TRẦN THANH THỦYTÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG CẤP TÍNH Ở TRẺ DƯỚI 5 TUỔI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN BẮC VIỆT NAM Chuyên ngành : Y TẾ CÔNG CỘNG ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ
Trang 1TRẦN THANH THỦY
TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG CẤP TÍNH
Ở TRẺ DƯỚI 5 TUỔI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN BẮC VIỆT NAM
Chuyên ngành : Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Phạm Văn Phú 2.TS Cao Thị Thu Hương
HÀ NỘI – 2015
Trang 2CBNV Cán bộ nhân viên
MAM Moderate Acute malnutrition – Suy dinh dưỡng cấp tính vừa MUAC (Mid-Upper-Arm Circumference) – Chu vi vòng cánh tayNCBSM Nuôi con bằng sữa mẹ
NKHH Nhiễm khuẩn hô hấp cấp
SAM Severe Acute malnutrition – Suy dinh dưỡng cấp tính nặng
TTDD Tình trạng dinh dưỡng
UNICEF The United Nations Children's Fund–Quỹ nhi đồng liên hợp quốcWHO World Health Organization – Tổ chức Y tế thế giới
Trang 3Chương 1 3
TỔNG QUAN 3
1.1 Đặc điểm dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi 3
1.2 Suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 3
1.2.1 Một số khái niệm về dinh dưỡng và suy dinh dưỡng 3
1.2.1 Khái niệm về suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 4
1.3 Dịch tễ học suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 4
1.3.1 Dịch tễ học suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới 4
1.3.2 Dịch tễ học suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi ở Việt Nam 5
1.4 Nguyên nhân suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 6
Năm 1998, UNICEF đã phát triển mô hình nguyên nhân SDD Mô hình này cho thấy nguyên nhân của SDD rất đa dạng, liên quan chặt chẽ với các vấn đề y tế, lương thực thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình Mô hình này chỉ ra các nguyên nhân ở các cấp độ khác nhau: nguyên nhân trực tiếp; nguyên nhân cơ bản; nguyên nhân tiềm tàng , .6
1.2.1.1.4.1 Nguyên nhân trực tiếp 8
Mắc bệnh tật và tình trạng nhiễm khuẩn 9
1.4.2 Nguyên nhân tiềm tàng 9
1.4.3 Nguyên nhân cơ bản 10
1.5 Yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 11
1.6 Hậu quả của suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi 13
1.6.1 Tăng nguy cơ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi 13
1.6.2 Tăng nguy cơ mắc các bệnh lý 13
1.6.3 Chậm phát triển thể chất 14
1.6.4 Chậm phát triển trí tuệ 14
1.6.5 Suy dinh dưỡng và sức khỏe khi trưởng thành 14
1.7 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi 15
1.7.1 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi 15
1.7.2 Phân loại tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 16
Trang 41.8.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 17
1.8.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 18
Chương 2 19
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
2.2 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 20
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 20
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 20
2.3.3 Các biến số và chỉ số chính trong nghiên cứu 21
2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu 24
2.4 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 28
2.4.1 Xử lý và phân tích số liệu 29
2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 29
Chương 3 31
DỰ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đặc điểm cơ bản của đối tượng nghiên cứu 31
3.2 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu 31
Nhận xét: 32
3.3 Tình trạng dinh dưỡng cấp tính của đối tượng nghiên cứu 32
3.3.1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng cấp tính theo chu vi vòng cánh tay 32
3.3.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng cấp tính theo cân nặng/chiều cao 33
3.3.3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng cấp tính ở nhóm tuổi theo chiều cao/cân nặng 33
3.3.4 Tỷ lệ SDD cấp tính ở nhóm tuổi theo chu vi vòng cánh tay 33
3.3.5 Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo nguyên nhân 34
3.4 Yếu tố liên quan tới tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính ở đối tượng nghiên cứu 34
3.4.1 Học vấn của mẹ 34
3.4.2 Nghề nghiệp của mẹ 35
Trang 53.4.5 Nuôi dưỡng bằng sữa mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu 35
3.4.6 Thời điểm ăn dặm 36
3.4.7 Thời điểm cai sữa 36
Chương 4 36
DỰ KIẾN BÀN LUẬN 36
4.1 Đặc điểm cơ bản của đối tượng nghiên cứu 36
4.2 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu 36
4.3 Tình trạng dinh dưỡng cấp tính của đối tượng nghiên cứu 36
4.3.1 Tỷ lệ SDD cấp tính theo phương pháp đo chu vi vòng cánh tay 36
4.3.2 Tỷ lệ SDD cấp tính theo cân nặng/chiều cao 36
4.3.3 Tỉ lệ SDD cấp tính từng nhóm tuổi theo chiều cao/cân nặng 36
4.3.4 Tỉ lệ suy dinh dưỡng cấp tính theo nhóm tuổi bằng MUAC 36
4.3.5 Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo nguyên nhân 36
4.4 Yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính 36
4.4.1 Học vấn của mẹ 36
4.4.2 Nghề nghiệp của mẹ 36
4.4.3 Kinh tế gia đình 37
4.4.4 Cân nặng lúc sinh 37
4.4.5 Bú hoàn toàn 6 tháng đầu 37
4.4.6 Thời điểm ăn dặm 37
4.4.7 Thời điểm cai sữa 37
DỰ KIẾN KẾT LUẬN VÀ KHUYÊN NGHỊ 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 3
TỔNG QUAN 3
1.1 Đặc điểm dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi 3
1.2 Suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 3
1.2.1 Một số khái niệm về dinh dưỡng và suy dinh dưỡng 3
1.2.1 Khái niệm về suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 4
1.3 Dịch tễ học suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 4
1.3.1 Dịch tễ học suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới 4
Bảng 1.1: Tỷ lệ SDD cấp tính vừa và nặng trẻ < 5 tuổi tại châu Á năm 2014 5
1.3.2 Dịch tễ học suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi ở Việt Nam 5
Bảng 1.2: Tỷ lệ SDD ở trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam 6
1.4 Nguyên nhân suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi 6
Năm 1998, UNICEF đã phát triển mô hình nguyên nhân SDD Mô hình này cho thấy nguyên nhân của SDD rất đa dạng, liên quan chặt chẽ với các vấn đề y tế, lương thực thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình Mô hình này chỉ ra các nguyên nhân ở các cấp độ khác nhau: nguyên nhân trực tiếp; nguyên nhân cơ bản; nguyên nhân tiềm tàng , .6
1.2.1 1.4.1 Nguyên nhân trực tiếp 8
Mắc bệnh tật và tình trạng nhiễm khuẩn 9
1.4.2 Nguyên nhân tiềm tàng 9
Trang 71.6 Hậu quả của suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi 13
1.6.1 Tăng nguy cơ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi 13
1.6.2 Tăng nguy cơ mắc các bệnh lý 13
1.6.3 Chậm phát triển thể chất 14
1.6.4 Chậm phát triển trí tuệ 14
1.6.5 Suy dinh dưỡng và sức khỏe khi trưởng thành 14
1.7 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi 15
1.7.1 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi 15 1.7.2 Phân loại tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi .16 Bảng 1.3 đánh giá, phân loại suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi ,, 16
1.8 Tình hình nghiên cứu suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới và ở Việt Nam 17
1.8.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 17
1.8.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 18
Chương 2 19
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
2.2 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 20
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 20
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 20
2.3.3 Các biến số và chỉ số chính trong nghiên cứu 21
Trang 82.4 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 28
2.4.1 Xử lý và phân tích số liệu 29
2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 29
Chương 3 31
DỰ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đặc điểm cơ bản của đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 31
3.2 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3.2 phân loại Tình trạng dinh dưỡng theo CN/T; CC/T; CN/CC 31
Nhận xét: 32
3.3 Tình trạng dinh dưỡng cấp tính của đối tượng nghiên cứu 32
3.3.1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng cấp tính theo chu vi vòng cánh tay 32
Bảng 3.3: Tỷ lệ SDD theo chu vi vòng cánh tay 32
3.3.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng cấp tính theo cân nặng/chiều cao 33
Bảng 3.4: Tỷ lệ SDD theo cân nặng/chiều cao 33
3.3.3 Tỷ lệ suy dinh dưỡng cấp tính ở nhóm tuổi theo chiều cao/cân nặng 33
Bảng 3.5: Tỷ lệ SDD cấp tính từng nhóm tuổi theo chiều cao/cân nặng 33
3.3.4 Tỷ lệ SDD cấp tính ở nhóm tuổi theo chu vi vòng cánh tay 33
Bảng 3.6: Tỷ lệ SDD cấp tính ở nhóm tuổi bằng đo chu vi vòng cánh tay 33
3.3.5 Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo nguyên nhân 34
Bảng 3.7: Tỷ lệ suy dinh dưỡng cấp tính theo nguyên nhân 34
Trang 93.4.1 Học vấn của mẹ 34
Bảng 3.8: Liên quan giữa học vấn của mẹ và SDD cấp tính ở trẻ34 3.4.2 Nghề nghiệp của mẹ 35
Bảng 3.9: Liên quản giữa nghề nghiệp của mẹ và SDD cấp tỉnh ở trẻ 35
3.4.3 Kinh tế gia đình 35
Bảng 3.10: Liên quan giữa kinh tế gia đình và SDD cấp tính của trẻ 35
3.4.4 Cân nặng lúc sinh 35
Bảng 3.11: Liên quan cân nặng lúc sinh và SDD của trẻ 35
3.4.5 Nuôi dưỡng bằng sữa mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu 35
Bảng 3.12: Nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu và SDD cấp tính 35
3.4.6 Thời điểm ăn dặm 36
Bảng 3.13: Liên quan giữa thời điểm ăn dặm và SDD cấp tính 36
3.4.7 Thời điểm cai sữa 36
Bảng 3.14: Thời điểm cai sữa ảnh hưởng tới SDD cấp tính ở trẻ 36 Chương 4 36
DỰ KIẾN BÀN LUẬN 36
4.1 Đặc điểm cơ bản của đối tượng nghiên cứu 36
4.2 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu 36
4.3 Tình trạng dinh dưỡng cấp tính của đối tượng nghiên cứu 36
4.3.1 Tỷ lệ SDD cấp tính theo phương pháp đo chu vi vòng cánh tay 36
4.3.2 Tỷ lệ SDD cấp tính theo cân nặng/chiều cao 36
4.3.3 Tỉ lệ SDD cấp tính từng nhóm tuổi theo chiều cao/cân nặng 36
Trang 104.4 Yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính 36
4.4.1 Học vấn của mẹ 36
4.4.2 Nghề nghiệp của mẹ 36
4.4.3 Kinh tế gia đình 37
4.4.4 Cân nặng lúc sinh 37
4.4.5 Bú hoàn toàn 6 tháng đầu 37
4.4.6 Thời điểm ăn dặm 37
4.4.7 Thời điểm cai sữa 37
DỰ KIẾN KẾT LUẬN VÀ KHUYÊN NGHỊ 37
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ là tình trạng bệnh lý mang tính chất cộng đồng ở nhiều nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tập trung chủ yếu ở Châu Á và Châu Phi Ở nước ta trong những năm vừa qua đã và đang triển khai Chương trình Quốc gia Phòng chống suy dinh dưỡng đạt hiệu quả cao nên tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em đã giảm đáng kể
SDD không chỉ làm chậm phát triển về thể chất, trí tuệ của trẻ mà còn
là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của trẻ dưới 5 tuổi trên toàn cầu Ngoài
ra, nó để lại hậu quả lâu dài lên tầm vóc khi trưởng thành, giảm khả năng lao động và ảnh hưởng đến thu nhập quốc dân
Suy dinh dưỡng cấp tính (wasting) là một dạng của suy dinh dưỡng, đặc trưng bởi chỉ số chiều cao/tuổi bình thường nhưng cân nặng/chiều cao <-2SD, biểu thị suy dinh dưỡng mới diễn ra do giảm đột ngột lượng thực phẩm
ăn vào hoặc do mắc một bệnh truyền nhiễm đặc biệt là tiêu chảy Các chuyên gia ước tính rằng gần 20 triệu trẻ em trên thế giới đang bị SDD cấp tính nặng (SAM) Hầu hết là trẻ em ở Nam Á và cận sa mạc Sahara thuộc Châu Phi Theo WHO, trẻ em bị SAM có nguy cơ tử vong cao gấp 5-20 lần so với trẻ
em có tình trạng dinh dưỡng tốt SAM có thể trực tiếp gây ra cái chết hoặc gián tiếp làm tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ em bị tiêu chảy và viêm phổi Ước tính hiện tại cho thấy rằng khoảng 1 triệu trẻ em chết mỗi năm từ SAM
Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu lớn về tình trạng SDD protein năng lượng ở trẻ dưới 5 tuổi Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại các nghiên cứu tập trung chủ yếu nhằm tìm ra tỷ lệ và các yếu tố liên quan của SDD thể nhẹ cân và thấp còi, các nghiên cứu về SDD thể gày còm còn mờ
Trang 12nhạt, trong khi các nghiên cứu về SDD cấp tính vừa hoặc nặng và các yếu
tố liên quan tới tình trạng SDD cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi chưa có nhiều Với tỷ tử vong cao và hậu quả nặng nề của chúng, từ thực tế trên, chúng tôi
thực hiện nghiên cứu đề tài “Tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ
dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam” được thực hiện với các mục tiêu sau:
1 Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại một
số tỉnh miền Bắc Việt Nam.
2 Mô tả một số yếu tố liên quan tới tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam.
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Đặc điểm dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi
Trẻ em dưới 5 tuổi dễ bị SDD nhất vì giai đoạn này nhu cầu về các chất dinh dưỡng rất lớn bao gồm các yếu tố sinh năng lượng (Glucid, Lipid, Protein), các vitamin, khoáng chất, đồng thời sự phát triển của trẻ phụ thuộc rất lớn vào tình trạng nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ Nếu một sự thay đổi bất kỳ nào như thiếu dinh dưỡng hay dinh dưỡng không hợp lý ít nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ em như tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng, giảm trí tuệ, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường, toàn diện của trẻ sau này
Trẻ dưới 5 tuổi cơ quan chức năng phát triển nhanh nhưng chưa toàn diện, đặc biệt là khả năng sản xuất miễn dịch của trẻ chưa đầy đủ và chức năng bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh mà bộ máy tiêu hóa có vai trò quyết định đến sự phát triển thể chất của trẻ Về đặc điểm bệnh lý thời kỳ này hay gặp là nhiễm khuẩn hô hấp, rối loạn tiêu hóa, biếng ăn dẫn đến SDD, thiếu máu, còi xương,…cho nên vệ sinh thực phẩm, thức ăn thích hợp theo tuổi và tiêm phòng đầy đủ là những yếu tố tích cực phòng bệnh để duy trì và phát triển
1.2 Suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi
1.2.1 Một số khái niệm về dinh dưỡng và suy dinh dưỡng
Dinh dưỡng hợp lý là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối
các thành phần dinh dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội
Tính trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm về chức phận, cấu trúc
và hóa sinh, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể Tình trạng dinh dưỡng là kết quả tác động của một hay nhiều yếu tố như: tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình, thu nhập thấp, điều kiện vệ sinh môi trường, công tác
Trang 14chăm sóc trẻ, gánh nặng công việc lao động của bà mẹ,…khi tình trạng dinh dưỡng tốt nó phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) thể hiện có vấn đề sức khỏe hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai
Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi
chất dinh dưỡng Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhưng ít nhiều ảnh hưởng tới sự phát triển về thể chất, tinh thần và vận động của trẻ
Các thể suy dinh dưỡng: SDD bao gồm các thể chậm phát triển trong bào
thai dẫn đến cân nặng sơ sinh thấp, thể nhẹ cân (CN/T), thể thấp còi (CC/T), thể gầy còm (CN/CC) và các biểu hiện của thiếu vi chất dinh dưỡng ,
1.2.1 Khái niệm về suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi
Suy dinh dưỡng cấp tính (wasting) là một dạng của suy dinh dưỡng,
đặc trưng bởi chỉ số chiều cao theo tuổi bình thường nhưng cân nặng/chiều cao <-2SD, biểu thị suy dinh dưỡng mới diễn ra do chế độ ăn hiện tại chưa phù hợp với nhu cầu hoặc do trẻ mắc một bệnh truyền nhiễm đặc biệt là tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp
SDD cấp tính làm suy yếu các chức năng của hệ thông miễn dịch dẫn đến bệnh nền trở lên nghiêm trọng hơn, kéo dài thời gian mắc và điều trị, tăng nguy cơ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi
1.3 Dịch tễ học suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi
1.3.1 Dịch tễ học suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới
Hàng năm trên thế giới có khoảng 6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong ở các nước đang phát triển, một cách trực tiếp hay gián tiếp có liên quan tới nguyên nhân do SDD và hơn ¼ trẻ dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển ở tình trạng SDD thể nhẹ cân Cũng theo UNICEF, mặc dù một số nước đã đạt được những tiến bộ trong việc giảm tỷ lệ SDD nhưng tỷ lệ trẻ SDD nhẹ cân
Trang 15trung bình ở các nước đang phát triển chỉ giảm 5% trong 15 năm qua
Theo Tổ chức Y tế thế giới phân tích trên 11,6 triệu trường hợp tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển cho thấy có tới 54% (6,3 triệu trẻ) có liên quan đến thiếu dinh dưỡng, trong đó chủ yếu là SDD vừa và nhẹ, nếu gộp lại với các nguyên nhân do sởi, tiêu chảy, viêm đường hô hấp cấp
và sốt rét thì lên tới 74% Năm 2011, 19 triệu trẻ em dưới 5 tuổi SDD cấp tính nặng trên toàn cầu, hầu hết tập trung ở Châu Phi và Đông Nam Á
Bảng 1.1: Tỷ lệ SDD cấp tính vừa và nặng trẻ < 5 tuổi tại châu Á năm 2014
13.915.66519.8145.27813101518.6174.8
1.3.2 Dịch tễ học suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi ở Việt Nam
Năm 2010, tỷ lệ trẻ em SDD theo chỉ số CC/T (SDD thể thấp còi) toàn quốc là 29,3%, trong đó 31 tỉnh có tỷ lệ trên 30% (mức cao), 2 tỉnh trên 40% (mức rất cao) Mức giảm trung bình SDD thấp còi trong 15 năm qua (1995-2010) là 1,3%/năm Ước tính đến năm 2020, Việt Nam còn 1,3 triệu trẻ em
Trang 16dưới 5 tuổi SDD nhẹ cân, khoảng 2,1 triệu trẻ em SDD thấp còi và khoảng
Thể gầy còm (%)
Nguồn: Số liệu giám sát dinh dưỡng của Viện Dinh dưỡng
Theo số liệu thống kê, tỷ lệ SDD dinh dưỡng trẻ em đã giảm đáng kể Ở nước ta, tỷ lệ SDD phân bố không đều nhau giữa các vùng và khu vực Tỷ lệ SDD tập trung chủ yếu ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc (20,9%) và các tỉnh Tây Nguyên (25%), những nơi điều kiện kinh tế vùng cùng khó khăn
1.4 Nguyên nhân suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi
Năm 1998, UNICEF đã phát triển mô hình nguyên nhân SDD Mô hình này cho thấy nguyên nhân của SDD rất đa dạng, liên quan chặt chẽ với các vấn đề y tế, lương thực thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình Mô hình này chỉ ra các nguyên nhân ở các cấp độ khác nhau: nguyên nhân trực tiếp; nguyên nhân cơ bản; nguyên nhân tiềm tàng , Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đánh giá TTDD của trẻ dưới 5 tuổi
và tìm hiểu các yếu tố liên quan ở nhiều vùng miền khác nhau Tỷ lệ SDD khác nhau giữa các vùng miền, tình hình kinh tế xã hội và thực hành chăm sóc nuôi dưỡng trẻ Nguyên nhân gây SDD ở các vùng cũng khác nhau nhưng đều tuân theo mô hình chung như UNICEF đã xác định
Trang 17NGUYÊN NHÂN SUY DINH DƯỠNG VÀ TỬ VONG Ở TRẺ EM
Thiếu dịch vụ y tế và
vệ sinh môi trường
Thượng tầng kiến trúc về chính trị và tư tưởng
Các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội
Cơ cấu kinh tế
Nguồn tiềm năng
Trang 181.2.1 1.4.1 Nguyên nhân trực tiếp
Thiếu ăn và đói nghèo
Chế độ dinh dưỡng của trẻ không đảm bảo số lượng và chất lượng Trong đó, chất lượng khẩu phần ăn cần xem xét hơn là số lượng khẩu phần, trong đó vai trò của protein động vật chất béo, vitamin, vi chất, acid amin và acid béo cần thiết Nếu khẩu phần ăn của trẻ không đảm bảo đủ nhu cầu protein trẻ sẽ chậm tăng cân, rồi giảm cân dẫn đến chậm phát triển chiều cao, trong trường hợp thiếu protein kéo dài thì trẻ sẽ bị thấp còi ,,
Thiếu ăn, hay nói rộng hơn là đói nghèo, là một trong những nguyên nhân trực tiếp của SDD Tỷ lệ đói nghèo ở khu vực miền núi cao hơn rất nhiều so với khu vực thành thị cả về đói nghèo kinh tế nói chung và đói nghèo
về lương thực thực phẩm
Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2004 cho thấy tỷ lệ đói nghèo ở miền núi chiếm 27,5% và thiếu lương thực là 8,9%, trong khi đó khu vực thành thị tương ứng là 10,8% và 3,5% Theo bảng số liệu giám giám sát tình trạng SDD ở trẻ em trên toàn quốc của Viện dinh dưỡng giai đoạn 2009 –
2010, ta thấy tỷ lệ SDD chung 16,2%; tỷ lệ SDD cấp tính chiếm 6,7% Tỷ lệ SDD cao nhất tập trung ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc (20,9%) và các tỉnh Tây Nguyên (25%)
Nghiên cứu của Lê Thành Đạt cho thấy SDD thể nhẹ cân ở những trẻ gia đình có kinh tế loại nghèo cao gấp 2,06 lần (21,2%) so với những trẻ gia đình có kinh tế không nghèo (11,5%) Còn ở thể thấp còi, trẻ bị SDD ở hộ gia đình có kinh tế loại nghèo cao gấp 1,37 lần (32,9%) so với những trẻ gia đình
có kinh tế không nghèo (26,4%)
Trang 19Nghiên cứu của Hồ Quang Trung cho thấy tỷ lệ SDD ở trẻ thể nhẹ cân
là 36,6% đối với những hộ gia đình đói, nghèo, còn ở hộ gia đình có kinh tế khá, giàu là 26,6%
ăn Mặt khác, trẻ SDD làm suy giảm hệ thống miễn dịch, dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn và hậu quả SDD ngày một nặng thêm
Khi trẻ bị sốt, cứ mỗi lần thân nhiệt tăng 1độ C thì chuyển hóa cơ bản tăng hơn 10%, do đó nhu cầu về năng lượng cũng tăng Khi sốt cơ thể mất nhiều nước và điện giải qua da, đường thở, mất vitamin qua phân và nước tiểu… nên nhu cầu về nước, vitamin và khoảng chất tăng lên rất nhiều, khi sốt trẻ biếng ăn do giảm tiết men tiêu hóa
Năm 2004, Caulfield L E.và cộng sự đã nghiên cứu nguyên nhân tử vong do SDD sau khi trẻ bị tiêu chảy, viêm phổi, sốt rét, sởi cho kết quả: tiểu chảy: 60,7%; viêm phổi: 52,3%; sởi: 44,8% và sốt rét là 57,3% Số trẻ mắc bệnh dẫn đến SDD và tử vong chiếm 52,5%
1.4.2 Nguyên nhân tiềm tàng
Do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ trẻ em, kiến thức chăm sóc của người nuôi trẻ, nước sạch vệ sinh môi trường
Người ta thấy rằng tình trạng thiếu dịch vụ chăm sóc y tế, vệ sinh môi trường kém, không có hệ thống nước sạch, dẫn đến bệnh tật phát sinh và không được ngăn chặn đẩy lùi sẽ làm tăng tỷ lệ SDD của trẻ
Trang 20Tình hình nhiễm giun do ăn uống không đảm bảo vệ sinh cũng là vấn
đề sức khỏe cộng đồng nổi cộm đối với trẻ em như: giun đũa, giun móc, giun tóc, giun kim Ở Việt Nam, tỷ lệ nhiễm giun chung dao động rất lớn từ 17,0-97,0%, tùy theo lứa tuổi và vùng sinh thái, trong đó tỷ lệ nhiễm giun ở phụ nữ
và trẻ em vùng cư dân nông nghiệp rất cao Nhiễm ký sinh trùng đường ruột cũng là một nguyên nhân quan trọng gây ra SDD và thiếu máu ở trẻ em Đã
có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về mối liên quan giữa SDD và bệnh
ký sinh trùng đường ruột Nghiên cứu của Hadju và cộng sự ở vùng dân nghèo thành phố của Indonesia cho thấy rằng có mối liên quan giữa nhiễm ký sinh trùng đường ruột với sự phát triển chiều cao của trẻ Nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng cho thấy tẩy giun định kỳ 6 tháng/lần có tác dụng cải thiện TTDD và thiếu máu ở trẻ em
Ngoài ra, kiến thức, thực hành về dinh dưỡng của bà mẹ và người chăm sóc trẻ có vai trò quan trọng trong công tác phòng chống SDD trẻ em
1.4.3 Nguyên nhân cơ bản
Do cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội thấp kém, tình trạng nghèo đói lạc hậu và mất bình đẳng về kinh tế SDD là hậu quả của đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung, bao gồm cả mất bình đẳng về kinh tế Với cấu trúc chính trị xã hội và cơ sở hạ tầng kinh tế thấp kém là nguyên nhân cơ bản của SDD
Ở một đất nước có nền kinh tế chậm phát triển thì dẫn đến kinh tế thấp kém, kinh tế thấp kém dẫn đến vấn đề an ninh lương thực không được đảm bảo tỷ lệ đói nghèo cao làm cho không có khả năng đảm bảo lương thực thực phẩm cho con người và đối tượng dễ bị tổn thương nhất là bà mẹ trẻ em Ngay cả các cấu trúc kiến trúc chính trị xã hội cũng ảnh hưởng đến tình trạng SDD như phong tục tập quán lạc hậu làm cho đời sống sinh hoạt lạc hậu, kiêng khem quá mức, coi thường ngược đãi phụ nữ trẻ em các hiểu biết về
Trang 21khoa học y tế chăm sóc sức khỏe thấp kém dẫn đến cuộc sống phó mặc vào tự nhiên làm tác động xấu đến đời sống sức khỏe mà bà mẹ trẻ em là đối tượng
bị ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe bệnh tật phát sinh và dẫn đến bị SDD
và tử vong Khủng hoảng kinh tế làm cho việc đảm bảo an ninh lương thực và khả năng cung cấp các dịch vụ y tế dinh dưỡng tại các nước đang phát triển càng trở lên khó khăn
1.5 Yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi
Chăm sóc dinh dưỡng bà mẹ khi có thai
Trước khi có thai, dinh dưỡng và thói quen dưỡng tốt sẽ cung cấp đầy
đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho thời kỳ có thai, cho sự phát triển và lớn lên của thai nhi Những nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố nguy cơ dẫn đến trẻ sơ sinh có cân nặng thấp và TTDD kém của người mẹ trước khi có thai và chế độ ăn không cân đối, không đủ năng lượng hoặc thiếu vi chất và khoáng cần thiết như sắt, canxi…
Những bà mẹ trong khi có thai lao động nặng nhọc, không được nghỉ ngơi đầy đủ cũng là yếu tố ảnh hưởng tới cân nặng sơ sinh Yếu tố bệnh tật của người
mẹ và đẻ thiếu tháng cũng làm tăng tỷ lệ trẻ sơ sinh có cân nặng thấp
Nuôi con bằng sữa mẹ
Sữa mẹ là nguồn thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Sữa mẹ đầy
đủ các chất dinh dưỡng với tỷ lệ cân đối các chất dinh dưỡng dễ hấp thu và các enzyme, kháng thể có giá trị sinh học cao, giúp trẻ có khả năng chống lại một số bệnh nhiễm khuẩn trong thời kỳ đầu khi sức đề kháng còn chưa hoàn chỉnh Trẻ cần được bố thường xuyên và kéo dài tới 18 – 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn (19,20)
Nuôi con bằng sữa mẹ UNICEF coi nuôi con bằng sữa mẹ là biện pháp hàng đầu bảo vệ sức khoẻ trẻ em, do sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ Theo
Trang 22khuyến cáo của chuyên gia dinh dưỡng, đứa trẻ cần được bú mẹ trong vòng giờ đầu sau sinh và giúp làm giảm nguy cơ SDD.
Theo tác giả Lê Thị Hợp và cộng sự (2000), tiến hành nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tình trạng SDD ở trẻ em Việt Nam cho thấy mặc dù 87,1% bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ trong ít nhất 1 năm nhưng chỉ có 4,3% trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn 4 tháng đầu Tác giả cũng nhận thấy việc trẻ không được bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu và cai sữa sớm chậm lớn hơn, phát triển cân nặng và chiều cao kém hơn hơn những trẻ được nuôi bằng sữa
mẹ hoàn toàn và cai sữa sau 18 tháng
Chế độ ăn bổ sung
Ăn bổ sung (hay còn gọi là ăn sam, ăn dặm) là trẻ được bổ sung thêm thêm các thức ăn/đồ uống khác ngoài sữa mẹ Theo một nghiên cứu của WHO trên 22.857 trẻ thuộc 9 nước đang phát triển cho thấy bằng chứng khoa học rằng sữa mẹ chỉ thõa mãn nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ trong vòng 6 tháng đầu
Thời gian bắt đầu ăn bổ sung theo khuyến cáo chung là khi trẻ tròn 6 tháng tuổi Trong một bữa ăn bổ sung hợp lý cho trẻ, cần có sự phối hợp đầy
đủ giữa 4 nhóm thực phẩm theo một tỷ lệ cân đối Nguyễn Thị Hải Anh, Lê Thị Hợp và cộng sự thấy trẻ ăn bổ sung không hợp lý có nguy cơ SDD tăng 2,7-4 lần
Cách chăm sóc trẻ khi trẻ bị bệnh
Chăm sóc trẻ chưa đúng cách do rào cản của các tập quán lạc hậu, đặc biệt khi trẻ bị ốm, bà mẹ thường kiêng khem như kiêng nước, kiêng ăn khi trẻ
bị sởi, cúng bái khi trẻ ốm ảnh hưởng tới TTDD của trẻ
Chăm sóc khi trẻ bị bệnh có vai trò quan trọng để phòng chống SDD ở trẻ dưới 5 tuổi Khi trẻ bị ốm, trẻ ăn ít hơn do: trẻ không có cảm giác thèm ăn, trẻ mệt, nôn hoặc đau bụng Khi đó cần khuyến khích trẻ bú và ăn kể cả khi
Trang 23trẻ không muốn ăn, tăng số lần cho trẻ bú và cho ăn làm nhiều bữa, cho trẻ ăn thức ăn mềm, dễ tiêu.
1.6 Hậu quả của suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi
Các chuyên gia dinh dưỡng đã khẳng định rằng SDD là nguyên nhân sâu xa của sức khỏe kém và làm gia tăng chi phí y tế trên toàn thế giới Đã có nhiều báo cáo khoa học về mức độ phổ biến của SDD, những tác hại, bệnh tật
và tử vong do SDD gây ra SDD để lại hậu quả rất lớn về mặt xã hội và kinh
tế nhưng nó hoàn toàn có thể phòng tránh được
1.6.1 Tăng nguy cơ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi
Suy dinh dưỡng, nghèo đói, tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi có mối liên quan mật thiết với nhau Đó là câu trả lời tại sao trẻ em ở những nước nghèo chết sớm hơn và tỷ lệ cao hơn những nước có thu nhập cao Ở những nghèo 50% trẻ em dưới 5 tuổi chết là do SDD, hậu quả của đói ăn
Năm 1997, Tổ chức Y tế thế giới phân tích trên 11,6 triệu trường hợp tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển cho thấy có tới 54% (6,3 triệu trẻ) có liên quan đến thiếu dinh dưỡng, trong đó chủ yếu là SDD vừa và nhẹ
Những đứa trẻ bị SDD, thiếu các vi chất cần thiết như vitamin A, sắt, kẽm…, khả năng miễn dịch kém, trẻ thường xuyên mắc các bệnh nhiễm khuẩn Người ta ước tính khoảng 50 – 60% trẻ dưới 5 tuổi tử vong nguyên nhân tiềm ẩn là SDD Trong đó, 50 – 70% tử vong do bệnh tật như: tiêu chảy, sởi, sốt rét, nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em trên toàn cầu do SDD gây ra
1.6.2 Tăng nguy cơ mắc các bệnh lý
Suy dinh duỡng làm cho trẻ em dễ bị cảm nhiễm với các bệnh nhiễm trùng, nhất là các bệnh đường hô hấp, đường ruột và khi mắc thì diễn biến xấu hơn, gia tăng tỷ lệ tử vong SDD là điều kiện thuận lợi để các bệnh lý này xảy
Trang 24ra và kéo dài, làm cho trẻ em ăn uống kém, nhu cầu năng lượng gia tăng nên SDD ngày càng trở nên nặng nề hơn.
Hậu quả của SDD là làm giảm hấp thu tại đường tiêu hóa, giảm mức lọc cầu thận, thay đổi chức năng hệ tim mạch, thay đổi dược động học của thuốc, tỷ lệ tái nhập viện cao, chất lượng cuộc sống giảm Trên bệnh nhân có SDD tỉ lệ xuất hiện biến chứng nhiều hơn từ 2-20 lần Vì vậy chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhất trong bệnh viện rất quan trọng nhất là bệnh nhân nặng
Trẻ SDD thấp còi thường hay mắc các bệnh nhiễm khuẩn do suy giảm
hệ miễn dịch và sau này dễ có nguy cơ thừa cân, béo phì, đái tháo đường, tim mạch, tăng huyết áp,… Ở bé gái khi lớn lên nếu chiều cao thấp dễ gây đẻ khó, nguy cơ đẻ nhẹ cân (dưới 2.500 g), chiều dài thấp và vòng đời SDD thấp còi lại tái diễn
1.6.3 Chậm phát triển thể chất
Thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân trực tiếp làm cho tất cả các hệ cơ quan của cơ thể giảm phát triển, bao gồm cả hệ cơ xương nhất là khi tình trạng thiếu dinh dưỡng diễn ra sớm như SDD bào thai và trước khi trẻ được 2 tuổi, nếu trẻ em bị SDD có thể để lại những hậu quả về thể chất và tinh thần không phục hồi được và kéo sang thế hệ sau Nếu tình trạng SDD kéo dài đến thời gian dậy thì, chiều cao của trẻ em sẽ càng bị ảnh hưởng trầm trọng hơn Chiều cao của của được quy định bởi di truyền nhưng dinh dưỡng chính là điều kiện cần thiết để đạt tối đa tiềm năng di truyền của mình
1.6.4 Chậm phát triển trí tuệ
SDD làm trẻ em chậm phát triển trí tuệ, nhất là ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của não bộ trong giai đoạn trẻ em dưới 6 tuổi Trí thông minh dễ dàng bị ảnh hưởng nếu trẻ bị SDD bào thai và dưới 12 tháng tuổi
1.6.5 Suy dinh dưỡng và sức khỏe khi trưởng thành
Tầm vóc của dân tộc sẽ chậm tăng trưởng nếu tình trạng SDD không được cải thiện qua nhiều các thế hệ Khả năng lao động về thể lực cũng như trí lực của những người SDD trong quá khứ hay trong hiện tại đều không đạt
Trang 25đến mức tối ưu, là một lãng phí vô cùng lớn với những nước đang phát triển
có nhu cầu về nguồn nhân lực rất Nguồn nhân lực trong tương lai cũng sẽ bị ảnh hưởng vì tầm vóc và thể lực của các lớp thanh thiếu niên liên quan đến sức khỏe sinh sản
1.7 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi
1.7.1 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi
TTDD là tình trạng sức khỏe của cá nhân hay cộng đồng ảnh hưởng bởi chế độ ăn và việc sử dụng các chất dinh dưỡng trong cơ thể Hiện nay, các phương pháp được dùng để đánh giá TTDD của trẻ em dưới 5 tuổi bao gồm:
− Nhân trắc học
− Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống
− Khám lâm sàng, đặc biệt chú ý tới các triệu chứng thiếu dinh dưỡng kín đáo và rõ ràng
− Các xét nghiệm chủ yếu là hoá sinh (máu, nước tiểu )
− Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụt dinh dưỡng
− Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong để tìm hiểu mối liên quan giữa bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng
− Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ
Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước
và cấu trúc cơ thể theo tuổi và TTDD , Thu thập các kích thước về nhân trắc
là bộ phận quan trọng trong cuộc điều tra dinh dưỡng và là các chỉ số trực tiếp đánh giá TTDD của trẻ em dưới 5 tuổi Theo khuyến cáo của WHO, ba chỉ tiêu nhân trắc thường dùng là CN/T, CC/T và CN/CC
Trang 26Để đánh giá tình trạng SDD protein năng lượng hoặc tình trạng béo phì của trẻ em dưới 5 tuổi ở cộng đồng, người ta thường sử dụng các số đo cân nặng, chiều cao cùng với việc xác định tháng tuổi để tính ra các chỉ số CN/T, CC/T và CN/CC
Cân nặng theo chiều cao: Là chỉ số đánh giá TTDD hiện tại, chỉ số này
phản ánh tình trạng SDD cấp Khi chỉ số này dưới -2 SD so với quần thể tham chiếu được định nghĩa SDD cấp tính Tỷ lệ gầy còm được quan sát rõ nhất khi xảy ra các nạn đói, mất mùa hoặc những bệnh nặng nhưng khi có biểu hiện phù thì chỉ số này sẽ không còn chính xác
1.7.2 Phân loại tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi
Phân loại SDD cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi dựa vào CN/CC và chu vi vọng cánh tay:
Z- Score, tính theo công thức :
Z score hay SD score = Kích thước đo được – Số trung bình của quần thể chuẩn
Độ lệch chuẩn của quần thể chuẩn
Bảng 1.3 đánh giá, phân loại suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi ,,
SDD cấp tính Phù 2 chân
MUAC <12,5cmHoặc zscore cân nặng/chiều cao <-2 (cân nặng/chiều cao thấp) (Theo chuẩn của WHO)
Hoặc cân nặng/chiều cao <80% so với số trung bình của quần thể NCHS
SDD cấp tính
vừa
MUAC <12,5cm và ≥ 11,5cm Hoặc zscore cân nặng/chiều cao <-2 và ≥-3 (Theo chuẩn của WHO)
Hoặc cân nặng/chiều cao <80% và >70% so với số trung bình của quần thể NCHS
SDD cấp tính Phù 2 bên chân +/++/+++
MUAC<11,5cm
Trang 27Thuật từ Đặc điểm lâm sàng
nặng
Zscore cân nặng/chiều cao <-3 (Chuẩn của WHO)Hoặc cân nặng/chiều cao <70% so với số trung bình của quần thể NCHS
Một đứa trẻ SDD cấp tính nặng tăng nguy cơ tử vong
Dấu hiệu lâm
sàng của SDD
cấp tính nặng
Marasmus (gầy còm nặng)Kwashiorkor (phù 2 chân)Marasmic kwashiorkor (bao gồm cả phù và gầy còm nặng)
Phù 2 chân
Một dấu hiệu của SDD cấp tính nặngCũng được gọi là Kwashiokor, phù dinh dưỡng hoặc suy dinh dưỡng thể phù
Được kiểm tra khi ấn ngón cái lên mặt trước của cả 2 bàn chân trong 3 giây để lại vết lõm ở cả 2 chân sau khi nhấc ngón cái lên
Tích lũy nước ở các tổ chức liên kết
Cũng gọi là MarasmusĐứa trẻ gầy còm nặng có nguy cơ tử vong cao
1.8 Tình hình nghiên cứu suy dinh dưỡng cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới và ở Việt Nam
1.8.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Năm 2014 Mishra K và cộng sự đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới SDD cấp tính ở 191 trẻ bị SDD nặng ở Ấn Độ, nghiên cứu kết luận rằng: Tình trạng mù chữ bà mẹ, thu nhập gia đình, số con trong gia đình, trẻ không
Trang 28được bú mẹ trong 6 tháng đầu, tiêm chủng không đầy đủ là yếu tố chính ảnh hưởng tới SAM ở trẻ em
Arnaud Laillou và nhóm cộng sự tiến hành nghiên cứu tình trạng SDD cấp ở 11,818 trẻ em dưới 5 tuổi tại đất nước Cambodia trong 3 năm (2010-2012) bằng phương pháp đo chu vi vòng cánh tay theo tiêu chuẩn WHO cho kết quả: Tỷ lệ SAM: 0,4%; MAM: 2,9% Tuy nhiên, tỷ lệ này cao hơn khi tác giả sử dụng công cụ bằng cân nặng so với chiều cao theo tuổi, cho tỉ lệ SAM: 1.4% CI:); MAM: 9.2%
Năm 2014 Gutu Adugna Dabale và M.K Sharma đã công bố nghiên cứu về yếu tố quyết định tới tình trạng SDD cấp tính trẻ em dưới 5 tuổi ở Ethiopia, đó là một trong những có vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng nhất và cao nhất trên thế giới Nghiên cứu được tiến hành từ 2010 – 2011, tổng cộng có 9611 đối tượng được đưa vào nghiên cứu này Để phân tích thống kê mô tả dữ liệu và kỹ thuật hồi quy logistic nhị phân đa cấp đã được sử dụng Các thống kê mô tả cho kết quả khoảng 11,7% trẻ bị SDD cấp tính Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nguy cơ SDD cấp tính cao nhất ở trẻ em nam, kích thước nhỏ khi sinh, trẻ em có cha mẹ thường trú ở nông thôn, thể trạng của người mẹ là rất thấp, trẻ em từ các gia đình nghèo và trẻ em bị tiêu chảy và sốt hai tuần trước thời điểm điều tra, trẻ em của bà mẹ mù chữ, trẻ em có chỉ
số khối cơ thấp
1.8.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu lớn về tình trạng SDD protein năng lượng ở trẻ dưới 5 tuổi, như các điều tra toàn quốc về dinh dưỡng 5 năm tiến hành bởi Viện Dinh dưỡng và Tổng cục thống kê, các điều tra vi chất ở các vùng sinh thái Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại các nghiên cứu tập trung chủ yếu nhằm tìm ra tỷ lệ và các yếu tố liên quan của suy dinh dưỡng