trường hỢp nồi hơi ở rrung tám nhiệt lượng: các thông sô^ về nhiên liệu, không khí, khí cháy, hơi nước ...Hinh 10 Vùng tối uli a và tối đa b trên bàn làm viêc 2- Các t h iế t bi đ iểu k
Trang 1con người không thể tiếp nhận một cách trực tiếp và phù hỢp
bằng các cơ quan thụ cảm của mình Trong trường liỢp này, các
thông tin thường đưỢc tiếp nhận một cách gián tiếp, nhò một số
bộ phận chỉ báo nluí : các máy đo (các bảng chia độ), các bóng đèn hiệu hoặc các bảng tín hiệu, các ký hiệxi, sơ đồ, các tín hiệu
th ín h giác v.v
1.1 C ác p h ư ơ n g thứ c sử d u n g t h i ế t bi t r ì n h bày t h ô n g tin ( c á c c á i c h ỉ báo)
Thao tác viên sử dụng các thiếr bị chỉ báo nhằm mục đích thực hiện các chức năng và nbiệm vụ lao động khác nhau ; kiểm
tra thao tác, giám sát - tức là phát hiện ra một sô tín hiệu đột
biến; chẩn đoán một số tình trạng bất thường của quá trình công nghệ trong các chế độ thao tác hoặc duy trì bảo dưỡng (đọc, so
Trang 2sánh đôi chiếu, xử lí giá trị của cac thông sô' hoặc xử lí một sô'
chi tiết bị hòng hóc); điều chỉnh và hoàn thiện rac thiết bị và q\iá trìn h công nghệ
Các phương thức sử dụng thiết bị chỉ báo rhỏng tin đưỢc phân loại căn cứ vào các loại thông tin mà chúng cung cấp Nhìn rhung, chiưig đưỢc dùng để :
1.1.1 Ch í háo thông tin về sô lưỢng
Thao tác viên cần phải đọc giá trị thực của một đại lượng
mà giá trị này có thể thay đổi thường xuyên hoặc có thể đứng yên để so sánh với những giá trị khác V V
1.1.2 Chỉ báo thông tin về chất ỉ.ượng
Thao tác viên phải xác định giá trị tiíơng đối của một đại lượng liên tục biến đổi, xác định độ lớn, phương hướng và nhịp
độ của sự biến đổi đó,
1.1.3 Chỉ báo những thông tin kiếm tra
Thao tác viên phải xác định xem giá trị của một thông sô' đang dần thay đổi có bình thường hay không?
1.1.4 Chỉ báo thông tin về tinh huống đột biến, báo động nguy ỉiiếm
Nhờ các tín hiệii bằng thính giác, các đèn hiệii các bảng
hiệu thao tác viên sẽ đưỢc thông tin về một tình huông ỉiay trạng thái nhất định của thiết bị
Trang 31.1.5 Chỉ báo thòng tììì kiếm tra các thao tác ra lệnh - điều
c h ỉ n h
Nhờ cac cái chỉ báo rhao tác viên kiểm tra xem các thao
tác đóng - mớ, dừng lại - khởi động hoặc điều chỉnh có đưỢc thực
hiện phù hợp với trạng thái hoác giá trị mong muôn lia3' không
1.1.6 Chì báo tìiông tin về tinh trạng
Thao tác viêii kiểm tra thao tác xác lập một biếu sô theo một giá trị nhất định hoặc kiểm tra tình trạng của một chu trìn h v.v
1.1.7 Chỉ báo theo dõi
Thao tác viên theo dõi một tiêu điểm mà nó đang di chuyển độc lập hoặc phụ thuộc vào các phản ứng của anh ta (đặc biệt có giá trị trong ngành quân sự)
1.1.8 Chỉ báo đồng nhất
Các thao tác đồng nhất một điều kiện, một tình huống hay một đôl tượng
Sự phán loại này có giá trị đôl với việc lựa chọn các kiểu
th iết bị chỉ báo khi thao tác viên cần phải thực hiện nhiều chức
nán g và nhiệm vụ đòi hỏi phải đôl diện với nhiều yêu tố thông
tin khác nhau, thậm chí rất máu th u ẫ n nhau
Như vậy, cái cầỉ báo là phương tiện truyền đạt thông tin đến con người Nhiệm vụ của các nhà tâm lí học kỹ sư là phải làm cho nó thích ứng với những đặc điểm tri giác của con ngiíòi
Để giải quyết nhiệm vụ này các nhà tâm lí học phải nghiên cứu
Trang 4k hả năng của các cơ quan cảm giác của con người Kết qiiả cho thấy, việc sử dụng inỗi loại giác quan đều có ưu điểm và nhiiỢc
điểm của mình Chảng hạn thính giác là cảm giác liên tục hơii
so với thị giác, thị giác lại có tính lựa chọii và gián đoạn hơn Bời
vậy, thính giác thích hỢp hơn với việc tri giác các kích thích
ngán ngừa do những kích thích này có thể xuất hiện bất cứ lúc nào Trong khi đó, tliị giác có khả năng phản ánh và tập tru n g hoàn toàn vào những kích tliích nhất định, sau khi đã loại trừ
tấ t cả các kích thích khác
Nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng ; trong nhiểii
trường hỢp, việc sử dụng kêt hỢp các chỉ báo thị giác và thính
giác cùng một lúc là có ý nghĩa (ví dụ, khi tìm kiếm các tín hiệu ra-đ a yếu)
Thường thường, tín hiệu âm th an h dùng để thu hút sự chú
ý vào tín hiệu thị giác Chẳng hạn, tiếng chuông của máy báo cho thao tác viên biết về sự cần thiết phải chú ý dến thiết bị và can thiệp vào quá trình hoạt động của nó
Trong một số trường hỢp, việc hướng vào cơ quan phân tích xúc giác lại có ý nghĩa nhất định Nhà tâm lí học Xô Viết Trên- Nhilipôp tạo ra một hệ thông các hình hình học nổi, những hìnli này dễ dàng được pầân biệt và nhận biết khi chạm vào chúng Người ta gắn chúng lên các phím của máy linô thay cho các chữ cái Sau khi hiyện tập một thời gian ngắn, công nhân sắp chữ có thể thực hiện việc sắp chữ theo các tín hiệu xúc giác với sự tham gia tôi thiểu của thị giác Tôc độ và độ chính xác của các động tác được nâng cao rõ rệt
Trang 5Người ta cùng sử dụng rả cảm giác đau để truyền tín hiệu
về sự Iigiiy hiêin
Trên thực tể, mặc dù người ta đã cô' gắng phán phôi thông tin giữa các cơ quan phán tích khác nhau, nhưng phần lớn các dụng cụ chỉ báo là dựa vào tri giác thông tin bằng mắt
1.2 N h ữ n g cái c h ỉ báo có k im c h ì
Trong sô’ các dụng cụ chỉ báo thị giác thì dụng cụ chỉ báo
có kim chỉ giữ vai trò đặc biệt Chúng gồm 3 loại ; chỉ báo những thông tiu kiểm tra; chỉ báo những thông tin chất lượng và chỉ báo thông tin sô' lượng
Việc chọn loại chỉ báo nào khi thiết kế các phương tiện kỹ
th u ật là do đặc điểm cùa thông tin cần cho ngitời thao tác quyết định
Các nhà tâm lí học chú ý nhiều đến việc nghiên cứu sự phụ
thiiộc của độ chính xác và tốc độ của việc đọc các chỉ báo vào
hình dạng của thang chia đệr Người ta đã so sánh khả năng đọc
đưỢc của õ loại hình dạng thang chia độ (Hình 6) Kết quả th u đưỢc được ghi ở bảng 1 :
B ả n g 1 Sự phụ thuộc của độ chính xác của việc đọc vào hình
dạng của thang chia độ
Đọc sai thang chia độ tính theo % 0,5 10,9 16,6 27,5 35,5
Trang 6Nhưng, việc quyết định lựa chọn kiểu thang chia độ nào còn phụ thuộc vào những nhân tô' khác nữa Chẳng hạn, loại
“cửa sổ mở” là loại giúp đọc chính xác nhất, song lại ít thuận lợi đối với các trường hỢp cần phải theo dõi sự biến đổi cơ động của
các chỉ số.
Ngitời ta cũng lưu ý đến vâ'n đề đường kính tôl viu của thang chia độ khi nghiên cứii về các cái chỉ báo có kim chỉ và thấy rằng giữa đường kính của thang chia độ với tốc độ và độ chính xác cúa việc đọc không có một sự phụ thiiộc theo đường thẳng, úhg với mỗi loại dụng cụ có một điíờng kính tôi Ifii, và liiệu
Trang 7q\iả của việc đọc đưỢc quyết định không phải ở bản th â n đường kính, mà là ở qiian hệ của nó đò'i voi khoảng cách quan sát.
Các nhà tâm lí học kỹ sư còn nghiên cứu sự phụ thuộc của tôc độ, độ chính xác của việc đọc thông tin vào sự cluiyên động của kim cliỉ hay của bảng chia độ Các công trìn h nghiên cứu cho thấy, nh ân tố rhời gian của hoạt động có ý nghĩa quyêt định Với những thời gian lộ sáng ngắn (dưới o.õ giáy) thì dụng cụ cliỉ báo
có bảng chia độ chuyển động còn kim đứug yên là tôt hơn Khi thời gian lộ sáng tăng lên, thì loại dụng cụ có kim chỉ chuyển động, còn bảng chia độ đứng yên là tốt hơn
Trong tâm lí học lao động, các thành phần của dụng cụ cầỉ báo có thang chia độ như : kim chỉ các chữ cố, các vạch kẻ đều được nghiên cứu một cách chi tiết
Cliẳng h ạn đôi với các vạch kẻ, có I‘liể có các vạch kẻ có
kích thước lớn vạch có kích thước trung bình và vạch có kích thước nhỏ Thường thường, trên bảng chia độ, những vạcl^ lớn điíỢc đánh số
Trong việc thiết k ế cụ thể các bảng cliia độ, người ta nhận thấy thường có khuynh hướng nôi các vạch kẻ bằng một đường thẳng ngang (Hình 7) W.T.Singlet0ĩi cho rằng, vấn đê này cần phải đưỢc giải quyết dưới á n h sán g cùa lí th u y ế t tri giác về quan liệ giữa liìỉili và Iiềii Vằ dơ vảy thang chia độ càn phai đưỢc th iế t k ế theo các n g u y ê n tắc của tín h đơn giản, t í n h liên rục và tính thống nhất Điều này được tliể hiện ở Hình 7
Trang 8( a
7 b
i c
Hình 7 Các cách thiết kế vach kẻ trên thang chia đc
Đôi với kích thước của các c/iỉ?«ô'trên thang chia độ, người
ta thấy:
- Tỷ lệ giữa chiều rộng và chiều cao của thaug f lúa độ phụ thuộc vào inàu sắc của nền và của chữ số Nếii chữ sô' có niàu đen còn nền là màu trắng, thì tỉ lệ đó là 1/6 hoậc 1/8 Nếii chữ sô'
màu trắng và nền màu đen thì tỷ lệ sẽ ở trong khoaag từ 1/10
đên 1/20 Kếii sự tương phản giữa chữ số và nền là Iihỏ, thì tỷ lệ
đó sẽ là 1/5 Còn trong trường hỢp các chữ số được chiếu sáng thì
tỷ lệ đó nằm trong khoảng từ 1/10 đến 1/40
- Tỷ lệ giữa chiều rộng và chiểu cao của chú sô' bằng 1,25/1 là dẻ thày nhất
- ớ một mức độ chiếvi sán g bình thường, chiều ( 1 0 của chữ
sô dao động từ 0,9 đến l.õ mm/30õ mm khoảng cách iọc ở một mưc đọ cbiêii sáng thấp hơn chiềxi cao của chữ sô sẽ là 4 mni/30õ m::i khoảng cách đọc,
Trang 9- H ình dáng của chữ sô phải điíỢc viết như th ế nào đó đẽ kliôug th ể có sự nhầm lẫn giĩia so Iiay với sô kliác (ví dụ như đôi
với trường hỢp các chữ sô 3, n, 6 8 9 xiiất hiện trong một
nhóm)
Đôi với các kim chí người ta xác n hận rằng, kầi kim
cluiyển động cùng như khi đứng yên phải làm sao để nó đứng
gần các vạch chia độ nliấĩ Iihưng vản không phủ lấp các chữ số
(do đó kim chỉ cĩmg không đưỢc quá dày Khoảng cách giữa
đầu của kim và các vạch độ bằng khoảng 0.8 mm (Hình 8)
T rên các thang chia độ, để tạo ra sự tương p hả n màu sắc,
người ta thường sử dụng niàii đen và màu trắng Trong điều
kiện chiếu sáng bình thường, các vạch kẻ chữ số và kim chỉ
th ư ờ n g có m à u đen trên nền rrắng ở mức độ chiêu sáng th ấ p
hơn, các v ạ c h kẻ chữ số và kiin chỉ sẽ có m à u t r ắ n g hoặc mà\i
v à n g t r ê n n ề n màii đen
/
-V
/ ^ 0 ệ'
Hình 8 Sư phản bố qua lai giửa kim chỉ và các vach kẻ trên thang chia đô
Những dụng cụ chúng ta vừa nghiên cửii trên đây là cần
t h i ế t đôi với việc đọc các tlióug tin về sô liíỢng dựa vào sự dịch
Trang 10chuyển của kim chỉ trên thang chia độ trong một giá trị Chinh
những dụng cụ đó còn co thể được dùng để đọc các thôiig tin về
chất lượng và nhữĩiể thỏng tin kiếm rra như; nhận định về sự
duy trì của một đại lượng đo đưỢc trong phạm vi các giá trị bìiih
thường; kiểm tra độ an toàn hoặc sự đi lệch vể phía các giá trị
đột biên; nhặn định vế hưổng của các dao độiig độ lớn cùiig nhu'
nhịp độ của chúng Đế thoả mãu yêu cầu của những nhiệm vụ
đó, đôi khi người ta không cần thiết kế các vạch kẻ trên thang
chia độ mà chỉ cần sơn màu với mộT ý nghĩa chinh xác lêu các
Nguy hiểm (màu đỏ) )
Hinh 9 Các dụng cụ có kim chỉ không có vạch kẻ trên thang chia độ (theo
E J.Mc Cormichk)
Phân bô'các dụng cụ chỉ báo trên bảng hoặc giá điều kìuển
Có bôn nguyên tác phân bô'cơ bản tluròng được áp dụng là:
dụng thường xuyên nhất phải đưỢc sắp xếp ở vị trí thuận tiện nhất
(chẳng hạn ở vùng tôi líii : trung tám của giá điềii khiển - Hình 10)
Trang 11b) N guyệ n tấc về tẩm quan trọìig: khi sắp xếp các dụng cụ
chỉ báo, cần ưu tiên nluìng dụng cụ mà sự sử dụng chúng đưỢc gắn với độ nhanh và độ chính xác đặc biệt Những dụng cụ dùng
để đo những đại híỢng vật lí quan trọng phải đưỢc đặt ở vị trí
tluiặn tiện nliất
c) Nguyên t ắ c uề tính k ế t ụ c của việc sử dụng: các dụng cụ
chỉ báo đitợc sử dụng theo một trìĩili tự nhất định thì cảu được sắp đặt càng gần nhau càng tôt, và nên đặt thành một hàng rhảng sao cho có thể được lần lượt sử dụng theo hiíớng từ trái sang phải
d) Nguyên tắc chức năng-, những dụng cụ chỉ báo thuộc
cùng một quá trình hay cùng một chức năng cần đưỢc xếp gần
nhau, theo một khối Ngươi ta cho thấy có 4 phương án phân bô rheo chức năng Đó là:
- Phân bô' các dụng cụ chỉ báo theo một trật tự của quy trìn h công ngliệ;
- Phân loại và bô' trí các dụng cụ cùng đo một đại lượng vật
lí vào một nhóm (ví dụ, cùng đo nhiệt độ đặt vào một chỗ, sau đó đến nhóm những dụng cụ đo áp suất, sự bôc hơi
- Pliân loại và bố trí các dụng cụ chỉ báo theo các tổ liỢp
máy (ví dụ tất cả các thông sô' kỹ thuật của một ĩổ hỢp đưỢc đặt
cùng vào niột nhóm .)
- P hân bố theo các Iilió m chức năng Nếu trong quá trình
công nghệ có thể tách ra những nhóm lớn các biên sô (đầu vào, đầu ra hoặc mang tính chất khác), thì các dụng cụ chỉ báo có
Trang 12thể đưỢc phân bô theo các nhóm rương tự như vặy (chăng hạn trường hỢp nồi hơi ở rrung tám nhiệt lượng: các thông sô^ về nhiên liệu, không khí, khí cháy, hơi nước .)
Hinh 10 Vùng tối uli (a) và tối đa (b) trên bàn làm viêc
2- Các t h iế t bi đ iểu k h iê n
ở tại rất nhiều vị trí làm việc, kết quả hoạt động của con
người đưỢc thể hiện bằng một phản ứug cơ thể, một vặn động,
cho dù là mang' vác niột sô^ vật nặng, nhấn xiiông các phím cùa một cliiếc mảy chữ, hay thao tac một thiết bị kiểm tra Vi vặy cần nghiên cứu một cách kỹ lưỡng những khả náng' của con người khi tiến hành các hoạt động vận động
Trang 132.1 P h â n lo ạ i c á c v ậ n đ ô n g
Nhíu cliimg mọi vận động lao động cùa con người đều do
những kích thích của thế giới bên ngoài xác định và đềii thực
hiện một mục đích tự giác
Trong mỗi vậii động lao động, có thể phân biệt ba mặt là :
mặt cơ học mặt sinh lí học và mặr râm lí học Muôn hiểii đưỢc
mặt tâm lí học, cần phải hiểu hai mặt kia
Những đặc điểm cơ học của một vận động lao động được
xác định bằng 4 yếu tố sau :
- Quỹ đạo vận động là con đường mà t ứ chi phải thực hiện trong không gian khi tiến hành việc vận động ấy Trong
quỹ đạo vận động, Iigvtòi ra phân biệt ; liìnli thức, phương hướng
và khôi lượng của vận động (xét về khối lượng thì qiiỹ đạo vận
động của thợ sửa đồng hồ là tô'i thiểu và của thợ quai búa trong
xưởng rèn thủ công là tôi đa)
Về phương diện tâm lí học, Iigười ta phân tích qiiỹ đạo vận
động th àn h quỹ đạo tự do (thợ đồng hồ thợ nguội đặt ông dâu,
thợ chỉnh niáy), quỹ đạo rập khuôn (thợ nề, thợ hái bông) và quỹ
đạo bắt buộc (thợ xẻ, thợ đứng máy).
- Tốc độ vận dộng Đó là độ lớii của con điíờng Iiià Iiìột vận
độiiẹ thực hiện đưỢc trong một đơn vị thời gian Tuỳ thuộc vào
sự thay đổi tốc độ và gia tô'c người ta có thể chia vận động
Trang 14thành : vận động đều vặn động nhanh dần đều và vận động chậm dần đều Tôc độ cua những vặn động lao động thường dao động trong nhilng giới hạn khá lớn.
Về phương diện tâm lí học, người ta phán biệt: rôc độ tỗì
ưu (tôc độ thuận lợi Iihàt) và tôc độ tôi đa Người fa còn co tôc
phía mình là tôc độ tự do còn tô'c độ vặn động ra xa mình là tôc
độ bắt buộc)
- N hịp độ vận động Đó là tần sô lặp lại nhữưg chu trình
vận động như nhau Số lượng những vận động có thể rất lớn (ví
dụ trong công nghiệp đóng giày, người thợ đóng đế phải dậm vào đòn cùa máy ép 6000 lần trong một ca sản xuất Người hái bông phải thực hiện tới 600.000 vận động của các ngón tay trong inột ngày làm việc Còn nêii tính đên các vận động thì con sô” đó lên đến
ba triện)
- Cường độ vận động Đó là sức nén, sức kéo, sức náiig
phải dùng tới khi thực hiện một vận động lao động Mỗi loại hình lao động có những yêu cầu riêng về ciíờng độ lao động Nếu
so sánh người công nhân kliiián vác với người chỉ hviy dàn nhạc,
ta sẽ th ấ y cường độ v ậ n động của liọ r ấ t khác nhau
Tám lí học lao động rất clui ý tới những vấn đề sinh lí học của các vận động, đặc biệt là sự điềii chỉnh cảm giác đôi với vận động Sự điều chỉnh này sẽ xác định được độ chính xác và độ
Trang 15phối hỢp của các vận động đang thực hiện Sự phôi hỢp vận động
íhông phải là sự chính xác hoặc sự tinh tê cùa nlũíng xung động'
th ần kinh thụ cảm mà là niợt uhóni những cơ chê siuh lí đặc biệt, tạo ra sự tác động qua lại liên tục và liữii cơ giữa quá trình rhụ cảm và quá trình nhận cảm
Đôl với tâm lí học lao động, điều quan trọng là, klii phân tích các vận động lao động cần phải hiểu được mục đích đạt rới nhờ vào những vận động cụ thể Đồng thời cần phải nhớ rằng, có thể đạt tới những mục đích khác nhau bằng cùng một vận động,
và, một mục đích lao động lại có thể đạt được nhờ vào những vận động khác nhau
Người ta cho thấy, có một sô' vận động cơ bản của tứ chi
Đó là ;
- Co người xuống : làm giảm góc độ giữa hai phần của cơ thể
- Duỗi người ra : làm tàng góc độ giữa hai phần cùa cơ thể
- Kéo vào : vận động hướng v ể phía c ơ thể
- Đẩy ra : vận động hướng ra xa cơ thể
- Ấn tay xuống : quay cánh tay như t h ế nào để bàn tay úp xiiống
- N â n g tay lên : quay c á n h tay n h ư t h ế nào đó để b à n tay ngửa lên trên
Sự pliân loại này do A.Damon, H.W.Stoudt và R.A.Mc
P a rla n d tiến hành, đã mô tả vặn động của tứ chi dựa vào các
Trang 16tính chất của các cơ (co, diiỗi) và của hướng vặn động đỏi vối cờ thể (kéo vào đáy ra).
Sự phán loại này còn rất chiing, vì vậy khi phán tích phương thức tiên hàiih một hoạt động lao đọng thể chất Iiào đó cần phải mô fả các vận động của cơ thể một cách thao tác hơn,
Về phương diện này, có thể tham khảo một phân loại sau đáy ;
a) Vận động đứng: là những vận động trong đó tay hoặc
chân dịch cluiyển từ một vị trí này sang một vị trí khác (chẳng hạn để n h ấ n vào một cái nút điều khiển);
b) Các vận động hên tục: là những vận động nhờ đó ngiíời
ta tiến hành điểu chỉnh liên tục dựa trên n h ững thay đổi của
một sô kích thích kết hỢp với nhiệm vụ (ví dụ điều khiển tay lái
một cliiếc ô tô)
c) Các vận động điều khiên (cầm, nắm) : bao gồm việc sử
dụng và điều khiển một số phần, phương tiện hay cơ chế kiểm tra
d) Các vận động lặp lại là những vận động ngắn hạn và
được lặp lại một cách liên tiếp (ví dụ, quai búa)
e) Các vận động cách quãng là n h ữ n g v ậ n động tương đối tach rơi nhau, độc lập với nhau trong từng quãng thời gian Những vận động này có thê có cùng tính chất (đánh đàn pianô, thao tác trên một máy tính, đánh máy chữ) hoặc khác nhau (chẳng hạn những vận động thực hiện để khởi động cho một chiếc ô tô chạy trong một đêm trời miía)
Trang 17D Vận động tĩnh thực chất là một sự không vận động hơn
là một vặii động tự tháu, bô'1 vì đó là sự duy trì của một tư thê
riêng trong một khoảng thời gian n h ấ t định
Các loại vận động lao động khác nhau này có thể kêt hỢp
với nhau, và như vậv chúng có ĩhể lồng vào nhaii Chảng hạn
dịch clmyển bàn chán trên một chân phanh là một vận động
đứng, nhưng IIÓ có thể đưỢc đi kèm với một vận động tĩnh của áp
lực phanh tuỳ theo các điề\i kiện của tình huống; tương tự, một vận
động liên tục củng có thể đi kèm với một vận động tĩnh (khi phải
giữ ở một tư thế nhất định) trong một khoảng thời gian ngắn
Những loại vận động thao tác này đưỢc gọi là những vận
động vĩ mô Đôl với một số mục đích nhất định, đặc biệt trong
nghiên cứu các biện piiáp lao động, trong đó người ta tìm cách
đồng nhất các vận động cơ bản, thì các loại vận động vi mô
thưồng được sử dụng hơn Chẳng hạn, lựa chọn, cầm nắm, giữ,
đặt xuông, vặn vào v.v Cơ sở của các loại vận động này là khái
niệm “Therbỉig” có từ những năm đầu của thế kỷ, trong các tài
liệu của 2 vỢ chồng nhà kỹ sư và tám lí học Lilian Gilbreth và
F ra n k Gilbreth
Các loại v ậ n động lao động còn đưỢc p h â n t h à n h n h ữ n g
nhóm sau:
a) Những vận động cơ hảir là n h ữ n g v ậ n tôi tliiểu, cần
th iết để đạt đưỢc mục đích của hoạt động lao động, về phiíơng
diện lí thuyết, những vận động này đưỢc thực hiện trong những
điều kiên thuận tiện nhất
Trang 18b) N hững vận động hiệu cìiỉnh: là nhĩỉng vận động làm
chính xác những vận động cơ bản cho phù hỢp với độ lệch cua những điều kiện lao động so với những điều kiện thuận lợi nhất.
c) Những vận động bô sung: những vận độiig này không
tluiộc về nhiệm vụ cơ bản nhưng lại cần thiết vì có những vếii tố
bổ trỢ đòi với quá trình lao động chủ yếu.
d) Những ưận động sửa chữa: Những vận động này cĩing là
những vận động bổ sung, nhưng lại cần thiết cho việc khắc phục những tình huông hỏng hóc Do vậy, chúng được pliáii thành một nhóm riêng (vì tính chất quan trọng của chúng),
e) N hững vận động thừa: Những vận động này không cần
thiết và thường cản trở những vận động thuộc các nhóm kể trên
g) N hững vận động sai: là những vận động không đạt được
mục đích đặt ra
Người ta còn có thể căn cứ vào những đặc điểm khác nhau của vận động lao động, mà chia chúng thành các loại như : vận động đúng và vận động sai; vận động tiết kiệm và vận động không tiết kiệm; vận động nlianh và vận động chậm Chẳng hạn những vận động do tay thực hiện hướng về phía thân mình thì chính xác hơn nhưng chậm hơn so với những vận động theo hướng đi ra Trong mặt phảng thảng đứng, sự chuyển dịch tay
sẽ nhanh •hơn nhưng kém chính xác hơn so với sự chuyển dịch tay trong mặt phẳng nằm ngang
Trang 192.2 Chức n ă n g c ủ a c á c bô p h ậ n đ iề u k h iê n
Bộ phận điền khiển là những con đường hay những phương tiện nhờ đó thao tác viên điều chỉnh và tối líu hoá sự vận hành của một chiếc máy hay một qiiá trình Các bộ phận điều khiển là những rliiết bị truyền thông tin của hệ thông và có
thể được đặc trưng ở ỉoại thông tin curig cấp E.J.McCormick đã
hệ thống hoá các chức năng của dụng cụ điều khiển và loại thông tin tương ứng theo cách sau đây ;
Loại kiểm tra chức năng
a) Vận hànli (xuất phát - dừng lại)
b) Điều khiển không liên tục (ở
từng vị trí riêng rẽ)
c) Kiểm t r a sô' lượng
d) Kiểm tra liên tục
e) Nhập dữ liệu (vi tính, đánh
máy .)
Loại thông tin
Thông tin về tình trạng Thông tin về tình trạng Thông tin số lượng
Thông tin kiểm tra Thông tin vê' sô' lượng Thông tin về sô' lượng Thông tin tính toán Ghi lại thông tin Thông tin mã hoá
2.2.1 Phân loại các bộ p h ậ n điều khiển
Cán cứ vào các chức năng trên, có thể phân loại các kiểu
bộ p h ậ n điều khiển sau đây :
Trang 20B ả n g 2, Các kiểu bộ phận điều khiển và chức náng của chúng
lí của người thao tác Các nhà nghiên cứu tâm lí học lao động đă
đưa ra những yêu cầu đốì với việc thiết kế các bộ phận điều
khiển Nliững yêu cầu này dựa trên việc nghiên cứii các vùng
làni việc tôi ưu và đặc điểm vận động của con ngưòi (cường độ,
độ chính xác, quỹ đạo, tòc độ) Việc nghiên cứu các động tác lao
động đã đưa ra những chĩ dẫn cụ thể về sự tác động qua lại của
chức năng và sự bô^ t r í các đôi tượng điíỢc điều khiển (các cái chỉ
báo thông tin) và các bộ phận điều khiển các đôi tưỢng đó.
Trang 21Nhiều công trình nghiên cửu đã chỉ ra sự p h ụ thuộc cua
độ chính xác của các vật) động vào hướng đi của tín kiệu.
Những cóng rrình nghiên cửu khác lại tìm ra những môi tương quan khúc nhau giữa các quỹ đạo chuyến động của tín hiệu và bộ pìiậìi điều hhièiì trong hoạt động theo dõi Người ta
thấy rằng, trong nhvíng' điều kiện ngang bằiig vững chắc, thì độ
c h ín h xác cao n h ấ t của động rác sẽ đạt được khi có sự trù n g hỢp giữa hướng clmyểii động của nó với hướng của tín hiệii Kết luận
này cũng đúng cả với những đối tưỢng đưỢc điểu khiển (các cái
chỉ báo)
2.3 C ác n g u y ê n t ắ c t h i ế t hê hô p h â n đ i ê u k h i ể n
Các nghiên cứu của tâm lí học kỹ sư đã đưa ra hàng loạt yếu tố n hằm giiip cho việc thiết kê tô't nhất các bộ phận điềii khiển
2.3.1 N ú t bấm bằng tay Bề mặt của nút bấm phải lớn hơn
đầii ngón tay dùng để thao tác; không nên nhỏ hơn 9,õ mm^ Để
dễ dàng thao tác, trên bề mặt của nút bấm nên làm hới ráp Cliu
vi của nú t bấm có thể là 3 đến 25 mni trong điều kiện thao tác không cần găng tay và tíí 6 đến 50 mm trong trường hợp thao
Trang 22đưỢc ử dụng khi cả hai tay đểu bận Đường kính của n ú t bấm trong trường liỢp này không phải là điểu rất quan trọng nhưng
nếu quá nhỏ thì sẽ dẫn đến chỗ là, một lực quá lớn sẽ được áp
dụng lên một diện tích quá ahô của bàn chán (gáy đau) Vì vậy, đường kính tôt nhất có thể nằm trong khoảng 12,7 - õOmm Chxi vi của nút bấm sẽ khác nhavi, tiiỳ theo điềii kiện cụ thể : nếu thao tác viên đi giày thì sẽ ở trong khoảng 12,7 - ÕO mm
(nhỏ) còn nếii tliao tác viên đi ủng thì sẽ ở trong khoảng 25 - 100
2.3.4 Công tắc xoay có chọn lọc Loại công tắc này rất có
lợi khi cần một số lượng lớn các vận động Nó còn có tác dụng là chiếm ít chỗ do thay thế được cho một loạt nút bấm hoặc klioá ngắt ở hai vị trí Số lượng các vị trí có thể nằm trong khoảng từ
3 đến 24, với khoảng cách tôi thiểu giữa hai vị trí kế tiếp nhavi
là 6,5 mm
2.3.5 N ú m xoay Là một dụng cụ kiểm tra có thể thao tác
th u ậ n tiện bằng cách dùng các ngón tay xoay (vặn) về hai bên Dụng cụ này có thể được sử dụng cho những vận động nhẹ
n h à n g tro n g trưòng hỢp c ủ a một s ố chức n ă n g liên tụ c khi độ chịu tải riêng của thiết bị và của các hệ thống được tác dụng là qiiá nhỏ Tuỳ theo độ chịu tải khi quay mà-có thể đưa ra một đường kính tôl ưu Nhìn chung, nằm trong khoảng 50 min
Trang 23Thường thường, khi có nhiều núm xoay cần đưỢc thao tốc đúng
th ì cần phải phân biệt chúng chủ yếu bàng hình dạng và độ lớn
Đối vớiìcác núm xoay, có thể phán biệt cả bằng cấu trúc của bề mặt Thông dụng nhất là có ba loại sau :
- Bề mặt phẵng, trơn;
- Bề mặt có những điíờng rãnh;
- Bề m ặ t có các mấu;
Khi người ta lắp đặt nhiều núm xoay có kích thước khác
n h a u trên cùng một trục thì đòi hỏi một sự phân biệt bằng xúc giác đúng (Hình 11)
e
Hình 11 Các kích thước cho phép để giúp dễ phân biêt bằng xúc giác đối với
các núm xoay được lẳp trên cùng một trục,(E J.Mc Cõrmick)
Trang 24- Chiều dày của núm xoay (a) có thế là 1/4 inch nế\i đitòng
kính là 3 inch
- Đường kính của núm xoay (b) không nèn lớn hơn 3 iiich
- (c) Núm xoay ở giữa : đường kíiih trong khoảng ^2 ^ 2
inch Tô't n h ất là khoảng 2 inch
- (d) không nên nhỏ hơn 5/8 incli hoặc lớn hơn 3/4 iiich
- (e) không nên nhỏ hơn 1/2 incli
- Khoảng cách giữa bề mặt của hai núm xoay không nên
nhỏ hơn 3/4 inch (í) [1 inch - 2,õ4cm]
2.3.6 Tay quay là một thiết bị điíỢc sử dụng khi góc quay
lớn hơn 90'', yêu cầii phải thực hiện những vòng quay đầy đủ và
n h a n h trong trường hợp cần tác động những lực lớn để vận hàuh
những cấu kiện của tnáy Giá trị tôi thiểu của đường kính tay
quay thay đổi tuỳ theo lực tác động, theo những vị trí khác
nhaii, theo chiềii cao so với mặt đất Vị trí thuận tiện nliất là ở
trước mặt người thao tác theo đường thẳng ngang và gần với
trọng tâm của cơ thể Đối với hai tay người ta tạo ra một vùng
làm việc tối líu có hình dạng của chữ “U” tức bao hàm cả chiêu
cao của hai vai Những tay quay được đặt theo mặt phẳng ngang
đôl với thân ngiíời có thể đưỢc sử dụng tương đối thiiặn tiện,
nhiíng do đòi hỏi một vòng quay rộng của tay và của vai cho
nên tô'c độ quay thường nhỏ hơn so với tốc độ của những tay
q u a y đưỢc đ ặ t theo chiền dọc vối t h â n người
Trang 252.3.7 Cần gạt là một loại thiết bị được thao tác bằng tay
có hình dạng của một cái gậy vặn hành xung quanh một điểm tựa Cần gạt được sử dụng khi quãng đitờng đi là Iigắn, đòi hỏi một vận động n h an h nhưng phải r ấ t chính xác và khi cung vận động lớn hơn 90"
Khi tiến h à n h những vận động nhẹ nhàng, cần thiết kế các giá đỡ (điểm tựa) cho một số phần của cơ thể : cho khuỷu tay trong những vận động rộng của tay, cho cánh tay và những vận động nhỏ (vi động tác) và cho cổ tay khi việc thao tác sử dụng các ngón tay
2.3.8 Vô lăng ; là một thiết bị tròn, thao tác thuận tiện
bằng hai tay Được sử dụng trong những trường hợp sau: Vận động đòi hỏi 1 vặn tốc quay nhỏ (một vòng trên một phút), đối với những động tác nhẹ nhàng khi cung dịch chuyển không vượt quá 90*^* - 120'^; yêu cầu vòng quay phải rất chính xác; khi đòi hỏi những lực tác động lớn hơn so với các thiết bị khác Khi ữhao tác viên ngồi trước vô lăng, đường kính tối thiểu thay đổi tuỳ thuộc vào lực điíỢc y ê u cầii và chiều cao t í n h t ừ sàn
Để vận động tiến hành được chính xác, cung dịch chuyển của vô lăng không nên vượt qua ± 60“ so với vị trí bình thường, nếu ciing dịch chuyển lớn hơn thì cần thay đổi vị trí của tay trên vô lăng
Khi thao tác viên đứng để thao tác vô láng trung tâm của
vô lăng đặt theo mặt phẳng đứng, thì vô láng phải được đặt cao ng^ng với chiều cao của kluiỷii tay (khoảng 102 - 112 cm tính từ sàn)
Trang 26Khi việc thao tác được thực hiện ỏ vị trí ngồi, đường kính
của vô lăng dọc (đứng) sẽ ở vào khoảng 306 - 3õ6 mm chiều cao
của trục sẽ là khoảng 460 mni tính từ bề mặt ghế ngồi, còn
khoảng cách đôi vổi lưng tựa của ghế là khoảng 360 mm
2.3.9 B à n đạp là một t h iế t bị với vận động trực tuyến kế tiếp và được thao tác bằiig chân Bàn đạp thường đvtợc sử dụng
khi đòi hỏi một lực tác động rất mạnh, để kiểm tra thường
xuyên độ cliínli xác triing bình hoặc cho những thao tác vặn
h à n h (khởi động - dừng lại) lên - xuông
Hình 12 Các loại bàn đap (El Popescu)
Trang 27Khi thao tác được thực hiện từ vị trí đứng, thì bàn đạp
phải đưỢc đặt lọt sáii trong sàn sao cho hai chân phải ở cùng
trên một mặt phảng Nếu bàn đạp do bàn chán thao tác thì phải
được cô'định ở một góc là 10" so với mặt phẳng ngang, còn đường
đi của bàn đạp không được vượt quá một góc 20'^' dưới mặt phẳng
ngang
2.3.10 Bàn phím Người ta sử dụng các loại bàn phím khác
nhau để nhập các thông tin Thông thường, người ta sử dụng bảng
cliữ cái hay chữ sô' clio các loại tliiết bị kỹ tlniật và điện tử khác
nhan Trong một số" trường hợp, thao tác viên phải dùng một lực
nhất định để thao tác trên bàn phím, chảng hạn như trường hỢp
đánh máy chữ hoặc đánh đàn pianô Nhitng đối với một sô trường
liỢp khác thì lực đó lại do chính bản th ân thiết bị sản sinh ra, như
trong các máy chữ cliạy bằng điện hoặc máy vi tính
Trong quá trìn h p h á t triển của loại thiết bị này, người ta
ghi nhận một XII hướng trong đó việc thao tác nhập các dữ liệu
có thể được thực hiện bằng giọng nói hoặc th ậ m chí bằng các cử
động của mắt do một loạt dụng cụ rấ t tinh xảo ghi lại
Như vậy, những điền trìn h bày trên đây cho thấy những
mặt mạnh mặt yếu của các kiểu bộ phận điều khiển Tâm lí học
kỹ sư cũng đưa ra một số qiiy lu ật khách qiian cần chú ý đên khi
lựa chọn các bộ p h ậ n điền k h i ể n clio t ừ n g trư ờ n g hỢp cụ t h ể :
a) Sự điều khiển bằng tay (núm xoay, tay gạt, vô láng .) đạt đưực độ chính xác lớn hơn nliiều so với điều khiển bằng
chán (bàn đạp)
Trang 28b) Các bộ phận, điểu khiển bằng chán được sii dụng hiệu quả đô'i với những vận động khòng đòi hỏi độ chính xác đậc biệt
và đối với những vận động đòi hỏi những lực lớn,
c) Tay gạt và vồ láng có hiệu qiiả gần như nhan, nhưng nên chọn loại tay gạt bởi vì nó cho phép thực hiện vận động bằng một tay, còn đối với vô lăng thi cần phải thao tác bàng cả hai tay, cho nên nó cliỉ có lợi trong nlnìng vặn động đòi hỏi một lực lớn
d) Việc thực hiện các vận động theo hình tròn hay hình elíp đỔì với con người thì t h u ậ n lợi liơn n h ữ ng vận động theo đưồng thẳng Điều này đúng cả đô'i với sự điều khiến bằng tay cũng như bằng chân Hơn nữa, cần phải loại trừ những cử động của chân theo mặt phẳng ngang, bởi vì cử động đó không đặc
tn ín g cho cơ thể con ngiíòi, do đó chóng đưa đến mệt mỏi
e) Sự điềii kliiển bằng đòn có lợi đối với nhủng động tác
ngắn h ạn hoặc ít lặp lại, bởi vì khi làm việc lâu ỏ công việc điều khiển bằng đòn, con ngitdi nhanh chóng bị mệt mỏi
f) Sự điềii khiển bằng nút bấni rất có hiệu quả và cần sử dụng nó trong mọi trường hợp, khi thấy điều đó phù hợp về niặt
Trang 29và đúng các bộ phận điểu khiển rhì có thể dẫn đến những hậu
q u ả n g h iê m trọng Do đó cần p h ả i q u a n t â m đến việc mã lioá các bộ p h ậ n điều khiển song song với việc giải mã các tín liiệii
Có thể sứ dụng nhiều loại mã khác nhau
2.4.1 Mã hoá bằng hình dạng
Sự khác biệt giữa các bộ phặii điền khiển về hìiiĩi'dạng có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi thao tác viên phải làin việc trong điều kiện vừa phải nhanh vừa không có sự tham gia của
th ị giác Saii một loạt thí nghiệm, W.O.Jerkins đã đưa ra hai loạt, mỗi loạt gồm 8 kiểu hình dạng khác nhau và chúng có thể được sử dụng như là những nút bấm hoặc quả nắm của các tay gạt mà khi sờ vào thao tác viên không bị nhầm lẫn chúng với
Trang 302.4.2 Mã hoá bằng độ lớn
Cách niã hoá này íĩ đưỢc: sử dụng hơn so với mã lioá bằng hình dạng, bởi vì khi sô lượng các kích cỡ khác nhau tàng lên thì bản th ân nó sẽ là một yếu tô tạo điều kiện cho sự nhầm lẫn Nêu nhiệm vụ không cho phép thao tác viên được so sánh các kích cỡ của tất cả các bộ phận trưổc khi lựa chọn mộr bộ phận cần thiêt nhất, thì không nên sử dụng nhiều hơn 3 kích cỡ khác nhau Nếu trước khi lựa chọn, thao tác viên được so sánh rồi, thì có thể
sử dụng tới õ kích cỡ khác nhau Kliác biệt về độ lốn giữa hai bộ phận kế tiếp nhavi ở vào khoảng 20%
2.4.3 Mã hoá bằng vị trí
Đôi khi sự bô' trí về mặt không gian các bộ phận điểu khiển tạo nên một điểm định hvíớng d\iy nhất cho hành động Tiiy nhiên, việc định hướng về vị trí chỉ có hiện qiiả khi các bộ pliận điều khiển là không nhiều và được bô' trí ở những vùng khác nhau Khi sô lượng các bộ phận điều khiển là lớn thì việc lựa chọn đúng sẽ trở nên khó khăn ngay cả khi chúng được bô trí khá xa nhaii để có thể phân biệt bằng xúc giác Chính vì vậy, cách mã hoá này thường được sử dụng kết hợp với các cách khác, đặc biệt với mã lioá bằng hình dạng và mã hoá bằng độ lớn Đôi khi nó có nhược điểm là chiếm mất nhiều không gian
2.4.4 Mã lioá bằng màu nắc.
Đây là cách raă lioá giúp dễ nhận biết bàng thị giác Hiệu
quả của nó tăng lên khi có sự kết liỢp màu sắc gắn với một ý
nghĩa chức năng n hất định Số lượng các màii được sử dụng
Trang 31không cần nhiều NhưỢc điểm của cách này là không thể sứ dụng đưỢc trong điếu kiện chiếu sáng rhấp Vì vậy, cần phải nghiên cứu khả nàng phán biệt màu sắc của thao tác viên.
Trong khi sử dụng các mã để n h ậ n dạng các bộ pliận điền khiển nên sử dụng phôi hỢp hai hay nhiều hệ thông niã Điều này có tliể thực hiện bàng hai cách Cách thứ nhất là phôi hỢp hai hay nhiều mã khác nhau như trường hỢp phán biệt các nút bấm bằng cách cùng một lúc lưu ý đến đường kính, độ dày và chất liệu của chúng Trong trường hợp thứ hai có thể nhận biết bằng cách phôi hợp giữa hình dạng và màu sắc của các bộ phận điều khiển
Một vấn đề khác được đặt ra là, cần phải chuẩn hoá các bộ
ph ận điều khiển được sử dụng ở những mỏ hình khác nhavi của cùng một loại phương riện, chẳng hạn như ở ô tô và máy kéo Nếu như xảy ra trường hỢp một người bị đẩy vào tình huông phải chuyển những kỹ xảo từ một hoàn cảnh này sang một hoàn cảnh khác thì nên giữ cùng một kiểu mã hoá có thể được Nếu không có thể sẽ xảy ra sự giao thoa của các kỹ xảo với những kết qiiả không mong muốn Tương tự như vậy, cần lưu ý cả đến những thói quen hàng ngày của con ngiíời đã có từ trước khi học
sử dụng các bộ phận điểu khiển (chẳng hạn, màu đỏ có nghĩa là
“dừng lại” hoặc “nguy hiểm” ; muôn mở vòi nước thì phải xoay về phía tay trái còn muôn đóng nó thì phải xoay theo chiều ngưỢc lại; vòi nước nóng thường đặt ở bên trái v.v )
Tương tự, theo một sô' nhà TLH kỹ sư còn niột vấn đề nữa cần đitợc lưu ý đến khi thiết kế các bộ phận điều khiển là và'n đề
Trang 32về sự phù hợp của các vận động thiíc hiện để thao tác,m ột bộ
phận điều khiển vổi thói quen của số đông.
K.P.H.Murrell nhận thấy rằng, ở nước Anh để cho điện
sáng (bặt điện) thì hướng chuyển động của công tác điện phải đi
'‘xviống” , còn ở Mỹ thì lại đi “lên” Nhưng, đôi khi thói qvien lại
đưỢc rút ra từ chính SIÍ giải phẫu của cơ thể Quả vậy, sẽ khỏiig
thể hiể\i được khi một người lái ô tó muốn rẽ phải lại xoay tay
lái theo chiều ngược lại
3 Các sô” liê u n h â n tr ắ c và bô’ trí nơi làm v iê c ♦ •
3.1 Đ ậ t v ấ n đ ề »
Hiệu suất và chất lượiig lao động, sự an toàn và th u ậ n tiện
trong lao động phụ thuộc rất nliiểu vào việc bố trí sắp đặt hợp lí
chỗ làm việc
Vấn đề bô' trí nơi làm việc đòi hỏi ít nhất ba khía cạnh lớii
Đó là: a) Sự thiết k ế thiết bị kỹ thuật ; b) Thiết k ế không g ia n lao
động pliù hỢp với những sô’ liệu nh ân trắc (các kích thước tĩnh
và động của cơ thể con người) ; c) Sự bố trí tối ưu các thiết bị cơ
bản, thiết bị phụ trợ các bán thành phẩm và các th àn h phẩni
Trong khi thiết kế và xây dựng thiết bị kỹ thuật, xáy dựng
không gian lao động và bố trí các nhân tô' cơ bản cũng như các
nhân tô' phụ ở chỗ làm việc, cần tôn trọng một số yêu cầii chung
saii đây ;
- Đảm bảo mọi điều kiện để con người làm việc trong một
tư th ế phù hỢp để duy trì điíỢc khả năng lao động và t r á n h được
những ảnh hưởng có hại
Trang 33- Đảm bảo các khả nàng rhay đổi tư th ế trong qiiá trình làm việc.
- Ân định không gian làm việc, bô' rrí các dụng cụ chỉ báo
và các bộ phận điển khiển trong 2)liạni vi các vùng thị giác và vùng hoạt động cua tay được xác định bàng các chỉ sô' đo đạc
- Bồ' tr í có phán biệt rác cái chỉ báo các bộ phận điều khiển và các dụng cụ ở bên trong vùng làm việc : bình thường hay tôi đa hay ở phía ngoài những vùng này Việc bô' ti'í này phụ thuộc vào các đặc điểm tri giác, n h ân trắc và cơ chế sinh học cua con ngươi, đông thời còn phụ ĩhuộc vào các đặc điểni chức năng của các yếu tố chỉ báo các bộ phận điều khiển
- Sự phân bô' các dụng cụ các bộ phận điểu khiển cho các clii sẽ phụ thuộc vào các yêu cầu về tôc độ, chính xác và lực tác động của vặn động thực hiệu Những bộ phận điều khiển yêu cầu độ chính xác và một lực tác động từ 14 - 18 kg có thể phân cho tay còn những bộ phận điền khiển yêu cầu một lực lớn tới
27 kg tlii nen pliaii clio cliân Nêii vitợt qiiá các giá trị này sẽ có
h ậ u quả tiêu cực cho độ chính xác và sức khoẻ của công nhân
Bô trí các bộ pliậii điều khiên, các dụng cụ các vật liệii cần đảm bảo sao cho mỗi vận động sẽ được kết thúc trong một tư
th ế th u ậ n lợi cho việc thực hiện niột vặn động riếp theo
- Bô trí các thiêt bị kỷ thuật, dụng cụ, phương tiện đo đạc, các vật liệu, tư liệu kỹ thuật ở những nơi cố định, thường xiiyên
và càng gần người công nhán càng tô't để giảm bớt khoảng cách phải dịch chuyển trong quá trình thực hiện các thao tác
Trang 34- Tối \iv hoá các mối quan hệ giữa các vị trí làm việc và
làm giảm nhẹ việc ch\iyểii cac đôi tượng lao động từ chô này
sang chỗ khác,
Về tư th ế lúc làm việc, người ta thấy rằng, một tvt th ế làm
việc không phù hợp do cấu tạo sai của máy móc sẽ làm giảm
năng suất lao động và làni xiiấĩ ìiiện sự mệt uioi ơ công nhan va
có thể dẫn đến giới hạn cùa bệnh lí Cấu tạo sai của máy có thê
thể hiện ở chỗ: máv quá cao hoặc qiiá thấp; bô trí các bộ phận
khởi động, dừng và điều cliỉnli ở vị trí quá thấp hoặc quá cao
Tương tự, cả chiểu sâu cùa mặt phảng làm việc cũng rấ t quan
trọng Việc điều khiển ở một khoảng cách lớn so vối thân người
buộc ngitời công nhân phải cúi xuống ở từng thao tac Nêu theni
vào đó công nhân còn phải nâng một vật nặng hoặc phải áp
dụng những lực khá lớn thì dần dần sẽ dẫn đến những chấn
thương về cột sông Để trán h những liậu quả xàu này, ngitđi ta
yêvi cầu phải sử dụng niột tit th ế làni việc bình tliitơng, do vậy se
loại trừ điíỢc những tư thế cúi liên tục hoặc phải gập lưng trong
khoảng thòi gian dài, làm giảm tôi thiêu vận động nâng đông
thời trán h được những cố gắng ở dạng tĩnh và bất động của cơ
thể trong một thời gian dài hơn
Tư th ế làm việc bình thường là tư th ế trong đó người công
n h ân cúi về phía trước nhiều nhất là 10° - l õ “ mà không ngửa ra
sau hoặc nghiêng sang một bên Nếu như khi ngồi, triídng lực
của cơ bằng một đơn vị thì khi đứng thẳng, trương lực có tăng
lên 1,6 lần; trong trường liỢp ngồi c ú i : là 4 lần; còn trong triíờng
hợp đứng cúi là 10 lần
Trang 35Tư th ế ngồi, là tư thế tỏ't hơn so với tất cả các tư thế khác
do những nguyên nháu làm giảm sự inệt mỏi do đó công' nhân
có thể làm việc bàng hai tay hai chán trong một khoảng thời gian dài hơn; làm tăng tính ổn định và tính cán bàng của cơ thể; tạo điều kiện hành động đồng thòi hoặc kê tiếp Iiliau đôl với nhiều bộ phận điểu khiển bàng chán Tư th ế ngồi nên điíỢc áp dụng cho những công việc đòi hỏi một lực tới õ kg tính chính xác cao, thao tác bằng hai tay và hai chán với nhịp độ chậm và biên độ của vận động tương đôl nhỏ
T ư th ế đứng nên sử dụng trong những công việc đòi hôi
một sô' lượng kliá lớn các vận động mà biên độ của nó vượt quá một mét trong mặt phảng chính diện và 30 cm trong cliiều sâii: kích thước của các bộ phận điền khiển tương đôl lớn lực áp dụng lớn (10 - 20 kg) không gian bố trí các bộ phận điểu khiển và các cái chỉ báo là rộng, do vậy có khả năng thay đổi tư thế trong quá trìn h làm việc
T ư th ể hồn hỢp (đứiig và ngồi) có tác dụng giúp công nhân thay đổi tư t h ế làm việc trong từng khoảng thời gian Tư thế này được áp dụng cho những công việc đòi hỏi tác động một lực
khoảng õ - 10 kg cho những công việc mang tính ngăn ngừa và
giám sát theo dõi
Việc qiiyết định lựa chọn một tif th ế làm việc cho inột trường hợp cụ thể là điền rấr qvian trọng vì ngưòi ta sẽ căn oíí vào đó đế xác định các kích thước của mặt phẳng làm việc : theo chiềii cao (chiều cao của mặt phẵng làm việc), theo chiêu ngang (chiều rộng của mặt pliẳng chính diện), và theo chiềii sâii
Trang 36Tintóc khi đi vào nghiên cứu việc bố rrí ndi làm việc, chúng
ta xem xét một vài net liêu quan đến cac sò liệu nhan trac và
n h ữ n g đặc điểm của vạn động
3.2 C á c s ó l i ệ u n h ả n t r ắ c
Chiểu cao của con người, các kích iliúoc Iiliững phán kliác
n h a u của cơ thể con ugười thay đổi rất nhiều tù Iiguòi Iiày cléu ngiíời khác (từ ngiíòi ■■|ùn" đến xigười “khồng lổ") Đối với vấn dề
bô' trí nơi làm việc, người ta ít quan tám đến các trường hỢp
ngoại lệ (thật cao hay ĩhặt thấp) vì ít gập trong thực tế Ngoài các trường liỢp ngoại lệ đó ra, sự đa dạng trong kích thước cơ thể người là tươiig đỗ'i lớn,
Việc ứng dụng thực tế của các sô' liệii nhân trắc khi thiết
kê các thiết bị kỹ thriặt và không gian lao động gặp phải hàng loạt khó k h án do những ngiiyên n h ân san
a) Những khác biệt khá lớn trong kích thước cơ rhể người
điíỢc qiiy định chủ yếu bởi ; các vùng địa lí; các địa bàn khác
n h a u (vùng núi vùng đồng bằng .); giói rinh: lứa ruổi; ughề nghiệp v.v
b) Những kliía cạnh định tính và định lượng của các nghiên cứii n h â n tr ắ r : sô lượng và ngày tháng tiến hành, mẫu
đo, các phương pháp được sử dụng v.v
Từ đó, Iigưòi ta đi đến hai n h ậ n định ;
T h ứ nhất, không thể hài lòng chỉ với một số liệu về kích
thước tru n g bình duy nhất Vị vậy có ba kích thước cơ bau, mà
Trang 37đến lượt chúng, sẽ cho nhĩing số liệii tru n g bình đến từ nhiều lớp kích rhước khác nhau Mỗi trị sô' tn in g bình đó lại gạp gỡ với niột rán sỏ Iihấr định hoặc the hiện mỘT tỉ lệ n h ất định dán sô
đưỢc đo (thường được th ể hiện bàng tỉ lệ phần tràm) Sự khác
biệr chủ yếii giữa các sò’ liệii uháii trác khi xem xér m ẫu đo ở uliững vùng địa lí khác nha\i nàni ỏ chíiili tán sò gặp đưỢc ở rừng rrị sò rning binh trong phạm vi cùa mẳ\i đo
Tìiứ h a i trong khi áp dụng các số liệ\i nháii trắc, cần lưu ý
ba uguyên tắc cơ bản sau đây :
a) Klii thiết k ế clio nh ữ n g người có kích thước ngoại lệ, tức
là khi xác định những kích thưốc tới hạn : cliiều cao cùa phòng, của cửa ra vào của vùng làm việc cần pliải đưỢc ấn định cho người công nhán cao n h ấ t: CÒII các kích thước của phần chính diện và chiều sáu của vùng làm việc thì phải ấn định cho người thấp nliất
b) Việc thiết k ế cho những kích tliiíớc khác n h au nên có thể điéii chỉnh được Bấr cứ ở đâu nếu có rhể được thì việc thiết
kê thiết bị kỹ tluiậr nên làm thê nào đó để kích cờ của nó có thể điều chỉnh được cho nhữ ng người thuộc cả ba loại kích thước
c) Thiết kế cho những kích tliuớc tru ng bình Khi tín h chất của rhiết bị không cho phép nliĩing kích thước có thể điều chỉnh,
(hì chúng sẽ đưỢc th iết kê cho uhững người có kích tliiíớc tru n g bình bởi vì những kích thước đó sẽ ít phiền toái hơn so với những thiết bị được thiết kê cho nhĩỉng người có kích thước ngoại lệ
Trang 383.3 V ùng l à m việc
Dộ tự do trong vận động cua các chi trên và chi dưới, những đặc điểm cơ bản của vận độiig (tô’c độ, tính chínli xác cường độ) sẽ quy định các vìuig làm việc tôl đa và tối ưii,
Trên mặt phẳng ngang, vùng tối đa đưỢc tính bàng vặn động của toàa bộ cánh tay (ngón tay cổ tay căng tay cáiah fay)
mà không vặn người (Hình 14) Vìing bình rhường được tính bằng vặn động của cổ tay và cảng ray và cìiiig là vùng rhuặn tiện n h ất trong hoạt động lao động
Trên mặt phẳng đứng, các vùng làm việc phụ thuộc vào chiều cao của từng công nhân Người ta đă xác định ba vùng tôi
đa đưỢc trình bày bằng những cung trong (đối với mỗi tay),
Đường kính của cung (của vùng) nhỏ là 88.39 cm: của cung trung bình là 110,49 cm và của cung lớn là 103,40 cni (Hình 14)
Hình 14 Các vùng làm việc tối đa và bình thường đối với cả hai tay trên mât
phẳng ngang Các kích thước được tính bằng cen-tl-met (Theo R.M.Barnes)
Trang 39Nhìn clnmg các chi áp dụng lực cùng với các phần khác
n h au của cơ thể (thuờiig thì dùng rrọng lượng của cả cơ thể) Nhưng, sự chuyển động của toàn bộ cơ thể lại không nên khuyên klúcli (cúi vặn thản Iigười) Vì vặy trong khi bô'trí nơi làm việc, người ta chỉ liíu ý đến vận động cua các chi Các lực nià tứ clii áp dụng phụ thiiộc vào uliiềii yếu tô : tư thê của cơ thể chiều cao cáu thực hiện vặn động hướng và khoảng' cách của các vặn động, các góc co thời gian hành động, giới tính, lứa tuổi, chi cần thực liiện thao rác v.v Chẵng hạn lực đẩy hay lực kéo tối đa có thể đạt được ở một khoảng cách rất ngắn, khoảng 7.62 cm và ở chiều
cao của vai Lực ấn tòl đa lên một bàn đạp có thể đạt đưỢc cả
bằng cách sử dụng gót clián lẫn bằng mủi chân Người ta nhận
thấy, lực tô'i đa một người có thể đạt đưỢc là ở vào khoảng 2Õ tuổi, ỏ đàn ôiig 60 tuổi, lực này giảm đi lõ% (so với đàn ông ở tuổi 2õ)
Theo các nhà nghiên cứu TLHLĐ, độ chính xác của vận động phụ thuộc vào hàng loạt yếu tô Cụ thể là:
a) Các vận động của tay chíiih xác hơn so với các vận động của chân Trong các thao tác yêu cầu vận động chính xác, tinh
tế uên sử dụng tay còn chán sẽ dành cho các vận động ĩliô và với mục đích trá n h cho tay bị quá sức
b) Tay phải rhực hiệu vận động chính xác hơn tay trái
c) Mặt phảng làm việc ở tẩm khiiỷii tay đảm bảo một độ chính xac lớn hơn của tay
d) Độ chính xác sẽ bị giảm đi khi khoảng cách đô'i với cơ thể táng lên
Trang 40e) Những vặn động được kiểm tra bãng mắt (thị giác) sẽ chính xác hơn Iihiềii.
3.4 K í c h th ư ớc của t h i ế t hì c ô n g n g h iê p
t r ê n c h ú n g Ta đà th à y răng, ván đề này cán phai (tưỢc
giải qiiyêr tuỳ theo các rư ihê làm việc (nooi đứng hoặc liỗii
hợp)
3.4.1 Tư thê ngồi.
Có hai loại kích thước: Trên mặt phắng ngang (cliiều rộng
cùa mặt phẳng chính diện và chiều sâu của vùng làm việc) và
trên mặt phảng đứng
Các vùng làm việc trên mặt phắng ngang
Nliìn chung, các vùng làm việc tôi đa và tôl ưu được chỉ rỗ
trong Hình 14 có giá trị cho tất cả cácvtư thê làm việc Tuy
nhiên, mặt phăng chính diện (chiềii rộiig của vùng làm việc), đỏi
với tư th ế ngồi chỉ là õõ cm Chúng ta biết răng mật pliẵug
chính diện và chiều sâu của vùng làm việc là loại kích tluíớr tới
hạn do cỉó sẽ phải lưii ý đên nliững vìing vận động cua cac chi ở
người có chiêu cao nhỏ.
Trong vùng làm việc tô'i ưu sẽ được đật các bộ phận điều
khiển và các dụng cụ được sử dụng thường' xuyên, ròn những
dụng cụ ír khi điíỢc sử dụng đến thì sẽ đặt ớ vùng rối đa Sự
thuận tiện và chính xác sẽ càng lớn klii việc thực hiện cac thao
tác và bô trí các bộ phặii điều khiển càng gầu với tháu ngiíơi,
trong mặt phảng chính diện Độ chính xác của các rhao tác giảm