp dưới 600 m, còn các loài thuộc hệ thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa ở đai trên 1.200 m, từ 600 – 1.200 m được coi là đai chuyển tiếp (theo [119])

Thái Văn Trừng với công trình nổi tiếng là “Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới

ở Việt Nam” (1999) [134] Dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể thực vật,

tác giả đã phân chia các HST thảm thực vật rừng ở Việt Nam thành các kiểu, kiểu phụ, kiểu trái và thấp nhất là các ưu hợp Trong các yếu tố phát sinh thì khí hậu là yếu tố phát sinh ra kiểu thực vật, còn các yếu tố địa lý, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, khu hệ thực vật và con người là yếu tố phát sinh của các kiểu phụ, kiểu trái và ưu hợp Đây là một công trình tổng quát, đáp ứng được quy hoạch sinh thái Bảng phân loại được chia làm hai nhóm lớn với 14 kiểu rừng có trên đất lâm nghiệp, cụ thể như sau:

- Nhóm những kiểu thảm thực vật ở độ cao dưới 1.000 m ở miền Nam và dưới 700 m ở miền Bắc có các kiểu sau:

+ Các kiểu rừng rú kín vùng thấp

(1) Kiểu rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới

(2) Kiểu rừng kín nửa thường xanh ẩm nhiệt đới

(3) Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới

(4) Kiểu rú kín lá cứng hơi ẩm nhiệt đới

Trang 25

21

+ Các kiểu rừng thưa

(5) Kiểu rừng thưa, cây lá rộng hơi khô nhiệt đới

(6) Kiểu rừng thưa, cây lá kim hơi khô nhiệt đới

(7) Kiểu rừng thưa, cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp

+ Các kiểu trảng, truông

(8) Kiểu trảng cây to, cây bụi, cỏ cao, khô nhiệt đới

(9) Kiểu truông bụi gai, hạn nhiệt đới

- Nhóm những kiểu thảm thực vật ở những vùng núi có độ cao trên 1000

m ở miền Nam và trên 700 m ở miền Bắc có các kiểu sau:

+ Các kiểu rừng kín vùng cao

(10) Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa á nhiệt đới núi thấp

(11) Kiểu rừng kín hỗn giao cây lá rộng và lá kim, ẩm, á nhiệt đới núi thấp (12) Kiểu rừng kín cây lá kim ẩm, ôn đới, núi vừa

+ Các kiểu quần hệ khô, lạnh vùng cao

(13) Kiểu quần hệ khô vùng cao

(14) Kiểu quần hệ lạnh vùng cao

Trong mỗi kiểu thảm thực vật lại chia thành các kiểu phụ miền (phụ thuộc vào

tổ thành thực vật), kiểu phụ thổ nhưỡng (phụ thuộc vào điều kiện đất), kiểu phụ nhân tác (phụ thuộc vào tác động của con người), trong mỗi kiểu phụ tuỳ theo độ ưu thế của

loài cây mà hình thành nên những phức hợp, ưu hợp và quần hợp tự nhiên khác nhau

Phan Kế Lộc (1985) đã dựa theo thang phân loại rừng của UNESCO (1973)

để xây dựng thang phân loại thảm thực vật Việt Nam và có thể thể hiện được trên bản đồ với tỉ lệ 1 : 2.000.000 Bảng phân loại này gồm 5 lớp quần hệ: Lớp quần hệ rừng rậm, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ trảng cây bụi, lớp quần hệ trảng cây bụi lùn và lớp quần hệ trảng cỏ Mỗi một lớp quần hệ (Formation class) lại phân thành các phân lớp quần hệ (Formation subclass), nhóm quần hệ (Formation group), quần hệ (Formation) và thấp nhất là phân quần hệ (Subformation) [67]

Vũ Đình Huề (1984) đã đề nghị phương pháp phân loại rừng phục vụ các mục đích kinh doanh Theo tác giả, kiểu rừng là một loạt các xã hợp thực vật thuộc một kiểu trạng thái, trong phạm vi một kiểu điều kiện thực bì rừng và tương ứng có một biện pháp lâm sinh thích hợp (theo [104])

Nguyễn Vạn Thường (1995) [128] đã xây dựng bản đồ các hệ sinh thái thảm thực vật Bắc Trung bộ, đã chia 4 vùng sinh thái chính căn cứ vào độ cao so với mặt biển: < 700 m nhiệt đới ẩm, < 700 m nhiệt đới ẩm có nửa mùa khô, < 700 m hơi

Trang 26

Trong phạm vi từng vùng, tỉnh, VQG, KBTTN: Từ năm 1997 đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về HST thảm thực vật rừng, tiêu biểu như: Thảm thực vật tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu của Đoàn Cảnh (1997) [16]; Thảm thực vật vùng Đồng Tháp Mười của Lê Kim Biên và Lê Văn Thường (1998) [9]; Thảm thực vật VQG Ba Vì của Trần Văn Thụy và Nguyễn Phúc Nguyên (2005) [126]; Thảm thực vật VQG Yok Đôn của Ngô Tiến Dũng và cộng sự (2006) [33]; Thảm thực vật tỉnh Bắc Cạn của Lê Đồng Tấn và Ma Thị Ngọc Mai (2006) [98]; Thảm thực vật ở KBTTN Trùng Khánh của Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Kim Thanh (2007) [121]; Thảm thực vật tỉnh Quảng Trị của Nguyễn Hữu Tứ (2007) [135]; Thảm thực vật KBTTN Hoàng Liên – Văn Bản – Lào Cai của Nguyễn Trọng Bình và Nguyễn Toàn Thắng (2008) [10]; Thảm thực vật VQG Hoàng Liên của Nguyễn Nghĩa Thìn

và cộng sự (2006, 2008) [107, 120], Vũ Anh Tài và cộng sự (2008) [96]; Thảm thực vật vùng cát huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên – Huế của Phan Thị Thúy Hằng và Nguyễn Nghĩa Thìn (2009) [42]; Thảm thực vật KBTTN Tây Yên Tử của Nguyễn Văn Hoàn và cộng sự (2009) [44]; Sinh thái thảm thực vật núi đá vôi Kiên Giang của Lý Ngọc Sâm, Trương Quang Tâm (2009) [94]; Thảm thực vật KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng của Hoàng Thị Thanh Thúy, Lê Ngọc Công, Đinh Thị Phượng (2009) [125]; Thảm thực vật và đặc điểm của một số quần thể thực vật chính ở tỉnh Thái Nguyên của Đỗ Hữu Thư, Đỗ Thị Hà (2011) [127]…

1.1.2.3 Ở VQG Phú Quốc

Phạm Hoàng Hộ (1985) [49] đã mô tả và phân chia các sinh cảnh ở đảo Phú Quốc thành 5 nhóm lớn như sau:

(1) Rừng dày và các sinh cảnh thứ sinh: Gồm rừng dày ẩm luôn luôn xanh,

rừng dày ẩm có Tri tân (Tristania merguensis) và Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), các rừng chồi, các trảng Tranh (Imperata cylindrica)

Trang 27

23

(2) Các sinh cảnh ở nơi đất thấp: gồm truông Nhum (Oncosperma tigillaria),

trảng Tràm (Melaleuca leucadendra) và Chanh lương (Leptocarpus disjunctus), các đồng cỏ Bàng (Lepironia articulata)

(3) Các sinh cảnh dựa biển: gồm sinh cảnh trên cát dựa biển, rừng sác và hậu

rừng sác, hội đoàn đơn tử diệp ở biển

(4) Sinh cảnh trong nước ngọt: gồm các hội đoàn thực vật thủy sinh

(5) Thực vật trên đất hoang: gồm thực vật ven lộ, thực vật ven đường mòn giữa

rừng, thực vật đất hoang, cỏ dại

Thái Văn Trừng (1999) [134] khi nghiên cứu trường hợp các HST rừng chủ yếu

ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong đó có đảo Phú Quốc, trên quan điểm mới

về HST thảm thực vật (các HST rừng không phải tất cả là quần thể thực vật thân gỗ

mà cả quần thể cây thân gỗ mọc rải rác giữa thảm cỏ), đã phân chia các HST rừng ở

ĐBSCL thành: (1) HST rừng ngập mặn (RNM) - được xếp thành một kiểu phụ thổ nhưỡng của các kiểu khí hậu; (2) HST rừng úng phèn (RUP) - được xếp thành một kiểu phụ thổ nhưỡng của kiểu khí hậu rú bụi rậm lá cứng hơi ẩm nhiệt đới; (3) HST

rừng rậm cây lá rộng, mưa ẩm nhiệt đới ưu thế họ Sao dầu hỗn giao trên đất cao, gò đồi, núi sót và các đảo, đặc biệt là ở đảo Phú Quốc

Thang phân loại dạng sống hiện được nhiều người sử dụng nhất là của Raunkiaer (1934) [159], vì sử dụng thang này tương đối dễ làm Trong thang phân loại này, ông đã dùng vị trí chồi so với mặt đất và đặc điểm của nó trong thời kì khó khăn nhất (thời gian bất lợi của năm) cho sự sinh trưởng của thực vật làm cơ sở phân loại Thang phân loại này gồm 5 nhóm dạng sống cơ bản như sau:

(1) Dạng sống của cây có chồi trên mặt đất (Phanerophytes - Ph): Dạng này

được chia thành các dạng nhỏ như sau:

- Megaphanerophytes (Mg): Cây to có chồi trên mặt đất cao trên 30 m

- Mesophanerophytes (Me): Cây vừa có chồi trên mặt đất cao từ 8 đến 30 m

- Microphanerophytes (Mi): Cây nhỏ có chồi trên đất cao từ 2 – 8 m

- Nanophanerophytes (Na): Cây thấp có chồi trên đất cao dưới 2 m

Trang 28

24

- Lianes phanerophytes (Lp): Cây có chồi trên đất leo quấn Dạng dây leo có thể

là thân cỏ hay thân gỗ

- Epiphytes phanerophytes (Ep): Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám vào cây khác Dạng này cũng có thể là thân cỏ hay thân gỗ và không mọc từ đất lên mà mọc ngay trên thân những cây to, cây nhỏ

- Herbaces phanerophytes (Hp): Cây có chồi trên đất thân cỏ

- Parasit-hemiparasit phanerophytes (Pp): Cây ký sinh, bán ký sinh lâu năm

- Succulents phanerophytes (Sp): Cây có chồi trên đất thân mọng

(2) Dạng sống của cây có chồi ngang đất (Chamaetophytes - Ch): Dạng sống

mà trong mùa không thuận lợi, bộ phận ở trên đất sẽ héo chết đến chỗ trên mặt đất một chút hay ở chỗ ngang mặt đất

(3) Dạng có chồi mặt đất (Hemicryptophytes - Hm): Dạng sống mà trong mùa

không thuận lợi, bộ phận trên đất sẽ chết héo cả và chồi chỉ nhô ngang mặt đất

(4) Dạng có chồi dưới đất (Cryptophytes - Cr): Dạng sống mà trong mùa

không thuận lợi, các bộ phận trên đất đều chết cả, chồi bén vào những bộ phận nằm dưới đất như củ hay giò

(5) Dạng chồi mùa hè (Therophytes - Th): Dạng sống mà trong mùa không

thuận lợi, các bộ phận sinh dưỡng đều chết, sự sống chỉ còn lại trong hạt và chờ mùa sinh dưỡng trở lại (mùa hè hoặc mùa mưa) thì cây sẽ mọc lên và sinh trưởng

Raunkiaer đã tính toán cho hơn 1.000 loài cây ở các vùng khác nhau trên trái đất và tìm được tỉ lệ phần trăm bình cách (vai trò ngang nhau) cho từng loài, gộp lại thành phổ dạng sống tiêu chuẩn (SN – Natural Spectrum) như sau: SN = 46 Ph + 9 Ch + 26 Hm + 6 Cr + 13 Th (đơn vị tính: %)

Bảng phân loại dạng sống của Xêrêbriacốp (1952) mang tính chất sinh thái học hơn của Raunkiaer Trong bảng phân loại này, ngoài những dấu hiệu hình thái sinh thái, Xêrêbriacốp sử dụng cả những dấu hiệu như ra quả nhiều lần hay một lần trong

cả đời của cá thể, bao gồm các dạng sau (theo [31]):

Ngành A: Thực vật thân gỗ sống trên đất, bì sinh

Kiểu 1: Cây gỗ

Lớp 1: Cây gỗ hình thành tán với các cành dài

Lớp phụ 1: Cây gỗ hình thành tán trên mặt đất

Lớp phụ 2: Cây gỗ hình thành tán, bán ký sinh (nhiệt đới)

Lớp 2: Cây gỗ dạng hoa thị, hình thành trên những chồi rút ngắn, với lá dạng hoa thị (gặp ở nhiệt đới và á nhiệt đới)

Trang 29

25

Lớp 3: Cây gỗ thân mọng nước không có lá (các loại xương rồng)

Kiểu 2: Cây bụi

Kiểu 3: Cây bụi nhỏ

Ngành B: Cây bán mộc (nửa gỗ)

Kiểu 4: Cây nửa bụi hay nửa bụi nhỏ

Ngành C: Cây thảo

Kiểu 5: Cây thuộc thảo đa trục

Lớp 1: Cây thảo đa trục, sống lâu năm, thân không mọng nước

Lớp phụ 1: Hệ rễ cái phát triển

Lớp phụ 2: Hệ rễ chùm và thân rễ ngắn

Lớp phụ 3: Cây thảo mọc thành búi dày

Lớp phụ 4: Cây thảo có thân leo hay bò

Lớp phụ 5: Cây thảo thân củ

Lớp phụ 6: Cây thảo thân hành

Lớp phụ 7: Cây thảo, rễ có khả năng tạo chồi

Lớp 2: Cây thảo đa trục với các cành khí sinh mọng nước

Lớp phụ 1: Thân mọng nước

Lớp phụ 2: Lá mọng nước

Lớp 3: Cây thảo đa trục, kí sinh hay hoại sinh

Lớp 4: Cây thảo đa trục, bì sinh

Lớp 5: Cây leo thuộc thảo đa trục

Kiểu 6: Cây thảo đơn trục

Bảng phân loại này không bao gồm những cây thuỷ sinh Trong bảng phân loại, Xêrêbriacốp còn chia ra các đơn vị nhỏ hơn và gọi là nhóm, nhóm phụ, tổ và các dạng đặc thù nên khá phức tạp và khó nhớ (theo [31])

Golubép (1962) khi nghiên cứu dạng sống hệ rễ của thực vật trong các quần xã

cỏ đã đưa ra nguyên tắc phân loại các kiểu dạng sống dựa trên cơ sở về đặc điểm hình thái, kích thước và cấu tạo của rễ, thân, chồi và chu kỳ sống của thực vật Nguyên tắc phân loại này đã được Hoàng Chung (2004) vận dụng để phân loại những dạng sống chính của thực vật trong đồng cỏ Bắc Việt Nam [30]

1.1.3.2 Ở Việt nam

Công trình nghiên cứu về dạng sống thực vật ở Việt Nam đầu tiên phải kể đến

là Pócs Tamás (1965) khi nghiên cứu hệ thực vật miền Bắc Việt Nam đã phân tích và

Trang 30

Lê Trần Chấn và cộng sự (1987, 1990) [18, 19] trong công trình nghiên cứu về

hệ thực vật Lam Sơn đã lập phổ dạng sống cho hệ thực vật này nhƣ sau: SB = 51,3 Ph + 13,7 Ch + 17,9 Hm + 7,2 Cr + 9,9 Th

Từ năm 1994 đến 2008, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự khi nghiên cứu hệ thực vật của một số VQG và KBTTN ở Việt Nam cũng đã nghiên cứu và lập phổ dạng sống của những vùng nghiên cứu, cụ thể là:

1 Kiểu cây gỗ: Cây gỗ lớn hay nhỡ, hệ rễ cái phát triển

2 Kiểu cây bụi: Cây thuộc mộc, phân cành mạnh, chiều cao tối đa 4,5m, rễ cái phát triển

Trang 31

27

3 Kiểu cây bụi thân bò: Thân thuộc mộc nhỏ, thấp, hệ rễ cái phát triển

4 Kiểu cây bụi nhỏ: Thân thuộc mộc nhỏ, thấp, hệ rễ cái kém phát triển nhưng

7 Kiểu thực vật có khả năng tạo chồi mới từ rễ

8 Nhóm kiểu cây thảo hệ rễ cái, sống lâu năm

8.1 Kiểu cây thảo sống lâu năm hệ rễ cái

8.2 Kiểu cây thảo sống lâu năm hệ rễ cái có thân rễ phát triển

9 Nhóm kiểu cây thảo hệ rễ chùm, sống lâu năm

9.1 Kiểu cây thảo sống lâu năm hệ rễ chùm

9.2 Kiểu cây thảo thân bò, sống nhiều năm, hệ rễ chùm

9.3 Kiểu cây thảo sống lâu năm tạo thành búi thưa

9.4 Kiểu cây thảo sống lâu năm tạo búi dày

9.5 Kiểu cây thảo sống lâu năm, thân rễ dài

9.6 Kiểu cây thảo sống lâu năm có thân rễ dài mọc bò

10 Nhóm kiểu cây thảo sống một năm

10.1 Kiểu cây thảo sống một năm hệ rễ cái

10.2 Kiểu cây thảo sống một năm hệ rễ cái, thân bò

10.3 Kiểu cây thảo sống một năm hệ rễ chùm

Như vậy, những tiêu chuẩn chính được sử dụng trong bảng phân loại này là:

- Phần trên mặt đất: Cấu tạo thân, hình dạng, kích thước, hình thức tạo chồi

- Phần dưới đất: Kiểu hệ rễ, kiểu thân rễ, kích thước một số đặc điểm riêng biệt

- Chu kì sống của cá thể

1.1.3.3 Ở VQG Phú Quốc

Từ trước đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về phổ dạng sống thực vật

ở VQG Phú Quốc Dạng sống chỉ được đề cập một cách sơ lược khi mô tả một loài hay trong bảng danh lục như: cây gỗ (gỗ lớn, gỗ trung, gỗ nhỏ), cây bụi, thân cỏ, dây leo, phụ sinh, ký sinh, bán ký sinh, khuyết thực vật… mà chưa có sự tổng hợp thống

kê chi tiết để lập phổ dạng sống

Trang 32

bày trong hai công trình “Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương” (1926)

và “Giới thiệu về hệ thực vật Đông Dương” (1944), chi tiết như sau (theo [107]):

- Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác chiếm : 15,0%

- Yếu tố đặc hữu bán đảo Đông Dương chiếm : 11,9%

- Yếu tố nhập nội và phân bố rộng chiếm : 20,8%

1.1.4.2 Ở Việt Nam

Pocs Tamas (1965) đã phân tích về phương diện địa lý thực vật của HTV miền Bắc Việt Nam và đưa ra bảng thống kê các yếu tố địa lý như sau (theo [107]):

+ Yếu tố đặc hữu Việt Nam : 32,55%

+ Yếu tố đặc hữu Đông Dương : 7,35%

- Yếu tố di cư từ các vùng nhiệt đới : 55,27%

+ Yếu tố Ấn Độ - Hymalaya : 9,33%

+ Yếu tố Malaysia – Indonesia : 25,69%

+ Các yếu tố nhiệt đới khác : 7,36%

Trong nhân tố khác thì nhân tố nhập nội, trồng trọt chiếm 3,08%

Thái Văn Trừng (1978) đã căn cứ vào bảng thống kê các loài của HTV Bắc Việt Nam đã cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài đặc hữu Nhưng

Trang 33

29

khi thảo luận tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ Nam Trung Hoa và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và căn cứ vào khu phân bố hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã nâng tỉ lệ các loài đặc hữu bản địa lên 50%, còn yếu tố di cư chiếm tỉ lệ 39% (trong đó yếu tố từ Malaysia – Indonesia là 15%, yếu tố từ Hymalaya - Vân Nam - Quý Châu là 10% và yếu tố từ Ấn Độ - Miến Điện là 14%), các yếu tố khác chiếm tỉ lệ 11% (7% nhiệt đới, 3% ôn đới và 1% thế giới), yếu tố nhập nội vẫn là 3,08% (theo [119])

Lê Trần Chấn và các cộng sự (1990) [20] đã phân tích YTĐLTV của HTV Lam Sơn cho kết quả sau: Yếu tố đặc hữu Việt Nam chiếm 13,16%, yếu tố Đông Dương chiếm 25%, yếu tố Ấn Độ chiếm 13,70%, yếu tố Malaisia chiếm 6,19%, yếu

tố nhiệt đới khác chiếm 19,89%, yếu tố khác chiếm 22,06%

Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) căn cứ vào các khung phân loại của Pócs Tamás (1965) và Ngô Chinh Dật (1993), đã xây dựng thang phân loại các YTĐLTV cho HTV Việt Nam và đã bổ sung, chỉnh sửa vào năm 2004, 2007 để dễ áp dụng hơn [104, 106] Dựa vào khung phân loại này, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự đã lần lượt xác định các YTĐLTV của HTV ở một số VQG và KBTTN trong nước, cụ thể là:

- Các YTĐLTV của HTV VQG Bạch Mã [114]: Yếu tố toàn cầu chiếm 0,61%, yếu tố nhiệt đới chiếm 62,93%, yếu tố ôn đới chiếm 3,76%, yếu tố đặc hữu chiếm 25,12%, yếu tố cây trồng chiếm 1,64%

- Các YTĐLTV của HTV VQG Pù Mát [116]: Yếu tố toàn cầu chiếm 2,40%, yếu tố nhiệt đới chiếm 65,05%, yếu tố ôn đới chiếm 5,35%, yếu tố đặc hữu chiếm 14,19%, yếu tố cây trồng chiếm 5,56%

- Các YTĐLTV của HTV KBTTN Na Hang [119]: Yếu tố toàn cầu chiếm 2,58%, yếu tố nhiệt đới chiếm 71,43%, yếu tố ôn đới chiếm 5,25%, yếu tố đặc hữu chiếm 8,78%, yếu tố cây trồng chiếm 0,34%, yếu tố không xác định chiếm 11,62%

- Các YTĐLTV của HTV VQG Hoàng Liên [107]: Yếu tố toàn cầu chiếm 0,78%, yếu tố nhiệt đới chiếm 81,09%, yếu tố ôn đới chiếm 5,92%, yếu tố không xác định chiếm 10,61% Trong công trình này, các tác giả đã xếp yếu tố đặc hữu (chiếm 23%) vào yếu tố nhiệt đới

Lê Văn Phúc và Lê Đồng Tấn (2013) [84] đã nghiên cứu sự đa dạng yếu tố địa

lý của khu hệ thực vật KBTTN Kim Hỷ (tỉnh Bắc Cạn), kết quả cho thấy: Yếu tố địa lý Đông Dương chiếm tỉ lệ cao nhất cả về số loài (30,98% số loài của hệ), số chi (31,56%

số chi của hệ) và số họ (25% số họ của hệ)

Trang 34

Việc nghiên cứu về giá trị sử dụng của thực vật đã có từ lâu Theophraste (371 -

286 trước Công nguyên) được xem là người đầu tiên nghiên cứu về phân loại thực vật

và đề cập đến công dụng của chúng Trong 2 cuốn “Historia planetarium” và “Causae planetarium”, ông đã mô tả 445 loài cây ở Hy Lạp dựa trên đặc điểm hình thái, dạng

cây, nơi sống và có chú ý đến giá trị sử dụng của cây Plinus (79 - 24 trước Công

nguyên) đã viết bộ “Historia naturalis” mô tả gần 1.000 loài cây chủ yếu là cây làm

thuốc và cây ăn quả Dioscoride (20 - 60 sau Công nguyên) đã nêu đặc tính của hơn

500 loài cây có công dụng làm thuốc trong cuốn “Materia medica”… (theo [117])

Trong hàng ngàn công trình nghiên cứu về cây có giá trị sử dụng, đóng góp

to lớn thuộc về Alphonse de Candolle, trong cuốn “Địa lý học thực vật” (1855) và

“Nguồn gốc cây trồng” (1883) ông đã thống kê các loài cây có giá trị sử dụng được

gây trồng trên thế giới và xác định nguồn gốc phát triển của chúng (theo [27])

Vavilov (1926) trong cuốn “Nghiên cứu nguồn gốc cây trồng” đã chỉ ra 6

trung tâm phát sinh, phát triển chính của các loại cây trồng có giá trị trên toàn thế

giới đó là: (1) Tây Nam châu Á (Apganixtan, qua Tiểu Á); (2) Đông Nam châu Á (vùng núi Tibê, Bắc Trung Quốc, Himalaia); (3) Đông Bắc Ấn Độ - Đông Dương (Đông Nam Himalaya); (4) Bắc châu Phi (đặc biệt là cao nguyên Abitxini); (5) Địa Trung hải; (6) Tân thế giới (Pêru, Đông Mêhicô) (theo [27])

Sự phân loại các nhóm tài nguyên thực vật cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, tiêu biểu như: Pavlopski (1942) đã đưa ra bảng phân chia tài nguyên thực vật thành 22 nhóm cây khác nhau; Ilin (1948) cũng đã đưa ra bảng phân chia tài nguyên thực vật gồm 2 nhóm lớn là cây công nghiệp và cây sử dụng

tự nhiên, trong mỗi nhóm lớn lại chia ra thành nhiều nhóm nhỏ (theo [47]) Cơ sở cho việc phân chia các nhóm tài nguyên này chủ yếu dựa vào các sản phẩm mà thực vật cung cấp và giá trị sử dụng chúng

Việc nghiên cứu bảo tồn các loài cây quý hiếm đã được nhiều tổ chức quốc

tế, nhiều nhà khoa học quan tâm Để có cơ sở cho việc nghiên cứu, quản lý bảo tồn nguồn gen cây quý hiếm, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nhà khoa học đã xuất bản nhiều tài liệu liên quan đến phương pháp luận và định hướng bảo tồn, tiêu biểu như FAO (1975, 1993) [144, 145]; Boyle và Boontawee (1995) [140] IUCN (1994) [150] đã đưa ra các thứ hạng (Categories) và tiểu chuẩn (Criteria) cho việc phân

Trang 35

gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) (2000) cũng đã xuất bản nhiều sách về đánh giá thực trạng, hướng dẫn kỹ thuật và kế hoạch hoạt động bảo tồn cho một số loài cây rừng nhiệt đới quan trọng của khu vực Đông Nam Á [147, 148, 149]

1.1.5.2 Ở Việt Nam

Từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học Pháp đã tiến hành khảo sát, thu mẫu, mô tả, định loại các loài thực vật trên cả nước Trong các công trình

đó, nhiều tác giả đã ghi nhận những giá trị sử dụng của nhiều loài thực vật Việt Nam,

tiêu biểu như: “Flora Cochinchinensis” của Loureiro (1790) [165], “Flore forestiere

de la Cochinchine” gồm 4 tập của Pierre (1879 - 1907) [167], “Flore générale de l’Indo-Chine” gồm 7 tập của Lecomte chủ biên (1907 – 1952) [164], “Supplément à la Flore générale de l’Indo-Chine” của Humbert (1938) [163], “Les plantes medicinalles

du Cambodge, du Laos et du Vietnam” gồm 4 tập của Pétélot (1952 – 1954) [166]

Các công trình nghiên cứu về tài nguyên cây có giá trị sử dụng của các tác

giả người Việt Nam tiêu biểu như: “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ

Tất Lợi (2003) đã giới thiệu gần 1.000 cây thuốc và vị thuốc Việt Nam [70]; Viện Điều tra quy hoạch rừng thuộc Bộ Lâm nghiệp (1971 - 1988) [12] đã công bố 7 tập

“Cây gỗ rừng Việt Nam” giới thiệu khá chi tiết cùng hình vẽ minh họa; “1900 cây

có ích ở Việt Nam” của Trần Đình Lý chủ biên (1993) [71]; “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” 2 tập của Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999, 2001) [27]; “Tài nguyên cây gỗ Việt Nam” của Trần Hợp (2002) [55]; “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi (1997, 2012) [23, 26] đã giới thiệu trên 4.000 loài cây làm thuốc; “Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam” gồm 2 tập (2001, 2002) và “Tài nguyên thực vật Việt Nam – Những cây chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học” gồm 2 tập (2005, 2009) đều do Lã Đình Mỡi chủ biên [76, 77, 78, 79]; “Cẩm nang các loài cây có ích ở Củ Chi – thành phố Hồ Chí Minh” của Đặng Văn Sơn (2013) [95]…

Việc nghiên cứu phân loại các nhóm giá trị sử dụng của thực vật cũng đã được nhiều nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu: Phan Kế Lộc (1969) đã đưa ra 2 sơ

đồ phân phia các nhóm cây ở miền Bắc Việt Nam: Sơ đồ 1 gồm 40 nhóm cây tài nguyên và sắp xếp theo 3 nhóm lớn, trong sơ đồ này, tác giả đã lấy các chất có ích trong cơ thể thực vật, các bộ phận thực vật… mà con người có thể sử dụng làm cơ

sở để phân chia Sơ đồ 2 gồm 26 nhóm cây tài nguyên và sắp xếp vào 4 liên nhóm lớn Trong sơ đồ 2 này, tác giả đã lấy mục đích sử dụng làm cơ sở để sắp xếp các

Trang 36

32

nhóm cây tài nguyên Các bảng phân loại này khá phức tạp và khó sử dụng Trong

bộ Cẩm nang “Tài nguyên thực vật Đông nam Á” (PROSEA – Plant Resources of

South East Asia), các nhà khoa học đã phối hợp cả giá trị sử dụng cũng như các sản phẩm thu nhận từ thực vật, và đã phân chia nguồn tài nguyên thực vật trong vùng thành 20 nhóm Cách phân chia này đơn giản, dễ sử dụng và hợp lý hơn (theo [47])

Trong cuốn “Tài nguyên thực vật Việt Nam” (2013) [47], các tác giả đã chia

các nhóm tài nguyên thực vật chủ yếu ở nước ta thành 10 nhóm: nhóm cây lấy gỗ, nhóm tre trúc, nhóm cây song mây, nhóm cây ăn được, nhóm cây làm thuốc, nhóm cây có tinh dầu, nhóm cây có dầu béo, nhóm cây cho tanin và chất màu, nhóm cây

có hoa, làm cảnh và bóng mát, nhóm cây trồng rừng và phụ trợ trong nông lâm

nghiệp Trong cuốn “Tên cây rừng Việt Nam” (2000) [13] các tác giả đã đề xuất 14

nhóm giá trị sử dụng: lấy gỗ, vật liệu xây dựng, làm đồ thủ công mỹ nghệ, ăn được (lá, thân, củ, hoa, quả, hạt… làm lương thực, thực phẩm, gia vị), ăn quả, thức ăn gia súc, làm cảnh, làm thuốc, cây độc, cho tinh dầu, cho nhựa, cho sợi, cho tanin, thuốc nhuộm và cây có giá trị sử dụng khác Cách phân chia này đơn giản, dễ sử dụng, nhưng chưa thật sự hợp lý ở chỗ, cây ăn quả được tách riêng chứ không nằm trong

nhóm cây ăn được và cũng không có nhóm cây cho dầu béo Cuốn “Lâm sản ngoài

gỗ Việt Nam” (2007) [57] đã phân chia các nhóm lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam

thành: nhóm cây có sợi; nhóm cây làm thực phẩm; nhóm cây thuốc; nhóm cây cho dầu và nhựa; nhóm cây cho tanin, thuốc nhuộm; nhóm cây cảnh và cây bóng mát

Về nghiên cứu bảo tồn các loài cây quý hiếm: Năm 1996, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) đã xuất bản cuốn

“Sách Đỏ Việt Nam – phần Thực vật”, đến năm 2007 đã được tu chỉnh lại cho phù hợp với tình hình thực tế đổi mới của đất nước Cuốn “Sách Đỏ Việt Nam – Phần II: Thực vật” (2007) [11] được biên soạn theo các phân hạng và tiêu chuẩn mới của

IUCN, gồm 8 thứ hạng là EX (Tuyệt chủng), EW (Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên),

CR (Rất nguy cấp), EN (Nguy cấp), VU (Sẽ nguy cấp), LR (Ít nguy cấp), DD (Thiếu dẫn liệu) và NE (Không đánh giá) Trong tài liệu này, có 429 loài TVBCCM được đề cập, trong đó, ngành Mộc lan (Magnoliophyta) có 399 loài, ngành Thông (Pinophyta) có 27 loài, ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 2 loài và ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có 1 loài Đây được xem là tài liệu quan trọng nhất cho việc phân loại các loài cây cần bảo tồn và cấp độ bảo tồn của chúng, phục vụ cho công tác bảo tồn ở các VQG, KBTTN…

1.1.5.3 Ở VQG Phú Quốc

Các nghiên cứu về thực vật ở VQG Phú Quốc từ trước đến nay chủ yếu là nghiên cứu về đa dạng thành phần loài, về kỹ thuật trồng rừng (đặc biệt là kỹ thuật trồng một số loài cây thuộc họ Dầu - Dipterocarpaceae) Ngay cả trong danh lục

Trang 37

33

các loài thực vật bậc cao có mạch của VQG Phú Quốc (2003) do Phân Viện điều tra qui hoạch rừng II – thành phố Hồ Chí Minh thực hiện cũng không đề cập đến giá trị

sử dụng của các loài điều tra được [83]

1.1.6 Về nguyên nhân gây suy giảm và các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học

1.1.6.1 Trên thế giới

Những nghiên cứu về nguyên nhân gây suy giảm ĐDSH tùy từng nước có những nguyên nhân khác nhau Theo Võ Hành (2009) [41] các nguyên nhân chính gây suy giảm ĐDSH và dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng là do:

- Sự phá hủy và làm mất mát nơi cư trú Đây là mối đe dọa chính đối với ĐDSH

- Sự sa mạc hóa mà nguyên nhân chính là do hoạt động của con người gây ra

- Các nơi cư trú bị chia cắt manh mún và cách ly

- Nơi cư trú bị ô nhiễm do các hóa chất, thuốc trừ sâu… dẫn đến ô nhiễm nguồn nước, không khí và gây mưa axít

- Sự thay đổi khí hậu toàn cầu do các khí thải gây hiệu ứng nhà kính

- Khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên

- Sự du nhập các loài ngoại lai

- Sự lây lan của các dịch bệnh

Nguyễn Nghĩa Thìn (2005) đã tổng hợp và rút ra nhận xét rằng, nguyên nhân gây nên sự tổn thất ĐDSH ở Việt Nam cũng như ở hầu hết các nước khác trên thế giới,

đó là mâu thuẫn giữa cung và cầu Tài nguyên thiên nhiên là có hạn trong khi nhu cầu của nhân loại thì ngày một tăng, một mặt là để đáp ứng sự gia một cách nhanh chóng của dân số, một mặt là sự đòi hỏi trong tiêu dùng và mức sống của mọi người cũng tăng lên không ngừng Thêm vào đó, tự con người làm ô nhiễm môi trường sống thông qua các hoạt động như chiến tranh, khai thác quá mức, không qui hoạch tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng [105]

Nhận thức được giá trị không thể thiếu của ĐDSH đối với sự tồn tại của xã hội loài người và sự suy giảm ĐDSH với tốc độ ngày càng nhanh, nhiều cuộc hội thảo, hội nghị bàn về ĐDSH đã ra đời, tiêu biểu nhất là Hội nghị Liên Hiệp Quốc về môi trường

và phát triển (United National confrence on Environment and Development - UNCED) được tổ chức tại Rio de Janeiro (Braxin) vào tháng 6 năm 1992 đã cho ra đời Công

ước về ĐDSH (Convention on Biological Diversity) [107, 119] Ngoài ra, còn có nhiều

công ước quốc tế khác đã ra đời như: Công ước về Buôn bán các loài đang có nguy cơ

tuyệt chủng (Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna

Trang 38

34

and Flora - CITES) ra đời năm 1973; Công ước bảo vệ các vùng đất ướt Ramsar

(Ramsar Convention on Wetlands) ra đời năm 1971

Nhiều tổ chức quốc tế cũng đã xuất bản nhiều cuốn sách nói về tầm quan trọng của bảo tồn ĐDSH và những cuốn sách mang tính chỉ dẫn đánh giá ĐDSH, tiêu biểu

như: “World conservation strategy: Living resources conservation for sustainable development” (1990) của IUCN, UNEP và WWF [151]; “The importance of biological diversity” (Tầm quan trọng của ĐDSH) của WWF (1990); “World conservation strategy” (Chiến lược bảo tồn thế giới) của IUCN, UNEP và WWF; “Global biological strategy” (Chiến lược sinh vật toàn cầu) của IUCN và UNEP; “Conserving the World’s biological diversity” (Bảo tồn ĐDSH thế giới) của WB (Ngân hàng thế giới), WWF (1991); “Carring for the earth” (Cứu lấy trái đất) của IUCN, UNEP, WWF (1991); “Chiến lược Đa dạng sinh vật và chương trình hành động” của IUCN

và UNEP (1991) [59, 107, 119] Năm 1992 - 1995, WCMC công bố một cuốn sách tổng hợp các tư liệu về ĐDSH của các nhóm sinh vật khác nhau trên toàn thế giới

nhằm làm cơ sở cho việc bảo tồn chúng có hiệu quả, đó là “Global biodiversity assessment” (Đánh giá đa dạng sinh học toàn cầu) [107]

Việc thành lập các KBTTN, các VQG ở nhiều nước trên thế giới được xem là một trong những nỗ lực quan trọng nhất để duy trì và bảo vệ các HST đang hoạt động, các loài động, thực vật hoang dã quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng và các vốn gen trong chúng, cũng như bảo vệ được phong cảnh và các di sản văn hóa, khảo cổ, lịch sử của dân tộc

1.1.6.2 Ở Việt Nam

Các nguyên nhân gây suy giảm ĐDSH đã được Phạm Bình Quyền và Nguyễn Nghĩa Thìn (2002) [91], Võ Hành (2009) [41] nêu ra với 2 nhóm nguyên nhân sau:

* Nhóm nguyên nhân trực tiếp

- Do chiến tranh: Từ năm 1961 đến năm 1975 đã có khoảng 13 triệu tấn bom và

72 triệu lít chất độc hóa học do Mỹ rải xuống chủ yếu ở miền Nam Việt Nam, đã hủy diệt khoảng 4,5 triệu ha rừng

- Do mở rộng đất nông nghiệp đã lấn sâu vào đất rừng, đất ngập nước

- Do khai thác gỗ quá mức: Chỉ tính riêng giai đoạn 1986 – 1991, các Lâm trường Quốc doanh đã khai thác trung bình 3,5 triệu m3

gỗ/năm, nếu qui đổi ra diện tích tương đương với 80.000 ha rừng, đó là chưa kể số gỗ bị khai thác trái phép

- Khai thác củi: Khoảng 21 triệu tấn củi/năm (gấp 6 lần lượng gỗ xuất khẩu)

- Khai thác các lâm sản phi gỗ: có khoảng 2.300 loài như tre, nứa, soong mây, cây thuốc… bị khai thác để làm vật liệu xây dựng, đồ dùng gia đình, thuốc uống… dẫn đến mất nơi cư trú khiến nhiều loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng

Trang 39

35

- Do nạn cháy rừng; do xây dựng cơ sở hạ tầng

- Do ô nhiễm môi trường, do di nhập, xâm lấn của các loài sinh vật lạ

* Nhóm nguyên nhân sâu xa

- Do sự tăng dân số, sự di dân, sự nghèo đói

- Do chính sách kinh tế vĩ mô: Trước năm 1975 kinh tế cơ bản là nền kinh tế thời chiến Từ 1975 – 1986 nằm vào giai đoạn suy thoái trầm trọng (hậu chiến) Từ năm 1986 đến nay, giai đoạn đổi mới có một số chính sách làm suy thoái ĐDSH như

“Chủ trương đẩy mạnh xuất nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp để thu ngoại tệ” (dẫn đến phá rừng ngập mặn để nuôi tôm, mở rộng diện tích canh tác cây xuất khẩu – đặc biệt ở Tây Nguyên – phá rừng để trồng cao su, cà phê, điều)

- Do chính sách kinh tế cộng đồng và kinh tế chính trị: Liên quan tới các chính sách về sử dụng đất và chính sách lâm nghiệp chưa hợp lý

Về nghiên cứu giải pháp bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam: Từ khi hòa bình lập lại ở miền Bắc Việt Nam năm 1954, Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quan tâm tới công tác này, nên năm 1960, khi phát hiện ra khu rừng nguyên thủy Cúc Phương thì hai năm sau đó, Nhà nước ra quyết định thành lập VQG đầu tiên ở Việt Nam nhằm mục đích bảo tồn HST, rừng nguyên thủy và các thành phần loài của chúng [105] Cho đến nay, Việt Nam đã thành lập được 30 VQG, 59 khu bảo tồn, 16 khu bảo

vệ loài hoặc sinh cảnh và 40 khu bảo vệ cảnh [41]

Bên cạnh các quyết định thành lập các KBTTN, các VQG, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật và dưới luật (Nghị định, Chỉ thị và Quyết định) để

hỗ trợ cho công tác bảo tồn có hiệu quả, nhằm hạn chế đến mức tối đa sự suy giảm ĐDSH trên phạm vi toàn quốc, tiêu biểu như: Quyết định số 194/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 9/8/1986 về việc công nhận 87 khu rừng cấm; Quyết định số 433 của Bộ Lâm nghiệp đình chỉ khai thác và xuất khẩu 7 loại gỗ quý hiếm (Lát, Nghiến, Giáng hương, Trắc, Cẩm lai, Gõ đỏ, Mun); Nghị định 17/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, ngày 17/1/1992 về việc thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng; Nghị định 18/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 17/1/1992 qui định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ; Chỉ thị số 283/TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách để quản lý gỗ quý hiếm; Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 về việc quản lý động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm… (theo [28, 105]) Ngoài ra, Việt Nam cũng đã tham dự hầu hết các hội nghị toàn cầu về những vấn đề liên quan đến bảo tồn và phát triển ĐDSH, những vấn đề về môi trường… và cũng đã ký kết nhiều công ước, tiêu biểu như: Công ước về buôn bán

Trang 40

36

và vận chuyển các loài động, thực vật quý hiếm (CITES) (1994); Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (1994); Công ước ĐDSH (1994)…

1.2 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Theo Lê Sâm (1996), huyện đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang nằm trong vịnh Thái Lan, phía Tây Nam của Việt Nam, trải dài từ 9053’ đến 10028’ vĩ độ Bắc và

103049’ đến 104005’ kinh độ Đông, cách thành phố Rạch Giá 120 km và cách Hà Tiên

45 km đường biển [92] Theo Phạm Hoàng Hộ (1985), đảo Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất trong 27 đảo của huyện, có diện tích tự nhiên là 562 km2 [49]

VQG Phú Quốc nằm ở phía Bắc của đảo Phú Quốc, được thành lập theo Quyết định số 91/2001/QĐ-TTg ngày 08 tháng 6 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển hạng từ KBTTN Bắc đảo Phú Quốc thành VQG Phú Quốc [123] VQG Phú Quốc có tọa độ địa lý từ 10o12’07” đến 10o27’02” vĩ độ Bắc và từ 103o50’04” đến

104o04’40” kinh độ Đông [41] Vườn có địa giới hành chính thuộc địa phận các xã Cửa Cạn, Gành Dầu, Bãi Thơm, phần lớn diện tích của xã Cửa Dương, Hàm Ninh và một phần nhỏ diện tích xã Dương Tơ và thị trấn Dương Đông thuộc huyện Phú Quốc Ranh giới phía Bắc, Đông và Tây chạy dọc theo bờ biển (xem Hình 1.1)

m, núi Đá Bạc cao 448 m Dãy núi này có độ cao nghiêng từ phía Đông sang phía Tây nên sườn phía Đông rất dốc với những vách đá gần như dựng đứng ở gần đỉnh còn sườn phía Tây thoải hơn, thấp dần từ phía Bắc xuống phía Nam

- Dãy núi Bãi Đại dài trên 10 km, chế ngự bờ phía Tây Bắc với độ cao từ 250 –

300 m, chạy dài từ rạch Vẹm đến mũi Gành Dầu

- Hai khối núi nhỏ hơn là núi Hòn Chảo cao 382 m nằm ở cực Bắc cũng có vách núi khá dốc ở gần đỉnh và núi Hàm Rồng cao 365 m ở phía Tây Bắc chạy dài từ Rạch Tràm xuống phía Nam dài gần 10 km có địa hình khá dốc, nhất là ở độ cao từ 200 m trở lên Hai khối núi này hợp với 2 dãy núi trên làm thành một hệ thống đồi núi nằm về phía Bắc của trục Dương Đông – Hàm Ninh Nhìn chung, các đồi núi ở VQG Phú

Ngày đăng: 12/07/2016, 19:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Mười ba nhóm giá trị sử dụng của các loài thực vật (theo [13, 47]) - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của vườn quốc gia phú quốc
Bảng 2.2. Mười ba nhóm giá trị sử dụng của các loài thực vật (theo [13, 47]) (Trang 53)
Hình 3.20. Biểu đồ tỉ lệ các bậc taxon của các ngành thực vật trong HST RNM - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của vườn quốc gia phú quốc
Hình 3.20. Biểu đồ tỉ lệ các bậc taxon của các ngành thực vật trong HST RNM (Trang 73)
Hình 3.29. Biểu đồ tỉ lệ các bậc taxon của hai lớp trong Magnoliophyta ở HST RUP - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của vườn quốc gia phú quốc
Hình 3.29. Biểu đồ tỉ lệ các bậc taxon của hai lớp trong Magnoliophyta ở HST RUP (Trang 86)
Bảng 3.20. Sự phân bố của các taxon trong các ngành thực vật ở HST RKTXMANĐ - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của vườn quốc gia phú quốc
Bảng 3.20. Sự phân bố của các taxon trong các ngành thực vật ở HST RKTXMANĐ (Trang 98)
Hình  3.36.  Biểu  đồ  tỉ  lệ  các  bậc  taxon  của  các  ngành  thực  vật  trong  HST  RKTXMANĐ - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của vườn quốc gia phú quốc
nh 3.36. Biểu đồ tỉ lệ các bậc taxon của các ngành thực vật trong HST RKTXMANĐ (Trang 99)
Bảng 3.24. Mười chi đa dạng nhất hệ thực vật trong HST RKTXMANĐ - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của vườn quốc gia phú quốc
Bảng 3.24. Mười chi đa dạng nhất hệ thực vật trong HST RKTXMANĐ (Trang 102)
Hình 3.39. Biểu đồ tỉ lệ 10 chi đa dạng nhất của hệ thực vật trong HST RKTXMANĐ - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của vườn quốc gia phú quốc
Hình 3.39. Biểu đồ tỉ lệ 10 chi đa dạng nhất của hệ thực vật trong HST RKTXMANĐ (Trang 103)
Hình 3.41. Tỉ lệ các dạng sống của nhóm cây chồi trên trong HST RKTXMANĐ - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của vườn quốc gia phú quốc
Hình 3.41. Tỉ lệ các dạng sống của nhóm cây chồi trên trong HST RKTXMANĐ (Trang 105)
Bảng 3.27. Danh sách các loài đặc hữu Phú Quốc (*) - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của vườn quốc gia phú quốc
Bảng 3.27. Danh sách các loài đặc hữu Phú Quốc (*) (Trang 109)
Hình 3.47. Biểu đồ tỉ lệ 10 chi đa dạng nhất của hệ thực vật VQG Phú Quốc - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của vườn quốc gia phú quốc
Hình 3.47. Biểu đồ tỉ lệ 10 chi đa dạng nhất của hệ thực vật VQG Phú Quốc (Trang 121)
Hình 3.48. Phổ dạng sống hệ thực vật VQG Phú Quốc - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của vườn quốc gia phú quốc
Hình 3.48. Phổ dạng sống hệ thực vật VQG Phú Quốc (Trang 122)
Hình 3.49. Tỉ lệ các dạng sống của nhóm cây chồi trên trong HTV VQG Phú Quốc - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của vườn quốc gia phú quốc
Hình 3.49. Tỉ lệ các dạng sống của nhóm cây chồi trên trong HTV VQG Phú Quốc (Trang 123)
Hình 3.51. Biểu đồ tỉ lệ các yếu tố địa lý của hệ thực vật VQG Phú Quốc - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của vườn quốc gia phú quốc
Hình 3.51. Biểu đồ tỉ lệ các yếu tố địa lý của hệ thực vật VQG Phú Quốc (Trang 126)
Bảng 3.38. Các nhóm giá trị sử dụng của hệ thực vật VQG Phú Quốc - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật theo các hệ sinh thái rừng của vườn quốc gia phú quốc
Bảng 3.38. Các nhóm giá trị sử dụng của hệ thực vật VQG Phú Quốc (Trang 127)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm