ĐẶT VẤN ĐỀ Khiếm khuyết sự phát triển men răng sinh men bất toàn là các bất thường tạo ra do tổn thương cơ quan tạo men trong quá trình tạo men răng [1].. Ngoài việc quan tâm đến chi phí
Trang 1LÊ THỊ HƯƠNG
THùC TR¹NG SINH MEN BÊT TOµN
Vµ MèI LI£N QUAN VíI THùC TR¹NG NHIÔM DIOXIN
ë A L¦íI – THõA THI£N HUÕ N¡M 2015
Chuyên ngành: Răng Hàm Mặt
Mã số : 62722801
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ NỘI TRÚ
Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS Võ Trương Như Ngọc
HÀ NỘI – 2015 MỤC LỤC
Trang 3PCB : polychlorinated biphenyl
TCDD : 2,3,7,8 – tetrachlorodibenzo – p - dioxin
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Khiếm khuyết sự phát triển men răng (sinh men bất toàn) là các bất thường tạo ra do tổn thương cơ quan tạo men trong quá trình tạo men răng [1] Bất thường sự phát triển men răng được biểu hiện dưới các dạng khác nhau như: thiểu sản men, men lỗ chỗ có ranh giới rõ và men lỗ chỗ lan tỏa [1] Các bất thường này ảnh hưởng đến vấn đề thẩm mỹ, nhạy cảm răng, các bất thường khác về răng mặt cũng như làm tăng khả năng sâu răng [2] Ngày nay, tỷ lệ bất thường men răng ở trẻ em ngày một tăng cao Tỷ lệ này ở Thái Lan năm 1996 là 21,2 % [3], ở Braxin năm 2005 là 24,4 % [4] Nhiều tài liệu cho thấy tỷ lệ bất thường men răng trung bình là 10 - 12% [5] Những bệnh nhân bị bất thường sự phát triển men răng đòi hỏi phải có sự can thiệp phòng ngừa và điều trị sớm Mục tiêu của việc điều trị là cải thiện chức năng và hình dáng của các răng bị ảnh hưởng Có bằng chứng cho thấy các răng bị bất thường sự phát triển men răng có nhu cầu điều trị cao hơn gấp mười lần răng bình thường [1] Ngoài việc quan tâm đến chi phí cho điều trị nha khoa, chi phí xã hội, trẻ phải vắng mặt ở trường và bố mẹ phải vắng mặt ở cơ quan
để đưa con đến các buổi hẹn với nha sĩ, những đứa trẻ bị bất thường men răng có thể bị ảnh hưởng đến tâm lý nghiêm trọng vì cảm thấy như bản thân
bị kỳ thị do chúng nhận thức rằng sự bất thường này như một sự biến dạng.
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra sự khiếm khuyết men răng như: yếu tố về gen, chấn thương, nhiễm trùng, tia xạ [6]… Trong số các nguyên nhân trên, yếu tố môi trường là một trong các yếu tố có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của men răng Các nguyên bào tạo men đặc biệt nhạy cảm với các thay đổi từ môi trường trong quá trình hình thành men răng [1], [7] Các rối loạn chức năng của nguyên bào tạo men có thể gây nên sự thay đổi hình thái của men răng
Trang 7[1] Dioxin là một trong các yếu tố môi trường có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của men răng Ở những đứa trẻ bị phơi nhiễm với dioxin, có sự gia tăng tỷ lệ bất thường men răng: trong một số nghiên cứu ở Phần Lan, tỷ lệ này
là 14,4% [7] và 42% trong nghiên cứu ở Seveso, Italy, năm 1976 [8].
Cuộc chiến tranh hóa học của Mỹ ở Việt Nam như một vết thương khó lành Cuộc chiến tranh khốc liệt đã đi qua nhưng hơn mười lăm triệu tấn bom đạn cùng với gần một trăm nghìn tấn chất độc đang để lại những vết tích trên mỗi mét đất và di chứng cho người dân Việt Nam Dioxin được các nhà nghiên cứu đánh giá là một trong những chất độc nguy hiểm nhất mà con người tạo ra và biết đến Những nơi có nồng độ cao dioxin như các khu vực miền Trung và Tây Nguyên: A Lưới – Thừa Thiên Huế, sân bay Biên Hòa, tỉnh Bình Phước, Phú Yên, Quảng Ngãi, rừng ngập mặn Cà Mau… Bên cạnh những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người như gây ung thư phổi, ung thư máu, thai chết lưu, dị tật bẩm sinh… Dioxin còn làm tăng tỷ lệ bất thường sự phát triển men răng
Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về tỷ lệ bất thường của men răng do ảnh hưởng của chất độc Dioxin nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng sinh men bất toàn và mối liên quan với thực trạng nhiễm
Dioxin ở A Lưới – Thừa Thiên Huế, năm 2015” nhằm hai mục tiêu sau:
1. Xác định tỷ lệ sinh men bất toàn ở A Lưới – Thừa Thiên Huế và vùng đối chứng
2. Mô tả một số yếu tố liên quan với tỷ lệ sinh men bất toàn.
Trang 91.1 Sự phát triển của men răng
Men răng là một sản phẩm của hoạt động tế bào, khoáng hóa và có cấu trúc tinh thể gần như thuần khiết; là sản phẩm cuối cùng và trưởng thành từ sản phẩm ban đầu của nguyên bào men là khuôn men [9].
Men răng là kết quả của ba quá trình diễn ra đồng thời trong mỗi mầm răng [9]:
- Sự tạo thành khuôn men
- Sự khoáng hóa men răng
- Sự trưởng thành men răng.
1.1.1 Sự tạo thành khuôn men
Tiền thể khuôn men được tổng hợp trong các khoang của lưới nội bào, những tiền thể này chứa thành phần protein của khuôn men Các túi tiền thể khuôn men dần xuất hiện trong khu mạng lưới Golgi Trong hệ thống lưới Golgi, các thành phần cacbohydrat của khuôn men được tổng hợp từ các đường lactose, fructose và glycosamine Các thành phần cacbohydrat sau đó kết hợp với thành phần protein để tạo thành glycoprotein Về sau, bên ngoài của các bồn trong lưới nội bào Golgi, xuất hiện các túi chứa glycoprotein để sau đó phát triển thành các hạt khuôn men.
Trong vòng hai mươi đến ba mươi phút, các hạt khuôn men di chuyển về phía cực chóp của tế bào và đi vào vùng sẽ là nhú Tomes Ở đó, màng của hạt khuôn men nối kết với màng bào tương của nhú Tomes tương lai Từ đây, vật chứa của các hạt (khuôn men) được chế tiết từ tế bào Các phần tử khuôn men ngoại bào và nội bào tương tự nhau về mặt hình thái vi cấu trúc và hóa
Trang 10học Khuôn men ở trong hạt thì chưa bị khoáng hóa nhưng có nồng độ canxi cao.
Khuôn men mới được chế tiết chứa phần lớn là protein không có collagen
và 1 – 2% cacbohydrat và lipid Về mặt cấu trúc, khuôn men chưa khoáng hóa
là một khối chất vô định hình, giàu điện tử, trông có dạng hạt dưới kính hiển
vi độ phóng đại cao.
1.1.2 Sự khoáng hóa men răng
Gồm ba pha, pha đầu tiên (khoáng hóa sơ khởi) bắt đầu ngay sau khi chế tiết khuôn men, các hạt tinh thể lắng đọng Các tiểu tinh thể ngay sau khi hình thành sẽ tăng trưởng nhanh trong khuôn hữu cơ Lúc này thành phần vô cơ của men đạt khoảng 6 đến 10% thể tích hoặc khối lượng men đã có Đây là men răng chưa trưởng thành Lượng canxi (theo khối lượng khô) của men răng chưa trưởng thành từ 21 – 26%; lượng phốt pho thay đổi từ 9 – 12 % Pha thứ hai và pha thứ ba có đặc trưng là sự tăng trưởng mạnh mẽ các tinh thể (gồm tăng tỷ lệ khoáng chất và sự lớn lên về kích thước của các tinh thể) Men răng ở pha thứ hai và thứ ba của quá trình khoáng hóa gọi là men răng đang trưởng thành Nồng độ của thành phần muối khoáng ở men răng đang trưởng thành tăng lên đều đặn nhưng thành hai đợt sóng Đợt thứ nhất (khoáng hóa thứ cấp): sự tăng nồng độ khoáng bắt đầu ở bề mặt của men răng khoáng hóa sơ khởi (men đã đạt được độ dày cuối cùng), lan về phía đường tiếp giáp men - ngà, cho đến cách đường tiếp nối men ngà 8 micromet.
Ở cuối pha thứ hai, protein của khuôn men bị thay thế chọn lọc bởi thành phần muối khoáng và dịch mô, lượng canxi và phốt pho bắt đầu tăng lên Đợt thứ hai (khoáng hóa kỳ ba) bắt đầu lan tỏa ra phía ngoài từ lớp men trong cùng này trở ra phía ngoài bề mặt men Ở pha thứ ba, hầu như toàn bộ khuôn men bị hấp thụ, những lỗ rỗ thoạt tiên bị dịch mô lấp đầy, tỷ lệ canxi và phốt
Trang 11pho đạt đến lần lượt là 35 và 17% Sự trưởng thành của men răng tiếp tục, lượng khoáng chất tiếp tục tăng nhưng men vẫn còn sự khác biệt so với các lớp trong do sự khoáng hóa chậm.
1.1.3 Sự trưởng thành men răng
Trong pha thứ tư (khoáng hóa kỳ tư) men răng đạt tới trưởng thành, mất
đi các lỗ rỗ và trở nên khoáng hóa tới mức cao nhất của nó Lớp men ngoài cùng được khoáng hóa nhanh và mạnh trong pha này, trở thành lớp có độ khoáng hóa cao nhất Trong pha này, các tiểu tinh thể tăng lên về chiều dày và chiều rộng Kích thước tiểu tinh thể non tăng lên trong quá trình trưởng thành Ở men răng trưởng thành, các tiểu tinh thể nằm hoàn toàn sát nhau Chúng có thể tăng độ dài và chạy dài từ đường nối men – ngà đến bề mặt ngoài của men.
Bảng 1.1: Tuổi khoáng hóa, hoàn thành thân răng và mọc răng của các răng vĩnh viễn
Tháng thứ 4 của thai kỳ
Tháng thứ 5 của thai kỳ
Khi sinh Tháng thứ 9
Tháng thứ 4 của thai kỳ
Tháng thứ 12
Bắt đầu
khoáng
hóa
Tháng thứ 3 Tháng thứ 4 Tháng thứ 5 Tháng 18 Tháng 24 sinh Khi 3 tuổi Hoàn
1.2 Các bất thường sự phát triển men răng
1.2.1 Phân loại của FDI năm 1992
Trang 12Sự hình thành thân răng của 28 răng vĩnh viễn bắt đầu vào lúc sinh và được
hoàn thành vào khoảng 7 - 8 tuổi [1], [10] Men răng là một mô khoáng hóa caođộc nhất vô nhị có nguồn gốc ngoại bì [8] Các rối loạn chức năng của nguyênbào tạo men trong khoảng thời gian này có thể dẫn đến sự xuất hiện`của các bấtthường men răng [1] Có nhiều thuật ngữ dùng để mô tả sự bất thường men răngnhư: men trắng như phấn, đốm men, thiểu sản men, thiểu sản men nội tại, mờđục tiến triển, mờ đục có ranh giới, mờ đục lan tỏa, sự không tạo hình, các hốc,
hố, các đường rãnh, răng pho mát, các mờ đục men răng tự phát, các đốm mờđục… [1], [8]
Năm 1992, Ủy ban sức khỏe răng miệng, nghiên cứu và dịch tễ học của Liên đoàn nha khoa quốc tế (FDI) đã phân loại bất thường sự phát triển men răng thành ba nhóm chính: thiểu sản men, lốm đốm có ranh giới và lốm đốm lan tỏa [1].
Thiểu sản men: xảy ra trong giai đoạn hình thành khung hữu cơ Men răng mỏng, có thể lỗ chỗ, xù xì không đều, có hoặc không có các rãnh dọc và các rãnh khía Màu sắc có thể bình thường hoặc màu vàng, nâu sẫm phụ thuộc vào độ mỏng của men răng và mức độ ánh sáng xuyên qua lớp ngà bên dưới [10], [11] Tổn thương này xảy ra do bị tác động trong giai đoạn bài tiết của sự tạo men [1] Lốm đốm khu trú: là một khiếm khuyết do sự kém khoáng hóa men răng, không ảnh hưởng đến độ dày của men răng mà chỉ ảnh hưởng đến độ mờ đục của men răng Các tổn thương này có ranh giới rõ ràng với vùng men bình thường Màu sắc của men răng thay đổi từ trắng, kem đến vàng Tổn thương này xảy ra do sự rối loạn trong quá trình thoái hóa chất nền để tạo điều kiện hóa lý thích hợp cho sự bắt đầu quá trình trưởng thành [1].
Lốm đốm lan tỏa: là sự thay đổi về độ đục của men răng mà không có thay đổi về độ dày men Nó không có ranh giới rõ ràng với men răng lành Tổn thương này thường do fluor gây ra Về mặt mô học, đục men lan tỏa là bất
Trang 13thường có lớp dưới bề mặt kém khoáng hóa được che phủ bởi lớp men bề mặt khoáng hóa tốt ở trên Các bất thường này là kết quả tổn thương ở mức độ nhẹ nhưng kéo dài, liên quan đến sự ngừng trưởng thành men được đặc trưng bởi chậm phân hủy các tế bào tạo men [1].
1.2.2 Sinh men bất toàn
Đôi khi bất thường sự phát triển men răng còn được gọi là sinh men bất toàn.
Sinh men bất toàn là một rối loạn di truyền thể hiện một nhóm các tình trạng gây ra bởi sự biến đổi phát triển trong cấu trúc của men răng Sinh men bất toàn có cả ở bộ răng sữa và bộ răng vĩnh viễn Nó ảnh hưởng đến cấu trúc
và sự biểu hiện lâm sàng của men răng ở tất cả hoặc gần như tất cả các răng một cách tương đối đồng đều, và có thể sẽ liên quan với sự thay đổi về hình thái và sinh hóa ở những nơi khác trong cơ thể Men có thể bị thiểu sản, kém khoáng hóa hoặc cả hai, và răng bị ảnh hưởng có thể bị đổi màu, nhạy cảm hoặc dễ bị phá hủy sau khi mọc hoặc trước khi mọc (sự tự tiêu) Sinh men bất toàn là một vấn đề nghiêm trọng làm giảm chất lượng của cuộc sống Những vấn đề lâm sàng chính của sinh men bất toàn là ê buốt răng, mất kích thước dọc khớp cắn, rối loạn chức năng và thẩm mỹ Tỷ lệ bất thường này là 1:718 trên thế giới và phương Tây là 1:14000 [2], không có sự đặc trưng về chủng tộc Phân loại sinh men bất toàn chủ yếu dựa trên kiểu hình và cách thức thừa
kế Phân loại sử dụng phổ biến nhất là phân loại của Witkop năm 1988 và được sửa đổi bởi Nusier năm 2004 Căn cứ vào sự biểu hiện men răng và các khuyết tật giả thuyết về sự phát triển, sinh men bất toàn được chia làm 4 nhóm: giảm sản, kém trưởng thành, kém khoáng hóa và kém trưởng thành – giảm sản.
Phân loại của Witkop năm 1988 [12]:
Trang 14Bốn loại chính dựa vào kiểu hình (giảm sản, kém trưởng thành, kém khoáng hóa, kém trưởng thành – giảm sản cùng với buồng tủy lấn răng).
Sự biểu hiện lâm sàng và Xquang của các kiểu hình chính của sinh men bất toàn [11]:
Trang 15Thiểu sản men Kém trưởng thành Kém khoáng hóa Định
nghĩa Giảm số lượng men, sự khoáng
hóa bình thường
Khiếm khuyết về chất lượng của quá trình khoáng hóa, số lượng men bình thường
Khiếm khuyết về chất lượng của quá trình khoáng hóa,
số lượng men bình thường
Lâm sàng Độ dày men răng
Màu bị ảnh hưởng bởi sự nhiễm màu trong môi trường miệng sau khi mọc răng và mức độ phá hủy sau khi mọc Nó
có thể thay đổi từ đốm trắng đục tới vàng nâu hoặc nâu đỏ.
Độ dày men bình thường cùng với mất sự trong mờ Men răng bị giảm khoáng hóa nhiều và thường đồng nhất như pho mát, mềm, bị phá hủy nhanh chóng sau khi mọc.
Màu sắc bị ảnh hưởng bởi
sự nhiễm màu trong môi trường miệng sau khi mọc
và mức độ của sự phá hủy sau khi mọc răng và sự lộ lớp ngà răng bên dưới Răng có xu hướng tối màu hơn so với các loại khác của sinh men bất toàn.
Xquang Men răng cản
quang hơn so với
ngà răng (tương
phản bình thường
so với ngà răng).
Men răng có hình ảnh cản quang giống ngà răng.
Men răng ít cản quang hơn
so với ngà răng.
1.3 Các yếu tố nguy cơ gây bất thường sự phát triển men răng
Bất thường sự phát triển men răng có căn nguyên đa yếu tố [1], [13] Các yếu tố bệnh căn này có thể chia thành hai nhóm: nhóm phân bố khu trú và nhóm phân bố toàn bộ [1] Các nguyên nhân gây bất thường men răng khu trú là chấn thương, nhiễm trùng cục bộ và tia xạ Các răng sữa bị chấn
Trang 16thương dẫn đến hoại tử tủy, nếu không được xử trí sẽ gây ảnh hưởng đến mầm răng vĩnh viễn bên dưới, kết quả các răng vĩnh viễn thay thế có thể bị bất thường men răng Nghiên cứu của Paiari và Lanning [1] cho thấy những đứa trẻ bị leukemia cấp tính phải điều trị bằng liều xạ trị 0,72 – 1,44 Gy có tăng tỷ lệ bất thường men răng.
Các nguyên nhân gây bất thường men răng toàn bộ có các rối loạn gen, các bệnh toàn thân, nhiễm độc, các vấn đề về chu sinh và sau sinh, suy dinh dưỡng Rối loạn gen trong bệnh sinh men bất toàn là bất thường đơn gen, liên kết trên nhiễm sắc thể X hoặc nhiễm sắc thể thường trội hay lặn Các bệnh toàn thân như bệnh đường tiêu hóa celiac (ở Hà Lan, 90% trường hợp có bất thường men răng), bệnh thủy đậu, hen suyễn, thiếu vitamin D và bệnh còi xương Thiếu vitamin D dẫn đến sự chuyển hóa canxi bị suy yếu trong các nguyên bào tạo men, gây ra kém khoáng hóa men răng [13] Các nhiễm độc điển hình như nhiễm độc fluor và nhiễm độc Dioxin Chứng nhiễm fluor là do lượng fluor được đưa vào cơ thể quá mức ở giai đoạn sau sinh đến 7 tuổi Fluor tác động đến giai đoạn trưởng thành trong quá trình tạo men răng Cụ thể, nó ức chế sự thoái hóa và loại bỏ các protein khung hữu cơ [1] Vấn đề chu sinh như trẻ sinh non, thời gian đau đẻ kéo dài quá mức dẫn đến giảm oxy máu, thiếu cung cấp oxy cho các mô, ảnh hưởng đến hoạt động của các nguyên bào tạo men [13] Một vấn đề không thể không nhắc đến đó là vấn đề nuôi dưỡng sau sinh và việc sử dụng kháng sinh trong ba năm đầu của cuộc đời Việc kéo dài thời gian cho con bú có thể là một yếu tố nguy cơ vì các chất gây ô nhiễm trong môi trường qua sữa mẹ tác động đến sự trưởng thành men răng [1] Trẻ phải dùng amoxycillin hoặc erythromycin trong suốt những năm đầu tiên của cuộc đời gây ra sự phát triển men nhanh hơn mà không cho phép
sự khoáng hóa đầy đủ [13].
Trang 17và cấu trúc tương tự Dioxin hiện được dùng để chỉ hàng trăm chất hóa học có mặt trong môi trường.
1.4.2 Cấu trúc của Dioxin
Công thức phân tử C 12 H 4 O 2 C 14 , đọc tên là 2,3,7,8 dioxin Trong chiến dịch khai quang, Mỹ đã rải mười lăm loại độc chất xuống lãnh thổ Việt Nam trong đó 64% là chất độc màu da cam Dioxin là thành phần hóa học chính trong chất độc màu da cam Dioxin được các nhà nghiên cứu đánh giá là một trong những độc chất nguy hiểm nhất mà con người tạo
tetrachlorodibenzo-p-ra và biết đến Nó có thể làm cây cối cháy trụi lá, làm cho con người phơi nhiễm bị ung thư phổi, ung thư máu, có tính chất di truyền từ bố mẹ sang con, gây dị thai, thai chết lưu trong bụng mẹ hoặc dị dạng bẩm sinh… Thời gian bán hủy của Dioxin trong cơ thể con người ước tính mười hai đến hai mươi năm Dioxin có thể bám chắc vào mỡ người, nó đi vào thức ăn và nằm trong các cơ quan nội tạng động vật, cả trong sữa và máu người.
Dioxins bao gồm hai vòng benzen nối với nhau bởi một hoặc hai nguyên tử oxy Các cầu nối oxy tạo nên mạch thẳng của phân tử, đặc trưng của các phân
tử này Bốn đến tám nguyên tử clo thay thế ở các vị trí bên của phân tử gây ra các phản ứng độc hại Trong suốt những năm 60, Dioxin được tìm thấy trong chất làm rụng lá Trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam, người dân Việt Nam
Trang 18và cả lính Mỹ bị nhiễm Dioxin khi quân đội Mỹ phá hủy thảm thực vật cùng với chất độc màu da cam (Michalek et al, 1996).
Hình 1.1: 2,3,7,8 – tetrachlorodibenzo – p – dioxin [14]
1.4.3 Các nguồn gây ô nhiễm Dioxin
Hình 1.2: Các nguồn gây ô nhiễm Dioxin [14]
18% từ quá trình đốt cháy các chất thải công nghiệp hợp pháp
2% từ quá trình đốt cháy than trong nhà bếp
2% từ quá trình đốt cháy than công nghiệp
25% từ sự tái sử dụng vật liệu
3% từ giao thông đường bộ
14% từ sự đốt cháy các chất thải hợp pháp
7% từ sự đốt cháy chất thải công nghiệp bất hợp pháp
12% từ sự đốt cháy chất thải bệnh viện
16% từ hỏa hoạn
Trang 191% từ những thứ khác
Các con đường chính mà Dioxin thâm nhập vào cơ thể con người bao gồm
ăn phải các thức ăn nhiễm bẩn với nồng độ cao chất béo động vật, hít phải không khí bị ô nhiễm hoặc thâm nhập qua da Sự xâm nhập Dioxin được tạo điều kiện thuận lợi bởi ái lực của các chất béo đặc trưng của chúng Chiều dài của chuỗi thức ăn ở động vật đóng một vai trò đáng kể trong mức độ Dioxin lấy vào từ thức ăn và sự tích lũy của chúng Lượng chất béo trong động vật cũng quan trọng Có thể thấy rằng Dioxin được tích tụ cao trong mô mỡ của
cơ thể, là giai đoạn cuối cùng của chuỗi thức ăn Một nghiên cứu cho thấy rằng Dioxin được tích lũy trong mô mỡ của người và động vật và sự loại trừ của chúng phụ thuộc vào tuổi thọ và tốc độ của các quá trình trao đổi chất Ở người giai đoạn này khoảng chín năm [14] Sự bài trừ các hợp chất này phụ thuộc vào số lượng các nguyên tử clo có trong đồng phân Một lượng lớn Dioxin được đưa ra khỏi cơ thể thông qua sữa trong quá trình cho con bú Như đã được báo cáo bởi một số tác giả, điều này có thể dẫn đến quá liều (thậm chí cao hơn 50 – 70 lần) của nồng độ Dioxin trong sữa mẹ [14].
1.4.4 Cơ chế tác động của Dioxin đến sự phát triển của men răng
Dioxin trong cơ thể người được vận chuyển bởi các lipid trong huyết thanh tới gan và mô mỡ Trong các tế bào gan, TCDD liên kết với các thụ thể aryl hydrocarbon, tạo thành phức hợp được vận chuyển đến hạt nhân Các phức hợp này sau đó liên kết với các yếu tố phản ứng Dioxin (XRE) của ADN, dẫn đến sự kích thích của các gen cho các cytochrome P450 và P448, làm tăng sự sản xuất của chúng Các cytochrome hình thành tham gia vào các quá trình chuyển hóa tiếp theo của Dioxin Sự tích tụ Dioxin lâu dài trong gan và tương tác của chúng với ADN ảnh hưởng đến sự chuyển hóa protein trong gan và cũng có thể trong hệ thống tạo máu [14].
Trang 20Hình 1.3: Các nguồn lây nhiễm Dioxin trong môi trường tự nhiên [14].
Hình 1.4: Con đường AhR [14]
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên động vật cho thấy Dioxin gây ra nhiều thay đổi về hình thái và cấu trúc của răng trên những con vật này TCDD làm rối loạn quá trình tạo men răng bình thường và quá trình tạo ngà bình thường, thúc đẩy sự hình thành các bất thường về hình thái khác nhau như