1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương

81 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 733,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đó là có kiến thức về chuyên môn, kinh tế, tin

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Nguồn nhân lực chính là lao động con người mà không máy móc nào có thể thay thế được.Con người là tài sản quan trọng nhất của doanh nghiệp Cung cách quản lý, môi trường làm việc của nhân viên quyết định sự thành công của doanh nghiệp

Quản lý nguồn nhân lực vừa là nghệ thuật vừa là khoa học làm cho những mong muốn của doanh nghiệp và mong muốn của nhân viên tương hợp với nhau và cùng đạt đến mục tiêu Nhân viên mong muốn một mức lương thoả đáng, điều kiện làm việc an toàn, sự gắn bó với tổ chức, những nhiệm vụ có tính thách thức, trách nhiệm và quyền hạn Mặt khác, doanh nghiệp mong muốn nhân viên của mình sẽ tuân thủ quy định tại nơi làm việc và các chính sách kinh doanh, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ, đóng góp sáng kiến vào các mục tiêu kinh doanh, chịu trách nhiệm về công việc tốt và ngược lại, liêm khiết và trung thực

Hoạch định nguồn nhân lực là quá trình biến đổi nhân lực cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng con người, phát triển toàn bộ nhân cách và từng bộ phận trong cấu trúc nhân cách, phát triển cả năng lực vật chất và năng lực tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao, hoàn thiện

cả về đạo đức và tay nghề, cả về tâm hồn và hành vi từ trình độ chất lượng này lên trình độ chất lượng khác cao hơn, toàn diện hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp phát triển đất nước Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng

định: “Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá”

Chính vì nhận thấy được tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong bất cứ một

doanh nghiệp nào nên tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm quản lý tốt

nguồn nhân lực trong khu công nghiệp Tân Hương”

2.Tính cấp thiết của đề tài

Từ năm 1997 tỉnh Tiền Giang mới bắt đầu hình thành phát triển các KCN, là một trong những tỉnh đi sau trong vấn đề trên, mọi vấn đề đều rất mới mẻ do đó

Trang 2

muốn phát triển được các KCN cần phải nghiên cứu, học hỏi để phát triển một cách bền vững, trong đó nguồn nhân lực là yếu tố quyết định của sự thành công

Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp trong , KCN Tân Hương, tỉnh Tiền Giang thật sự cần thiết và cấp bách

Với kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao nhận thức về nguồn nhân lực và giúp cho các nhà quản lý của tỉnh xem xét quyết định chiến lược về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nói chung và phát triển nguồn nhân lực cho các KCN nói riêng trong giai đoạn từ nay đến năm 2020

3 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực của KCN Tân Hương để có giải pháp hữu hiệu trong việc phát triển nguồn lao động cho KCN Tân Hương tỉnh Tiền Giang

- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp trong KCN Tân Hương tỉnh Tiền Giang trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nguồn nhân lực trong KCN Tân Hương tỉnh Tiền Giang

Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở KCN Tân Hương của tỉnh Tiền Giang Trên cơ sở thực tiễn về nguồn nhân lực đang diễn ra ở tỉnh Tiền Giang khái quát thành lý luận chung để tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm phát triển nguồn nhân lực cho các KCN tiếp theo của tỉnh Tiền Giang, tạo đòn bẩy thúc đẩy kinh tế

ở tỉnh Tiền Giang phát triển

Trang 3

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập số liệu:

- Số liệu sơ cấp: Khảo sát, thu thập thông tin từ các doanh nghiệp đang hoạt động trong KCN Tân Hương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở lao động Thương binh và Xã hội, các cơ sở đào tạo nghề,… trên địa bàn tỉnh Tiền Giang

- Số liệu thứ cấp: Các số liệu, báo cáo, của Ban Quản lý các KCN tỉnh Tiền Giang và các cơ quan liên quan trên địa bàn tỉnh; khảo sát toàn bộ 22 doanh nghiệp và 100 cán bộ công nhân tại các doanh nghiệp trong KCN Tân Hương tỉnh Tiền Giang

-Số liệu sơ cấp thu thập được xử lý bằng phầm mềm excel để đưa ra kết quả đánh giá, phân tích

+ Phương pháp so sánh: So sánh các số liệu của các năm trong việc phát triển nguồn nhân lực của KCN Tân Hương

+ Phương pháp phân tích định tính, định lượng: Dựa vào số liệu bảng khảo sát của từng nội dung gửi đến các doanh nghiệp trong KCN Tân Hương và số liệu báo cáo chính thức của doanh nghiệp để phân tích

+ Phương pháp phân tích thống kê: Số tương đối, số tuyệt đối, các chỉ tiêu của dãy số thời gian để phân tích kết quả và hiệu quả qua các năm nhằm đánh giá

số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực trong KCN Tân Hương

Trang 4

6 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm các phần sau đây

 Đặt vấn đề

 Chương 1:Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân

lực trong các doanh nghiệp và KCN

 Chương 2:Thực trạng phát triển nguồn nhân lực của các doanh nghiệp

trong khu công nghiệp Tân Hương tỉnh Tiền Giang

 Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho các

doanh nghiệp trong KCN Tân Hương tỉnh Tiền Giang

 Chương 4: Kết luận và kiến nghị

 Tài liệu tham khảo

 Phụ lục

Trang 5

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH

NGHIỆP VÀ KHU CÔNG NGHIỆP

1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

1.1.1 Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người, được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau Với khía cạnh là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư trong xã hội có khả năng lao động Với khía cạnh là yếu tố của sự phát triển kinh tế- xã hội thì nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội Với khía cạnh là tổng thể cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động thì nguồn nhân lực bao gồm cả yếu tố thể lực và trí lực của những người từ 15 tuổi trở lên Tuy nhiên, định nghĩa này mới phản ánh về mặt số lượng chưa nói lên mặt chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện trên các khía cạnh: sức khỏe, trình độ học vấn, kiến thức, trình độ

kỹ thuật và kinh nghiệm tích lũy được, ý thức tác phong của người lao động

Từ những khái niệm trên có thể tổng quát lại: Nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ Trong đó lực lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổi lao động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người thất nghiệp) Lao động dự trữ bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có nhu cầu lao động

Ở các quốc gia trên thế giới, nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản và quan trọng nhất cho sự phát triển Theo Begg, Fircher và Dornbusch, khác với nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai Giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai Tuy nhiên, khác với các nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực là con người lao động có nhân cách (có trí thức, kỹ năng nghề nghiệp và hoạt động xã hội, có các phẩm chất tâm lý như động cơ, thái độ ứng

xử với các tình huống trong cuộc sống), có khả năng tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp và vốn sống

Trang 6

Những quan niệm trước đây cho rằng lợi thế cạnh tranh chủ yếu của một công ty hay một quốc gia là do khả năng tài chính mạnh, kỹ thuật công nghệ phát triển cao đã trở nên lỗi thời Ngày nay, xã hội và các nhà quản lý đã nhận thức được nhân tố quyết định tính năng động và sáng tạo của con người và bản thân con người mới là nguồn lực không gì thay thế được

Nguồn nhân lực chất lượng cao

Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (Đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề)

Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là muốn nói đến tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tú nhất, có chất lượng nhất Bởi vậy, khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao không thể không đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lượng nguồn nhân lực nói chung của một đất nước

Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu của thị trường (yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là có kiến thức về chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng, kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, có trách nhiệm với công việc

Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị- xã hội, về đạo đức, tình cảm trong sáng Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần đông về số lượng, nhưng phải đi vào thực chất

Nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá; là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao Đối với nước ta đó là một quá trình tất yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp

Trang 7

công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước nhằm phát triển bền vững; và là điều kiện

để hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn

1.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực

Ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và thông tin, sự giao lưu trí tuệ và tư tưởng liên minh kinh tế giữa các khu vực trên thế giới Sự ra đời của nhiều công ty xuyên quốc gia đã tạo ra tốc độ tăng trưởng chưa từng thấy Tình hình đó đã dẫn đến sự quốc tế hoá một số nền kinh tế trên thế giới, gây nên những đảo lộn về chính trị xã hội sâu sắc mang tính toàn cầu và đang đi đến thiết lập một trật tự thế giới mới Trong bối cảnh đó khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đang nổi lên là khu vực kinh tế năng động nhất

Việt Nam đang hướng tới một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước với mục tiêu bảo đảm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, an ninh quốc gia và sự bền vững của môi trường Nền kinh tế Việt Nam chỉ có thể đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, hiệu quả kinh tế xã hội cao khi nền kinh tế ấy thực sự dựa trên cơ sở công nghiệp hóa, hiện đại hoá, trong đó phải lấy việc phát huy hiệu quả sử dụng nguồn lực con người làm yếu cơ bản cho sự phát triển bền vững

Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực được đánh giá bằng mức độ toàn dụng nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng và thời gian được sử dụng, việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực đồng nhất với:

- Nâng cao hệ số sử dụng số lượng nhân lực;

- Nâng cao hiệu suất sử dụng nhân lực, hay giá trị tăng thêm được tạo ra từ việc sử dụng nhân lực;

- Nâng cao hệ số sử dụng thời gian lao động

- Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực là một quá trình chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tình hình cung cầu trên thị trường lao động, chất lượng nguồn nhân lực, chính sách lao động, việc làm và tiền lương của Nhà nước đối với nguồn nhân lực Theo đó, hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực sẽ đồng biến với tốc độ giải quyết việc làm, nghịch biến với tỷ lệ thất nghiệp và phụ thuộc vào chính sách thu hút, bố trí, sử dụng và chế độ đãi ngộ Nếu những chính sách này hợp lý sẽ kích thích được tinh thần làm việc, phát huy được khả năng sáng tạo của người lao động,

Trang 8

là động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả và chất lượng công việc, sẽ thu hút được nhân tài cho tổ chức mình

Do vậy, nguồn nhân lực có một vai trò hết sức quan trọng đến sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp, mỗi địa phương và mỗi quốc gia, nếu tạo điều kiện cho nguồn nhân lực thể hiện tốt vai trò của mình thì hiệu quả kinh tế - xã hội sẽ không ngừng được nâng lên cả về chất và lượng, còn nếu một nguồn nhân lực kém chất lượng thì sẽ làm cho nền kinh tế phát triển chậm hoặc thậm chí kém phát triển và tụt hậu

Được xác định là một điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ một hoạt động nào trong phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực luôn đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn vong của mỗi quốc gia

1.1.3 Phát triển nguồn nhân lực

1.1.3.1 Một số khái niệm liên quan

Nghề là một dạng của hoạt động lao động trong hệ thống phân công lao

động xã hội; Nó là tổng hợp của sự hiểu biết và thói quen trong lao động mà con người tiếp thu được do kết quả đào tạo chuyên môn và tích lũy trong quá trình làm việc Ở mỗi nghề đòi hỏi phải có kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành nhất định để hoàn thành một công việc xác định trong xã hội (nghề cơ khí, nghề xây dựng, nghề giáo viên )

Chuyên môn là hình thức phân công lao động sâu hơn của một nghề Nó

đòi hỏi một kiến thức lý thuyết chuyên sâu hơn và kỹ năng thực hành cụ thể hơn trong một phạm vi hẹp hơn Chẳng hạn nghề cơ khí có các chuyên môn như: đúc, tiện, nguội, phay, bào

Trình độ tay nghề của người lao động được thể hiện ở mặt chất lượng sức

lao động của người đó, thể hiện qua mức độ nắm vững lý thuyết cũng như kỹ năng thực hành để hoàn thành công việc có mức độ phức tạp nhất định thuộc một nghề hay một chuyên môn nào đó

Giáo dục theo nghĩa rộng, được hiểu là các hoạt động đào tạo hình thành

nên những con người mới Nó bao gồm bốn mặt: trí dục, đức dục, giáo dục thể chất

và giáo dục thẩm mỹ

Đào tạo nói chung là tổng hợp những hoạt động nhằm nâng cao trình độ

học vấn, trình độ nghề nghiệp và chuyên môn cho người lao động

Trang 9

- Đào tạo nghề là tổng hợp những hoạt động cần thiết cho phép người lao

động có được những kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành nhất định để tiến hành một nghề cụ thể trong doanh nghiệp và xã hội

- Đào tạo lại là một dạng đào tạo cho người lao động, làm cho họ thay đổi

nghề nghiệp hay chuyên môn do phát sinh khách quan của phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như những thay đổi về tâm sinh lý của người lao động vốn đã ổn định

- Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề là hoàn thiện những hiểu biết lý

thuyết và những kỹ năng thực hiện đã có sẵn của người lao động làm cho họ có những khả năng cao hơn, làm việc có hiệu quả và chất lượng hơn để thích ứng với công việc trong tương lai

1.1.3.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực

Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau nên vẫn có nhiều cách hiểu khi bàn về phát triển nguồn nhân lực

Theo UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - Tổ chức giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc), phát triển nguồn nhân lực là toàn bộ sự lành nghề của dân cư trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước

Theo ILO (International Labour Organization - Tổ chức Lao động quốc tế) cho rằng, phải hiểu phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng hơn, không chỉ là toàn bộ sự lành nghề của dân cư mà còn là phát triển năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân Quan điểm này dựa trên cơ sở nhận thức rằng con người có nhu cầu sử dụng năng lực của mình để tiến tới có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn về nghề nghiệp và cuộc sống từng cá nhân

Theo UNIDO (The United Nations Industrial Development Organization -

Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc ), phát triển con người một cách hệ thống vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển của một quốc gia, nó bao gồm mọi khía cạnh về kinh tế, xã hội như nâng cao khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất

và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục - đào tạo nghiên cứu và từ hoạt động thực tiễn

Một số khái niệm khác về "Phát triển nguồn nhân lực" dưới các góc nhìn khác nhau như:

Trang 10

Theo Swanson,1997; Swanson and Holton III, 2001 "Phát triển nguồn nhân lực là một quá trình phát triển và thúc đẩy sự tinh thông của con người qua việc phát triển tổ chức, đào tạo, và phát triển nhân sự nhằm cải thiện năng suất"

Theo McLean&McLean, 2000 "Phát triển nguồn nhân lực là bất cứ quá trình hay hoạt động nào nhằm phát triển những kiến thức làm việc cơ bản, sự tinh thông, năng suất và sự hài lòng mà cần cho một đội, nhóm, cá nhân hoặc nhằm mang lại lợi ích cho một tổ chức, cộng đồng, quốc gia hay tóm lại là cần cho toàn nhân loại"

Theo Chiến lược phát triển giáo dục của Việt Nam "Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học - công nghệ, củng

cố quốc phòng, an ninh, đảm bảo hợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng"

Từ những quan điểm trên, có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia là tạo ra tiềm năng của con người thông qua đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần để khai thác tối đa tiềm năng con người Thông qua việc tuyển, sử dụng, tạo điều kiện về môi trường làm việc (phương tiện lao động có hiệu quả và các chính sách hợp lý ), môi trường văn hóa, xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của con người, để họ mang hết sức mình hoàn thành các nhiệm vụ được giao (sơ đồ 1.1)

Hình 1.1: Sơ đồ phát triển nguồn nhân lực

Đào tạo nhân

Đào tạo lại - Môi trường:

+ Môi trường vật lý (phương tiện làm việc)

+ Môi trường sư phạm, văn hoá, xã hội

+ Chính sách lương, đãi ngộ

- Chăm sóc sức khoẻ

Trang 11

Như vậy, phát triển nguồn nhân lực bao gồm các yếu tố: Đào tạo, bồi dưỡng

và đào tạo lại nhân lực theo phương châm học suốt đời để phát triển quy mô, điều

chỉnh cơ cấu nhân lực cho phù hợp với nhu cầu của xã hội; hình thành và phát triển những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, kỹ năng sống của người lao

động; Tuyển và sử dụng nhân lực vào làm việc tại vị trí lao động phù hợp với trình

độ và ngành, nghề được đào tạo của người lao động, theo nhu cầu tổ chức công

việc tại các đơn vị; Chăm sóc sức khỏe và tạo môi trường tốt để người lao động

phát triển năng lực, thể lực và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp trong quá trình hành nghề Đồng thời, tạo điều kiện cho người lao động có đủ năng lực và điều kiện để

di chuyển nghề nghiệp, chuyển đổi nghề và vị trí làm việc, tìm việc làm mới và tự tạo việc làm trong điều kiện môi trường kinh tế - xã hội luôn biến động do ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ

1.1.4 Các chức năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực:

Các hoạt động liên quan đến quản lý nguồn nhân lực rất đa dạng và thay đổi trong các tổ chức khác nhau Tuy nhiên, có thể phân chia các hoạt động chủ yếu của quản lý và phát triển nguồn nhân lực theo 3 nội dung sau:

1.1.4.1 Thu hút nguồn nhân lực

Nội dung này chú trọng vấn đề đảm bảo số lượng nhân viên với các phẩm chất phù hợp cho công việc của doanh nghiệp Để có thể tuyển đúng người vào đúng việc; trước hết, doanh nghiệp phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh

và thực trạng sử dụng nhân viên trong doanh nghiệp nhằm xác định được những công việc nào cần tuyển thêm người

Thực hiện phân tích công việc sẽ giúp cho doanh nghiệp biết cần tuyển thêm bao nhiêu nhân viên và yêu cầu tiêu chuẩn đặt ra đối với các ứng cử viên như thế nào là phù hợp? Do đó, nhóm chức năng tuyển dụng thường có các hoạt động:

dự báo và hoạch định nguồn nhân lực, phân tích công việc phỏng vấn, trắc nghiệm, thu thập, lưu trữ và xử lý các thông tin về nguồn nhân lực của doanh nghiệp

1.1.4.2 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Chú trọng việc nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong doanh nghiệp có kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành tốt công việc được giao và tạo điều kiện cho nhân viên được phát triển tối đa năng lực cá nhân Đồng thời, các doanh nghiệp cũng lập kế hoạch đào tạo lại nhân viên mỗi khi

có sự thay đổi về nhu cầu sản xuất kinh doanh hoặc quy trình công nghệ kỹ thuật

Trang 12

Để đào tạo và phát triển cần thực hiện các hoạt động như: hướng nghiệp, huấn luyện, đào tạo, kỹ năng thực hành cho nhân viên…

Các phương pháp đào tạo phổ biến hiện nay là:

Đào tạo tại nơi làm việc:

- Kèm cặp, hướng dẫn tại chỗ;

- Luân phiên thay đổi công việc

Đào tạo ngoài nơi làm việc:

- Phương pháp nghiên cứu tình huống;

- Đào tạo học nghề;

- Phương pháp sử dụng dụng cụ mô phỏng;

- Đào tạo xa nơi làm việc;

- Phương pháp hội thảo;

- Chương trình liên hệ với các trường đại học;

- Phương pháp huấn luyện theo dõi mô hình mẫu

1.1.4.3 Duy trì nguồn nhân lực

Duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bao gồm kích thích, động viên nhân viên và duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong doanh nghiệp

Kích thích, động viên nhân viên trong doanh nghiệp làm việc hăng say, tận tình, có ý thức trách nhiệm và hoàn thành công việc với chất lượng và hiệu quả

Quan hệ lao động liên quan đến các hoạt động nhằm hoàn thiện môi trường làm việc và các mối quan hệ trong công việc như: ký kết hợp đồng, giải quyết khiếu nại khiếu tố, tranh chấp lao động, giao tế nhân viên, cải thiện môi trường làm việc, y tế, bảo hiểm và an toàn lao động

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực

Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố Các nhân tố có thể từ con người, từ các chiến lược kinh doanh, triết lý quản lý của các nhà quản lý, do trang thiết bị máy móc…nên ta tạm chia ra làm hai nhóm:

1.2.1 Nhân tố về con người

Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức do đó tất cả các hoạt động trong

tổ chức đều chịu sự tác động của nhân tố này Tuỳ từng hoạt động mà con người ảnh hưởng nhiều hay ít, đối với công tác đào tạo và phát triển thì yếu tố con người

Trang 13

ảnh hưởng mạnh mẽ Nhân tố con người tác động đến quá trình phát triển nhân lực được chia ra làm hai nhân tố tác động đó là lao động trực tiếp và cán bộ quản lý

Người lao động là đối tượng trực tiếp sản xuất tạo ra doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp

Khi người lao động muốn được nâng cao trình độ thì họ có thể đề xuất với

bộ phận quản lý đề xuất việc học tập và nếu họ có nhu cầu muốn học hỏi thì họ sẽ học tập tự giác thì chất lượng sau đào tạo được nâng cao một cách rõ rệt

Bất cứ ai cũng có sở thích, có người sở thích học tập nghiên cứu, làm việc, yêu thích một nghề nào đó Nếu người lao động yêu thích nghề nghiệp mình đã chọn thì họ sẽ học hỏi, tìm tòi nhiều kiến thức mới nên hiệu quả công việc thu được

là cao hơn

Một yếu tố rất quan trọng tác động đến công tác phát triển nguồn nhân lực

đó là trình độ của người lao động Trình độ của họ ở mức độ nào, trình độ cao hay thấp, ý thức học tập, ý thức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm của người lao động như thế nào nó quyết định đến các phương pháp đào tạo khác nhau, các chương trình và hình thức đào tạo cho hợp lý với từng đối tượng

1.2.2 Nhân tố về quản lý

Mục tiêu, chiến lược phát triển kinh doanh của doanh nghiệp tác động mạnh

mẽ đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.Từ đó đặt ra những yêu cầu cho công việc trong thời gian tới của doanh nghiệp và kỹ năng, trình độ nguồn nhân lực cần có, sẽ quyết định hình thức, phương pháp, số lượng, bộ phận và kinh phí đào tạo…

Các chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tiên tiến cũng ảnh hưởng không nhỏ đến công tác này Các chương trình mới, tiên tiến thường phát huy những ưu điểm và có những giải pháp khắc phục các nhược điểm của các chương trình trước nên doanh nghiệp cũng tìm hiểu và nghiên cứu áp dụng thử đối với tổ chức mình Mặt khác, các đối thủ cạnh tranh mà có các chương trình đào tạo

và phát triển mới, hấp dẫn cho người lao động thì sẽ thu hút những nhân tài từ các doanh nghiệp Nên doanh nghiệp cũng như công tác đào tạo và phát triển chịu ảnh hưởng lớn, cần phải cập nhập nhanh chóng các chương trình để giữ chân nhân tài cho doanh nghiệp mình

Ngoài các nhân tố thuộc về nội dung đào tạo tác động đến quá trình phát triển nguồn nhân lực thì một yếu tố khác cũng có sự ảnh hưởng đến đó là công tác đánh giá thực hiện công việc Nếu công tác đánh giá được tiến hành công bằng,

Trang 14

đúng đắn với các chỉ tiêu chính xác, sát với từng nhóm công việc thì giúp nhà quản

lý có kế hoạch xác định các nội dung đào tạo, nhu cầu đào tạo, loại hình đào tạo được chính xác và đem lại hiệu quả hơn nhiều

Công tác tuyển dụng lao động cần có kế hoạch tổ chức tuyển dụng một cách

cụ thể, công bằng Qua đó, chất lượng lao động mới tuyển vào từng bước được nâng cao giúp ích cho công tác quản lý và phát triển nguồn nhân lực hiệu quả

Bên cạnh đó, một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác này là các nguồn lực của doanh nghiệp: tài chính, tài sản, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường,…sẽ quyết định hướng mà doanh nghiệp định đầu tư cho công tác phát triển

là nhiều hay ít, có áp dụng những khoa học tiên tiến nhanh chóng hay không…

Hàng năm, doanh nghiệp thường tiến hành rà soát chất lượng của các trang thiết bị, máy móc và công nghệ để ra các quyết định có nên trang bị thêm các công nghệ, thiết bị mới cho phù hợp với nhu cầu của công việc cũng như nhu cầu của xã hội Mà cũng có thể do tiến trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá nên các doanh nghiệp cũng tiến hành chuyên môn hóa hơn áp dụng các thành tựu của khoa học vào để nhằm thu được kết quả cao Chính vì vậy, nó ảnh hưởng đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Công tác này nhằm cung cấp một lượng lao động không nhỏ có chất lượng cao và nhằm định hướng, chuẩn bị cho người lao động những công việc trong tương lai phù hợp với xu thế mới Muốn công tác đạt kết quả cao thì cần trang bị đầy đủ các thiết bị máy móc phục vụ cho quá trình

Các nhân tố khác như triết lý quản lý, văn hoá doanh nghiệp và các chương trình phúc lợi là yếu tố đem lại những lợi ích cho người lao động Nếu một doanh nghiệp chú trọng đến văn hoá doanh nghiệp thì đời sống của người lao động được quan tâm nhiều hơn, những mong muốn của họ cũng có thể được đáp ứng dễ dàng hơn do đó nó ảnh hưởng đến công tác đào tạo và phát triển của doanh nghiệp cho người lao động của mình

Các chủ trương, chính sách của Chính phủ, quy định pháp luật và chính trị cũng tác động đến tổ chức cũng như công tác phát triển nguồn nhân lực theo các hướng khác nhau Chúng có thể tạo ra cơ hội nhưng cũng có thể gây trở ngại, thậm chí là rủi ro thật sự cho tổ chức Sự ổn định về chính trị, sự nhất quán về quan điểm chính sách sẽ tạo điều kiện cho công tác đào tạo và phát triển được thực hiện một cách suôn sẻ; nó cũng luôn là sự hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư mà đầu tư cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực không phải là ngoại lệ Hệ thống pháp luật về

Trang 15

việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực được xây dựng và hoàn thiện cũng là điều kiện thuận lợi cho công tác này cũng như các tổ chức

Qua đây, chúng ta nhận thấy các doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến các yếu tố của con người mà cần chú ý đến các yếu tố quản lý để có những hướng điều chỉnh, phát triển hay duy trì và thay đổi chương trình đào tạo và phát triển cho người lao động nhằm đem lại hiệu quả và đồng thời tạo động lực cho cá nhân người lao động làm việc tốt hơn

1.3 Tác động của Hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển nguồn nhân lực

Hội nhập tích cực vào nền kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu mà bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới đều phải lựa chọn để phát triển Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội cho các nước có khả năng tiếp cận với thị trường thế giới, với những công nghệ hiện đại, với những thành tựu mới trong quản lý, nhờ đó có cơ hội phát triển tăng tốc và rút ngắn được quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho các quốc gia kết hợp tốt nhất sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, phát huy được nội lực và mọi tiềm năng sáng tạo; đồng thời tranh thủ được tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho phát triển

Tác động của xu thế toàn cầu hóa kinh tế đối với việc điều chỉnh và lựa chọn chiến lược phát triển của các quốc gia là rất mạnh mẽ và sâu sắc Chỉ có quốc gia nào thích ứng nhanh nhạy với xu thế này, sớm tìm được mô hình – chiến lược phát triển phù hợp và vận dụng sáng tạo – có hiệu quả vào hoàn cảnh cụ thể của nước mình thì khả năng tăng trưởng và phát triển nhanh, cải thiện được vị thế của mình trong nền kinh tế thế giới

Xu thế Hội nhập kinh tế quốc tế có tác động nhiều mặt và đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo nguồn nhân lực ở mỗi quốc gia Hội nhập kinh tế cùng với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật - công nghệ hiện đại dẫn đến một cuộc cách mạng về đào tạo ngành nghề trong xã hội Do đó, các quốc gia phải chuẩn bị cho mình những tiềm lực lao động đáp ứng yêu cầu của một hệ thống ngành nghề mới đang phát triển phù hợp với xu thế thời đại

Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia còn phải hướng đến việc đào tạo những con người thích ứng với thời đại cạnh tranh ồ ạt và khốc liệt để phát triển Việc đào tạo một thế hệ mới các doanh nhân – những người lao động có tri thức – khoa học – công nghệ hiện đại, tri thức – năng lực kinh doanh – năng lực cạnh tranh để dẫn dắt doanh nghiệp dành phần thắng

Trang 16

trong cuộc cạnh tranh kinh tế trong và ngoài nước là mục tiêu cơ bản trong chính sách giáo dục – đào tạo của các quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa

Dưới tác động của cuộc cách mạnh khoa học – công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhu cầu và khả năng thực hiện sự hợp tác quốc tế về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ngày càng trở nên tất yếu và rõ nét Nhiều nước coi đây là con đường cơ bản để rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển với khu vực và thế giới Việc cử cán bộ, chuyên gia, học sinh… ra nước ngoài học tập, công tác được nhiều nước quan tâm và trở thành phương thức chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực ở mỗi nước

Việc sử dụng lao động cũng ngày càng mang tính quốc tế hóa rộng rãi Xu hướng đầu tư trực tiếp ngày càng gia tăng và sự di chuyển ồ ạt các nguồn lực sản xuất giữa các nước làm cho quy mô của lao động tổng thể được sử dụng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, lãnh thổ.Trên thực tế, sự di chuyển nguồn nhân lực giữa các nước hiện đã trở thành hiện tượng phổ biến trong đời sống kinh tế-xã hội quốc tế

Dưới tác động của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc đào tạo nguồn nhân lực cần phải được đầu tư phát triển theo một phương châm mới, đó là đào tạo thường xuyên – đào tạo suốt đời Vì thế, hệ thống đào tạo cũng dần được điều chỉnh, đổi mới căn bản toàn diện với những chương trình, kỹ năng đổi mới để đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học – công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa

1.4 Khu công nghiệp và vai trò đối với phát triển kinh tế xã hội

Để có thể tìm hiểu rõ nét hơn về đối tượng nghiên cứu của đề tài là : “Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp Tân Hương”

trước hết chúng ta tìm hiểu những khái niệm cơ bản về khu công nghiệp, vị trí, vai trò và tầm quan trọng của nó trong nền kinh tế nước ta hiện nay“

1.4.1 Khu công nghiệp và sự cần thiết phải xây dựng và phát triển KCN

1.4.1.1 Khái niệm

Theo Nghị định số 29/2008/NĐ- CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 của Chính phủ thì khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp, và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ

Trang 17

Về cơ bản KCN và KCX xuất giống nhau, tuy nhiên về chức năng hoạt động thì Khu chế xuất xuất khẩu 100% sản phẩm do mình sản xuất Quan hệ giữa khu chế xuất với thị trường nội địa là quan hệ ngoại thương với những ưu đãi đặc biệt dành cho các nghiệp vụ sản xuất xuất khẩu

1.4.1.2 Sự cần thiết phải xây dựng và phát triển KCN

- KCN ra đời, tạo cải cách và đơn giản hóa thủ tục hành chính, hình thành cơ chế “một cửa, một chỗ”;

- KCN ra đời, tạo điều kiện hạ tầng xung quanh KCN phát triển và dẫn đến các dịch vụ ăn theo phục vụ các KCN phát triển như nhà ở công nhân, khu vui chơi giải trí, khu thương mại, nhà ở chuyên gia,…

- KCN ra đời, tạo điều kiện thuận lợi trong sắp xếp DN đầu tư vào KCN tránh đầu tư phân tán, tràn lan

- KCN ra đời, phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị đã rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn

- KCN ra đời, tạo điều kiện thuận lợi trong công tác quản lý doanh nghiệp như quản lý lao động đặc biệt đối với lao động nước ngoài; Giám sát được tình hình đăng ký đất đai và đăng ký đầu tư; Giám sát được tình hình thực hiện mục tiêu đầu

tư so với đăng ký tại Giấy chứng nhận đầu tư; Giám sát và kiểm soát được tình hình xây dựng theo giấy phép; Kiểm soát được môi trường và đặc biệt DN trong KCN được giảm chi phí về xử lý nước thải do các KCN đều có khu xử lý tập trung theo quy chuẩn hiện hành (hiện nay theo QCVN 40:2012/BTNMT) Vì vậy, các DN chỉ

xử lý cục bộ theo tiêu chuẩn do từng KCN quy định, sau đó đấu nối vào khu xử lý tập trung để xử lý

- KCN ra đời, thu hút một lượng vốn lớn để đầu tư cơ sở hạ tầng nhất là các địa phương trong điều kiện vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng còn thiếu, thì việc xây dựng các KCN là biện pháp hữu hiệu nhất để tập trung vốn đầu tư xây dựng cơ

Trang 18

và giảm chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật Đồng thời phát triển KCN cũng để thúc đẩy các cơ sở sản xuất, dịch vụ cùng phát triển, làm cơ sở cho việc phát triển các đô thị công nghiệp, phân bố hợp lý lực lượng sản xuất

1.4.2 Vai trò của Khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững là mục tiêu theo đuổi của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển trong giai đoạn chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Các nước đang phát triển tìm mọi biện pháp để thu hút các nguồn lực tài chính, khoa học công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, nhất là

từ các nước phát triển, nhằm khai thác một cách có hiệu quả những lợi thế so sánh của mình như nguồn nhân công rẻ và nguồn tài nguyên, nguyên liệu sẵn có nhằm tăng năng lực sản xuất, kinh doanh và khắc phục thế bất lợi của mình trong việc nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu Từ những nhu cầu thực tế này Chính phủ các nước chủ trương phát triển các KCN, với những ưu đãi lớn để tạo điều kiện dễ dàng cho các nhà đầu tư hoạt động hiệu quả

Sự hình thành và phát triển KCN ở các nước đang phát triển hiện nay đang tiến triển rất nhanh do nhu cầu cấp bách của việc thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh

tế Kinh nghiệm các nước trên thế giới đã cho thấy, hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp tập trung mang lại hiệu quả to lớn đối với sự phát triển công nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung

Ở Việt Nam, KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập KCN thường được xây dựng trên các vùng có nhiều đất trống, các nhà máy xây dựng trong khu được tập trung theo quy hoạch được duyệt

Do đó, chi phí đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp sẽ hạ thấp vì các nhà máy thường xây dựng sát cạnh nhau, đầu ra của nhà máy này cũng là đầu vào của nhà máy kia Ngoài ra, khi đầu tư vào KCN các doanh nghiệp sẽ giảm được nhiều chi phí như: chi phí mua đất, xây dựng đường dây tải điện, đường vận tải vào nhà máy

1.4.2.1 Khu công nghiệp là công cụ thu hút vốn đầu tư

Loại hình các KCN là nơi mà các nhà đầu tư trong và ngoài nước cùng đầu

tư sản xuất kinh doanh trên một vùng không gian lãnh thổ Đây là sự kết hợp sức mạnh của các nguồn lực trong nước khi có tác động từ các nguồn vốn ở bên ngoài,

Trang 19

là nhân tố quyết định cho sự phát triển kinh tế - xã hội Sự kết hợp này được thể hiện bằng liên kết kinh tế giữa các KCN với sản xuất nội địa, giữa thị trường trong nước và quốc tế Việc thực hiện tốt các điều kiện trên sẽ tăng cường thu hút các nguồn vốn đầu tư vào các KCN

Khi môi trường đầu tư trong nước hấp dẫn sẽ thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nước ngoài Qua đó cũng kích thích, huy động các nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong nước tham gia xây dựng phát triển hạ tầng các KCN Các chính sách ưu đãi các doanh nghiệp đầu tư sản xuất trong các KCN cũng tạo ra sức hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài Vì vậy, việc khuyến khích các thành phần kinh

tế đầu tư vào các KCN bằng nhiều hình thức, đa dạng sẽ khai thác được một nguồn vốn to lớn của xã hội tham gia đầu tư vào các KCN Điều này sẽ tạo ra môi trường đầu tư tốt hơn và qua đó cũng tạo niềm tin và sự an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài Đây là sự tác động tương hỗ biện chứng để phát triển các KCN và mục tiêu hàng đầu để xây dựng phát triển các KCN là để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong

và ngoài nước đáp ứng cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.4.2.2 Khu công nghiệp góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa đang là một tất yếu, đặc biệt đối với những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam phải chấp nhận một cuộc cạnh tranh gay gắt, mà trước hết là ngay trên thị trường trong nước với các công ty nước ngoài, chứ chưa nói đến thị trường khu vực và thế giới.Trước tình hình đó, KCN được xem như là một phương thức chiến lược thực hiện công nghiệp hóa, một phương thức có tính quy luật và nhiều quốc gia đã thực hiện Cốt lõi là nhằm phát triển khu vực công nghiệp tập trung với kỹ thuật công nghệ tiên tiến hiện đại và có

cơ cấu hợp lý, hướng về xuất khẩu, tạo tích lũy để hiện đại hóa nền kinh tế

Với vị trí là sản xuất tập trung, các KCN sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để triển khai sản xuất với trình độ hiện đại Đó là động lực cơ bản để thay đổi các thiết

bị kỹ thuật cũ kỹ lạc hậu Điều này phù hợp với nước ta, các doanh nghiệp vừa và nhỏ là phổ biến Một mặt khác, các KCN cũng là nơi để các doanh nghiệp mới thành lập, xây dựng nhà xưởng, lắp đặt máy móc thiết bị để tiến hành sản xuất kinh doanh theo hướng công nghiệp tập trung

Định hướng phát triển công nghiệp nước ta trong thời gian tới là: "Vừa phát triển nhanh các ngành sử dụng nhiều lao động, vừa đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin,

Trang 20

viễn thông, điện tử, tự động hóa " Như vậy các KCN còn góp phần phát triển các

ngành nghề sử dụng nhiều lao động bên cạnh các ngành nghề sản xuất sản phẩm có hàm lượng chất xám cao để xuất khẩu và tiêu dùng trong nước Đây là một tiến trình tất yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bởi vì ở nước ta nguồn lao động có nhu cầu việc làm còn nhiều, chưa thể một sớm một chiều chúng ta có ngay một đội ngũ lao động có trình độ cao phù hợp với nền sản xuất tiên tiến hiện đại Sự gia tăng giá trị sản lượng hàng hóa dịch vụ từ các KCN đều làm tăng tổng thu nhập của địa phương, nhờ đó đã đóng góp vào mức tăng trưởng và phát triển nền công nghiệp tại chỗ, dẫn đến việc hình thành những ngành công nghiệp mới làm thay đổi

cơ cấu sản phẩm công nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương

và vùng lãnh thổ

1.4.2.3 Khu công nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ

Các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN sản xuất ra nhiều sản phẩm để xuất khẩu, bởi dựa vào lợi thế so sánh về tài nguyên, giá nhân công rẻ để sản xuất

và xuất khẩu với giá rẻ hơn đến các nước khác

Khu công nghiệp là nơi tập trung nhiều xí nghiệp trên một vị trí địa lý, nên trong quá trình sản xuất, lượng xuất của nhà máy này đồng thời cũng là lượng nhập của nhà máy kia, nhờ đó mà giá thành của sản phẩm giảm đáng kể do tiết kiệm được chi phí vận chuyển, lưu kho bãi, từ đó đã nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu Vì vậy, các KCN có vai trò to lớn trong việc sản xuất sản phẩm hướng về xuất khẩu làm tăng kim ngạch xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia

1.4.2.4 Khu công nghiệp là đầu mối tạo việc làm và đào tạo nguồn nhân lực

Các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN hầu hết là các doanh nghiệp mới thành lập, nên đã thu hút được một lực lượng lao động lớn vào làm việc Thông thường việc giải quyết việc làm tại các KCN được thông qua các giai đoạn: Lúc mới hình thành các KCN thu hút lao động từ các ngành xây dựng để đáp ứng việc san lấp mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà xưởng, lắp đặt máy móc thiết bị Giai đoạn tiếp theo là thu hút đáng kể lực lượng lao động theo tính chất ngành nghề thuộc lĩnh vực đầu tư Ngoài ra, các KCN còn tham gia vào việc huấn luyện, đào tạo một đội ngũ các nhà quản lý giỏi, có kỹ năng nghề nghiệp bài bản để tiếp thu tốt nhất trình độ công nghệ sản xuất và công nghệ quản trị trên tiến, với tác phong công nghiệp Như vậy chính KCN là nơi đào tạo và tổ chức đội ngũ

Trang 21

những người lao động công nghiệp có trình độ cao Đội ngũ này là lực lượng tiên phong trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước

1.4.2.5 Khu công nghiệp góp phần phân công lại lao động ở trình độ cao hơn

Khu công nghiệp là nơi sản xuất tập trung, các KCN đã góp phần qui hoạch lại sản xuất công nghiệp trong nước Các doanh nghiệp ở đây có nhiều thuận lợi để mở rộng qui mô, đầu tư mới, cả chiều rộng lẫn chiều sâu, nhờ đó đã làm giá trị sản lượng công nghiệp gia tăng đáng kể Bên cạnh đó, thông qua việc cung cấp nguyên liệu, sản phẩm từ bên ngoài vào các KCN cũng đã đưa đến sự hình thành các vùng sản xuất nguyên liệu, các ngành sản xuất mới Từ đó góp phần qui hoạch lại ngành nghề sản xuất của vùng, của địa phương, một trong những tác động tích cực nhất của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước Từ quá trình thu hút vốn đầu tư, còn cần cả quá trình xây dựng các chính sách để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào những ngành sản xuất theo định hướng Đây vừa là quá trình phát triển sản xuất, đồng thời cũng là quá trình tổ chức, phân công lại lao động ở một trình độ cao hơn

1.5 Kinh nghiệm của một số nước và một số địa phương trong nước về phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp

1.5.1 Kinh nghiệm của Malaysia

Malaysia là quốc gia đất hẹp người đông, đất nông nghiệp chiếm phần lớn, sản xuất đạt hiệu quả không cao, lực lượng lao động nhiều và phần đông muốn làm việc trong các nhà máy xí nghiệp.Trong hoàn cảnh đó Malaysia đưa ra các giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu lao động :

Quá trình đào tạo kỹ năng nghề tại Malaysia: Phân tích nhu cầu dựa trên thông tin của thị trường lao động  Phân tích công việc  Phân tích thực hiện công việc  Phân tích cấu trúc công việc  Xây dựng tiêu chuẩn đào tạo  Cục phát triển

kỹ năng chứng nhận lao động đã qua đào tạo sau đó chuyển tới nhà tuyển dụng

Thời gian đào tạo nghề tại Malaysia thường là 2 năm phụ thuộc vào các cấp độ nghề khác nhau trong đó thời gian thực hành là 70-80% và học lý thuyết là 20-30%, thời gian học tập thường là từ 3-4 ngày tại doanh nghiệp và 1-2 ngày tại trường hoặc từ 3-4 tháng tại doanh nghiệp và 1-2 tháng tại trường Phương thức đánh giá thông qua kiểm tra, hàng tháng học viên được nhận tiền trợ cấp thêm từ Chính phủ

Trang 22

- Phát triển hệ thống cung ứng lao động, nâng cao vai trò các hoạt động của hệ thống các đơn vị giới thiệu việc làm của Nhà nước và của tư nhân để thực hiện việc tư vấn, giới thiệu việc làm và cung ứng lao động cho các doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu lao động

- Sử dụng lao động đảm bảo thiết thực và hiệu quả, doanh nghiệp xác định

cụ thể số lượng lao động cho từng vị trí công việc và đòi hỏi trình độ chuyên môn, tay nghề, nhiệm vụ và công việc phải làm; việc công khai, minh bạch các tiêu chuẩn cụ thể, quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động được thực hiện ngay từ khâu tuyển dụng lao động và trong quá trình làm việc; nhiều doanh nghiệp có chính sách khuyến khích người lao động làm việc có hiệu quả và

có sáng kiến; các doanh nghiệp quan tâm nhiều đến công tác đào tạo nghề tại doanh nghiệp, các phúc lợi cho người lao động để nâng cao hiệu quả trong công việc

1.5.2 Kinh nghiệm xây dựng không thành công KCX Bataan ở Philippine

Bên cạnh việc nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng KCN khá thành công của MaLaysia ,nhằm học hỏi những điều hay của nước bạn có nhiều điểm tương đồng; chúng ta cùng nhau tìm hiểu thêm Kinh nghiệm xây dựng không thành công KCX Bataan ở Philippine nhằm giảm thiểu những sai sót có thể xảy ra trong quá trình xây dựng và phát triển KCN tại Việt nam

Năm 1969, Chính phủ Philippine quyết định chuyển đô thị Mariveles thành một cảng nhập cảnh và thành lập một cơ quan chịu trách nhiệm về ngoại thương để lập kế hoạch phát triển và quản lý KCX Đến tháng 12/1972 đổi tên thành KCX Bataan, KCX này nằm gần thị trấn Mariveles, cách vịnh Manila 55km đường hàng không và cách thủ đô Manila 55km đường bộ, có diện tích 1.200ha

 Nguyên nhân dẫn đến không thành công của KCX Bataan

Thứ nhất là vị trí của KCX được lựa chọn chưa phù hợp KCX Bataan được xây dựng ở bờ biển, núi non biệt lập, kém phát triển.Do vậy để xây dựng KCX Bataan phải san bằng một số đồi, xây dựng đường xá và các phương tiện khác Thêm vào đó số dân không quá 5.000 người vì vậy phải di dân từ nơi khác đến Điều đó đòi hỏi phải xây nhà cửa, cơ sở phương tiện để phục vụ KCX Tất cả điều đó làm cho chi phí kết cấu hạ tầng tăng

Thứ hai là chi phí hạ tầng lớn Với chi phí phát triển hạ tầng lớn như vậy nên việc thu hút đầu tư kinh doanh tỏ ra yếu kém chỉ thu hút khoảng 50% so với dự kiến Điều đó làm cho chi phí sử dụng hạ tầng tăng cao hơn mức bình thường

Trang 23

Thứ ba là ngay sau khi được thành lập, Chính phủ đã có một số thay đổi về chính sách mở rộng kế hoạch kho hàng thuế quan Kế hoạch này không chỉ áp dụng cho KCX này mà còn cho các KCX khác nhằm khuyến khích chế biến xuất khẩu Với chính sách này đã làm cho KCX không phát huy hiêu quả

Thứ tư là chính sách ưu đãi đầu tư Nhiều công ty trong KCX cho rằng chính sách ưu đãi tài chính của họ bị giảm dần Cụ thể họ cũng phải nộp thuế sử dụng đất đai mặc dù trước đó có chủ trương không phải đóng thuế này

1.5.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp từ một số địa phương khác

1.5.3.1 Thành phố Hồ Chí Minh

Sau nhiều năm thành lập và phát triển thì Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương có khu công nghiệp và khu chế xuất (KCN - KCX) nhiều nhất cả nước Vấn đề cung ứng lao động đáp ứng yêu cầu phát triển cho các KCN - KCX đã được thành phố Hồ Chí Minh quan tâm, chú trọng và đề ra nhiều giải pháp nhằm giải quyết nhu cầu nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp trong KCN - KCX Một trong những giải pháp đó là cho ra đời các trung tâm dạy nghề và trung tâm giới thiệu việc làm

Hiện nay, trên toàn Thành phố có tất cả 17 trường dạy nghề công lập, 72 trường dạy nghề ngoài công lập và một số trung tâm thuộc các doanh nghiệp có chức năng dạy nghề Các trung tâm dạy nghề có số lượng lớn và rãi đều khắp các vùng có KCN - KCX đóng, đã góp phần đáp ứng nhu cầu lao động cho các KCN - KCX Ngoài ra còn một số trung tâm trực thuộc ngành và đông đảo các doanh nghiệp làm nhiệm vụ giới thiệu việc làm Các trung tâm này đã hợp thành một hệ thống cùng nhau đảm đương một phần lớn việc cung ứng lao động cho các doanh nghiệp KCN - KCX, bên cạnh một phần nhỏ là lao động do các doanh nghiệp trực tiếp tuyển dụng

Lý do thành công : Lãnh đạo TP Hồ Chí Minh có tầm nhìn và năng lực quản lý tốt Đây là địa phương đầu tiên đề xuất thành lập KCX sớm nhất cả nước Lãnh đạo Thành phố đã học hỏi kinh nghiệm từ các nước thành công và tìm tòi, sáng tạo nhằm bổ sung hoàn thiện thông qua thực tiễn Ngoài ra TP Hồ Chí Minh là nơi đi đầu trong cải cách hành chính, áp dụng công nghệ thông tin vào bộ máy hành chính trong đó phải kể đến cơ chế một cửa, một chổ Thêm vào đó TP Hồ Chí Minh còn thành công trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cung cấp cho KCN – KCX điều này đã góp phần không nhỏ trong thu hút đầu tư vào các KCN Tuy nhiên, vấn

Trang 24

đề môi trường và quy hoạch đô thị ở thành phố thời gian qua vẫn chưa được quan tâm đúng mức nên đã gây nhiều hậu quả nghiêm trọng

1.5.3.2 Bình Dương

Năm 1995 , KCN đầu tiên được thành lập ở Bình Dương đến nay đã có 28 KCN được thành lập tổng diện tích 8.979 ha trong đó có 24 khu đã đi vào hoạt động, vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đạt 1.600 tỷ đồng với 1.019 dự án (gồm

708 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, 311 dự án đầu tư trong nước) tổng doanh thu trong các KCN đạt 5.9 tỷ USD, thu hút 265.000 lao động

Lý do thành công: có điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý thuận lợi, nằm gần TP

Hồ Chí Minh, tận dụng cơ sở hạ tầng hiện đại và thị trường rộng lớn, nằm ở vùng Đông Nam Bộ, nền đất cứng thích hợp phát triển công nghiệp Đa dạng hóa các thành phần kinh tế xây dựng cơ sở hạ tầng, chủ động trong công tác kêu gọi huy động vốn, kêu gọi đầu tư, triển khai đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật UBND tỉnh Bình Dương thường tổ chức các cuộc hội thảo, gặp gỡ các nhà đầu tư

để xúc tiến đầu tư, lắng nghe ý kiến phản ánh và giải quyết khó khăn, vướng mắc trong thẩm quyền của tỉnh hoặc cùng các doanh nghiệp kiến nghị với Trung ương giải quyết khó khăn Có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, tạo yên tâm cho nhà đầu tư

1.5.4 Những bài học kinh nghiệm

Từ thực tiễn phát triển nguồn nhân lực của một số nước trên thế giới có thể rút ra những bài học kinh nghiệm sau:

- Hoàn thiện chính sách, pháp luật nhằm hỗ trợ cho người lao động thất nghiệp và cho những người đang làm việc

- Xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển nguồn nhân lực, cần xác định rõ các mục tiêu, các hoạt động liên quan đến việc phát triển toàn diện cả về

số lượng và chất lượng nguồn lao động, nhất là vấn đề sức khỏe, đào tạo chuyên môn

kỹ thuật và tay nghề cho người lao động, ý thức và sự hợp tác trong công việc, thái

độ và tác phong của người lao động

- Tăng cường công tác đào tạo nghề cho người lao động, hoàn thiện hệ thống đào tạo

Trang 25

- Nâng cao năng lực của hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm: Tổ chức các

hoạt động tư vấn, giới thiệu và cung ứng lao động, thông tin thị trường lao động, thực hiện các hoạt động giao dịch trên thị trường lao động

- Khai thác, đào tạo và sử dụng lao động trong nước: Việt Nam có lực

lượng lao động lớn, chủ yếu ở khu vực nông thôn và lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao, vì vậy để cung ứng nguồn lao động này và phải có các chương trình, các hoạt động để đào tạo lao động nông thôn, nhất là lao động trẻ, lao động ở khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp

 Bài học cho các doanh nghiệp trong KCN Tỉnh Tiền Giang:

- Xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động trong các khu công nghiệp, tổ chức thu thập thông tin về cung cầu lao động tại khu công nghiệp Phổ biến rộng rãi, kịp thời các thông tin: nhu cầu sử dụng lao động các doanh nghiệp, những yêu cầu đối với người lao động ở từng vị trí công việc; các thông tin về người lao động cần tìm việc làm Với mục tiêu bất cứ doanh nghiệp, người lao động nào muốn khai thác đều được đáp ứng một cách dễ dàng, đơn giản và kịp thời; tổ chức thực hiện tốt công tác dự báo về nguồn lao động, về nhu cầu sử dụng lao động trong từng năm

- Các doanh nghiệp KCN cần xây dựng kế hoạch cụ thể về đào tạo, nâng cao trình độ cho người lao động, đáp ứng yêu cầu hoạt động sản xuất, mở rộng và phát triển của doanh nghiệp mình

- Trong việc đào tạo nguồn nhân lực, cần gắn liền giữa lý thuyết với thực hành, giữa sản xuất với đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ cho nhu cầu lao động trong các KCN Hình thành các trung tâm dạy nghề ở mỗi huyện, thị xã có KCN là

mô hình cần có sự quan tâm, đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo

- Các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp KCN cần có sự phối hợp trong xác định ngành nghề đào tạo và nhu cầu tuyển dụng để nhân lực không thừa ở ngành này mà lại thiếu ở ngành kia, khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng lao động gắn với các

cơ sở đào tạo và ngược lại các cơ sở đào tạo gắn với doanh nghiệp để đào tạo, bồi dưỡng

và sử dụng lao động một cách có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của lao động của doanh nghiệp

Trang 26

- Cần chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao, lao động có tay nghề để tạo điều kiện thu hút các dự án đầu tư vào KCN, nhất là các dự án có công nghệ cao

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trên cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực đã khẳng định vai trò quan trọng và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp; đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội; phải kết hợp thỏa mãn lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động Qua kinh nghiệm của các nước Malaysia, Philippine, TP.Hồ Chí Minh và Bình Dương cho thấy việc phát triển nguồn nhân lực phụ thuộc rất nhiều vào vai trò của Nhà nước Xây dựng các giải pháp đồng bộ để khắc phục sự thiếu hụt về lao động nhằm đáp ứng nhu cầu lao động Các giải pháp được thực hiện thông qua các chương trình theo hướng tạo điều kiện để người lao động, người sử dụng lao động và các trường đào tạo phát huy hết khả năng Bên cạnh đó điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý cũng như các chính sách của nhà nước, xu thế hội nhập hiện nay là những yếu tố quan trọng để phát triển thành công KCN

Đánh giá và hoạch định nguồn nhân lực cho khu công nghiệp Tân Hương, Tiền Giang nhằm đáp ứng nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp giữ vai trò quyết định đến việc thu hút các nhà đầu tư vào KCN và giải quyết việc làm cho người lao động sẽ có ý nghĩa thiết thực và mang lại hiệu quả kinh tế cao

Trang 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở KHU CÔNG NGHIỆP TÂN HƯƠNG

TỈNH TIỀN GIANG

2.1 Tổng quan khu công nghiệp Tân Hương tỉnh Tiền Giang

Khu công nghiệp Tân Hương được Thủ tướng Chính phủ thành lập và phê duyệt tại Quyết định số 1386/CP-CN ngày 06/11/2002 với diện tích là 197 ha, tổng vốn đầu tư là 581.6 tỷ đồng Do công ty TNHH Nhựt Thành Tân làm chủ đầu tư

Khu công nghiệp Tân Hương nằm ở xã Tân Hương, huyện Châu Thành, cách TP.Mỹ Tho 12km, cách TP Hồ Chí Minh 50km, nằm cạnh quốc lộ 1A và tuyến đường cao tốc TP Hồ Chí Minh - Trung Lương

Đến nay KCN Tân Hương đã thu hút được 22 dự án trong đó có 11 dự án thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hiện đang hoàn thiện cơ sở hạ tầng và kêu gọi đầu tư

Các lĩnh vực khuyến khích đầu tư là Điện, điện tử, công nghệ thông tin, sản xuất thiết bị điện, điện tử, tin học, thông tin liên lạc, thiết bị văn phòng, vật liệu điện tử, dịch vụ tin học và phần mềm Cơ khí: Chế tạo thiết bị, phụ tùng cơ giới hóa nông nghiệp, thiết bị phụ tùng chế biến lương thực, nông sản; chế tạo máy động lực, thiết bị phụ tùng cho ngành xây dựng, giao thông vận tải và công nghiệp vật liệu xây dựng, thiết bị phụ tùng khác; Hóa chất: Sản xuất các hóa chất công nghiệp

cơ bản, phân bón, hóa mỹ phẩm, dược phẩm và công nghiệp in: Công nghiệp hàng tiêu dùng: Dệt may, sản xuất sợi len, vải cao cấp, giày dép, bao bì, nhựa, đồ chơi; chế biến nông lâm sản, thực phẩm và đồ uống; công nghiệp giấy; công nghiệp gốm

sứ, thủy tinh, vật dụng gia đình và hàng thủ công mỹ nghệ

2.2 Thực trạng nguồn nhân lực của tỉnh Tiền Giang và của các doanh nghiệp trong KCN Tân Hương tỉnh Tiền Giang

2.2.1 Thực trạng nguồn nhân lực của tỉnh Tiền Giang

2.2.1.1 Qui mô và tốc độ tăng dân số tỉnh Tiền Giang

Theo số liệu thống kê đến năm 2012 của tỉnh Tiền Giang, cho thấy dân số toàn tỉnh là 1.690.118 dân, trong đó dân số nằm trong độ tuổi lao động từ 15 tuổi trở lên là 996,17 nghìn dân chiếm 58,9% Tuy nhiên về chất lượng lao động không cao bởi vì tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 10,2%, lao động trong nông nghiệp,

Trang 28

lâm nghiệp và thủy sản 623.331 người chiếm 62,57% lực lượng lao động Tính đến cuối quí I/2013, số lao động đang làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiền Giang là 40.800 lao động chiếm 4,1% tổng số lao động trong độ tuổi đi làm, lực lượng lao động còn lại làm việc các ngành và lĩnh vực khác

Dân số tỉnh Tiền Giang, trong 10 năm tăng bình quân 0,41%, thấp hơn bình quân của cả nước, vùng ĐBSCL và đa số các tỉnh trong Vùng

2.2.1.2 Đánh giá chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Tiền Giang

 Về trình độ kỹ thuật, công nghệ mới và kinh nghiệm quản lý

Các doanh nghiệp trong KCN thời gian ban đầu thường sử dụng nguồn nguyên liệu dễ tìm trên thị trường như các ngành dệt may, sản xuất sợi len, vải cao cấp, giày dép, bao bì, nhựa…Càng về sau, khi độ an toàn của môi trường đầu tư cho phép, các nhà đầu tư nâng công nghệ lên, đi vào những lĩnh vực công nghệ tiên tiến như cơ khí, tự động hóa có hàm lượng chất xám cao hơn, sử dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật nâng cao năng suất, hiệu quả của doanh nghiệp

Mặt khác, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp ở KCN đã chuyển giao dần việc quản lý và điều hành sản xuất cho người lao động Việt Nam Hầu hết các doanh nghiệp đã bố trí, sử dụng người lao động Việt Nam vào các vị trí, chức danh công việc quan trọng như: tổ trưởng các bộ phận, quản đốc, trưởng phòng, giám đốc, phó giám đốc, hoặc thành viên Hội đồng quản trị Qua đó, giúp lao động Việt Nam tiếp cận và học hỏi trình độ quản lý tiên tiến của nước ngoài

 Về giải quyết việc làm

Việc hình thành các KCN đã thu hút, giải quyết việc làm ngày càng nhiều cho người lao động trong và ngoài tỉnh Tiền Giang Tính đến tháng 12/2012 các KCN đã thu hút được gần 48.000 lao động, lao động ngoài tỉnh chiếm tỉ lệ 20% tổng số lao động KCN

Lao động làm việc trong KCN liên tục tăng qua các năm, đặc biệt là trong những năm gần đây, tốc độ tăng hàng năm đều trên 50%, do các KCN đang trong giai đoạn phát triển và điều này hứa hẹn các năm tiếp theo số lao động càng tăng nhanh hơn trước

Vấn đề tồn tại hiện nay là nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và số lượng Lao động qua đào tạo những năm qua, tuy đã có những chuyển biến tích cực nhưng cơ cấu chưa hợp lý, nên vẫn tồn tại tình trạng thừa lao động có bằng cấp, thiếu lao động có kỹ thuật, lao động qua đào tạo vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp

Trang 29

Số lao động tại các doanh nghiệp luôn bị biến động và không ổn định do

tâm lý "đứng núi này, trông núi nọ" của người lao động Đồng thời, chương trình

giảng dạy tại các trường còn mang nặng tính lý thuyết, chậm đổi mới, nội dung đào tạo chưa gắn với nhu cầu thực tiễn; nhiều lao động đã được đào tạo qua trường lớp nhưng khi được tuyển dụng, doanh nghiệp vẫn phải đào tạo lại Do đó, việc cung ứng nguồn nhân lực, đặc biệt là lao động chất xám, kỹ thuật cao, luôn gặp khó khăn

 Về thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội

Chủ trương phát triển các KCN tập trung đã được Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang sớm quan tâm, triển khai thực hiện và thực tế

đã mang lại bước phát triển mới cho công nghiệp của tỉnh, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Thực hiện chủ trương của Nhà nước tập trung phát triển công nghiệp vào các KCN, với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống kết cấu hạ tầng đã từng bước hoàn thiện; năng lực sản xuất đã đầu tư trong những năm qua đang tiếp tục phát huy trong tương lai; nguồn lực về tài nguyên lao động, năng lực sản xuất công nghiệp còn nhiều tiềm năng để phát triển Việc hình thành các KCN đã và đang huy động được một lượng vốn khá lớn để phát triển kinh tế; góp phần giải quyết việc làm ổn định cho hàng ngàn lao động địa phương và tác động lan tỏa tạo việc làm cho hàng ngàn lao động gián tiếp trong các lĩnh vực dịch vụ như ăn uống, vui chơi giải trí; cung ứng lao động; tư vấn thiết kế, xây dựng; bảo hiểm , tạo sự dịch chuyển lao động từ các vùng nông thôn đến các KCN và ngành nghề nông nghiệp từ các vùng lân cận KCN dịch chuyển dần sang sản xuất công nghiệp phụ trợ, dịch vụ

Các KCN đã phát huy được hiệu quả sản xuất; là nơi tiếp nhận các phương pháp quản lý hiện đại vận hành trên các dây chuyền công nghiệp của các đối tác nước ngoài và các liên doanh; tác động thiết thực đối với phát triển đô thị; tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến phục vụ xuất khẩu; góp phần đào tạo cán bộ quản lý và công nhân lành nghề

Việc qui hoạch xây dựng các KCN đã tạo điều kiện phát triển công nghiệp theo quy hoạch, tránh tự phát, phân tán; tiết kiệm đất đai; sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, tiết kiệm chi phí sản xuất Tập trung các cơ sở sản xuất nên hiệu quả sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật tiết kiệm; thuận lợi trong việc kiểm soát, xử lý chất thải

và bảo vệ môi trường; là địa điểm tốt để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ các trung tâm thành phố, nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững Đặc biệt, các

Trang 30

dự án đầu tư vào các KCN triển khai nhanh và thuận lợi hơn so với bên ngoài KCN, và chính sự phát triển nhanh và có chất lượng của các KCN tác động tích cực đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển, các KCN tỉnh Tiền Giang đã đóng góp lớn vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tiền Giang Các KCN trên địa bàn tỉnh đã thực hiện được 5 mục tiêu kinh tế đề ra, thể hiện trên các nhiệm vụ: (1) Thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước; (2) Giải quyết việc làm; (3) Du nhập

kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến; (4) Tăng năng lực xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ; (5) Góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của tỉnh phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

 Về nguồn lao động Tiền Giang

Dân số trung bình tỉnh Tiền Giang tăng bình quân bằng 0,4%/năm, bình quân mỗi năm dân số tăng thêm 6.317 người, trong đó dân số trong độ tuổi lao động tăng 10.508 người

- Biến động cơ học dân số của tỉnh 10 năm qua là giảm cơ học, bình quân hàng năm giảm cơ học khoảng 13.400 người, chủ yếu lao động trong độ tuổi đi làm việc, đi học…ở các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, đặc biệt là TP.HCM

Như vậy, nguồn lao động của tỉnh chủ yếu do tăng tự nhiên về dân số và có giảm do di chuyển lao động sang những nơi khác

Tỷ lệ lao động tham gia các hoạt động kinh tế ngày càng tăng Tuy nhiên, tỷ

lệ giảm cơ học dân số của tỉnh khá cao, chủ yếu là lực lượng lao động trong độ tuổi

đi làm việc ngoài tỉnh; tình trạng không có việc làm có xu hướng tăng…đây cũng là những thách thức đối với nguồn nhân lực của tỉnh trong giai đoạn tới

2.2.2 Thực trạng nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp trong KCN Tân Hương tỉnh Tiền Giang:

2.2.2.1 Đánh giá nhu cầu tuyển dụng các doanh nghiệp ở khu công nghiệp Tân Hương

Nhu cầu tuyển dụng hàng năm tại các doanh nghiệp trong KCN Tân Hương cũng tăng nhanh Theo thời gian, càng về sau nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp càng lớn, năm 2008: 1.176 lao động, năm 2009:1.246 lao động, năm 2010: 807 lao động, năm 2011: 1.242 lao động và năm 2012: 1.929 lao động Bình

Trang 31

quân hàng năm nhu cầu tuyển dụng lao động giai đoạn 2008 - 2012 tại các doanh nghiệp trong KCN Tân Hương là 1.280 người

Bảng 2 1 Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động tại các doanh nghiệp trong KCN Tân Hương qua các năm ( 2008-2012) Stt Năm Số lao động cần

tuyển (người)

Số lao động được tuyển dụng (người)

Tỷ lệ lao động đáp ứng (%)

Nguồn: Ban Quản lý các KCN tỉnh Tiền Giang

Tuy nhiên, so với nhu cầu tuyển dụng thì số lao động được tuyển vào làm việc tại các doanh nghiệp trong KCN Tân Hương khá cao Bình quân số lao động được tuyển hàng năm là 1.211 người, tỷ lệ lao động đáp ứng là 94.86% Đây là tỷ

lệ đáp ứng tương đối cao so với nhu cầu lao động của các doanh nghiệp ngày một tăng như hiện nay

Bảng 2 2 Nhu cầu tuyển dụng lao động tại các doanh nghiệp trong KCN Tân

Hương (năm 2012 và 2013)

Tên doanh nghiệp

Nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp năm 2012(người)

Nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp năm 2013 (người)

Công ty cổ phần chế biến thực phẩm

Nhà máy nước đóng chai

Công ty CP Quảng Việt Tiền –

Trang 32

(Anh Quốc)

Cty TNHH túi xách Simone (Hàn

Nguồn Ban quản lý các KCN tỉnh Tiền Giang

Điều tra nhu cầu tuyển dụng lao động tại 22 doanh nghiệp đang hoạt động tại KCN Tân Hương, có 07 doanh nghiệp là có nhu cầu tuyển thêm lao động để mở rộng sản xuất trong những năm tiếp theo, các doanh nghiệp còn lại đã đủ lao động

để hoạt động sản xuất, kinh doanh

Qua bảng 2.2 ta thấy, tổng số lao động cần thêm cho năm 2012 là 3.490 người và trong năm 2013 là 4.170 người Có 04 doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài (FDI) cần tuyển lao động với số lượng khoảng 2.650 người năm 2012 và 2.900 năm 2013 Nguyên nhân của điều này là do các doanh nghiệp FDI muốn tận dụng nguồn nhân công rẽ tại Việt Nam để tạo lợi thế cạnh tranh trong sản xuất, đây cũng là thực trạng chung của nhiều quốc gia đang phát triển có doanh nghiệp nước ngoài đầu tư

Khảo sát, điều tra về hình thức tuyển dụng lao động tại các doanh nghiệp KCN, kết quả cho thấy: 22 doanh nghiệp trong KCN Tân Hương chủ yếu tuyển lao động theo hình thức tự tuyển dụng thông qua các kênh: quảng cáo, về trực tiếp các

xã thị trấn để tuyển; lực lượng lao động được tuyển dụng theo hình thức này lên đến 80% và 20% còn lại được tuyển dụng thông qua thông qua các sàn giao dịch việc làm do Trung giới thiệu việc làm tỉnh Tiền Giang tổ chức

Qua các số liệu trên có thể thấy thực trạng chung hiện nay tại các KCN là

số lượng lao động chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp, tình trạng thiếu lao động đang diễn ra, nhất là lao động ở các ngành may mặc Tại một số doanh nghiệp có sử dụng nhiều lao động như Công ty cổ phần Tex Giang (May mặc xuất khẩu);Cty cổ phần Quảng Việt Tiền Giang (Sản xuất kinh doanh vải sợi);Cty TNHH Freeview Industrial Việt Nam(Sản xuất giày dép các loại); Công ty TNHH túi xách Simone Việt Nam (Sản xuất gia công túi xách, vali) việc tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp lại càng gặp rất nhiều khó khăn, các Công ty

Trang 33

hàng tuần, hàng tháng điều có kế hoạch về các xã, thị trấn hoặc qua các tỉnh lân cận

để tuyển dụng lao động đáp ứng yêu cầu sản xuất và mở rộng

Thực trạng trên xuất phát từ việc các doanh nghiệp trong KCN có ngành nghề sản xuất kinh doanh giống nhau chủ yếu là ngành may như: may quần áo, may giầy, túi xách, nên dẫn đến tình trạng cạnh tranh lao động giữa các doanh nghiệp có cùng ngành nghề sản xuất, công nhân nhà máy này bỏ việc sang nhà máy khác khiến lao động tại các doanh nghiệp không ổn định để sản xuất

Một nguyên nhân khác của tình trạng thiếu lao động ở các KCN là thu nhập thấp và lao động xuất thân từ các vùng nông thôn phải thuê nhà, điện, nước

… chi phí cao Đó cũng là nguyên nhân khiến nhiều lao động không gắn kết lâu dài với doanh nghiệp, có thể bỏ việc bất cứ lúc nào, hoặc chuyển sang làm cho một doanh nghiệp khác chỉ với thu nhập cao hơn vài chục nghìn đồng/tháng Và một nguyên nhân không thể không nhắc đến là các sàn giao dịch việc làm chưa phát huy hết vai trò, chức năng của mình

Để khắc phục tình trạng thiếu hụt lao động, nhiều doanh nghiệp đã đưa ra những giải pháp như áp dụng các chính sách chăm lo cho người lao động Ngoài việc tăng thu nhập, nhiều doanh nghiệp còn bố trí chỗ ở, hỗ trợ tiền thuê trọ, thời gian học việc vẫn có mức thu nhập đủ sống… Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp còn có cơ chế khen thưởng động viên kịp thời như tiền chuyên cần, tặng quà ngày sinh nhật, ngày lễ, phục vụ ăn trưa miễn phí… Tuy nhiên, nếu lao động phổ thông

xa nhà với mức thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống, nhất là lao động nữ không có tích lũy thì khó có thể yên tâm làm việc lâu dài cho doanh nghiệp

2.2.2.2 Đánh giá chất lượng nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp ở khu công nghiệp Tân Hương

Theo số liệu khảo sát tại 22 doanh nghiệp đang hoạt động tại KCN Tân Hương từ năm 2010 đến năm 2012 thì số lao động làm việc tại các doanh nghiệp

phần lớn là lao động phổ thông cụ thể năm 2012 lao động từ lớp 1 đến lớp 9 là

5.826 người chiếm tỷ lệ 64%, lao động từ lớp 9 đến lớp 12 là 2.087 người chiếm 22,93%, công nhân bật trung học chuyên nghiệp là 576 người chiếm 6,33%, Người lao động trình độ Cao đẳng, đại học là 602 người 6,61% và lao động trình trên đại học là 12 người chiếm 0,13%

Trang 34

Bảng 2 3 Trình độ lao động tại các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Tân

Hương từ năm 2010 đến năm 2012

Tốt nghiệp PTTH (lớp 12)

Trung học

Cao đẳng, đại học

Trên đại học

Nguồn Ban quản lý các KCN tỉnh Tiền Giang

2.2.2.3 Đánh giá nhu cầu tuyển dụng lao động

Số lượng lao động được tuyển dụng vào làm việc tại các doanh nghiệp KCN Tân Hương bình quân hàng năm là 904 người, trong đó phần lớn lao động được tuyển

là lao động phổ thông từ lớp 1 đến lớp 9 là 586 người, lao động phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12 là 203 người, trình độ trung học chuyên nghiệp là 57 người và lao động trình độ cao đẳng, đại học là 55 người, trên đại học 02 người

Bảng 2 4 Số lượng lao động được tuyển dụng theo trình độ chuyên môn tại các doanh nghiệp trong KCN Tân Hương qua các năm (2008-2012)

Đvt: người

Stt Năm

Số lượng lao động được tuyển dụng

Từ lớp

1 đến lớp 9

Tốt nghiệp PTTH (lớp 12)

Trung học

Cao đẳng, đại học

Trên đại học

Trang 35

4 2011 1027 638 253 68 65 2

Tổng cộng 4.519 2.928 1.013 286 278 12

Nguồn: Ban Quản lý các KCN tỉnh Tiền Giang

Bên cạnh đó lực lượng lao động tại các doanh nghiệp trong KCN Tân Hương có độ tuổi rất trẻ, trong tổng số 9.103 lao động trong năm 2012 thì lao động

từ 18 - 35 tuổi chiếm tỷ lệ 77,7%, lao động từ 36 - 45 tuổi chiếm tỷ lệ 19,12%, lao động từ 46 - 50 tuổi chiếm tỷ lệ 2,14% và độ tuổi khác là 1,04%

Bảng 2 5 Độ tuổi lao động tại các DN trong KCN Tân Hương (năm 2012)

Nguồn số liệu Báo cáo tại doanh nghiệp

Lao động trẻ là một lợi thế cho sự phát triển các KCN Người lao động trẻ

có thể nhanh chóng thích ứng công việc, tiếp thu các kiến thức, công nghệ mới trong sản xuất; họ lại có sức khoẻ, nhanh nhẹn, có hoài bão để phát triển sự nghiệp của mình, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp phát triển Tuy nhiên, bên cạnh đó lực lượng lao động trẻ vẫn còn thiếu kinh nghiệm trong công việc, thiếu tính kiên trì, chịu khó, dễ nản chí, dễ dàng nhảy việc khi gặp khó khăn, đây cũng là hạn chế chung của lao động trẻ trong xã hội hiện nay

2.2.2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

Để đánh giá thực tế của doanh nghiệp trong KCN Tân Hương về chất lượng lao động khi mới được tuyển dụng tại 22 doanh nghiệp đang hoạt động, chúng tôi tiến

hành phát phiếu khảo sát và thu được kết quả cụ thể sau:

Trang 36

Bảng 2 6 Đánh giá của doanh nghiệp về chất lượng lao động khi mới được

tuyển dụng

Nguồn số liệu khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp KCN Tân Hương

Qua bảng 2.6 ta có thể thấy, trình độ tay nghề của người lao động khi

mới được tuyển dụng theo ý kiến của các doanh nghiệp như sau: 84,6% ý kiến

cho là đạt mức trung b́ình; 15,4% ý kiến cho là cho rằng khá; mức điểm bình

quân của chỉ tiêu này là 3,15, đánh giá theo thang điểm 5 thì đạt mức trung bình

khá (trong thang điểm 5)

Các chỉ tiêu Kém Trung bình Khá Giỏi

Điểm trung bình

Số phiếu trả lời

Tỷ lệ % phiếu được hỏi

Số phiếu trả lời

Tỷ lệ

% phiếu được hỏi

Số phiếu trả lời

Tỷ lệ

% phiếu được hỏi

Số phiếu trả lời

Tỷ lệ

% phiếu được hỏi

Trang 37

kiến cho rằng trung bình; 7,69 % cho rằng khá, mức điểm bình quân của chỉ tiêu này

là 2,31 dưới của mức trung bình

Về chỉ tiêu kỷ năng làm việc độc lập: : 76,92% ý kiến cho là trung bình; 11,54 % cho rằng khá, 7,629 % ý kiến cho rằng giỏi; mức điểm bình quân của chỉ tiêu này là 3,23 cận trên mức trung bình

Về chỉ tiêu kỷ năng làm việc nhóm : 11,54% ý kiến cho là kém; 76,92% ý kiến cho là trung bình; 11,54 % cho rằng khá, 7,629 % ý kiến cho rằng giỏi; mức điểm bình quân của chỉ tiêu này là 3,38 cận trên mức trung bình

Về chỉ tiêu kỷ năng thích ứng công việc mới:84,62 % ý kiến cho là trung bình; 11,54 % cho rằng khá, mức điểm bình quân của chỉ tiêu này là 3,19 cận trên mức trung bình

Từ số liệu trên ta có thể thấy thực trạng chung hiện nay tại các KCN là chất lượng lao động khi mới tuyển dụng chưa đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp Đối với lao động được tuyển dụng đã qua đào tạo thì khả năng tiếp cận và thích ứng công việc thực tế còn hạn chế do khả năng làm việc của người lao động thấp; tay nghề, trình độ chuyên môn chưa cao Đa số học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trường dạy nghề, các trường đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ vẫn còn thiếu kỹ năng cơ bản để có thể thực hiện công việc độc lập, kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ hạn chế… Lao động phổ thông được tuyển dụng vào làm việc tại các doanh nghiệp chủ yếu là lao động từ nông nghiệp chuyển sang chưa được qua đào tạo, chưa có tác phong công nghiệp, mang nặng thói quen và tập quán sản xuất nhỏ, kỷ luật lao động lỏng lẻo, thiếu trách nhiệm đối với công việc, quan hệ hợp tác yếu và hầu hết

là không biết ngoại ngữ… Số lượng lao động này khi được tuyển dụng vào doanh nghiệp thì hầu hết các doanh nghiệp phải tổ chức đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp Tình trạng này bắt nguồn từ thực tế là khả năng đào tạo nghề của chúng ta còn nhiều hạn chế, đặc biệt chất lượng tay nghề được đào tạo vẫn còn khá

xa so với yêu cầu thực tế

Trang 38

2.2.3 Đánh giá các yếu tố tác động đến người lao động nhằm thu hút, phát triển nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp trong KCN Tân Hương

2.2.3.1 Ý kiến đánh giá của người lao động về mức độ quan tâm của các doanh nghiệp đến vấn đề chỗ ở, đi lại của công nhân:

Khảo sát 100 công nhân lao động tại các doanh nghiệp trong KCN Tân Hương mang tính khách quan và trung thực, phản ảnh đúng thực trạng đang diễn

ra, phiếu khảo sát được phân bổ điều cho từng loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân về mức độ quan tâm của Doanh nghiệp mà họ đang làm việc đến vấn đề ở, đi lại của người lao động ta thu được kết quả:

Bảng 2 7 Đánh giá của người lao động về mức độ quan tâm của các doanh

nghiệp đến vấn đề chỗ ở, đi lại của công nhân

Chỉ tiêu được điều tra

Không quan tâm

Có quan tâm

Rất quan tâm

Điểm bình quân

Số phiếu trả lời

Tỷ lệ

% phiếu được hỏi

Số phiếu trả lời

Tỷ lệ

% phiếu được hỏi

Số phiếu trả lời

Tỷ lệ

% phiếu được hỏi

Nguồn số liệu khảo sát

Qua số liệu trên ta có thể thấy, đa số ý kiến của công nhân cho rằng công

ty có quan tâm đến vấn đề hỗ trợ chi phí thuê nhà trọ hoặc xây dựng nhà ở cho người lao động thuê, chiếm tỷ lệ 51% ý kiến được điều tra; 39% ý kiến công nhân cho rằng các công ty không quan tâm đến việc hỗ trợ một phần chi phí thuê nhà

Trang 39

thì mức điểm bình quân của chỉ tiêu được điều tra là 1,71 (có quan tâm).(áp dụng thang đo ba bậc)

Về vần đề hỗ trợ chi phí đi lại hoặc bố trí xe đưa đón người lao động đi làm việc của các công ty: 41% ý kiến công nhân cho rằng các công ty có quan tâm đến vấn đề này; 49% ý kiến cho rằng công ty không quan tâm đến việc hỗ trợ một phần chi phí đi lại cho người lao động khi đi làm việc; 10% ý kiến cho rằng công ty rất quan tâm đến vấn đề này và đã bố trí xe đưa đón công nhân đi làm việc; mức điểm bình quân của chỉ tiêu này là 1,61 (có quan tâm)

Hiện nay, khu công nghiệp Tân Hương đa số công nhân phải tự thuê nhà trọ để ở Việc quy hoạch phát triển các KCN trong những năm qua thường chưa đồng bộ với quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đã làm ảnh hưởng đến tính bền vững trong phát triển KCN; chưa chú trọng gắn việc xây dựng quy hoạch chi tiết từng doanh nghiệp với quy hoạch nhà ở, công trình công cộng phục vụ đời sống người lao động làm việc trong KCN Tình trạng lao động nhập cư (khoảng 20%), công nhân ở xa KCN, chưa có nhà ở gần KCN nên phổ biến, đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp, không những cho bản thân người công nhân mà cả địa phương nơi có KCN Chính sự quy hoạch phát triển không đồng bộ, chưa có điều kiện quan tâm đúng mức đến yếu tố con người, nhất là vấn đề an sinh cho người lao động đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất lao động, quản lý lao động, đào tạo lao động, ùn tắc giao thông trong giờ cao điểm

Dịch vụ xây nhà trọ cho thuê của tư nhân tại các vùng có KCN khá phát triển, nhà trọ chủ yếu là các dãy nhà cấp 4 lợp tôn, phòng ở chật hẹp, diện tích sử dụng bình quân 4-12 m²/người không đảm bảo những điều kiện tối thiểu về vệ sinh, điện, nước… Các phòng trọ này đều không đáp ứng được các qui định tối thiểu về nhà trọ do Bộ Xây dựng ban hành Tại KCN Tân Hương, thu nhập bình quân của 1 công nhân/tháng làm việc trong các doanh nghiệp trong nước khoảng 3,5 triệu đồng; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 5,979 triệu đồng Với mức thu nhập này, chỉ có người lao động tại địa phương mới tạm đảm bảo nhu cầu sống tối thiếu cho bản thân, còn người lao động nhập cư thì rất khó khăn do phải trang trải thêm nhiều chi phí khác như: thuê nhà ở, tiền điện, tiền nước… (chưa kể đến chi phí cho nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, học tập) Không gian ở thiếu

Trang 40

thốn nên hầu hết công nhân lao động sinh sống tại các khu nhà trọ tự thuê ít có điều kiện xem sách báo, truyền hình, nghe đài, tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao Các khu nhà trọ của tư nhân đều hình thành do tự phát, lộn xộn, xen lẫn trong khu dân cư, là một trong những nguyên nhân đưa đẩy công nhân đến các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại các khu dân cư, nguy cơ làm tha hóa một bộ phận người lao động Một số công nhân ở xa các KCN khắc phục bằng việc cho xe đưa rước đi về hàng ngày như công nhân ở các xã, huyện lân cận như Cai Lậy, Chợ Gạo, Châu Thành…

Những năm gần đây, trước tình hình khó khăn trong thu hút lao động, một số doanh nghiệp trong KCN Tân Hương đã tự mua đất để xây dựng nhà trọ cho công nhân hoặc hỗ trợ một khoản tiền đi lại, thuê trọ cho công nhân; nhằm giải quyết nhu cầu về nhà ở của người lao động công ty mình

Việc hình thành các khu nhà ở công nhân sẽ góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động và gia đình của họ, chất lượng cuộc sống được nâng lên, đảm bảo khả năng tái tạo sức lao động Các khu nhà ở tập trung được quản lý thống nhất, chặt chẽ, là nơi đảm bảo về an ninh trật tự, an toàn xã hội và môi trường sống, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức tuyên truyền, phổ biến và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, và các quy định của pháp luật

2.2.3.2 Về đời sống văn hóa tinh thần của người lao động

Khảo sát 100 công nhân lao động tại KCN Tân Hương về mức độ quan tâm của doanh nghiệp đến vấn đề văn hóa, tinh thần của người lao động, ta thu được kết quả:

Ngày đăng: 12/07/2016, 14:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nguyễn Tấn Thịnh (2005), Quản lý nhân lực trong doanh nghiệp, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhân lực trong doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Tấn Thịnh
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 2005
6. Phan Văn Thạnh “Phát triển nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2015
10. Website của tỉnh Tiền Giang: http:// www.tiengiang.gov.vn 10.Website của Bộ Kế hoạch và Đầu tư: http://www.mpi.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: www.tiengiang.gov.vn
1. Ban quản lý các KCN tỉnh Tiền Giang (2012), Báo cáo tổng kết các KCN năm 2010 và chương trình kế hoạch năm 2012 Khác
2. Cục Thống kê, Niên giám thống kê tỉnh Tiền Giang Khác
3. Đề án Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2011- 2020 Khác
5. Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ, Quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế Khác
8. Phạm Thăng (2006), "Mười lăm năm xây dựng và phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất&#34 Khác
9. Trần Kim Dung (2011) Quản trị nguồn nhân lực . NXB Tổng hợp TP.HCM Khác
11. Website Trung tâm giới thiệu việc làm Tiền Giang Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ phát triển nguồn nhân lực - Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương
Hình 1.1 Sơ đồ phát triển nguồn nhân lực (Trang 10)
Bảng 2. 5 Độ tuổi lao động tại các DN trong  KCN Tân Hương (năm 2012) - Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương
Bảng 2. 5 Độ tuổi lao động tại các DN trong KCN Tân Hương (năm 2012) (Trang 35)
Bảng 2. 6 Đánh giá của doanh nghiệp về chất lượng lao động khi mới được - Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương
Bảng 2. 6 Đánh giá của doanh nghiệp về chất lượng lao động khi mới được (Trang 36)
Bảng 2. 7  Đánh giá của người lao động về mức độ quan tâm của các doanh - Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương
Bảng 2. 7 Đánh giá của người lao động về mức độ quan tâm của các doanh (Trang 38)
Bảng 2.8 Đánh giá của người lao động về mức độ quan tâm về văn hóa, tinh - Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương
Bảng 2.8 Đánh giá của người lao động về mức độ quan tâm về văn hóa, tinh (Trang 41)
Bảng 2. 9 Mức lương bình quân/ tháng của người lao động tại - Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương
Bảng 2. 9 Mức lương bình quân/ tháng của người lao động tại (Trang 43)
Bảng 2. 10  Kết quả khảo sát ý kiến của người lao động về mức độ quan tâm - Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương
Bảng 2. 10 Kết quả khảo sát ý kiến của người lao động về mức độ quan tâm (Trang 43)
Bảng 2. 11 Số lao động tham gia bảo hiểm và ký kết hợp đồng lao động - Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương
Bảng 2. 11 Số lao động tham gia bảo hiểm và ký kết hợp đồng lao động (Trang 45)
Bảng 2. 12 Mạng lưới các cơ sở đào tạo của tỉnh                                                                                                 ĐVT: Cơ sở - Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương
Bảng 2. 12 Mạng lưới các cơ sở đào tạo của tỉnh ĐVT: Cơ sở (Trang 46)
Bảng 2.13 Nhu cầu tuyển dụng lao động qua đào tạo và số lao động qua đào - Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương
Bảng 2.13 Nhu cầu tuyển dụng lao động qua đào tạo và số lao động qua đào (Trang 47)
Bảng 2. 14 Số lượng lao động phân theo ngành nghề  tại các doanh nghiệp trong KCN Tân Hương                                                                 ĐVT: Người  Ngành nghề  Lao động   Lao động qua - Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương
Bảng 2. 14 Số lượng lao động phân theo ngành nghề tại các doanh nghiệp trong KCN Tân Hương ĐVT: Người Ngành nghề Lao động Lao động qua (Trang 48)
Bảng 2.15 Nhu cầu lao động tại các doanh nghiệp KCN Tân Hương từ năm - Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương
Bảng 2.15 Nhu cầu lao động tại các doanh nghiệp KCN Tân Hương từ năm (Trang 51)
Bảng 2.16  Tỷ lệ lao động nữ làm việc tại KCN Tân Hương - Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương
Bảng 2.16 Tỷ lệ lao động nữ làm việc tại KCN Tân Hương (Trang 52)
Hình 3.1 Quá trình hoạch định NNL - Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương
Hình 3.1 Quá trình hoạch định NNL (Trang 65)
Hình 3. 2 Sơ đồ Quy trình đào tạo nghề cho các doanh nghiệp - Một số giải pháp nhằm quản lý tốt nguồn nhân lực trong khu công nghiệp tân hương
Hình 3. 2 Sơ đồ Quy trình đào tạo nghề cho các doanh nghiệp (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w