Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Trước tác của Phan Mạnh Danh trong bối cảnh hiện đại hóa văn học Việt Nam.. Từ điển văn học Bộ mới NXB Thế giới và trong cuốn Các tác giả
Trang 1Trước tác của Phan Mạnh Danh trong bối cảnh
hiện đại hóa văn học Việt Nam
Abstract Làm rõ các vấn đề như: Nhìn nhận một cách khách quan và đầy đủ toàn
bộ cuộc đời và văn nghiệp của Phan Mạnh Danh Chỉ rõ thế ứng xử của Phan Mạnh Danh trong bối cảnh hiện đại hóa văn học Việt Nam Hoạt động sáng tác văn chương
và biên soạn sách của ông lúc đó đều nhằm mục đích duy trì và bảo tồn những giá trị văn hóa cổ truyền, nó khác xa với xu thế thời cuộc lúc bấy giờ Chính sự khác biệt này đã đưa ông trở thành một trong số ít ỏi những người đã có những nỗ lực xóa mờ
đi vết đứt gẫy sâu sắc giữa hai giai đoạn văn học Trên cơ sở lí thuyết về loại hình học tác giả tiến hành nhận định loại hình tác giả đối với Phan Mạnh Danh Đánh giá những công lao của Phan Mạnh Danh trong việc giữ gìn, bảo tồn, phục hưng nền
văn học văn hóa nước nhà
Keywords Văn học Việt Nam; Nghiên cứu văn học; Thơ
mẻ luôn là nhiệm vụ của người nghiên cứu khoa học
Trang 21.2 Từ lâu trong giới nghiên cứu văn học, đa số đều thừa nhận trong tiến trình văn học Việt Nam từ văn học trung đại sang văn học hiện đại có một sự đứt gẫy sâu sắc Mặc dù, giới nghiên cứu vẫn dành cho giai đoạn văn học này một danh xưng là: văn học cận đại, song việc nghiên cứu các tác giả đại diện thuộc giai đoạn này chủ yếu hướng tới đặc điểm “văn chương yêu nước”, đặc điểm “hiện đại hóa văn học” – dù đó là những đặc điểm nổi bật của văn học giai đoạn này Bên cạnh đó vẫn có những nhà nho âm thầm giữ gìn, bảo tồn vốn văn hóa truyền thống của dân tộc bằng các sáng tác của mình Và rất có thể chính những tác giả này là những viên gạch lấp đầy vết đứt gẫy xưa nay vẫn tồn tại giữa hai giai đoạn văn học Nghiên cứu trường hợp Phan Mạnh Danh chúng tôi thấy ông có nhiều khả năng bổ khuyết vào chỗ đứt gẫy này
1.3 Từ cuối thế kỉ XIX Tân thư tân văn được truyền bá và gây ảnh hưởng rộng rãi trên đất nước ta Nhiều nho sinh của cửa Khổng sân Trình đã trở thành lực lượng đi tiên phong trong việc bài xích nền cựu học truyền thống và chế độ khoa cử lỗi thời Họ tìm đến một lối văn chương mới lạ với ngôn ngữ, đề tài, cảm hứng, thể loại khác xa với văn học truyền thống Tân thư trở thành làn gió mới mẻ bao trùm lên đời sống xã hội, văn học lúc bấy giờ Như đứng ngoài sự ảnh hưởng đó,Phan Mạnh Danh vẫn tìm về với lối thơ văn cổ, dốc tâm huyết để làm mới nó Đứng ở góc độ khách quan, việc làm đó của.ông cần phải được nhìn nhận và đánh giá như thế nào?
1.4 Ba thập niên đầu thế kỉ XX, trong các thành thị Việt Nam xuất hiện bộ phận văn học mới phân biệt rõ rệt với bộ phận văn học truyền thống ở nông thôn Văn học thành thị ra đời đã làm thay đổi cả quan niệm văn học: văn học phải đi theo hướng cận, hiện đại của thế giới; thay vì thói quen diễn đạt tư tưởng tình cảm bằng thơ ca văn vần như trước, văn xuôi phát triển khá nhanh chóng đi gần với tiếng nói thông tục để phản ánh chân thực hiện thực cuộc sống Những thay đổi có tính chất bước ngoặt đó đưa văn học Việt Nam tiến nhanh vào quỹ đạo hiện đại của thế giới, và văn học truyền thống ngày càng bị thu hẹp, mất vị trí trong đời sống văn học đương thời Trước những thay đổi chóng mặt đó một số nhà nho đã tỏ thái
độ nuối tiếc những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc, họ vẫn sáng tác bằng thứ ngôn ngữ cũ, vẫn những lối văn cũ thậm chí còn có ý định phục hưng nền văn hóa, văn học cũ Bên cạnh những thành tựu của một nền văn học mới thì những sáng tác của họ không phải là không có
ý nghĩa tích cực làm nên tinh hoa của một giai đoạn văn học Chúng tôi muốn minh chứng điều đó qua nghiên cứu trường hợp Phan Mạnh Danh
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Trước tác của Phan Mạnh Danh trong
bối cảnh hiện đại hóa văn học Việt Nam
2.Lịch sử vấn đề:
Trong phần này chúng tôi điểm qua lại toàn bộ những công trình nghiên cứu, những bài viết có liên quan đến con người, trước tác của Phan Mạnh Danh đã được công bố trong khoảng từ khi tác giả qua đời cho đến nay Có thể kể đến đó là:
2.1 Từ điển văn học Bộ mới (NXB Thế giới) và trong cuốn Các tác giả văn chương
Việt Nam, tập 2, NXB Văn hóa thông tin nhà nghiên cứu Đặng Thị Hảo và Trần Mạnh
Thường đã có một nghiên cứu toàn diện và khái quát về tiểu sử, trước tác của Phan Mạnh Danh Cả hai công trình này giống như một chiếc chìa khóa để mở ra nhiều cánh cửa cho người nghiên cứu tiếp theo
2.2 Năm 1942, Phạm Quỳnh đã viết lời tựa mở đầu cho cuốn Bút hoa Tiếp sau đó là bài diễn văn bằng tiếng Pháp Một nhà thơ cổ điển Việt Nam đọc tại phòng Hội nghị Huế
Trang 3ngày 3/5/1943 do Nguyễn Tiên Lãng dịch ra tiếng Việt in trong cuốn Xuân mộng Cả hai bài
viết Phạm Quỳnh đều muốn giới thiệu với đương thời một “nhà thơ cổ điển” sừng sững giữa cơn bão táp văn học Á Âu
2.3 Bài viết Thi văn tập của cụ Phan Mạnh Danh của tác giả Song Cối in trên tạp chí
Tri Tân số ra ngày 28/10/1942 Bài viết kể ra những ưu điểm, nhược điểm của Phan Mạnh Danh trong thơ văn Hán, thơ văn dịch và thơ Nôm
2.4 Tạp chí Hán Nôm tập 1 số 104 năm 2011 có đăng bài viết của PGS.TS Trần Thị
Băng Thanh với nhan đề Sức hấp dẫn của Truyện Kiều với danh sĩ Bắc Hà – Trường hợp
Phan Mạnh Danh, tác giả đã giới thiệu lại chân dung Phan Mạnh Danh - một tác giả văn học
vô tình bị quên lãng trong khoảng mấy mươi năm Tác giả dành phần lớn bài viết của mình
giới thiệu về cuốn Bút hoa thơ tập cổ
Như vậy, nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đây chỉ mới dừng lại ở phạm vi
cá nhân con người hoặc liệt kê đánh giá sơ bộ hệ thống các sáng tác hoặc giới thiệu, phẩm bình một trước tác của Phan Mạnh Danh mà chưa đặt ông vào trong tiến trình vận động của
nền văn học Triển khai đề tài “Trước tác của Phan Mạnh Danh trong bối cảnh hiện đại hóa
văn học Việt Nam” chúng tôi sẽ cố gắng tạo dựng một cái nhìn toàn diện, đa chiều về con
người và trước tác của Phan Mạnh Danh trong tiến trình vận động văn học Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XX
3 Nhiệm vụ của đề tài:
Luận văn của chúng tôi hướng đến làm rõ các vấn đề sau:
- Nhìn nhận một cách khách quan và đầy đủ toàn bộ cuộc đời và văn nghiệp của Phan Mạnh Danh
- Chỉ rõ thế ứng xử của Phan Mạnh Danh trong bối cảnh hiện đại hóa văn học Việt Nam
- Trên cơ sở lí thuyết về loại hình học tác giả tiến hành nhận định loại hình tác giả đối với Phan Mạnh Danh
- Đánh giá những công lao của Phan Mạnh Danh trong việc giữ gìn, bảo tồn, phục hưng nền văn học văn hóa nước nhà
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Để làm rõ đề tài, chúng tôi đặt mục tiêu khảo sát toàn bộ những tài liệu do nhà thơ sáng tác và / hoặc biên tập, phiên dịch bao gồm: các tác phẩm thơ, thơ tập cổ; kịch bản tuồng
do chính Phan Mạnh Danh sáng tác; thơ văn dịch; biên tập điển tích văn học và thực dụng thành ngữ; các công trình nghiên cứu, bài viết về tác giả Phan Mạnh Danh còn lại cho đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu triển khai đề tài luận văn này chúng tôi sử dụng một số phương pháp như: phương pháp đối chiếu, so sánh; phương pháp lịch đại; phương pháp thống kê; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp lịch sử cụ thể Tùy từng vấn đề mà chúng tôi có sự lựa chọn hay phối kết hợp nhiều phương pháp
6 Đóng góp của luận văn:
Triển khai đề tài này chúng tôi mong muốn sẽ góp một tiếng nói xác lập lại vị trí của tác giả Phan Mạnh Danh trong nền văn học; nhận định loại hình học tác giả nhà nho Phan Mạnh Danh; đánh giá những công lao của ông trong việc phục hưng nền văn học, văn hóa nước nhà
Trang 47 Cấu trúc của luận văn
Luận văn của chúng tôi gồm 3 chương chính:
Chương 1: Tiểu sử và hành trạng
Chương 2: Trước tác của Phan Mạnh Danh
Chương 3: Phan Mạnh Danh – Nhà nho tài tử trong bối cảnh hiện đại hóa văn học Việt Nam
Ngoài ra còn có phần phụ lục về một số bài viết và hình ảnh mà chúng tôi sưu tập được sau khi Phan Mạnh Danh qua đời
B Phần nội dung Chương 1: TIỂU SỬ VÀ HÀNH TRẠNG
Trong chương này, chúng tôi tập trung tạo dựng lại chân dung tác giả Phan Mạnh Danh ở góc độ tiểu sử và những mốc thời gian quan trọng trong cuộc đời hoạt động văn học của ông Nội dung này được cụ thể hóa thành các giai đoạn sau:
1.1 Giai đoạn 1 (Từ năm 1866 đến năm 1887)
Phan Mạnh Danh sinh ngày 12/12/1866 (tức mùng 6 tháng 11 năm Bính Dần), tại Nam Định
Từ năm 1866 đến năm 1887 Phan Mạnh Danh còn nhỏ, sống chủ yếu ở Nam Định Thời gian này, ông trải qua quá trình đào tạo và tự đào tạo bài bản theo Nho giáo Năm 20 tuổi, Phan Mạnh Danh bắt đầu có tác phẩm đầu tiên
1.2 Giai đoạn 2 (Từ năm 1888 đến năm 1915)
Sau khi lập gia thất, Phan Mạnh Danh sống tại tỉnh lỵ Hưng Yên Thời gian này ông tham gia khá nhiều các hoạt động đàm đạo và sáng tác văn học được tổ chức tại Hưng Yên Các trước tác in dấu tài năng trong sự nghiệp văn học của ông cũng được hình thành trong
thời gian này như: Bút hoa thơ tập cổ, Xuân mộng…
1.3 Giai đoạn 3 (Từ năm 1916 đến năm 1942)
Đây là những năm cuối đời, Phan Mạnh Danh sống chủ yếu tại Nam Định Thời gian này ông có điều kiện để nghiên cứu về y học, trồng cây, chắp núi, uốn cảnh vẽ tranh và đi thăm thú nhiều nơi Những trước tác của ông giai đoạn này bộc lộ khá rõ ràng ý định lưu giữ,
bảo tồn các giá trị văn học truyền thống Những hoạt động văn học tiêu biểu: viết Tuồng Hoa
tiên vừa Hán vừa Nôm, dịch Đa tình hận (Từ Chẩm Á) và Tình sử (Long Tử Do), viết tập Xuân mộng bằng quốc văn [tức chữ Nôm – TTH], viết thơ đề vịnh bằng chữ Hán về những
nơi danh thắng đi qua, biên tập Điển cố, làm Thơ cổ tập Kiều và Thơ cổ tập truyện Nôm…
Ông ra đi vào lúc hơn 5 giờ sáng, ngày 26 tháng 4 năm Nhâm Ngọ (dương lịch ngày
9 tháng 6 năm 1942), thọ 77 tuổi
Tiểu kết chương 1: Như vậy, ở chương 1 chúng tôi đã tiến hành dựng lại bức chân
dung con người của Phan Mạnh Danh trên cơ sở nguồn tư liệu về tiểu sử gia đình và những
sự kiện chính trong cuộc đời tác giả Những thông tin này cung cấp một cái nhìn logic, ngọn nguồn về những yếu tố cấu thành, tác động và ảnh hưởng đến việc hình thành thế giới quan,
tư tưởng của Phan Mạnh Danh sau này Trong chương 1, chúng tôi cũng đã lần theo mốc thời gian tái hiện lại những sự kiện quan trọng trong cuộc đời tác giả và những hoạt động văn học tiêu biểu dẫn đến sự ra đời của một trước tác nào đó Sự tái hiện này cũng chỉ có tính chất sơ lược là điểm tên trước tác, còn việc thẩm bình, định giá giá trị của tác phẩm sẽ được triển khai cụ thể ở chương 2
Trang 5Chương 2: TRƯỚC TÁC CỦA PHAN MẠNH DANH
Trong chương này chúng tôi tiến hành khảo sát toàn bộ trước tác của Phan Mạnh Danh bằng việc đưa ra một niên biểu các trước tác của ông Sau đó chúng tôi lựa chọn những trước tác tiêu biểu tương ứng với các giai đoạn phát triển của văn học Việt Nam làm hệ quy chiếu để thẩm bình và định giá giá trị của các trước tác Cụ thể các giai đoạn đó như sau:
2.1 Giai đoạn trước năm 1900
2.1.1 Đời sống xã hội và văn học
Cuối thế kỷ XIX, các phong trào đấu tranh chống Pháp lần lượt thất bại, Pháp đã đặt xong ách thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam Chúng áp dụng hàng loạt các chính sách đồng hóa văn hóa, mưu toan thay thế triệt để chữ Hán bằng chữ quốc ngữ theo mẫu tự La tinh Tuy nhiên, mọi sự cố gắng của chúng đều không được nhân dân ta chấp nhận Việc học chữ Hán và thi cử bằng chữ Hán vẫn được tổ chức theo định kỳ
Sự kiện Pháp xâm lược đã làm xuất hiện trong văn học một trào lưu văn học yêu nước Văn học giai đoạn này thu hút được một lực lượng sáng tác đông đảo là các nho sĩ cần bút chiến đấu như: Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Xuân Ôn…
2.1.2 Những trước tác tiêu biểu của Phan Mạnh Danh
Tập văn Nôm lục bát và song thất lục bát Mấy bức tiên hoa được viết năm Phan Mạnh
Danh 20 tuổi (1885) là tác phẩm đầu tiên trong sự nghiệp sáng tác của ông Với tập văn này ông đã được đánh giá là “bậc cao Nôm”
Từ năm 1896, Phan Mạnh Danh đã “nghĩ ra lối Kiều tập thơ cổ, theo điệu thơ thổng của đào nương” Sau hơn bốn năm, ông “đã làm ra được một tập hơn 60 bài liên cú và hơn
300 bài cách cú”, đặt nhan đề là Bút hoa thi thảo Cuốn sách được in lần đầu vào đầu năm
1942 So với các cách tập Kiều của Lý Văn Phức, Thẩm Quỳnh, Nguyễn Khuyến, Phan Bội Châu, Tản Đà, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Quảng Tuân… Phan Mạnh Danh tập Kiều theo một lối riêng, rất lạ lẫm Phan Mạnh Danh đã tự tạo nên trăm nghìn cái khó cho mình khi
dùng Kiều tập thơ cổ rồi lại dùng thơ cổ tập Kiều.Trong khi Kiều tập thơ cổ, không tùy tiện cắt xén, thêm bớt từ ngữ như lối tập Kiều thông thường mà tác giả lại nương theo lối thơ
thổng ả đào và lối thơ thổng mới Chưa biết tỏ tường cách chơi nhưng đã thấy để tập được
một bài Kiều theo cách của Phan Mạnh Danh người tập ngoài việc thuộc Kiều còn phải thuộc
cơ man nào là thơ cổ (thơ Tàu và thơ ta), lại phải am tường nghệ thuật hát ả đào – thứ nghệ thuật cũng lắm công phu, lắm lối lắm điệu
Theo lối thơ thổng ả đào, tác giả giải thích cách làm như sau: “Theo lối thơ này thì lấy
trong các sách Tàu ra mỗi chỗ một câu thơ, rồi ghép lại thành một bài thơ tứ tuyệt đủ niêm luật, bài thơ chữ ấy đọc vần xuống bốn câu Kiều liền, mà bốn câu liền lại hình như dịch nghĩa những câu thơ chữ ấy ra Dùng đủ ba mươi vần bằng từ vần nhất đông đến vần thập ngũ hàm Câu nào trích ở sách nào đều có chua ở bên cạnh” Theo cách này Phan Mạnh Danh
đã tập được 46 bài thơ Hán (tương ứng với 184 câu thơ Hán) và chọn ra được 45 khổ thơ 4 câu Kiều liền (tương ứng với 180 câu lục bát) để “dịch” các bài Hán thi tập trên
Theo lối thơ thổng mới, tác giả làm được 126 bài tập Kiều, với 252 cặp câu lục bát và
504 câu Hán thi tuyển Tác giả giải thích cách làm như sau: “Theo lối này thì lấy trong các sách Tầu ra mỗi chỗ một câu thơ, rồi đem hai câu ghép lại với nhau, đọc vần xuống hai câu Kiều liền; kế đến hai câu thơ chữ lẩy nữa, lại đọc vần với hai câu Kiều liền nối theo Câu thơ nào trích trong sách nào đều có chua ở bên cạnh Các bài Kiều xếp đặt trước sau theo thứ tự
Trang 6trong Truyện Kiều” Cách làm này có phần đơn giản hơn lối thơ thổng ả đào, bởi bốn câu thơ
chữ không cần ghép thành một bài tuyệt cú, chỉ cẩn câu thơ chữ thứ hai bắt vần với cặp Kiều lẩy Lại kế đến hai câu thơ chữ tiếp phải bắt vần với cặp Kiều lẩy tiếp theo Hai cặp Kiều lẩy này phải cùng trong một khổ Kiều liền 4 câu
Sáng tạo ra một lối chơi Kiều công phu, độc đáo như trên là một sự đáng nể phục Song để tạo ra được “hơn 60 bài liên cú và hơn 300 bài cách cú” mà bài nào cũng hay như
nhau, cũng tài tình như nhau là một việc khó Trong cuốn Bút hoa thi thảo, mặc dù tác giả đã
làm công việc tuyển chọn ra những bài hay nhất, chỉ giữ lại 46 bài liên cú và 126 bài cách cú, nhưng đôi lúc, nếu tinh ý người đọc vẫn nhận ra những bài chưa thật hay về ý và hợp về vần Xét đến cùng thì đó cũng là một lẽ tất yếu, bởi trong bất cứ việc gì, nhất là sáng tạo thơ thì càng đặt ra lắm lề thói, quy định, càng lắm mối buộc ràng (trong khi chất liệu làm ra nó có hạn) thì càng dễ tạo ra những sản phẩm dập khuôn máy móc, mà nói hơi quá như tác giả
Song Cối trong bài viết Thi văn tập của cụ Phan Mạnh Danh là một tay “thợ thơ rất tinh
công”
Tập văn Nôm song thất lục bát Hà Giang nhật trình (Nhật kí hành trình đi Hà Giang)
được viết năm 1897 khi tác giả đưa người em là Phan Như Xuyên lên Hà Giang nhận công tác Tử tấn Đào Sỹ Nhã nhận xét về tập văn Nôm:
“Trong tập văn ấy, có tả phong cảnh miền thượng du xứ Bắc Kỳ, chỉ rõ những đường
đi lối lại lúc bấy giờ, và thứ nhất là dặn dò những người chưa từng biết, phải giữ gìn khi đến chốn ma thiêng nước độc Cảnh tả như vẽ, việc thuật rõ ràng, lời văn lại chải chuốt nghe rất
du dương, như những câu:
Có non nước đâu mà không chủ, Huống chi là thủy tú sơn thanh;
Hễ càng u uất càng linh, Chớ rằng điếm cỏ lều gianh mà nhờn!”
Năm 1898, quan Tuần phủ Phạm Văn Toán có tổ chức cuộc thi thơ Nguyệt hồ bát
vịnh tại Hưng Yên Cuộc thi thu hút nhiều danh sỹ tham gia Phan Mạnh Danh đã làm tám bài
luật thi tập cổ và chiếm giải nhất Hiện chỉ còn lại năm trong số tám bài in trong cuốn Bút
hoa Về hình thức, cả năm bài tác giả đều dùng thể thơ thất ngôn bát cú đường luật, đảm bảo
được niêm luật và cách gieo vần Về nội dung, Phan Mạnh Danh xuất phát từ chính cảnh
trong thực tế, khéo léo vận tình vào cảnh Đọc các bài Hoa Dương cổ tự, Trần miếu hiểu
chung, Duyên đê lục thụ cũng đã có thể mường tượng ra: cảnh Nguyệt hồ ở bờ phía tây, theo
đường vòng cung, là một con đê, hai bên rìa có trồng hai rặng nhãn, lá xanh rậm rạp Ở bờ phía đông là một con đường đá chạy dài Ngay bên đường, trông ra hồ, có đền thờ đức Trần Hưng Đạo, quy mô rất là rộng rãi Cách một quãng đến đền thờ bà Tống Hậu, của làng Mậu Dương, cũng gọi là Hoa Dương, liên tiếp mấy tòa, ẩn hiện trong đám cây cổ thụ um tùm, như trong tranh vẽ Sau cùng là vọng cung với giếng nước, mà chung quanh có dinh thự của các quan tỉnh chầu vào
Năm 1898, sau một giấc mộng đêm xuân, ông viết tập thơ Xuân mộng bằng chữ Hán dùng đủ 30 vần bằng trong sách Thi vận tập thành Toàn bộ tập thơ vấn vương một chữ
“tình” của tác giả lúc tuổi đôi mươi với một người con gái tài sắc gồm hai Phan Mạnh Danh
đã nương theo từng vần, mỗi vần làm một bài thơ chữ theo thể thất ngôn bát cú đường luật Tập thơ lấy Xuân mộng làm đề mục nên “từ chỉ, điển cố, thần thái, cảnh bạt đều phải hàm ý
mộng ở trong, mà phải tránh dùng đến chữ mộng; còn chữ xuân lại dùng trong khắp các bài”
Trang 7Thêm nữa “bài nào cũng phải có chữ Hảo- tên người trong mộng” Khảo sát 30 bài thơ chữ chúng tôi thấy tất cả các bài đều đáp ứng đủ những yêu cầu đó
Ý mộng được biểu hiện khá linh hoạt, mỗi bài mỗi vẻ
Chữ xuân ở mỗi bài cũng được sử dụng với những dáng vẻ và cảnh huống khác nhau:
xuân tiêu (đêm xuân), xuân tín (tin tức mùa xuân), xuân dung (dung mạo mùa xuân), xuân suy, xuân tàn (xuân hết); xuân sắc (cảnh sắc mùa xuân), đương xuân (đang độ mùa xuân), xuân phong (gió xuân), xuân vụ tỏa (xuân khóa kín), xuân hận, xuân oán (nỗi hờn xuân); xuân trào (sự chê cười của mùa xuân), Giang nam xuân (sắc xuân nơi Giang nam), xuân tư (dáng vẻ mùa xuân), xuân dương (cảnh trời đất khi mùa xuân), xuân khuê (phòng xuân), xuân chẩm (cái gối đêm xuân) …
Học cách làm thơ theo lối thơ tam thập vận của Nguyên Chẩn đời Đường (bài nào cũng có chữ Oanh) nên bài nào tác giả cũng phải đưa chữ Hảo – tên người trong mộng vào
Chữ hảo xuất hiện cũng rất sinh động, nhiều vẻ, mỗi bài đứng ở vị trí khác nhau
Tập thơ Xuân mộng còn có cái hay ở chỗ, bên cạnh việc dùng chữ hảo và ý mộng
trong khắp các bài, thi sỹ còn có những bài thơ mỗi câu dùng tên một giống điểu, thú, ngư, trùng, cũng có bài mỗi câu dùng tên một từ khúc, một vị thuốc bắc, một thứ chè tàu, một
người con gái có tiếng Khảo sát trong 30 bài thơ chữ có 5 bài dùng theo lối này (Đắc ngư tự,
Lòng ta không phải là đá mà có thể xoay chuyển được, nhưng vì sầu não cho nên nó nát ra tro
Như vậy, trong giai đoạn này Phan Mạnh Danh chủ yếu vẫn dành nhiều thời gian cho thú làm thơ và chơi thơ của mình, ý định “phục cổ” chưa bộc lộ ra một cách rõ ràng Cuốn
Bút hoa thơ tập cổ và tập thơ Xuân mộng sau này trở thành dấu ấn trong sự nghiệp sáng tác
của ông
2.2 Giai đoạn từ 1900 đến 1930
2.2.1 Đời sống xã hội và văn học
Sau khi thực dân Pháp đặt được ách thống trị trên đất nước ta, về hình thức, triều đình phong kiến vẫn tồn tại nhưng mất đi tính chất tự chủ mà chịu sự ước thúc của thực dân Pháp Trong hàng ngũ quan lại xuất hiện những cách ứng xử khác nhau, trong đẳng cấp nhà Nho nói chung cũng có một sự phân hóa mãnh liệt
Năm 1905, Tân thư, Tân văn được truyền bá sâu rộng vào nước ta Với tinh thần chung là phê phán sự hủ bại của xã hội phong kiến, ca ngợi văn minh Âu – Mỹ, yêu cầu cải cách đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Tân thư có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các nhà nho lúc bấy giờ Tuy nhiên, Tân thư ra đời không theo trình tự nội sinh mà xuất hiện bị động do sức ép từ bên ngoài nên bản thân nó chưa được hoàn thiện đầy đủ và phù hợp với môi trường xã hội nước ta Những thay đổi của đời sống xã hội đã khiến cho “cái cũ mất
Trang 8đi vai trò, ý nghĩa lịch sử của nó song cái mới vẫn chưa đủ trưởng thành để đáp ứng những đòi hỏi của một tiến trình phát triển mạch lạc tiếp tục”
Từ sau năm 1903, các nhà nho trí thức đã nhận thấy tính đa tiện ích của chữ quốc ngữ nên đã phát động toàn dân học thứ chữ mới này Từ đây chữ quốc ngữ đã chính thức có được
“trước bạ” để dần dần trở thành chữ viết của toàn dân tộc Các nhà Nho truyền thống vốn quen sử dụng chữ Hán, chữ Nôm nay đã sử dụng chữ quốc ngữ vào việc sáng tác văn chương Báo chí quốc ngữ xuất hiện dày đặc, và do đó bản thân báo chí lại trở thành “phương tiện truyền bá và giáo dục chữ quốc ngữ có hiệu quả nhất”
Ngay sau khi Pháp đặt ách đô hộ, mặc dù vẫn duy trì chế độ khoa cử như trước nhưng trong tầng lớp danh sĩ đã xuất hiện tư tưởng “giã đám” Một số vẫn đi thi như là để hoàn tất trọn vẹn cái sự học của mình chứ không đặt cái đích “vinh danh”; một số có tài năng xuất chúng đi thi, thi đỗ hoặc ra làm quan rồi lại cáo quan (Phan Châu Trinh) hoặc không chịu ra làm quan (tiêu biểu là Phan Bội Châu đỗ thủ khoa – Giải nguyên trường Nghệ năm 1900; Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng đậu tiến sĩ năm 1904) Không chỉ tỏ thái độ ứng xử chính trị, các nhà nho tiêu biểu nhất của lối văn cử tử còn dùng thơ văn để phê phán, bài xích,
khai tử cho chính nền cựu học đã đào tạo ra chính mình (bài Chí thành thông thánh và Lương
ngọc danh sơn phú của Bộ ba xứ Quảng) Vì thế, tất yếu, sớm muộn gì cũng xảy ra sự kiện:
năm 1915 khoa thi Hương cuối cùng đã diễn ra ở Bắc Kì và năm 1918 khoa thi Hội cuối cùng
đã diễn ra ở Nam Kì Từ đây nước ta chấm dứt việc tuyển dụng quan lại thông qua khoa cử Hán học Chữ Hán đã không còn chiếm vị trí như trước nữa mà thay vào đó là chữ Quốc ngữ
và chữ Pháp Tuy vậy, chữ Hán vẫn không vắng bóng hẳn, “việc tự học chữ Hán (và chữ Nôm) vẫn tiếp tục diễn ra ở các tư gia, nhất là trong các gia đình vốn có truyền thống Nho học” Có thể nói: trong suốt vài chục năm đầu thế kỷ XX, chữ Hán vẫn lay lắt tồn tại, thơ văn bằng chữ Hán vẫn được sáng tác, lưu truyền và in ấn
Những năm đầu của thế kỉ XX, phong trào dịch đã xuất hiện ở nước ta, sớm nhất là ở Nam Bộ dịch truyện cổ Trung Quốc Sau phong trào dịch lan rộng và được nâng cao hơn ở Bắc Bộ: dịch các sách Tàu, sách phương Tây (chủ yếu là sách Pháp) và sách Hán cổ của các
cụ cha ông ta thuở trước Chính những tác phẩm dịch này đã góp phần thay đổi quan điểm, thị hiếu của nhân dân ta (nhất là ở thành thị) và xây dựng quan điểm, thị hiếu thẩm mỹ mới Trong những sách dịch của nước ngoài chiếm phần đa là các “tiểu thuyết “ngôn tình, nhu cảm” của Trung Quốc và Pháp, những tác phẩm của chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn
và chủ nghĩa hiện thực phê phán Pháp”
Như vậy, trong ba thập niên đầu thế kỷ XX đời sống kinh tế, chính trị, giáo dục, văn học ở Việt Nam có sự thay đổi theo xu hướng một số giá trị cũ bị mất đi mãi mãi nhường chỗ cho một số giá trị mới xuất hiện, hoặc thay đổi để phù hợp với sự đổi thay của xã hội Điều
đó tác động đến văn học khiến cho văn học Việt Nam từ 1900 – 1930 có sự tồn tại song song của hai nền văn học cũ và mới với hai lực lượng sáng tác, hai công chúng, hai quan niệm văn học, hai loại ngôn từ văn học ở hai địa bàn khác nhau Nền văn học mới đang dần ở thế thắng lợi tiến tới thay thế cho nền văn học cũ, song nền văn học cũ tuy đang trên con đường suy tàn nhưng hào quang của nó vẫn có tác dụng tích cực nhất định trong sự phát triển của văn học dân tộc
2.2.2 Trước tác của Phan Mạnh Danh từ năm 1900 đến năm 1930
Đây là giai đoạn Phan Mạnh Danh tham gia hoạt động sáng tác văn học nhiều nhất và hầu hết các sáng tác đều hướng đến ý định lưu truyền lại những tinh hoa của văn học cổ trung
Trang 9đại
Do đặc điểm chữ ta và chữ Tàu đều là đơn âm ngữ nên các bậc thi gia xưa đã nghĩ ra lối thơ thuận nghịch độc Thuận nghịch độc hay hồi văn là bài thơ có thể đọc xuôi bình thường từ câu đầu cho đến câu cuối, cũng vẫn bài thơ đó, nếu đọc ngược lên từ chữ cuối câu cuối và chấm dứt bài thơ với chữ đầu của câu đầu bài thơ thì bài thơ vẫn đúng niêm luật, vần điệu và có ý nghĩa Đây là một lối thơ rất khó làm vì mỗi khi làm một câu thơ lại phải đọc xuôi, đọc ngược làm sao cho cả hai cách đọc xuôi, đọc ngược đều phải có ý nghĩa và hợp vận luật Phần nhiều đọc xuôi hay đọc ngược đều thành hai bài Nôm hoặc hai bài chữ Song, do đặc điểm chữ Nôm có những chữ được cấu tạo là nguyên chữ Hán hoặc đọc cùng âm, hoặc đọc khác âm nên có thể làm ra một bài đọc xuôi thành thơ chữ, đọc ngược thành thơ Nôm được Cú pháp trong Việt văn và trong Hán văn có nhiều chỗ khác nhau nên dùng chữ và đặt câu có phần công phu hơn là làm những bài thơ thuận nghịch độc toàn Nôm hoặc toàn chữ
Tìm trong số những sáng tác của Phan Mạnh Danh còn lưu lại được có 4 bài thơ làm theo lối thuận nghịch độc, trong đó có một bài Hán thi đọc xuôi đọc ngược đều thành thơ chữ
(Trung tiêu đạo biệt) và 3 bài thơ đọc xuôi thành thơ chữ và đọc ngược thành thơ Nôm (Liễu
âm tống biệt, Tích biệt – kỳ nhất, kỳ nhị) Ở đây ta khoan xét đến bài thơ chữ Trung tiêu đạo biệt Chỉ ba bài thơ thuận nghịch độc sau đã thấy thi nhân là một bậc kì tài Hầu hết cả ba bài
đều đảm bảo được vận luật của một bài thơ thất ngôn bát cú đường luật (Trừ bài Tích biệt -
Kỳ nhất, thơ Nôm đọc ngược từ bài chữ là không hợp vần) Về ý nghĩa, giữa bài đọc xuôi và
đọc ngược có bài đúng nghĩa nhau (Tích biệt – kỳ nhị), có bài khác nhau ở một số câu (Tích
biệt – kỳ nhất), có bài tạo ra sự độc đáo, khác biệt từ cách lí giải sự tình ở câu đầu hay câu
cuối (Liễu âm tống biệt)
Năm 1905, Tổng đốc Lê Hoan có tổ chức cuộc thi thơ ĐỀ THANH TÂM TÀI NHÂN LỤC tại tỉnh lỵ Hưng Yên Ban chấm thi gồm có Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến và Giải nguyên Dương Lâm là các vị danh sĩ đương thời Phan Mạnh Danh cũng tham gia cuộc thi này Ông làm một bài tựa chữ Hán, 21 bài thơ chữ Hán, 21 bài thơ Nôm phỏng theo những bài chữ Kết quả cuộc thi: Chu Mạnh Trinh nhất thơ chữ Nôm, Chu Thấp Hy nhất thơ chữ Hán Không giành giải nhất nhưng bài thi của Phan Mạnh Danh cũng có nhiều điều thú
vị, hấp dẫn
Với yêu cầu thứ nhất, Phan Mạnh Danh làm một bài tựa Bài tựa kể những duyên do,
sự tình khiến cho truyện của Thanh Tâm Tài Nhân được viết ra, ấy là: phong lưu oan nghiệt, chữ mệnh vì chữ tài mà chịu ghen ghét, chữ tình vì chữ sắc mà phải vương mang Tác giả vừa
kể chuyện vừa bình luận sử dụng những điển tích để thâu tóm lời văn ngắn gọn đồng thời tái tạo lại không khí mới cho câu chuyện thêm phần hấp dẫn lạ lẫm mà vẫn không làm thay đổi cốt truyện Không dừng lại đó, tác giả bộc lộ quan niệm của mình để thương tiếc cho phận
má hồng nói chung: Than ôi! Kẻ có tài sắc tuyệt vời thường mắc phải nửa đời lưu lạc, là bởi
nợ yên hoa ác nghiệt, gốc ở nơi hồng tuyết nguyên do Chớ bảo rằng: nhi nữ chuyện thường, nhi nữ nghìn thu còn để tiếng, nếu nhi nữ lại nhận mình là tri kỉ, cũng đủ thôi hờn Nếu kiếp tái sinh ở giữa đời này, ta có thấy cũng sinh lòng yêu mến” Tác giả lại tự nhận mình là người đồng đạo, tri âm với Thanh Tâm Tài Nhân và cụ Tiên Điền, lại chỉ tưởng tượng đến người (tức Thúy Kiều) nên mới “vẽ vợi ra bức sông thu đem treo đây” mà kể lể một trường xuân mộng Bài tựa gồm toàn những câu đối, các câu đối lại được xếp đặt theo niêm luật, số chữ trong một câu luôn thay đổi, âm thanh khi bổng khi trầm như đã nói ở trên nên đã làm mất đi cái vẻ thô sáp của một tiểu thuyết chương hồi, cùng với đó là tấm lòng của tác giả được bộc bạch
Trang 10tri âm với Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều
Với yêu cầu thứ hai, Phan Mạnh Danh làm một bài đề từ (bài tổng vịnh) Hán họa lại bài của cụ Phạm Lập Trai và một bài đề từ Nôm Cái hay của hai bài này là “tác giả đã đem tinh thần của tự gia mà hóa đề từ thành điểm nhãn” (Tôn Thất Lương chú giải) nghĩa là ông
đã tóm lược cả hai mươi hồi của Thanh Tâm Tài Nhân lục (tên gọi của tác phẩm ghi lại
truyện của Thanh Tâm Tài Nhân bằng chữ Hán lưu hành trong xã hội ta thuở ấy) để vẽ nên bức họa một mĩ nhân bằng các nét điểm bút, có cốt cách tinh thần
Với yêu cầu thứ ba, Phan Mạnh Danh đã làm “dôi” ra so với yêu cầu của cuộc thi:
ông làm đủ 20 bài Hán và 20 bài Nôm tương ứng với 20 hồi trong Thanh Tâm Tài Nhân lục,
và “tác giả dường như bắt đầu làm tập thơ chữ” rồi mới “nương theo thơ chữ mà dịch ra Nôm” So với 20 bài Nôm của Chu Mạnh Trinh phần thơ Nôm của Phan Mạnh Danh có phần thiếu đi sự bay bổng, vẻ sinh động Song với cách làm bài thi như thế chỉ có thể cắt nghĩa bởi chữ “ngông” Vì ngông nên mới “không làm đủ” theo yêu cầu của cuộc thi mà biến cuộc thi trở thành chốn để khoe tài; hoặc Phan Mạnh Danh không coi trọng đến yêu cầu của cuộc thi
mà xem cuộc thi là nơi mình thỏa sức bộc lộ niềm yêu thích, say mê Truyện Kiều của mình
Năm 1917, Phan Mạnh Danh dựa vào truyện Nôm Hoa tiên viết Tuồng Hoa tiên vừa
Nôm vừa chữ “câu văn điệu hát đều rất công phu và tỏ rõ được cái tài của thi gia sành về âm nhạc”
Những năm đầu thế kỷ XX, nhờ có chữ quốc ngữ mà phong trào dịch ngày càng phát triển Mới đầu là những trí thức Tây học thông thạo chữ Pháp như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh đem dịch các tác phẩm chữ Pháp ra tiếng Nam với đủ các lối văn Sau là các nhà nho cuối mùa còn sót lại từ thế kỷ trước, tự cho mình là không hợp với phong trào Thái tây thì “hoặc
vì kế sinh nhai, hoặc vì buồn không có việc đem các tiểu thuyết Tàu dịch ra quốc ngữ” Cũng
có những nhà nho gửi gắm trong bản dịch của mình những ưu tư về tiền đồ của dân tộc, mong muốn dịch phẩm của mình ít nhiều có tác động đến nhân tình thế thái lúc bấy giờ
Trường hợp Phan Mạnh Danh với bản dịch Đa tình hận (1919) của Từ Chẩm Á và Tình sử
(1920) của Long Tử Do là một ví dụ Khi dịch hai truyện này, Phan Mạnh Danh đều hướng tới cái đích “cảnh tỉnh mê tình”: “Ở đời người con giai con gái, phần nhiều nhầm về một chữ tình, nào là trộm gương dòm ngọc, nào là bẻ liễu vin hoa, ngày ngày cái án phong lưu thường thường vẫn có Sách này riêng về kẻ dụng tình ấy làm gương, để khỏi phải sa nơi bể khổ, mà người làm sách cũng hiểu được tình lý ấy, cho nên muốn dẹp sóng cuồng Trong sách này tả những giai gái tình si, dụng tình lắm mối, và gồm đủ cả tình ái, tình diễm, tình si, tình ảo, tình
đố, tình hiệp, tình kỳ, tình ai, tình khổ, mọi loại tình, thành ra một bộ tình sử nhỏ, thực là có thể đánh thức những người si nam oán nữ đang trong giấc mộng say mê”, hoặc “chuyên răn
kẻ nhầm mắc lưới tình, phải biết dụng tình cho chính đáng […] việc tuy phần nhiều thuộc về
giai gái, nhưng mối thì là tình, mà văn thì là sử, cũng quyền trứ bút, cũng ý thải phong, điều
thiện có thể khuyên người ta làm, điều ác có thể khiến người ta tránh”
Năm 1825 khi vừa tròn 60 tuổi, Phan Mạnh Danh làm “một tập Xuân mộng bằng quốc văn” gồm một bài Tình trường kí, một bài Thoại mộng hành và 30 bài luật thi đủ 30 vần bằng
như tập Hán văn”
So với 30 bài thơ chữ, làm thơ Nôm tác giả cũng “ít được công phu bằng” Vì thế,
cũng có khi đem ý xuân để thay vào chữ xuân , chữ hảo cũng chỉ lác đác Khảo sát tổng số 30 bài thơ Nôm chỉ có 4 bài có chữ hảo, 7 bài có chữ xuân Tuy nhiên, do không đặt yêu cầu quá cao ở chỗ buộc phải xuất hiện từ xuân, hảo nên lời thơ có phần uyển chuyển, mượt mà hơn
Trang 11Thêm nữa, cái ý mộng lại được biểu đạt dạt dào hơn Ta thấy ở nhiều bài xuất hiện những từ như: hình, bóng, mây, khói, giấc, hồn, ảo, chân, tơ tưởng, phảng phất, thấp thoáng, mơ màng… và các điển cố: non Giáp, Lũng hữu, Nam kha… Có nhiều bài từ từ ngữ đến điển cố,
từ thần thái đến cảnh bạt đều biểu hiện được cái ý mộng ở trong (Vần nhất đông, Vần nhị
đông, Vần bát tề, Vần cửu giai, Vần thập nhất chân, Vần cửu thanh, Vần thập chưng, Vần thập nhất vưu…)
Tập thơ Xuân mộng còn có cái hay ở chỗ, bên cạnh việc dùng chữ hảo và ý mộng
trong khắp các bài, thi sỹ còn có những bài thơ mỗi câu dùng tên một giống điểu, thú, ngư, trùng, cũng có bài mỗi câu dùng tên một từ khúc, một vị thuốc bắc, một thứ chè tàu, một người con gái có tiếng Những bài như thế này ở thơ chữ xuất hiện đều đặn, phong phú hơn
thơ Nôm Khảo sát trong 30 bài thơ Nôm có 2 bài dùng theo lối này (Vần ngũ vi, Vần lục
ngư)
Như vậy, đây là giai đoạn Phan Mạnh Danh tham gia nhiều hoạt động văn học và sáng tác văn học nhất Hệ thống trước tác của Phan Mạnh Danh gian đoạn này bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu thể hiện ý đồ sàng lọc, lựa chọn, lưu truyền cho hậu thế những lối làm văn, chơi thơ tinh tế của thơ văn cổ trung đại Giai đoạn này, Phan Mạnh Danh cũng đã chú ý đến việc phiên dịch các tác phẩm văn học Trung Quốc sang chữ Nôm Các tác phẩm được phiên dịch phần nhiều đều nói đến chữ “tình”, song ông dùng chữ “tình” để đề cao những giá trị đạo đức truyền thống
2.3 Giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1942
2.3.1 Đời sống xã hội và văn học
Từ sau năm 1930 thực dân Pháp ngày càng điên cuồng thực hiện các chính sách đàn
áp về quân sự, chuyên chế về chính trị, bóc lột về kinh tế và đầu độc về văn hóa Trong lĩnh vực văn học diễn ra cuộc đấu tranh, cũng là sự tác động qua lại giữa văn học cách mạng, văn học hiện thực phê phán và văn học lãng mạn Từ 1930 đến 1935 có hàng loạt các cuộc tranh luận lớn nhỏ: cuộc tranh luận về Nho giáo, cuộc tranh luận xung quanh vấn đề “Thơ mới”,
cuộc tranh luận về vấn đề mới và cũ, hôn nhân và gia đình trên các báo Phong hóa và Phụ nữ
tân văn Tất cả các cuộc tranh luận đó phản ánh cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến, ủng
hộ chủ nghĩa cá nhân, bênh vực tình yêu lứa đôi; chống những khuôn khổ gò bó, lối suy nghĩ
và ngôn ngữ khuôn sáo trong thơ ca của một lớp người đã lỗi thời, đã tàn tạ Sang thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936 – 1939) dòng văn học cách mạng và văn học hiện thực phê phán đã chiếm ưu thế Văn học cách mạng thời kì này đã có những chuyển biến về chất, bên cạnh thể loại thơ ca cách mạng đã xuất hiện thể loại tiểu thuyết, truyện kí, lí luận phê bình (Hải Triều, Hải Thanh, Bùi Công Trừng, Sơn Trà…) Hàng loạt các cuốn tiểu thuyết của dòng văn học hiện thực phê phán đã ra đời, và lần đầu tiên văn học hiện thực phê phán xây dựng được
những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình (chị Dậu trong Tắt đèn, Nghị Hách trong Giông tố, Xuân tóc đỏ trong Số đỏ…) Văn học lãng mạn cũng trực tiếp hoặc gián
tiếp chịu ảnh hưởng, tác động của hai dòng văn học trên nên có những phân hóa theo hướng
tiến bộ Một số nhà văn lãng mạn có tác phẩm thiên hẳn về khuynh hướng hiện thực (Gió
lạnh đầu mùa của Thạch Lam, Con trâu của Trần Tiêu, Lầm than của Lan Khai) Trong địa
hạt thơ ca, người ta bắt đầu đề xuất xóa bỏ hai chữ “Thơ mới” bởi lẽ “hai chữ thơ mới là biểu hiện một cuộc cách mệnh đương bồng bột” mà “cuộc cách mệnh về thi ca ngày nay đã yên lặng như mặt nước hồ thu”, nghĩa là sự toàn thắng của thơ mới tới năm 1936 là quá rõ rệt khiến người ta không cần phải bàn cãi, tranh luận nữa Thơ mới đã giành được quyền sống