1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội

217 381 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 217
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, do đây là luận án tiến sĩ văn hóa học, nên những nghiên cứu, kiến giải của luận án sẽ tiếp cận nhiều nhất có thể theo những nội hàm lý thuyết của văn hóa học, với mong muốn

Trang 1

Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O Bé V¡N HãA, THÓ THAO Vµ DU LÞCH

VIÖN V¡N HãA NGHÖ THUËT QUèC GIA VIÖT NAM

-

NguyÔn §øc Th¾ng

HO¹T §éNG BIÓU DIÔN NGHÖ THUËT

CA TRï CñA MéT Sè C¢U L¹C Bé,

GI¸O PH¦êNG T¹I Hµ NéI

LUËN ¸N TIÕN SÜ V¡N HãA HäC

Hµ Néi - 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Bùi Hoài Sơn

2 TS Nguyễn Văn Lưu

Hà Nội - 2016

Trang 3

1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án Tiến sĩ “Hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca

trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại Hà Nội” là công trình nghiên

cứu của riêng tôi Các trích dẫn, số liệu và kết quả nêu trong luận án là trung

thực và có xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận án

Nguyễn Đức Thắng

Trang 4

2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

MỤC LỤC 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG - BIỂU 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 22

1.1 Một số khái niệm 22

1.2 Khái lược về sự hình thành và phát triển ca trù 32

1.3 Giá trị di sản ca trù 51

1.4 Kinh nghiệm bảo tồn, phát huy di sản 60

Chương 2 THỰC TRẠNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT CA TRÙ CỦA MỘT SỐ CÂU LẠC BỘ, GIÁO PHƯỜNG TẠI HÀ NỘI 73

2.1 Thực trạng hoạt động của một số câu lạc bộ, 73

2.2 Những khó khăn, thuận lợi 106

Chương 3 BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT CA TRÙ, MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN BÀN LUẬN 123

3.1 Bàn luận về quan điểm bảo tồn, phát huy di sản ca trù 123

3.2 Những biến đổi của một số câu lạc bộ, giáo phường 129

3.3 Bàn luận mô hình phù hợp cho việc biểu diễn nghệ thuật của một … 140

3.4 Bàn luận một số giải pháp … ……….…… 146

KẾT LUẬN 165

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 169

TÀI LIỆU THAM KHẢO 170

PHỤ LỤC 179

Trang 5

Bộ Văn hóa - Thông tin

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch BQL:

CLB

CNH, HĐH:

Ban Quản lý Câu lạc bộ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Sở VH,TT&DL: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

UNESCO: Ủy ban Giáo dục, Khoa học, Văn hóa

của Liên hợp quốc UNWTO: Tổ chức Du lịch thế giới của Liên hợp quốc

Trang 6

4

DANH MỤC BẢNG - BIỂU

Bảng 1.1 Tổng hợp các CLB, giáo phường, làng thôn ca trù Hà Nội

Bảng 2.1 Số lượng nghệ nhân, nghệ sỹ tên tuổi của một số CLB,

Bảng 2.2 Lịch biểu diễn của một số CLB, giáo phường 88

Bảng 2.3 Bố cục một buổi diễn của CLB và Giáo phường 89

Bảng 2.4 Nhân lực phục vụ một buổi diễn 60 phút 92

Bảng 2.5 Số lượng khách quốc tế theo quốc tịch thưởng thức ca trù 94

Bảng 2.6 Loại hình nghệ thuật truyền thống đã từng xem 100

Bảng 2.7 Loại hình nghệ thuật được ưa thích nhất 101

Bảng 2.8 Những không gian hay hình thức xem, nghe nghệ thuật

Bảng 2.10 Mức độ biết về thông tin ca trù trở thành di sản thế giới

Bảng 2.11 Đánh giá về mức giá hiện nay của CLB ca trù 105

Bảng 3.1 Phân tích ưu điểm, hạn chế của một số mô hình CLB,

giáo phường tiêu biểu ở Thủ đô Hà Nội

Biểu số 2.1 Tỷ lệ khán giả trong nước và quốc tế 95

Biểu số 2.2 Mục đích thưởng thức ca trù của các du khách 99

Biểu số 2.3 Kênh thông tin du khách đến xem ca trù 116

Trang 7

Bên cạnh đó, do đây là luận án tiến sĩ văn hóa học, nên những nghiên cứu, kiến giải của luận án sẽ tiếp cận nhiều nhất có thể theo những nội hàm lý thuyết của văn hóa học, với mong muốn góp phần hoàn thiện, tổng hợp và bổ sung các luận cứ khoa học, cơ sở lý thuyết, lý luận khoa học, khái niệm có tính chuyên sâu về di sản văn hóa phi vật thể ca trù, CLB ca trù, giáo phường

ca trù, đặc biệt là mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị di sản với hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù qua một số CLB, giáo phường tại Hà Nội Mặt khác, quá trình nghiên cứu sẽ giúp NCS có được vốn kiến thức khoa học chuyên sâu về lĩnh vực di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể ca trù nói riêng, trong đó có hệ thống nội hàm lý thuyết văn hóa học gắn với lĩnh vực nghiên cứu Qua đó dần tích lũy kinh nghiệm và khả năng nghiên cứu ở trình độ luận án TS văn hóa học, có được phương pháp nghiên cứu khoa học hiệu quả và nắm bắt được các cách thức nghiên cứu để rút ra bài học kinh nghiệm cho quá trình nghiên cứu lâu dài sau này

- Lý do thực tiễn

Trang 8

6

Năm 2009, ca trù được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp Theo công ước UNESCO năm 2003, các di sản văn hóa phi vật thể của các quốc gia sau khi được đề cử, công nhận sẽ đăng

ký vào danh sách Di sản đại diện của nhân loại hoặc Di sản cần được bảo vệ khẩn cấp Di sản từ danh sách này có thể chuyển sang danh sách khác căn cứ vào hiện trạng, sức sống của di sản Với lộ trình đó, đến giai đoạn 2014-2015, Việt Nam phải hoàn thành nhiệm vụ đưa loại hình di sản văn hóa phi vật thể này vượt qua ranh giới "cần được bảo vệ khẩn cấp” Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản ca trù để đưa loại hình di sản văn hóa phi vật thể này vượt qua ranh giới "cần được bảo vệ khẩn cấp” không hề đơn giản Trong suốt thời gian qua, với nỗ lực của các nghệ nhân, các làng, thôn ca trù, các CLB, giáo phường, đến nay, ca trù cơ bản đã giải quyết được bài toán nan giải, đó là không bị rút tên khỏi danh mục di sản thế giới, nhưng vẫn là một di sản rất cần được xã hội quan tâm và vun đắp, để vượt qua những kiểm soát gắt gao của UNESCO, để đạt được danh hiệu "Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại” và quan trọng hơn là để ca trù ngày càng ăn sâu trong tiềm thức người Việt

Ngay sau khi ca trù được UNESCO ghi danh, năm 2010, Bộ VHTTDL

đã công bố Chương trình hành động Quốc gia bảo vệ ca trù giai đoạn

2010-2015 với các nội dung chính: 1) Nâng cao nhận thức và năng lực của các cộng đồng, chủ thể văn hóa nhằm giữ gìn và phát huy giá trị độc đáo của ca trù; 2)

Tạo điều kiện để cộng đồng giao lưu, trình diễn, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm với các cộng đồng khác trong nước và quốc tế nhằm tăng cường sự hiểu biết, góp phần bảo vệ và phát huy đa dạng văn hóa; 3) Triển khai các

biện pháp và kế hoạch cụ thể, ưu tiên kiểm kê, nghiên cứu và hệ thống hóa tư liệu với mục đích bảo tồn bền vững di sản; 4) Xây dựng các chương trình văn hóa, giáo dục và truyền thông đa dạng giới thiệu, phổ biến, quảng bá, nhằm

Trang 9

7

nâng cao nhận thức, trách nhiệm của xã hội đối với việc bảo vệ di sản; 5) Ban hành chính sách đãi ngộ, phong tặng nghệ nhân dân gian, nghệ nhân ưu tú cho các cá nhân có tài năng xuất sắc, có công bảo vệ, có đóng góp quan trọng trong việc giữ gìn phát huy giá trị di sản ca trù nhằm tạo điều kiện, khuyến khích bảo tồn, truyền dạy di sản cho thế hệ trẻ; và 6) Tăng cường nguồn đầu

tư nhà nước, đi đôi với các nguồn lực xã hội góp phần bảo vệ di sản Có thể nói, trong 6 nội dung của Chương trình hành động Quốc gia về bảo vệ di sản

ca trù thì nội dung số 2 chính là nội dung liên quan trực tiếp đến mục đích

nghiên cứu của luận án này Đó là vấn đề bảo tồn nghệ thuật ca trù dựa trên

khía cạnh phát huy đa dạng văn hóa, giao lưu, trình diễn, học hỏi chia sẻ

kinh nghiệm với các cộng đồng khác trong nước và quốc tế nhằm tăng cường

sự hiểu biết, góp phần bảo vệ và phát huy đa dạng văn hóa Một trong những

yếu tố quan trọng nhất để giải quyết được vấn đề này chính là hoạt động hiệu quả của các CLB, giáo phường ca trù trong việc giữ gìn nền nếp ca trù như truyền thống, đồng thời tổ chức giao lưu, giới thiệu, trình diễn cho du khách xem, nghe và thưởng thức, thấu hiểu giá trị nghệ thuật ca trù dù cho đã có sự biến đổi không nhỏ về hình thức tổ chức hoạt động của các CLB, giáo phường

ca trù tại Hà Nội hiện nay NCS lựa chọn phạm vi nghiên cứu nội thành Hà Nội mà không phải khu vực khác cũng là để có được cái nhìn thấu đáo hơn những gì đang diễn ra đối với một số CLB, giáo phường, qua đó cũng đánh giá được sau 5 năm làm NCS, trùng khớp với 5 năm của chương trình hành động Quốc gia, Hà Nội đã làm được những gì?

Đối với nghệ thuật ca trù ở Việt Nam nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng, ngoài những giá trị nổi bật đã được mọi người biết đến và thế giới tôn vinh, cũng như những vấn đề chung của Chương trình hành động Quốc gia về bảo vệ ca trù, cho thấy một số đặc điểm nổi bật như sau:

Trang 10

8

Thứ nhất, nhờ được UNESCO công nhận, ca trù giờ đây đã có một vị trí

nhất định trong kho tàng văn hóa của Việt Nam, đặc biệt là trong các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống Sự công nhận của UNESCO đối với ca trù

đã tạo ra “thương hiệu” riêng cho nghệ thuật biểu diễn truyền thống này Như vậy, sau khi có “thương hiệu”, mọi người đều trông đợi những gì đó khởi sắc

từ ca trù và trong đó, du khách khi đến với Hà Nội, ngoài biết đến các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể nổi bật khác thì còn biết đến một di sản thế giới về nghệ thuật biểu diễn truyền thống đang tồn tại ngay trong lòng Thủ đô

Thứ hai, được công nhận ở loại hình di sản cần được bảo vệ khẩn cấp, ca

trù trở thành một nghệ thuật được thừa nhận là có nguy cơ biến mất cao Chính vì lý do đó, các biện pháp bảo tồn và phát huy ca trù luôn nhận được sự quan tâm, cộng với tâm lý cần bảo tồn thận trọng di sản này (nếu không sẽ bị biến mất hoàn toàn) Vì vậy, việc sử dụng, khai thác giá trị di sản ca trù không phải là một việc làm đơn giản Nhưng nếu bảo tồn quá cẩn trọng, không cho

ca trù được giao lưu, trình diễn, chia sẻ, học hỏi với cộng đồng (trong và ngoài nước) thì cũng khó lòng mà giữ cho ca trù tồn tại bền vững được Vì nghệ thuật biểu diễn truyền thống hiện nay muốn phát huy giá trị thì phải có

“đất sống”, phải có cộng đồng chứng kiến, chào đón, xem, nghe và tìm hiểu

Thứ ba, trong bối cảnh xã hội hiện nay, kinh tế phát triển, thương mại

năng động, đa chiều, văn hóa đa dạng và phức tạp, nhiều CLB ca trù đã tiên phong, mạnh dạn đi đầu trong việc phát huy giá trị di sản thông qua các hoạt động giới thiệu, quảng bá nghệ thuật ca trù tới du khách bằng cách tổ chức các buổi biểu diễn ca trù cho du khách, chủ yếu theo các tour du lịch đã đặt trước Thực chất, đây là xu thế tất yếu của thực tế đời sống, khi nhu cầu của khách du lịch rất đa dạng, chi phối các sản phẩm du lịch thì việc sử dụng ca trù cho mục đích phát triển du lịch không phải lúc nào cũng được xem là một

giải pháp tốt, đặc biệt là khi các CLB, giáo phường ca trù nội thành Hà Nội

Trang 11

có thể nói, các CLB, các giáo phường khi hình thành đã phần nào giải quyết được cả khía cạnh bảo tồn và khía cạnh phát huy, đúng như tinh thần chung của UNESCO về bảo vệ giá trị di sản

Tất nhiên, trong mối quan hệ bảo tồn và phát huy có những mâu thuẫn

có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của nghệ thuật này Có những tác động tốt, nhưng cũng sẽ có những mặt trái làm ảnh hưởng đến phát triển bền vững di sản Thực tế cho thấy, trong mối quan hệ với du lịch, ca trù, mặc dù đã được công nhận là di sản thế giới, nhưng vẫn chưa được các cấp, các ngành, các doanh nghiệp du lịch quan tâm đúng mức Ca trù vẫn là lựa chọn thứ hai, thứ

ba sau múa rối nước, quan họ hay biểu diễn âm nhạc dân tộc trong các tour du lịch, trong các hoạt động giải trí, giao lưu văn hóa dân tộc, mà các công ty du lịch xây dựng để quảng bá và đón khách trong nước và quốc tế Bên cạnh đó, thực tế hoạt động của các CLB, giáo phường ca trù tại Hà Nội trong phạm vi nội, ngoại thành vẫn còn manh mún, chưa được quan tâm đầu tư bài bản, có định hướng phát triển rõ ràng

Trang 12

10

Nhìn chung, vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản qua hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù và mối quan hệ của nó với sự biến đổi về văn hóa, nghệ thuật ca trù ở mỗi cộng đồng làng, thôn, CLB, giáo phường tại Hà Nội hiện nay so với các giai đoạn trước đây, và NCS phải nghiên cứu để tìm ra lời giải

cho câu hỏi sau đây: Sự biến đổi về hình thức tổ chức hoạt động (trong đó có hoạt động biểu diễn) ở mỗi cộng đồng làng, thôn, CLB, giáo phường tại Hà Nội nói chung và một số CLB, giáo phường nội thành nói riêng hiện nay so với các giai đoạn trước đây là như thế nào, qua đó đưa ra những vấn đề cần bàn luận gì để phù hợp với sự biến đổi đó? Các CLB, giáo phường ca trù trong khu vực nội thành Hà Nội phải làm gì để bảo tồn, phát huy giá trị di sản ca trù để phù hợp với những biến đổi của các tổ chức CLB, giáo phường trong bối cảnh xã hội hiện đại giữa lòng Thủ đô?

Với những lý do trên, NCS mong muốn nghiên cứu, đưa ra những bàn luận về hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số CLB, giáo phường tại nội thành Hà Nội, nhằm góp phần bảo tồn, phát huy và phát triển bền vững giá trị di sản

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục đích

NCS mong muốn luận án đạt được những mục đích sau: 1) Xây dựng một công trình khoa học có giá trị áp dụng vào thực tiễn, góp phần cùng các cấp, các ngành, các chuyên gia, các nghệ nhân, các CLB, giáo phường nhận diện thực tế biểu diễn nghệ thuật ca trù hiện nay để đưa ra những vấn đề trọng tâm cần bàn luận và hướng phát triển bền vững giá trị di sản ca trù tại Hà Nội; và 2) Đánh giá hiện trạng, đề xuất, bàn luận mô hình hoạt động biểu diễn cụ thể cho các CLB, giáo phường nội thành Hà Nội và một số bàn luận, kiến nghị, giải pháp phù hợp để vừa đáp ứng được yêu cầu về bảo tồn, giữ gìn bản sắc di

Trang 13

11

sản văn hóa, vừa phát huy được giá trị di sản thông qua các hoạt động biểu diễn của chính các CLB, giáo phường đó

2.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án có các nhiệm vụ chính sau đây:

- Bám sát và áp dụng xuyên suốt trong các chương, mục của luận án, hệ

thống hóa lý thuyết bảo tồn trên cơ sở kế thừa và phát triển dựa trên những

biến đổi theo thời gian qua hoạt động của các CLB, giáo phường ca trù tại Hà

Nội, lý thuyết phát triển bền vững Trả lời câu hỏi nghiên cứu nêu ở trên để

cùng tìm ra hướng đi cho việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản ca trù qua hoạt động biểu diễn ca trù của các CLB, giáo phường tại Hà Nội;

- Tìm ra bản chất của sự biến đổi các hình thức tổ chức hoạt động CLB, giáo phường xưa và nay, để qua đó bàn luận, đề xuất mô hình CLB,

giáo phường ca trù phù hợp ở nội thành Hà Nội hiện nay, nhằm bảo tồn, phát huy, phát triển bền vững giá trị di sản, trong đó có hoạt động biểu diễn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo tồn, phát huy giá trị di sản ca trù và những biến đổi của các CLB, giáo phường tại Hà Nội thông qua hoạt động biểu diễn

- Đối tượng nghiên cứu cụ thể luận án đề cập chính là các CLB, giáo phường ca trù trong phạm vi nội thành Hà Nội (tập trung chủ yếu vào CLB ca trù Hà Nội, CLB ca trù Thái Hà, Giáo phường ca trù Thăng Long)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

a) Về nội dung

- Nghiên cứu, tổng hợp, hệ thống hoá các khái niệm và vấn đề lý luận, lý thuyết áp dụng liên quan đến ca trù và nghệ thuật biểu diễn truyền thống; di

Trang 14

- Tìm ra những vấn đề cần bàn luận và kiến nghị cho ca trù Hà Nội để

vừa đáp ứng được yêu cầu về bảo tồn, giữ gìn bản sắc di sản văn hóa, vừa phát huy được giá trị di sản Trong quá trình nghiên cứu hoạt động của các CLB, giáo phường ca trù thì luận án sẽ nghiên cứu sâu hai khía cạnh: Bảo tồn, phát huy giá trị di sản ca trù và sự biến đổi về tổ chức hoạt động, trong đó chủ yếu là hoạt động biểu diễn của chính các CLB, giáo phường đó

- Bên cạnh đó, nghiên cứu, đánh giá những nội dung sau:

+ Nghiên cứu đánh giá của cộng đồng, khách du lịch về các hoạt động trình diễn, giới thiệu ca trù của các CLB, giáo phường tại nội thành Hà Nội + Nghiên cứu đánh giá của chính các nghệ nhân dân gian, nghệ sĩ ca trù, các nhà quản lý CLB, giáo phường, một số nhà nghiên cứu về ca trù và nghệ thuật âm nhạc truyền thống

b) Về thời gian

- Luận án sẽ được triển khai với các tư liệu trong giai đoạn 2010 đến đầu năm 2015, vì vậy, các công trình nghiên cứu về lịch sử và nghệ thuật ca trù sẽ được đề cập ở tất cả những công trình không tính mốc thời gian; các số liệu thống kê sẽ được khảo sát từ năm 2009 đến nay (từ thời điểm nhận bằng UNESCO và công bố chương trình hành động Quốc gia về bảo vệ di sản ca trù); trong khi các khảo sát, điền dã, phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhanh, phỏng vấn hồi cố, sử dụng bảng hỏi điều tra sẽ được tiến hành trong năm 2013-2014

Trang 15

13

- Trong quá trình nghiên cứu, luận án cũng sẽ tìm tòi và tổng hợp tư liệu cũng như dùng phương pháp phỏng vấn hồi cố để có được cái nhìn tổng thể

về ca trù giai đoạn trước 2010

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Về ý nghĩa khoa học: Do luận án là một công trình nghiên cứu thuộc

chuyên ngành văn hóa học nên nghiên cứu sinh sẽ áp dụng một số quan điểm

lý thuyết để phân tích giá trị di sản ca trù dưới 3 góc độ: 1) Di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận; 2) Di sản thế giới cần được bảo vệ khẩn cấp; và 3) “Di sản sống” của cộng đồng được phổ biến ở đô thị hiện đại, thông qua các CLB và các giáo phường Từ đó, mong muốn kiểm chứng các

quan điểm lý thuyết và tìm ra cách tiếp cận phù hợp nhất cho đối tượng cụ

thể là các CLB, giáo phường ca trù tại nội thành Hà Nội, những vấn đề về bảo tồn, phát huy và những biến đổi cụ thể

- Ý nghĩa thực tiễn: Từ các kết quả khảo sát thực tiễn, luận án sẽ tổng

hợp được cái nhìn nhiều chiều từ các khía cạnh có liên quan về di sản ca trù với vấn đề bảo tồn, phát huy, biến đổi qua các CLB, giáo phường, dưới góc

nhìn văn hóa học thông qua hoạt động biểu diễn nghệ thuật Đây là những kết

quả khoa học có thể được cơ quan quản lý về di sản văn hóa ở Hà Nội sử dụng cho việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản ca trù

Ngoài ra, qua nghiên cứu sự biến đổi qua hoạt động biểu diễn của

CLB, giáo phường ca trù xưa và nay, kết quả nghiên cứu của luận án hướng

tới việc thử nghiệm xây dựng mô hình CLB, giáo phường phù hợp trong bối cảnh hiện nay, vừa phát huy, quảng bá, vừa bảo tồn được giá trị

5 Phương pháp nghiên cứu

- NCS sử dụng phương pháp nghiên cứu tiếp cận liên ngành văn hóa học, xã hội học, nhân học văn hóa, lịch sử văn hóa, văn hóa dân gian,… trong đó hạt nhân chủ yếu là tiếp cận chuyên sâu văn hóa dân gian, ở đó xem

Trang 16

14

xét giáo phường ca trù như một hình thức sinh hoạt dân gian đã và đang tồn

tại trong cộng đồng Bên cạnh đó, NCS sử dụng phương pháp nghiên cứu xã

hội học để xem xét các câu lạc bộ - giáo phường dưới góc độ một thiết chế xã

hội, có những vai trò và chức năng xã hội nhất định, vì vậy, cần phải được xem xét từ nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của các chủ thể có liên quan đến thiết chế xã hội ấy;

- Đối với các phương pháp nghiên cứu cụ thể, NCS sử dụng các phương pháp, cách thức tiếp cận sau:

+ Phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu: Các tài liệu liên quan tới

các nghệ thuật truyền thống của Việt Nam, các tài liệu nghiên cứu về di sản, giá trị di sản, ca trù, văn hóa - nghệ thuật ca trù, những vấn đề về CLB, giáo phường, quá trình bảo tồn, phát huy giá trị di sản và những biến đổi liên quan…

+ Tiếp cận bằng hình thức quan sát tham dự: NCS trực tiếp đến quan sát

tại một số điểm biểu diễn ca trù nhằm phục vụ du khách trong phạm vi khu vực Hà Nội để có cách cảm nhận và đánh giá khách quan về thực trạng tổ

chức hoạt động và biểu diễn ca trù ở các địa điểm khảo sát này

+ Tiếp cận qua điều tra bằng bảng hỏi: Hướng đến đối tượng là khách

du lịch (quốc tế và trong nước 200 phiếu); và nhóm đối tượng để so sánh (chưa đến các câu lạc bộ - giáo phường 300 phiếu);

+ Phương pháp phỏng vấn cá nhân: Phỏng vấn các nghệ nhân, nghệ sĩ

ca trù, nhà quản lý CLB, giáo phường ca trù; nhà nghiên cứu văn hóa và âm nhạc truyền thống, đại diện lãnh đạo quản lý nhà nước về văn hóa, du lịch,

6 Lịch sử nghiên cứu đề tài luận án

- Về mặt lý luận, lý thuyết áp dụng

Lý thuyết áp dụng trong đề tài luận án được tiếp cận theo văn hóa học, trong đó sẽ đề cập chuyên sâu đến tiếp cận lý thuyết văn hóa dân gian là trọng tâm, song song là các lý thuyết về nhân học văn hóa, xã hội học văn

Trang 17

15

hóa, triết học văn hóa, lịch sử văn hóa Có thể nói, xét về khía cạnh lý luận,

lý thuyết áp dụng văn hóa học thì nhiều công trình nghiên cứu trước đây ở cấp

độ luận án về ca trù cũng đã tiếp cận và nghiên cứu chuyên sâu Nhưng để tìm

ra một công trình nghiên cứu hay một luận án nghiên cứu chuyên sâu về ca trù tiếp cận tổng hợp các yếu tố của văn hóa học, lại chuyên về một đối tượng

cụ thể là CLB, giáo phường ca trù ở Hà Nội, thì hầu như chưa có công trình

nào, bởi các công trình, luận án trước đây đều chỉ đề cập đến nghệ thuật ca

trù, lịch sử ca trù hay văn hóa ca trù

Về lý thuyết áp dụng cụ thể, NCS sẽ áp dụng lý thuyết bảo tồn dựa trên

cơ sở kế thừa và phát huy giá trị di sản, nhằm phát triển bền vững di sản ca trù, qua hoạt động biểu diễn nghệ thuật của một số CLB, giáo phường tại

Hà Nội Với nhiều công trình nghiên cứu về di sản văn hóa phi vật thể thì

việc áp dụng lý thuyết này là hết sức bình thường, bởi di sản nào cũng sẽ chịu ảnh hưởng, tác động bởi những xung đột, biến đổi trong xã hội hiện đại Nhưng nghiên cứu những biến đổi, xung đột để bảo tồn, phát huy qua hoạt động của các CLB, giáo phường ca trù thì theo tìm hiểu nhiều nguồn tư liệu, chưa có công trình nào đề cập chuyên sâu vấn đề đó Nếu có chỉ dừng lại ở các bài báo, bài nghiên cứu tạp chí, chưa có công trình cấp độ luận án

- Về mặt thực tiễn

Trước hết, đề tài “Hoạt động biễu diễn nghệ thuật ca trù của một số

câu lạc bộ, giáo phường tại Hà Nội” chưa trở thành đối tượng nghiên cứu cụ

thể, chuyên sâu của công trình khoa học nào trước đó đã nghiên cứu về các vấn đề liên quan, đặc biệt là ở cấp độ luận án TS Nói cách khác, đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về di sản ca trù qua hoạt động của các CLB, giáo phường tại Hà Nội

Các vấn đề đang đặt ra trong bối cảnh hiện nay liên quan đến đối tượng

và vấn đề nghiên cứu của luận án Trong thời đại biến đổi toàn cầu, khoa học

Trang 18

16

công nghệ phát triển nhanh, quá trình toàn cầu hoá đang có tác động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia, dân tộc, khu vực và tất nhiên, tác động mạnh mẽ đến văn hóa Việc Việt Nam được công nhận hàng chục di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, tư liệu trong thời gian qua đã cho thấy sự quan tâm của đất nước tới việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản Nhưng trong đó, ca trù (cùng hát Xoan) là di sản đặc biệt cần được bảo vệ khẩn cấp thì hơn lúc nào hết, việc giữ gìn và phát huy giá trị của nó được đặt ra một cách bức thiết Do đó, xét

về mặt thực tiễn, đây cũng chính là vấn đề mới của đề tài luận án khi xét thấy lịch sử nghiên cứu chưa có công trình nào đề cập cụ thể, chi tiết đến khía cạnh phát huy giá trị di sản ca trù qua hoạt động của các CLB, giáo phường tại Hà Nội, khi nghiên cứu hoạt động của các CLB, giáo phường ca trù trong bối

cảnh đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bản sắc văn hóa

có nguy cơ bị biến đổi, mai một, mất đi những giá trị truyền thống, lại dễ bị tác động bởi nhiều yếu tố ngoại lai

- Đối với các công trình đã nghiên cứu trước đây và hiện nay

Ca trù là nghệ thuật lâu đời, độc đáo và có một vị trí đặc biệt trong kho tàng âm nhạc của người Việt Ca trù gắn liền với văn chương, âm nhạc, lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, tư tưởng, triết lý sống của người Việt Nghiên cứu về

ca trù cũng là góp phần vào việc nghiên cứu các giá trị truyền thống trong văn hóa Việt Nam Ca trù nhận được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý, đặc biệt là sau khi ca trù được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp

Ca trù là nghệ thuật mang tính bác học, nhưng lại được nuôi dưỡng và gìn giữ trong dân gian Không gian sinh hoạt văn hóa của ca trù rất đa dạng,

trong một vùng rộng lớn và chủ yếu ở vùng nông thôn Bắc Bộ và Bắc Trung

Bộ, được bảo lưu một cách trọn vẹn nhất Sự bảo lưu của ca trù trong dân gian

từ lâu đã được một số học giả để tâm nghiên cứu, sưu tầm Một số làng như

Trang 19

17

Lỗ Khê (Đông Anh, Hà Nội), Thượng Mỗ (Đan Phượng, Hà Nội), Phú Đô (Nam Từ Liêm), Đồng Trữ (Hà Nội), Đào Đặng (Trung Nghĩa, Hưng Yên), Ngọc Bộ (Châu Giang, Hưng Yên), Ngọc Trung (Thọ Xuân, Thanh Hóa), Cổ Đạm (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), là nơi có đền thờ và lưu truyền nhiều câu

chuyện về sự tích các ca nữ, ca công

Tư liệu để nghiên cứu ca trù bao gồm nhiều nguồn khác nhau, hiện đang tồn tại trong dân gian như: tượng thờ, tự khí, câu đối, hoành phi, sắc phong, văn bia, ca phả trong các di tích, cùng những tín ngưỡng, tập tục, kiêng kị; các bài ca lưu truyền trong các giáo phường Mỗi nguồn tư liệu này đều có giá trị nhất định trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về ca trù Tư liệu Hán Nôm về ca trù bao gồm sách, thần tích, văn bia và khánh đang mang một trữ lượng thông tin lớn xung quanh nghệ thuật ca trù Đây là mảng tài liệu rất quý và đáng tin cậy để nghiên cứu về lịch sử ca trù, lịch sử nghiên cứu ca trù, nghệ thuật biểu diễn và các văn bản thơ - ca trù

Những tuyển tập như Việt Nam ca trù biên khảo của Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề; Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Hát ả đào của Trần Văn Khê, Tuyển tập thơ ca trù của Ngô Linh Ngọc, Ngô Văn Phú, Ca trù nhìn từ nhiều phía của Nguyễn Đức Mậu,…phải nói là những tư liệu đặc biệt về nghệ thuật ca trù, lịch sử ca trù; Những bài khảo cứu của thời kì trước đây trên Tạp chí Nam Phong hay sau này là những nghiên cứu của Nguyễn Xuân Diện với Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù; Nguyễn Đức Mậu với Hát nói Nguyễn Công Trứ… cũng là những công trình nghiên cứu quan trọng Những tư liệu này sẽ

giúp cho các nhà nghiên cứu và biểu diễn ca trù hình dung và hiểu được về một bộ môn nghệ thuật bác học hiện đang mai một dần Đây cũng là nguồn tư liệu quan trọng để chứng minh nghệ thuật ca trù là một bộ môn mang tính bác học mà lề lối và cách thức đã nâng lên thành những chuẩn mực với tính khái quát cao Sử dụng nguồn tư liệu này đối với NCS là không dễ vì nhiều tư liệu

Trang 20

18

bằng Hán Nôm, nhiều tư liệu chỉ đề cập chuyên biệt về thể cách, nghệ thuật

ca trù, trong khi mục đích nghiên cứu của NCS không đi sâu vào nghiên cứu

ca trù ở góc độ nghệ thuật mà là nghiên cứu vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị di sản ca trù Ngoài những phần thuộc về biểu diễn, một số tư liệu cũng có trình bày những hiểu biết về âm nhạc ca trù theo lối hiểu cổ truyền Những kiến thức như vậy là cứ liệu cho nhà nghiên cứu về âm nhạc đời sau tìm hiểu âm nhạc trong quá khứ

Phong phú nhất trong mảng sách về ca trù trong kho tàng thư tịch Hán Nôm là những bài thơ soạn cho ca trù Số lượng của các bài ca trù là khá lớn Nhiều làn điệu rất cổ, hiện rất ít người hát và thuộc được, dường như đã thất truyền thì ca từ vẫn còn được chép trong những sách này Các bài ca trù này gợi mở rất nhiều cho việc nghiên cứu, không những ở tư cách một nghệ thuật ngôn từ, mà ở trong đó còn chứa đựng những triết lý và quan niệm nhân sinh mới mẻ và phóng khoáng, là một tư liệu bổ ích trong việc nghiên cứu lịch sử

tư tưởng của người Việt Thể loại hát nói hầu hết sáng tác bằng chữ Nôm và nhiều tác phẩm đã đạt giá trị văn học rất cao Do vậy, phải được coi là có một

vị trí xứng đáng trong dòng văn học chữ Nôm của dân tộc Thể thơ này cũng mang trong nó trữ lượng đáng kể về vốn sống, vốn ngôn từ, vốn thơ ca và tri thức dân gian

Hồ sơ trình UNESCO công nhận ca trù là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp được xây dựng trong giai đoạn 2006-2009, là tài liệu quan trọng về ca trù Tài liệu này nghiên cứu tổng thể về văn hóa ca trù và nghệ thuật ca trù, cũng như những thông tin tổng hợp về số lượng tỉnh, thành, làng, xã, thôn, xóm còn lưu giữ nghệ thuật ca trù ở Việt Nam, số lượng nghệ nhân, nghệ sĩ ca trù cũng như những tài liệu, tư liệu về nghề tổ ca trù ở một số địa phương Điểm nổi bật của Hồ sơ trình UNESCO này mà NCS nhận thấy

sẽ tìm tòi được một số dữ liệu quan trọng để nghiên cứu cho đề tài luận án, đó

Trang 21

19

là một số ý về hoạt động của một số CLB, giáo phường đã và đang diễn ra tại

Hà Nội, TP.HCM, một số tỉnh thành khác trên cả nước

Nhìn chung, đây là những công trình nghiên cứu kỹ lưỡng về nghệ thuật

ca trù trên nhiều phương diện, từ nghệ thuật biểu diễn, giá trị văn học, văn

hóa, đến đặc trưng vùng miền Tuy nhiên, không có công trình nào đề cập chuyên sâu đến vấn đề nghiên cứu mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy giá trị

di sản ca trù và hoạt động biểu diễn nghệ thuật của một số CLB, giáo phường tại Hà Nội hiện nay

Trên phương diện luận án hoặc công trình có liên quan, đối với nhóm

các công trình nghiên cứu về ca trù thì ở Việt Nam và trên thế giới, tính đến

hiện nay, đã có 02 luận án tiến sĩ nghiên cứu riêng biệt về nghệ thuật ca trù

và đã được bảo vệ thành công năm 2007 của một nghiên cứu sinh Việt Nam (Nguồn tư liệu Hán Nôm với việc nghiên cứu ca trù của Nguyễn Xuân Diện)

và năm 2012 của một nghiên cứu sinh người nước ngoài (Lịch sử và âm nhạc của ca trù - Alienor Anisensel - Đại học Paris Ouest-Nanterre - Pháp, do GS.TS Trần Văn Khê và GS.TS Trần Quang Hải hướng dẫn) Hai luận án

này tập trung nghiên cứu học thuật và lịch sử, nguồn gốc cũng như quan tâm đến vấn đề nghệ thuật ca trù, nhằm làm rõ và sáng tỏ lịch sử ca trù cũng như nhiều quan điểm nghệ thuật ca trù tại Việt Nam Ngoài ra, còn có công trình cấp độ luận văn thạc sĩ văn hóa học của thạc sĩ Lê Thị Bạch Vân, Chủ nhiệm

CLB ca trù Hà Nội là Đào nương và nghệ thuật hát ca trù, hiện đang được

nghệ sĩ tiếp nối thành luận án tiến sĩ đang trong quá trình nghiên cứu

Bên cạnh đó, có thể kể đến Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc tế Hát ca trù người Việt năm 2006 tại Hà Nội với một số công trình nghiên cứu có giá trị

về ca trù của một số học giả trong và ngoài nước như: GS.TS Trần Văn Khê,

cố vấn khoa học dự án lập Hồ sơ Quốc gia trình UNESCO với công trình: Ca trù - một nghệ thuật độc nhất vô nhị; TS Yves Defrance, Giám đốc Trung

Trang 22

20

tâm thông tin các nhạc sĩ - Đại học Rennes, Pháp: Hát Ca trù - một hiện tượng âm nhạc độc đáo trên thế giới; GS.TS Trần Quang Hải, Phòng thí nghiệm nghiên cứu âm nhạc dân tộc học, Pháp: Ca trù - Nhìn từ quan điểm

âm thanh học; TS Bountheng Souksavatd, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Văn hóa Lào: Ca trù - Laođơm, nét tương đồng, dị biệt; Gisa Jahnichen, Giáo

sư âm nhạc học đại học Frankfurt, Đức: Liệu chúng ta có thể giữ được truyền thống của nghệ thuật Ả đào? hay Cuộc thử nghiệm về hát ả đào; TS Barley Norton, Giảng viên Khoa âm nhạc Đại học Rockchamton, London, Anh: Phục hồi Ca trù: Những vấn đề và thách thức; TS Aliennor Anisensel: Những

chuyến khảo sát về ca trù ở Việt Nam [57,tr317]

Đối với nhóm các công trình nghiên cứu về bảo tồn, phát huy giá trị di sản ca trù, có không nhiều các nghiên cứu mang tính hệ thống và chuyên sâu

về mối liên hệ giữa văn hóa, di sản văn hóa ca trù, nghệ thuật ca trù với hoạt động của các CLB, giáo phường, đặc biệt là nghiên cứu chuyên sâu khu vực

Hà Nội Đa số các công trình, hội thảo chỉ dừng lại ở một số quan điểm, bài báo, bài chuyên đề viết về vấn đề cảm nhận của du khách khi đi xem, nghe ca trù ở các CLB, giáo phường nội thành Hà Nội hoặc viết về những khó khăn

của các giáo phường, CLB ngoại thành Trong một số các nghiên cứu về di

sản với du lịch văn hóa hoặc các vấn đề có liên quan, các học giả trong và ngoài nước ít nhiều cũng đã có đề cập và xem xét đến mối quan hệ này nhưng chủ yếu là làm rõ các vấn đề như: tác động qua lại giữa hai ngành như các tác động tích cực và tiêu cực của du lịch lên cộng đồng, di sản, môi trường; định hướng phát triển nhằm hạn chế các tác động của du lịch;

7 Bố cục luận án

Ngoài phần mở đầu (17 trang), kết luận (4 trang), các danh mục, bảng biểu, phụ lục và tài liệu tham khảo (8 trang), nội dung chính của luận án được kết cấu thành 3 chương:

Trang 24

22

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Những khái niệm liên quan đến di sản

- Di sản văn hóa: Theo văn kiện được Đại hội đồng ICOMOS (Hội đồng

quốc tế các di tích và di chỉ: International Council Museum Organization and Sites) lần thứ 11 ở Sofia (Bungari) tháng 10 năm 1966 phê chuẩn: “Di sản văn hóa là để chỉ những di tích, những cụm kiến trúc và những di chỉ có giá trị di

sản, tạo thành môi trường lịch sử hoặc môi trường xây dựng”

Theo Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003 và Luật di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa

đổi, bổ sung năm 2009, thì: “Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ

khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [41,tr2] Di sản văn hóa là

tài sản văn hóa của quốc gia, dân tộc, được lưu giữ, truyền giao cho các thế hệ

kế tiếp Đó chính là thành quả của quá trình đấu tranh anh hùng dựng nước và giữ nước của các thế hệ người Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử

Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 khóa VIII đã chỉ rõ: “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới

để không ngừng hoàn thiện mình…” Di sản văn hóa Việt Nam kết tinh những giá trị vật chất, tinh thần to lớn và sâu sắc của cả dân tộc, được chung đúc qua quá trình lao động, dựng xây, chiến đấu bảo vệ, giữ gìn của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam Di sản văn hóa không phải là cái gì xa lạ mà là tất cả những cái nằm ngay trong đời sống hàng ngày, là những cái rất bình thường

Trang 25

23

giản dị, gần gũi và thân quen với tất cả mọi người sống trong môi trường đó

Di sản văn hóa chính là môi trường sống, là điều kiện sống của tất cả con người Kho tàng di sản văn hóa Việt Nam là tài sản văn hóa của quốc gia, dân tộc, không thuộc riêng một giai tầng xã hội nào, kho tàng đó luôn được lưu giữ, trao truyền cho các thế hệ kế tiếp và các thế hệ kế tiếp có trách nhiệm gìn giữ, phát triển, nâng lên những tầng cao mới

- Di sản văn hóa thế giới: Hiện nay, Việt Nam đã có 16 di sản văn hóa

vật thể và phi vật thể được UNESCO công nhận (tác giả sắp xếp theo không gian vị trí địa lý), bao gồm 01 di sản hỗn hợp thế giới (quần thể danh thắng Tràng An); 05 di sản văn hóa thế giới (Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà

Hồ, Quần thể di tích cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Khu di tích Mỹ Sơn); 10 di sản văn hóa phi vật thể gồm nhóm di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (7 di sản, xếp theo không gian địa lý): Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc, Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Đờn ca tài tử Nam Bộ; nhóm di sản cần được bảo vệ khẩn cấp (2 di sản): Nghệ thuật Ca trù và Hát Xoan Phú Thọ và

01 di sản đa quốc gia là Nghi lễ và trò chơi kéo co

Việt Nam còn có 6 di sản tư liệu theo chương trình kí ức thế giới là Mộc bản triều Nguyễn, Châu bản triều Nguyễn, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, 82 bia đá thời Lê - Mạc tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội và mới đây nhất, ngày 19/5/2016, Việt Nam có thêm 02 di sản tư liệu "Thơ văn trên Kiến trúc cung đình Huế" và “Mộc bản trường học Phúc Giang” (Hà Tĩnh) được công nhận là di sản ký ức thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 2016

Ngoài ra, Việt Nam còn có 2 di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận là Vịnh Hạ Long và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

Trang 26

24

- Di sản văn hóa vật thể: Di sản văn hóa vật thể là những sản phẩm vật

chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, một phần do thiên nhiên, trời đất ban tặng cho con người và chúng được hình thành lên trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của các thế hệ người Việt Nam Kho tàng di sản văn hóa vật thể luôn hiện diện trong đời sống của đông đảo các tầng lớp nhân dân, trở thành một bộ phận cấu thành không thể thiếu của đời sống xã hội Theo

Luật di sản văn hóa thì di sản văn hóa vật thể bao gồm: hệ thống di tích lịch

sử - văn hóa; hệ thống danh lam thắng cảnh; hệ thống di vật; hệ thống cổ vật;

và bảo vật quốc gia [41,tr3]

- Di sản văn hóa phi vật thể: Theo Luật di sản văn hóa: “Di sản văn hóa

phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế

hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”[41,tr3] Di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam bao gồm: tiếng

nói - chữ viết; các tác phẩm văn học nghệ thuật và khoa học; kho tàng ngữ văn truyền miệng; kho tàng diễn xướng dân gian và các loại hình nghệ thuật truyền thống; lối sống, nếp sống, phong tục tập quán; kho tàng lễ hội truyền thống Việt Nam; tri thức dân gian về nghề thủ công truyền thống; và hệ thống tri thức văn hóa dân gian khác

Theo Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003: Di sản văn

hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của

họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi

Trang 27

(a) các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là

phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể;

(b) nghệ thuật trình diễn;

(c) tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội;

(d) tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ;

(e) nghề thủ công truyền thống

Có thể nói, nếu như di sản văn hóa vật thể là những hiện vật mang ý nghĩa lịch sử của nhân loại trong quá khứ thì di sản văn hóa phi vật thể lại là những truyền thống văn hóa đang sống, trong đó chứa đựng phong tục tập quán và những trải nghiệm cuộc sống được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Nếu như di sản văn hóa vật thể mang tính cố định và không thay đổi thì

di sản văn hóa phi vật thể lại mang tính động và liên tục thay đổi theo thời gian Nói cách khác, nếu như di sản văn hóa vật thể là “di sản chết” thì di sản văn hóa phi vật thể là “di sản sống” Thực tế ở nhiều quốc gia và ngay tại Việt Nam, các định nghĩa và khái niệm về văn hóa phi vật thể thường trái ngược nhau và do di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm mang tính lịch sử, xã hội và văn hóa của một địa phương, nên phương pháp bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể ở địa phương này không thể áp dụng một cách dễ dàng ở

Trang 28

26

địa phương khác Do đó, mặc dù các định nghĩa về di sản văn hóa phi vật thể

đã được giải thích trong Công ước năm 2003, khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể gồm nhiều dạng thức khác nhau và cách hiểu hay nhận thức của mỗi quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể luôn thay đổi là điều cần thiết

Một trong những nội hàm quan trọng mà Công ước đề cập đến là chỉ bản thân cộng đồng mới có thể quyết định cái gì mới là một phần trong di sản của

họ và không một nhà nghiên cứu, chuyên gia nào có thể làm thay cộng đồng Một nguyên tắc cơ bản của Công ước là không thứ bậc nào có thể được đặt ra

để phân biệt di sản phi vật thể của cộng đồng này là tốt hơn, giá trị hơn, quan trọng hơn hoặc hay hơn so với di sản của bất kỳ cộng đồng nào khác

- Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp: Theo Công ước

2003, việc lập ra danh sách các Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp mang mục đích rất rõ rằng:

a Với quan điểm thực hiện các biện pháp bảo vệ thích hợp, Ủy ban cần phải thiết lập, cập nhật và công bố Danh sách các Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp và sẽ đưa những di sản loại này vào Danh sách theo yêu cầu của các Quốc gia thành viên

b Ủy ban sẽ soạn thảo và đệ trình lên Đại hội đồng để thông qua các tiêu chí đối với việc thiết lập, cập nhật và công bố Danh sách này

c Trong những trường hợp cực kỳ khẩn cấp - Đại hội đồng sẽ thông qua các tiêu chí khách quan này trên cơ sở đề xuất của Ủy ban - với sự cố vấn của Quốc gia thành viên có liên quan, Ủy ban có thể đưa một loại hình di sản liên quan vào Danh sách đã nêu ở mục 1 ở trên

- Quản lý di sản văn hóa: Quản lý di sản văn hóa là sự chăm sóc có hệ

thống được sử dụng nhằm gìn giữ các giá trị văn hóa của các di sản văn hóa cho sự hưởng thụ của thế hệ hiện tại và cả tương lai [80,tr65]

Trang 29

27

- “Báu vật nhân văn sống”: UNESCO đã có định nghĩa như sau: “Báu

vật nhân văn sống” là những người có kiến thức và kỹ thuật ở cấp độ rất cao, cần thiết cho việc biểu diễn hay sáng tạo các yếu tố của di sản văn hoá phi vật thể mà các quốc gia thành viên (của UNESCO) đã lựa chọn như một bằng chứng cho truyền thống văn hoá sống của mình và cho tinh thần sáng tạo của các nhóm, các cộng đồng và các cá nhân hiện diện trên đất nước mình” [81, tr388] Việc tôn vinh các nghệ nhân bằng cách thiết lập hệ thống “Báu vật nhân văn sống” đã được Nhật Bản thực hiện đầu tiên vào những năm 1950, sau đó là Hàn Quốc, đầu thập niên 1960 Các nước khác như Philippines, Thái Lan, Rumani, Pháp, Cộng hoà Séc, Bulgari cũng đã xây dựng hệ thống của

họ Tổ chức UNESCO thuộc Liên Hiệp Quốc cũng đã thể hiện sự quan tâm đến vấn đề này qua việc tổ chức các cuộc hội thảo với đề tài “Hệ thống Báu vật nhân văn sống” tại Hàn Quốc vào các năm 1998, 1999, từ đó, khuyến khích các nước thành viên thiết lập hệ thống “Báu vật Nhân văn sống” của nước mình Vì văn hoá phi vật thể không tồn tại dưới dạng vật chất và chủ yếu được truyền thừa qua con đường truyền khẩu, nên nghệ nhân - người nắm giữ nội dung của văn hoá phi vật thể - là rất quan trọng Có thể nói đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất của sự tồn tại và phát triển loại hình văn hoá phi vật thể Do đó, UNESCO đã khuyến khích phát triển hệ thống “Báu vật Nhân văn sống” với mục tiêu bảo tồn các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho trình diễn và sáng tạo các loại hình văn hóa phi vật thể có giá trị tiêu biểu

Để thực hiện được điều này, các nghệ nhân cần được tôn vinh và hỗ trợ để có điều kiện duy trì và phát triển kỹ năng và kiến thức; đồng thời có thể truyền dạy lại các kỹ năng và kiến thức này cho các thế hệ tiếp nối

Theo quan điểm của UNESCO, việc thiết lập hệ thống “Báu vật Nhân văn sống” không nhất thiết phải rập khuôn theo một qui chuẩn cứng nhắc nào Cách thức quản lý cũng phải phù hợp với tình hình và đặc điểm của mỗi

Trang 30

28

nước Nói cách khác, mỗi địa phương không nên bị ảnh hưởng quá nhiều bởi các hệ thống đã được thực hiện ở những nơi khác mà phải xây dựng một hệ thống riêng, phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương mình Hệ thống “Báu vật Nhân văn sống” cũng không nhất thiết phải được áp dụng trên phạm vi toàn quốc mà có thể giới hạn ở một tỉnh, một địa phương nào đó sở hữu nhiều loại hình văn hóa phi vật thể phong phú, có giá trị đặc biệt cần bảo vệ Đối

tượng được công nhận cũng đa dạng, đó có thể là một cá nhân hay một nhóm người nắm giữ các bí quyết nghề nghiệp [81,tr9]

1.1.2 Những khái niệm, quan điểm liên quan đến trình diễn nghệ thuật, bảo tồn, phát huy giá trị di sản ca trù

- Nghệ thuật biểu diễn: Khái niệm nghệ thuật diễn xuất, hay nghệ thuật

trình diễn, nghệ thuật biểu diễn được dùng chỉ một nghệ thuật vốn tồn tại bằng phương thức "diễn" trên sàn diễn bởi con người (performance) Nó bao gồm nghệ thuật truyền thống và nghệ thuật hiện đại Nghệ thuật biểu diễn truyền thống lại bao hàm các giá trị lịch sử, nhân văn, xã hội và được trao truyền từ đời này qua đời khác Tại Việt Nam, có hàng trăm loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống, trong đó có 9 nghệ thuật biểu diễn được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện (hoặc cần được bảo vệ khẩn cấp) của nhân loại

Thực tế, nghệ thuật biểu diễn bao gồm nhiều loại hình nghệ thuật, vì vậy đến nay chưa có một khái niệm đầy đủ, chính xác Mỗi khái niệm đưa ra chỉ bao hàm được một khía cạnh nào đó Có học giả thì quan niệm rằng nghệ thuật biểu diễn là nghệ thuật tổng hợp, là một công trình tập thể Tổng hợp vì

nó bao gồm cả giá trị văn học, hội họa, âm nhạc, vũ đạo; thể hiện ra trong câu

ca, nhạc nền, điệu bộ, dáng múa, phục trang, ánh sáng Tập thể vì đây là công sức góp lại của nhiều người, từ đạo diễn, tác giả, diễn viên đến nhạc sĩ

Có tác giả cho rằng nghệ thuật biểu diễn là sự thể hiện sáng tạo của nghệ sỹ

Trang 31

29

trước khán giả, là tiếng nói từ trái tim đến trái tim, từ tình cảm đến với tình cảm và trở thành một bảo tàng sống của dân tộc Trong hệ thống văn bản pháp luật cũng nêu rõ: biểu diễn và tổ chức biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp là hoạt động đưa chương trình, tiết mục, vở diễn đến với công chúng qua sự trình diễn của diễn viên chuyên nghiệp, thể hiện hình tượng nghệ thuật, phản ánh cuộc sống thông qua tác phẩm sân khấu, ca, múa, nhạc [41,tr4]

- Bảo tồn: Bảo tồn di sản được hiểu là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn

sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó Theo công ước quốc tế

2003, nội dung các công ước bảo tồn hai loại hình di sản văn hóa vật thể và phi vật thể là khác nhau Công ước bảo tồn di sản văn hóa vật thể luôn nhấn mạnh tính xác thực và giá trị của hiện vật lịch sử Ngược lại, bởi vì các di sản văn hóa phi vật thể liên tục thay đổi theo thời gian, nên việc xác định tính xác thực của chúng dựa vào những đặc trưng của một kỷ nguyên nào đó là một việc làm gần như không thể thực hiện được Không thể so sánh và đưa ra kết luận rằng di sản phi vật thể này quan trọng hơn hay có giá trị hơn di sản phi vật thể kia Công ước quốc tế năm 2003 nói rằng cần phải biên soạn một bản thống kê các di sản văn hóa phi vật thể bao gồm hai loại: (1) Danh sách các di sản văn hóa phi vật thể đang đứng trước nguy cơ biến mất và (2) Danh sách các di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (Điều 16 và điều 17, Công ước quốc tế năm 2003)

Bên cạnh khái niệm bảo tồn là khái niệm "bảo vệ" được sử dụng nhằm mục đích đề cao tính pháp lý của hoạt động tổ chức quản lý, giữ gìn, đặc biệt

là việc xây dựng, ban hành và kiểm tra việc thực hiện các văn bản có tính pháp quy để xác định đối tượng và khu vực bảo vệ của các di sản, đồng thời cũng bao hàm các hoạt động khác như tu sửa, tôn tạo, bảo quản, gia cố nhằm duy trì tính nguyên gốc và sự toàn vẹn của các di sản văn hoá Theo điều 2.3 của Công ước, “bảo vệ” có nghĩa là tạo nên sức sống lâu dài của di sản phi vật thể trong cộng đồng và nhóm người Mọi hoạt động tư liệu hóa,

Trang 32

30

nghiên cứu, bảo tồn, phát huy, củng cố, truyền dạy được xem là hoạt động

“bảo vệ” di sản khi chúng tạo nên sức sống của di sản văn hóa phi vật thể

- Phát huy: Phát huy giá trị di sản có nghĩa là những hành động nhằm

đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội

Theo Công ước 2003: Nhằm bảo vệ, phát triển và phát huy di sản văn hóa phi vật thể hiện có trên lãnh thổ mình, mỗi Quốc gia thành viên phải nỗ lực nhằm:

(a) thông qua một chính sách chung nhằm mục đích phát huy vai trò

của di sản văn hóa phi vật thể trong xã hội, và sát nhập việc bảo

vệ loại hình di sản này vào các chương trình quy hoạch;

(b) chỉ định hoặc thành lập một hoặc nhiều cơ quan đủ năng lực bảo

vệ di sản văn hóa phi vật thể hiện có trên lãnh thổ mình;

(c) tăng cường nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật cũng

như phương pháp luận về nghiên cứu nhằm bảo vệ có hiệu quả

di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt là những di sản đang có nguy

cơ thất truyền;

(d) thông qua các biện pháp phù hợp về pháp lý, kỹ thuật, hành

chính và tài chính;

(e) tăng cường việc thành lập hoặc củng cố các cơ quan đào tạo về

quản lý di sản văn hóa phi vật thể và theo đó là công tác truyền dạy những di sản này thông qua các diễn đàn và không gian dành cho việc trình diễn hay thể hiện chúng;

Trang 33

31

(f) đảm bảo sự tiếp cận với di sản văn hóa phi vật thể trên cơ sở tôn

trọng các tập tục, quản lý việc tiếp cận với các phương diện cụ thể của loại hình di sản này;

(g) thành lập các cơ quan lưu trữ tư liệu về di sản văn hóa phi vật

thể và tạo điều kiện cho mọi người tiếp cận chúng

- Phát triển bền vững được coi là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của

hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai khi đáp ứng nhu cầu của chính họ, tức là phát triển bền vững là một quá trình đảm bảo rằng chúng ta sẽ để lại cho thế hệ sau một lượng các tài sản vốn [tự nhiên và con người tạo nên] không ít hơn lượng các tài sản chúng ta có hiện nay [9,tr20]

- Xung đột: Thực tế, xung đột hầu như sẽ xảy ra giữa di sản và du lịch

khi có sự khác biệt (nhận biết được và cả trên thực tế) tồn tại giữa các bên có liên quan và cách họ nhìn nhận về các di sản, về các nguy cơ trong việc tiếp cận và loại bỏ; sự khác biệt trong kiểu thức hoạt động; sự khác biệt về mong muốn và động cơ thực hiện các hoạt động cụ thể của những bên tham gia

- Hợp tác: Hợp tác thực sự sẽ xảy ra khi có một tập hợp các mục tiêu

quản lý được đặt ra, được xác định và đồng ý bởi tất cả các bên có liên quan; các điều kiện cần có về kinh tế của du lịch được tôn trọng đồng thời với các quan điểm quản lý di sản văn hóa; và một hệ thống quản lý/quyền lực rõ ràng tồn tại nhằm đảm bảo rằng mục tiêu của cả hai bên đều có thể đạt được ở mức cân bằng nhau

- Xung đột và hợp tác: Phần lớn các nghiên cứu trong và ngoài nước về

mối quan hệ giữa di sản văn hóa phi vật thể và phát triển du lịch đều nghiêng theo quan điểm lưỡng phân xung đột/hợp tác (conflict/co-operation dichotomy) hay hệ hình khoa học xung đột (conflict paradigm) Một số học giả đã đưa ra nhiều kiểu quan hệ phản ánh các mức độ trưởng thành khác

Trang 34

32

nhau và những kiểu quan hệ này chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tác động như sự độc lập giữa hai bên, sự cân bằng quyền lực xuất phát từ mong muốn chính trị khác nhau, sự đa dạng của các bên có liên quan, sự đa dạng của di sản và sự đa dạng về đặc điểm tiêu thụ của du khách,

- Biến đổi: Biến đổi là một thuộc tính, đồng thời cũng là phương thức tồn

tại của mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan Heracleitus (520 -

460 tr.CN) một triết gia Hy Lạp cổ đại với câu nói nổi tiếng: “Không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông, bởi vì nước mới không ngừng chảy trên sông”; “Tất cả mọi vật đều vận động, không có cái gì tồn tại mà lại cố định”

và ngay cả “Mặt Trời cũng mỗi ngày một mới ” [29,tr116] Biến đổi nói chung là sự thay đổi giữa tình trạng hiện tại của nó với tình trạng trong quá khứ, là kết quả của sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện tượng, con người và

xã hội, thể hiện ở sự thay đổi cấu trúc hay tổ chức của xã hội, diễn ra không đồng đều về thời gian, chịu sự tác động của các yêu tố tự nhiên và xã hội

1.2 Khái lược sự hình thành và phát triển nghệ thuật ca trù

1.2.1 Nguồn gốc, xuất xứ của ca trù

Thời Tiền Lê, năm Thiên Phúc thứ 8 (987), Đại Hành Hoàng đế sai

Khuông Việt chế khúc để hát tiễn sứ thần phương Bắc Lý Giác về nước Khác

với lối làm thơ, chế khúc là viết ca từ cho một ca điệu có sẵn, ca nương dựa vào điệu mà “bẻ thành làn hát” Một cách làm đã được giới con hát tiếp nối từ đời này sang đời khác và trở thành truyền thống “sáng tác” của họ Đến nay, ngoài các thể cách hát trên thơ lục bát, lục bát biến thể, thơ bốn chữ, năm chữ còn nhiều thể cách hát ả đào khác trên các chế khúc được ghi lại trong nhiều tài liệu Hán Nôm và trong trí nhớ của nghệ nhân ca trù Hà Nội

Thời Lý, năm Thuận Thiên thứ 16 (1025) tại Thăng Long vua Lý Thái

Tổ định ra hát xướng, con trai gọi là Quản giáp, con gái gọi là Ả đào (dân

Trang 35

tổ chức những cuộc hát thờ thần ở các đền miếu, trong cung đình, nhà vua cũng các bề tôi xem các con hát trong cung biểu diễn Trong cung có 100 nhạc kỹ chuyên nghề ca hát

Thời Trần (1225 - 1400), âm nhạc có quản giáp, ả đào ngày càng thịnh hành, ngày càng thể hiện vai trò “bao sân” trong đời sống xã hội

Thời Lê Sơ, Thiệu Bình năm thứ 4 (1437), vua Lê Thái Tông sai Lương Đăng định ra quy chế lễ nhạc Quy chế đó được vua chấp thuận, từ đấy triều đình cấm không được dùng tục nhạc (tức nhạc giáo phường) song song với nhã nhạc như những thời đại trước đó Sinh hoạt nhạc quan - đào thu hẹp dần

quy mô và phân chia thành hai bộ phận Nhạc bát âm và Hát ả đào Nhạc bát

âm đánh trong tế tự, rước sách, múa may Nhạc ả đào hát cầu thánh, mừng vua, hát chúc phúc dân làng

Từ niên hiệu Hồng Đức (1470) đến niên hiệu Đức Nguyên (1675), nhà

Lê đã định lệ và thi hành định lệ: Bộ Lễ trông coi thự Đồng văn, Nhã nhạc và

cả tục nhạc (còn gọi là dân nhạc) Ngoài dân gian, những người hành nghề âm

nhạc phải sinh hoạt trong một tổ chức mới gọi là ty giáo phường Thời kỳ

này, Nho giáo hưng thịnh, lễ nhạc được đề cao, thi ca rất được ưa chuộng Đặc biệt thơ văn chữ Nôm phát triển rộng khắp, rất nhiều tác phẩm thơ Nôm được các cô đào quê ở các giáo phường tạo nên các điệu hát, điệu ngâm làm

Trang 36

34

phong phú biểu mục các thể cách âm nhạc Ả đào Cùng với thơ Nôm, một

hiện tượng văn hóa quan trọng khác cũng sinh ra ở thời này, đó là đình làng

và văn hóa đình Đình làng là nơi để các giáo phường có dịp trình diễn nghệ

thuật phục vụ các sự kiện quan trọng của cả làng Nghệ thuật trình diễn phục

vụ cúng tế ấy là những canh hát thờ thần, mà sau này người ta quen gọi là hát cửa đình [57,tr99]

Giai đoạn Lê Sơ (1428 - 1527) nhà Lê đã xây dựng được nền nhã nhạc, tách tục nhạc “trả về” dân gian Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ XVI từ đời Quang Hưng (1578) tức là từ niên hiệu thứ 3 của Lê Mục Tông (1562) trở đi, khi quan nhạc (thứ âm nhạc được triều đình chính thức công nhận và chỉ dùng cho vua quan) càng ngày càng suy, tục nhạc hay dân nhạc (tức nhạc giáo phường dân gian) lại thịnh hành, đến nỗi tất thảy các lễ tiết của triều đình cũng trong dân gian đều dùng loại nhạc ấy Sự tái tham gia của nghệ thuật giáo phường vào nơi triều chính không chỉ nhằm mục đích phục vụ các lễ tiết triều đình giống như chức năng của Nhã nhạc, ngược lại, nó còn là tác nhân lôi cuốn các bậc đại nho vào cuộc chơi hát ả đào bằng tất cả sự say đắm và tài thi ca của mình Những cuộc tao ngộ thơ nhạc giữa các bậc đại nho, danh nho

và hàn nho với các ca nương ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX đã làm nảy

sinh một hình thức điệu mới trong ca trù, đó là hát nói có tác giả Thể hát nói

của ca trù ra đời là bước ngoặt có tính đột biến làm cho ca trù trở thành một ngành nghệ thuật hấp dẫn, lôi cuốn mọi tầng lớp xã hội mà đặc biệt là sự tham gia của các bậc túc nho Thể hát nói đã trở thành điệu hát thống trị trong các cuộc trình diễn và tao ngộ ca trù Hát nói ra đời đã đưa ca trù tới đỉnh cao của nghệ thuật thơ - nhạc; hát nói đã tạo điều kiện cần và đủ để các cô đào lớn

tuổi, giỏi nghề ở các vùng quê ra phố thị mở nhà hát cô đầu [57,tr133]

Từ nửa cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX nhu cầu nghe hát cô đầu phát triển rầm rộ khắp nước Nhiều đào nương ở nông thôn đua nhau ra Hà

Trang 37

35

Nội và các tỉnh thành, phố thị mưu sinh Người nhiều tiền thì thuê địa điểm

mở nhà hát, người ít tiền thì đi hát thuê Đó là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phát triển quá nóng nhà hát cô đầu ở các đô thị Việt Nam thời bấy giờ Riêng

Hà Nội, chỉ trong ít năm đầu thế kỷ XX, vài chục nhà hát, quán hát đã mọc ra

ở các phố Khâm Thiên, Ngã Tư Sở, Long Biên, Cầu Giấy, Gia Lâm, Gia Quất, Hà Đông Để thu hút khách, các chủ nhà hát đã chiêu mộ thêm những

cô gái trẻ không biết hát làm công việc chiêu đãi khách gọi là cô đầu rượu Thế là cô đầu rượu đã tự nguyện hóa thân thành con mồi câu khách Chiêu thức này đã phát huy hiệu quả mạnh mẽ, nó lôi kéo nhiều khách đến nhà hát không để nghe hát, chỉ để nhâm nhi chén rượu, tẩu thuốc, có cô đầu đấm bóp, chuyện trò Lối chơi tha hóa này là nguyên nhân dẫn đến tình trạng người đứng đắn, yêu thích nghệ thuật ca trù từ bỏ nhà hát, người thích thói dung tục kéo đến nhà hát ngày một đông Thế là cô đầu và nhà hát cô đầu bị dư luận xã hội lên tiếng công kích rất mạnh mẽ Có lúc, có nơi người ta gọi nhà hát cô đầu là “cô đầu nhà thổ”, cô đầu bị xã hội khinh rẻ [57,tr172]

Từ biến thái tệ hại này, quần chúng coi cô đầu là nghệ thuật trụy lạc làm băng hoại đạo đức xã hội Vì vậy, ngay sau cách mạng tháng Tám (1945) thành công, họ đã từ bỏ nhà hát và nghề hát cô đầu Tất cả các địa điểm sinh hoạt cô đầu dần đóng cửa Các tổ chức giáo phường ở làng quê, tổ chức quản

ca ở đô thị tan rã Đào kép tản mát khắp nơi, làm những nghề khác để mưu sinh Nghệ thuật ca trù dần từng bước suy thoái [57,tr195]

1.2.2 Danh xưng trong nghệ thuật biểu diễn ca trù

Trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền và nghệ thuật biểu diễn truyền thống Việt Nam, có lẽ ít có thể loại âm nhạc và loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống nào lại có tính đa diện như nghệ thuật ca trù Trải theo dòng chảy của thời gian, tùy theo từng không gian văn hóa, không gian địa lý, hoàn cảnh lịch sử hay chức năng xã hội đan xen mà loại hình nghệ thuật này mang

Trang 38

36

những tên gọi khác nhau Căn cứ vào các nguồn sử liệu, tư liệu Hán Nôm, tư liệu cổ, có thể thống kê một số tên gọi như sau:

- Hát ả đào: Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên: Đời vua Lý

Thái Tổ (1010-1028) có người ca nương tên là Đào Thị giỏi nghề ca hát, thường được nhà vua ban thưởng Người thời bấy giờ ngưỡng mộ danh tiếng của Đào Thị nên phàm con hát đều gọi là Đào nương Về sau những người làm nghề ca hát như nàng đều gọi là ả đào Trên sử liệu, những sự kiện về một

ca nương nổi tiếng chứng tỏ nghề nghiệp của bà vào thời điểm lịch sử đó đã được phổ biến như thế nào trong xã hội Theo đó, Ả đào được coi là tên gọi

cổ xưa nhất của thể loại âm nhạc ca trù [57,tr163]

- Hát ca trù: Theo Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề trong Việt Nam ca trù

biên khảo: ở cửa đền ngày xưa có lệ hát thẻ Thẻ gọi là Trù, làm bằng mảnh

tre ghi mức tiền ứng với giá trị mỗi thẻ, dùng để thưởng ả đào thay cho tiền mặt Khi hát, quan viên thị lễ chia ngồi hai bên, một bên đánh chiêng (cồng)

và một bên đánh trống Chỗ nào ả đào hát hay, bên trống thưởng một tiếng

chát, bên chiêng đánh một tiếng chiêng rồi thưởng cho một cái trù (thẻ) Đến

sáng đào kép cứ theo trù thưởng mà tính tiền, ví dụ được 50 trù, mà trị giá mỗi trù ấn định là 2 tiền kẽm thì làng phải trả cho 10 quan tiền Vì thế hát ả

đào còn được gọi là ca trù, nghĩa là hát thẻ

Có thể nói, tên gọi ca trù thể hiện rõ tính thương mại của một loại hình nghệ thuật - tức loại hình này đã đạt tầm nghệ thuật cao để trở thành một giá trị hàng hóa trong đời sống xã hội Các nghệ nhân cho biết, việc thưởng thẻ không chỉ dành riêng cho đào nương mà còn để thưởng cả cho kép đàn Tuy nhiên, thường thì người ta vẫn coi đào nương là nhân vật chính Có lẽ đây là đặc điểm xuất phát từ thói quen trọng nhạc hát hơn nhạc đàn của người Việt

Lệ tính tiền thù lao bằng thẻ chủ yếu sử dụng trong hình thức sinh hoạt hát cửa đình Còn trong các hình thức sinh hoạt khác, thường tính tiền công cho

Trang 39

37

đào kép dưới dạng trọn gói theo sự thỏa thuận trước - gọi là hát khoán Theo

đó, có thể coi ca trù là tên gọi bắt nguồn từ sinh hoạt hát cửa đình

- Hát cửa quyền: Đây là hình thức sinh hoạt nghệ thuật ca trù trong nghi

thức cung đình thời phong kiến Theo Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ: Hát ca trù đời nhà Lê ở trong cung gọi là Hát cửa quyền Triều đình cắt cử

hẳn một chức quan để phụ trách phần lễ nhạc trong cung, gọi là quan Thái thường

Hát cửa quyền được dùng vào các dịp khánh tiết của hoàng cung

- Hát cửa đình: Đây là hình thức sinh hoạt ca trù phục vụ cho nghi thức

tế lễ thần thánh ở các đình hay đền làng Trên thực tế, người ta còn mượn không gian đình đền để tổ chức hát ca trù với mục đích giải trí đơn thuần Song, hát tế lễ vẫn là hình thức được coi trọng hơn với cả một trình thức diễn xướng tổng hợp kéo dài Bởi vậy, thuật ngữ Hát cửa đình vẫn được sử dụng với hàm ý chỉ loại âm nhạc ca trù mang chức năng nghi lễ tín ngưỡng nơi

đình làng [57,tr194]

- Hát nhà trò: Trong hình thức Hát cửa đình, bên cạnh âm nhạc bao giờ

cũng có sự kết hợp của nghệ thuật múa và một số trò diễn mang tính sân khấu Người ta gọi đó là "bỏ bộ" Ả đào miệng hát tay múa uốn éo lên xuống, làm bộ điệu người điên, người say rượu, người đi săn Vì vừa hát vừa làm trò nên gọi là hát nhà trò Cách gọi này phổ biến ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh Như vậy, hát nhà trò cũng là thuật ngữ xuất phát từ hình thức phục vụ nghi lễ,

tín ngưỡng

- Hát nhà tơ: So với các tên gọi khác của nghệ thuật ca trù, Hát nhà tơ là

một thuật ngữ ít phổ biến Theo Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề trong Việt Nam ca trù biên khảo, thời xưa "dân chúng ít khi tìm ả đào về nhà hát chơi,

chỉ các quan khi yến tiệc trong dinh hay trong ty (tơ - ngày xưa dinh Tuần phủ gọi là Phiên ty, dinh án sát gọi là Niết ty) mới tìm ả đào tới hát Vì thế hát ả

đào còn được gọi là Hát nhà tơ, nghĩa là hát ở trong ty quan" Như vậy, cách

Trang 40

38

gọi này xác định hình thức sinh hoạt phục vụ nhu cầu giải trí của nghệ thuật

ca trù trong môi trường các nhà quan lại Tuy nhiên, cũng trên ý nghĩa ty là tơ

thì Hát nhà tơ còn có thể được hiểu theo nghĩa khác Theo Vũ trung tùy bút

của Phạm Đình Hổ, đời Hồng Đức (1470-1497) nhà Lê, Ty giáo phường là một thiết chế do triều đình sắp đặt để trông coi âm nhạc chốn dân gian Về sau, khái niệm này còn được dùng phổ biến ở thế kỷ 17, thế kỷ 18 trong các văn bia, khế ước Như thế, khái niệm Hát nhà tơ - Hát nhà ty rất có thể chỉ là

cách "diễn nôm" phiếm chỉ loại âm nhạc của Ty giáo phường mà thôi

- Hát cô đầu: Theo Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề trong Việt Nam ca trù

biên khảo, chữ ả nghĩa là cô, ả đào nghĩa là cô đào: "Những ả đào danh ca dạy

con em thành nghề, mỗi khi đi hát đình đám bọn con em phải trích ra một món tiền để cung dương thầy gọi là tiền Đầu Sau người ta dùng tiếng cô thay tiếng ả cho rõ ràng và tiếng đầu thay tiếng đào để tỏ ý tán tụng là bậc danh ca lão luyện đã dạy nhiều con em thành tài và được tặng nhiều món tiền đầu nên gọi là Cô đầu" [21,tr46] Tên gọi này của nghệ thuật ca trù chính là sự phản ánh phần nào nhu cầu "Nôm hóa" ngôn ngữ, đồng thời phản ánh một luật tục của giới nghề, đó là việc trọng thầy và phụng dưỡng thầy Trong lịch sử của nghệ thuật ca trù, có lẽ đây là tên gọi xuất hiện muộn hơn cả và được giới thị

thành biết đến nhiều hơn (có giai đoạn được gọi là cô đầu rượu) - trước khi

thể loại này biến mất khỏi đời sống xã hội vào cuối thập niên 50 thế kỷ XX

- Hát ca công: Theo Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút: Cho đến

cuối thời Lê, ca công là danh từ được dùng để chỉ các nghệ sĩ chốn giáo

phường Theo đó, Hát ca công hàm ý là âm nhạc giáo phường Như thế tên

gọi này chính là sự chuyển hóa của một danh từ chỉ nghề nghiệp thành một danh từ chỉ thể loại Điều đó đã đủ để chứng minh vai trò quan trọng của thể loại âm nhạc này trong đời sống xã hội của cả một giai đoạn lịch sử Nói cách khác, Hát ca công thời xưa là một thể loại rất phổ biến, bao trùm khắp nơi

Ngày đăng: 12/07/2016, 16:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. 1. A.A Radugin (2004), Văn hóa học - Những bài giảng, Vũ Đình Phòng dịch, Viện Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học - Những bài giảng
Tác giả: 1. A.A Radugin
Năm: 2004
2. Đào Duy Anh (2010), Việt Nam văn hóa sử cương, tái bản, Nxb TP.HCM, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb TP.HCM
Năm: 2010
3. Đặng Văn Bài (2007), “Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể - từ góc nhìn toàn cầu hóa”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2, tr.6-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể - từ góc nhìn toàn cầu hóa”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2007
2. 4. Nguyễn Chí Bền (2004), “Bảo tàng với việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 7, tr.24-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng với việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: 4. Nguyễn Chí Bền
Năm: 2004
3. 5. Nguyễn Chí Bền (2005), “Bảo tồn di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội, những vấn đề phương pháp luận”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 4, tr.31-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di sản văn hóa vật thể Thăng Long - Hà Nội, những vấn đề phương pháp luận”," Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: 5. Nguyễn Chí Bền
Năm: 2005
4. 6. Nguyễn Chí Bền (2006), Văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: 6. Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2006
7. Nguyễn Chí Bền (2010), Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể ở Thăng Long - Hà Nội, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể ở Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2010
8. Trần Lâm Biền (2000), Một con đường tiếp cận lịch sử, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận lịch sử
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2000
5. 9. Nguyễn Thị Phương Châm (2009), Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay (Trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay (Trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)
Tác giả: 9. Nguyễn Thị Phương Châm
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa
Năm: 2009
6. 10. Vũ Minh Chi (2004), Nhân học văn hóa: Con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân học văn hóa: Con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên
Tác giả: 10. Vũ Minh Chi
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
11. Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới, Đại Hội đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới
7. 13. Đoàn Văn Chúc (1997), Xã hội học Văn hóa, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Văn hóa
Tác giả: 13. Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1997
8. 14. Đoàn Văn Chúc (2004), Văn hóa học, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: 14. Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2004
17. Nguyễn Xuân Diện (2000), Góp phần tìm hiểu lịch sử Ca trù, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu lịch sử Ca trù
Tác giả: Nguyễn Xuân Diện
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
18. Nguyễn Xuân Diện (2007), Lịch sử và nghệ thuật Ca trù, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và nghệ thuật Ca trù
Tác giả: Nguyễn Xuân Diện
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2007
24. Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (2012), Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Tác giả: Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
25. Chu Hà (1980), Hát cửa đình Lỗ Khê, trích đoạn Sự tích tổ sư giáo phường của Đông các học sĩ Đào Cử, soạn năm 1476, Sở VHTT Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát cửa đình Lỗ Khê", trích đoạn "Sự tích tổ sư giáophường
Tác giả: Chu Hà
Năm: 1980
26. Mai Văn Hai, Mai Kiệm (2001), Xã hội học văn hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học văn hóa
Tác giả: Mai Văn Hai, Mai Kiệm
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
27. Bùi Trọng Hiền (2005), “Không gian văn hóa - các chức năng văn hóa xã hội và những hình thức biểu hiện của nghệ thuật Ca trù”, Thông báo khoa học Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, số 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian văn hóa - các chức năng văn hóa xã hội và những hình thức biểu hiện của nghệ thuật Ca trù”, "Thông báo khoa học Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam
Tác giả: Bùi Trọng Hiền
Năm: 2005
28. Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu (2004), Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu
Tác giả: Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu
Nhà XB: Nxb Xây dựng
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.7. Loại hình nghệ thuật được ưa thích nhất - Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội
Bảng 2.7. Loại hình nghệ thuật được ưa thích nhất (Trang 103)
Hình  2. Hát ả đào ngày xưa - Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội
nh 2. Hát ả đào ngày xưa (Trang 209)
Hình  1. Một văn bia xác nhận quyền lợi của giáo phường hát ca trù thời xưa - Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội
nh 1. Một văn bia xác nhận quyền lợi của giáo phường hát ca trù thời xưa (Trang 209)
Hình  3.  Những cô gái hát cửa đình (hát ca trù, ả đảo) một lối hát - Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội
nh 3. Những cô gái hát cửa đình (hát ca trù, ả đảo) một lối hát (Trang 210)
Hình 5. Lễ đón nhận bằng UNESCO ghi danh ca trù là di sản văn hóa phi vật thể - Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội
Hình 5. Lễ đón nhận bằng UNESCO ghi danh ca trù là di sản văn hóa phi vật thể (Trang 211)
Hình 6. Ca trù là một loại hình nghệ thuật độc đáo, có giá trị đặc biệt trong kho - Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội
Hình 6. Ca trù là một loại hình nghệ thuật độc đáo, có giá trị đặc biệt trong kho (Trang 211)
Hình 7. Một số nhạc cụ trong ca trù - Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội
Hình 7. Một số nhạc cụ trong ca trù (Trang 212)
Hình 9. Giáo phường Thăng Long đẩy mạnh hoạt động đưa ca trù đến với công chúng  (Trong ảnh là cố nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc, ca nương Phạm Thị Huệ và nghệ nhân - Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội
Hình 9. Giáo phường Thăng Long đẩy mạnh hoạt động đưa ca trù đến với công chúng (Trong ảnh là cố nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc, ca nương Phạm Thị Huệ và nghệ nhân (Trang 213)
Hình 11. CLB ca trù Thái Hà với bảy đời nối nghiệp cầm ca - Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội
Hình 11. CLB ca trù Thái Hà với bảy đời nối nghiệp cầm ca (Trang 214)
Hình 13. Những buổi biểu diễn ca trù cũng thu hút hàng trăm du khách trong - Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội
Hình 13. Những buổi biểu diễn ca trù cũng thu hút hàng trăm du khách trong (Trang 215)
Hình 14. Du khách thích thú với việc sử dụng các loại nhạc cụ ca trù - Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội
Hình 14. Du khách thích thú với việc sử dụng các loại nhạc cụ ca trù (Trang 215)
Hình 15. Du khách thích thú ghi lại những cảm xúc sau buổi biểu diễn - Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội
Hình 15. Du khách thích thú ghi lại những cảm xúc sau buổi biểu diễn (Trang 216)
Hình 16. Những dòng cảm nghĩ của du khách sau khi nghe hát ca trù - Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội
Hình 16. Những dòng cảm nghĩ của du khách sau khi nghe hát ca trù (Trang 216)
Hình 17. Thế hệ kế cận hát ca trù - Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội
Hình 17. Thế hệ kế cận hát ca trù (Trang 217)
Hình 18. Lớp ca nương trẻ sẽ là lực lượng kết tục và phát huy di sản ca trù - Luận án hoạt động biểu diễn nghệ thuật ca trù của một số câu lạc bộ, giáo phường tại hà nội
Hình 18. Lớp ca nương trẻ sẽ là lực lượng kết tục và phát huy di sản ca trù (Trang 217)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w