1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015

65 703 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy thì vấn đề già hóa dân số gắn liền với chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cần phải được quan tâm đúng mức.Trong đó công tác chăm sóc sức khoẻ răng miệng cho người cao tuổi của ngàn

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây do chất lượng cuộc sống người dân dần được nâng cao, tuổi thọ trung bình của người dân và số lượng người cao tuổi tăng nhanh trong cộng đồng Dân số NCT đã trở thành một trong những vấn đề được coi là quan trọng ở nhiều nước trong những thập niên qua [1] Tính tới cuối năm 2010, Việt Nam đã có hơn 8 triệu NCT (chiếm 9,4% dân số).

Như vậy thì vấn đề già hóa dân số gắn liền với chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cần phải được quan tâm đúng mức.Trong đó công tác chăm sóc sức khoẻ răng miệng cho người cao tuổi của ngành Răng Hàm Mặt nói riêng là một nhiệm vụ rất quan trọng Mặc dù có nhiều nỗ lực trong phòng chống và nâng cao sức khỏe răng miệng, bệnh răng miệng hiện vẫn có xu hướng gia tăng ở mọi lứa tuổi trong đó có người cao tuổi.Ở một số kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng mắc bệnh răng miệng ở người cao tuổi tại các vùng miền của Việt Nam đang ở mức cao, nhu cầu điều trị theo thực trạng bệnh là rất lớn, thực trạng bệnh răng miệng là rất thấp [2], [3] Theo kết quảđiều tra sức khoẻ răng miệngtoàn quốc năm 2000 trên 999 người

45 tuổi trở lên thì có tới 55% chưa đi khám răng miệng lần nào Theo Phạm Văn Việt và cộng sự nghiên cứu năm 2004 cho biết tỷ lệ sâu răng của người cao tuổi tại

Hà Nội là 55,1%, tỷ lệ mắc bệnh quanh răng là 96,1% [2] Nguyên Châu Thoa và cộng sự, năm 2010 nghiên cứu về tình trạng sức khỏe răng miệng của NCT ở miền Nam Việt Nam cho thấy NCT có trung bình mất răng khoảng 8 chiếc /người [4]… Với các tổn thương sâu răng, viêm lợi, viêm quanh răng khi không đượcđiều trị kịp thời, nó không nhữngảnh hưởngđến chức năng ăn nhai, thẩm mỹ, mà còn có thể gây nhiều biến chứng nặng nề tại chỗ hay toàn thân, thậm chí cònảnh hưởngđến tính mạng đặc biệt ở người cao tuổi, khi màsự lão hoá làm suy giảm khả năng phục hồi,

do đó dễ mắc bệnh và mắc nhiều loại bệnh cùng lúc.

Bệnh quanh răng là một bệnh rất phổ biến Theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2001, tỷ lệ người có bệnh quanh răng ở nước ta rất cao, lên tới 96,7% [5] Đặc biệt bệnh có tỷ lệ mắc tăng dần theo tuổi: Số người trên 45 tuổi

Trang 2

có ít nhất 3 vùng lục phân lành mạnh chỉ chiếm có 5% [1] Đối với một nước có xu hướng già hóa dân số một cách nhanh chóng như Việt Nam thì những điều tra về bệnh này ở đối tượng người cao tuổi thật sự vô cùng đáng quan tâm.

Bệnh quanh răng là nguyên nhân chính gây mất răng ở người cao tuổi, bệnh

có liên quan đến vệ sinh, thực hành chăm sóc răng miệng cá nhân cũng như mức sống, mứcđộ hiểu biết Bệnh gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống người cao tuổi Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá tình trạng các bệnh quanh răng và thực hành chăm sóc răng miệng ở NCT chưa có hệ thống, vấn đề đào tạo cán bộ đến tổ chức mạng lưới dịch vụ chưa được quan tâm triển khai thoả đáng

Xuất phát từ những vấn đề đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh Cần Thơ năm 2015”,với các mục tiêu sau đây:

1 Mô tả thực trạng bệnh vùng quanh răng của người cao tuổi ở tỉnh Cần Thơ, năm 2015.

2 Xác định nhu cầu và phân tích một số yếu tố liên quan tới bệnh răng miệng của người cao tuổi trên.

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đặc điểm giải phẫu và mô học vùng quanh răng

1.1.1 Giải phẫu vùng quanh răng

Cement răng

Trang 3

Dây chằng quanh răng

xương ổ răng

Rãnh lợi

Lợi tự do

Lợi dínhNiêm mạc miệng

Bờ lợi

Lõm dưới túi lợi

Vùng tiếp giáp niêm mạc

Hình 1.2: Giải phẫu răng và vùng quanh răng [38]

Trang 4

* Lợi tự do: Gồm nhú lợi và đường viền lợi.

Nhú lợi là phần lợi che kín các kẽ răng Có một nhú phía ngoài, một nhú phía trong, giữa hai nhú là một vùng lõm

Đường viền lợiôm sát cổ răng, và cùng với cổ răng tạo nên một khe sâu khoảng 0,5-3 mm, gọi là rãnh lợi

Hình thể của nhú lợi vàđường viền lợi phụ thuộc hình thể của chân răng

và xương ổ răng, nó còn phụ thuộc vào sự liên quan giữa các răng và vị trí của răng trên xương hàm

* Lợi dính: là phần lợi bám dính vào chân răng và xương ổ răng Bề rộng của lợi dính cóý nghĩa quan trọng đối với việc giữ cho vùng quanh răng bình thường

- Tổ chức lợi: bao gồm biểu mô và tổ chứcđệm

Phủ bề mặt lợi dính và mặt ngoài viền lợi là lớp biểu bì sừng hoá Từ sâu ra nông gồm 4 lớp tế bào: TBđáy, TB gai, TB hạt và TB sừng hoá

Trang 5

Phủ mặt trong rãnh lợi là biểu mô không sừng hoá, liên tiếp với phía trên bởi biểu mô sừng hoá của lợi tự do và phía dưới bởi biểu mô bám dính Biểu mô bám dính là biểu mô ở đáy rãnh lợi bám dính vào răng Lớp biểu mô này không sừng hoá, không có các lồi ăn sâu vào tổ chức đệmở dưới, và bám vào men răng, xương răng bởi các bán Desmosom.Tổ chứcđệm: là tổchứcliên kết nhiều sợi keo ít sợi chun Những sợi keo xếp thành những bó sợi lớn tạo nên hệ thống sợi của lợi, trong đó đáng chú ý là các nhóm sợi răng- lợi, xương

ổ răng- lợi và nhóm sợi vòng

1.1.1.2 Dây chằng QR

Dây chằng quanh răng là mô liên kết có cấu trúc đặc biệt, nối liền răng với xương ổ răng Dây chằng quanh răng bao gồm các tế bào, sợi liên kết, chất căn bản và mạch máu, thần kinh [8]

Nó giữ răng trong ổ răng và đảm bảo sự liên quan sinh lý giữa răng và

ổ răng nhờ những TB liên kết đặc biệt trong tổ chức dây chằng Bề rộng của dây chằng quanh răng khoảng 0,15- 0,21mm Tuỳ theo sự sắp xếp và hướng

đi của các bó sợi mà người ta phân ra thành 5 nhóm sau:

* Nhóm cổ răng (hay nhóm mào ổ răng):Gồm những bó sợi đi từ mào xương ổ răng đến xương răng gần cổ răng

* Nhóm ngang:Gồm những sợi đi từ xương răng ở chân răng thẳng góc với trục của răng đến xương ổ răng

* Nhóm chéo: Gồm những bó sợi đi từ xương ổ răng chếch xuống dưới phía chân răng, bám vào xương răng Nhóm này chiếm số lượng nhiều nhất trong dây chằng QR

* Nhóm cuống răng:Gồm những bó sợi đi từ xương răng ở cuống răng, toả hình nan quạt để đến bám vào xương ổ răng vùng cuống răng

* Nhóm giữa các chân răng: Đối với răng nhiều chân còn có các bó sợi đi từ kẽ giữa 2 hay 3 chân răng đến bám vào vách xương ổ răng Giữa các bó sợi trên

là tổ chức liên kết lỏng lẻo, trong đó người ta thấy có TB tạo xương răng,

Trang 6

TBxơ non, TB xơ già, TB liên kết dạng bào thai, những đám biểu bì Mallassez Ngoài ra còn có mạng lưới rất giàu các mạch máu, bạch mạch, thần kinh Theo Weski, những lưới này có tác dụng như một cái hãm nước.Trong tổ chức liên kết của dây chằng thường thấy có 3 thành phần là: TBchất tựa, sợi, chất nền.Dây chằng QRcấu tạo bởinhững sợi Collagen, những sợi đó lồng vào trong xương răng, chùm lên chân răng giải phẫu và từ

đó chạy vào lá đáy của túi lợi, màng xương phủ huyệt răng và xương ổ răng, xương răng của răng bên cạnh, quan trọng nhất là trực tiếp vào trong xương ổ răng riêng biệt

1.1.1.3 Xương ổ răng

Xương ổ răng là một bộ phận của xương hàm gồm có:

* Bản xương: có cấu tạo là xương đặc Bản xương ngoài là xương vỏ ở mặt ngoài và mặt trong của xương ổ răng, được màng xương che phủ Còn bản xương trong (gọi

là lá sàng) nằm liền kề với chân răng, có nhiều lỗ thủng (lỗ sàng)

* Xương xốp: nằm giữa hai bản xương trên và giữa các lá sàng [7]

Hoạt động chuyển hoá của xương ổ răng rất mạnh Quá trình tạo xương liên tục, nếu xương khoẻ, chiều cao của mào xương ổ răng phát triển liên tục phù hợp với sự mòn sinh lý của răng, tức là khớp cắn không bị giảm, kể cả ở lứa tuổi cao Can xi xương ở trong xương, giữa các sợi là những tinh thể apatit, ngoài việc đảm bảo độ cứng của xương nó còn là nguồn dự trữ mức canxi trong máu Thành phần hữu cơ của xương là chất keo và những TB như tạo cốt bào, TB xương đa nhân Xương ổ răng cũng có quá trình tiêu và phục hồi luôn cân bằng thì xương luôn chắc và đảm bảo chức năng Nếu mất thăng bằng, quá trình tiêu xương lớn hơn phục hồi thì dẫn đến tiêu xương (gặp ở quá trình bệnh lý QR, sang chấn khớp cắn…)

1.1.1.4 Xương răng

Trang 7

Xương răng bọc phần ngà răng ở chân răng Là một dạngđặc biệt của xương, trong đó thành phần vô cơ và hữu cơ chiếm tỷ lệ ngang nhau,nhưng không có hệ thống Havers và mạch máu [7].

Xương răng bao phủ chân răng vàđi qua phần men răng, phủ trên bề mặtmen ở cổ răng Bề dày của xương răng thay đổi theo tuổi, tuỳ vùng vàchức năng, dày nhất là vùng cuống răng, mỏng nhất là vùng cổ răng Zander nghiên cứu vàđo bề dày xương răng giữa các vùng khác nhau của chân răng, giữa người già và người trẻ cho thấy: sự đắp dày thêm của xương răng xảy ra từ từ và đều đặn theo tuổi Ngoài ra còn do các yếu tố khác như: kích thích của quá trình viêm, hoá chất vùng cuống răng và do chuyển hoá

Về cấu trúc, xương răng gồm 2 loại: Xương răng không có tế bào và xương răng có tế bào Xương răng không có tế bào là lớp đầu tiên được tạo ra trong quá trình tạo ngà ở chân răng, phủ lên chân răng bởi xương răng thứ phát (hay xương răng có tế bào).Quá trình tạo xương răng có tế bào nhanh, những tế bào tạo xương răng non bám chắc và giữ lại tới lúc phát sinh lớp xương răng mới và tế bào xương răng được trưởng thành Sự bồi đắp xương răng liên tục, suốt đời, ở cuống răng thì nhanh hơn ở cổ răng, những lớp được bồi đắp tạo điều kiện cho sự bám chắc của những dây chằng mớigiữ cho bề rộng vùng QR, xương răng không bị tiêu sinh lý và thay đổi cấu trúc như xương Về mặt chức phận, xương răng tham gia vào sự hình thành hệ thống

cơ học nối liền răng với xương răng, cùng với xương ổ răng giữ bề rộng cần thiết cho vùng QR, bảo vệ ngà răng và tham gia sửa chữa ở một số trường hợp tổn thương ngà chân răng

1.1.2 Tuần hoàn quanh răng

Răng, dây chằng QR và xương ổ răng thường có một mạch máu nuôi dưỡng Mỗi răng và khe QR được nuôi dưỡng bởi một động mạch nhỏ là một

Trang 8

nhánh của động mạch chính trong xương tới lỗ cuống răng, trước khi vào lỗ cuống răng nó tách ra các nhánh vào trong xương ổ răng, một nhánh vào khe

QR nuôi các dây chằng QR Nhánh chính đi vào tuỷ răng qua lỗ cuống răng, động mạch tuỷ răng không có nhánh nối với bên ngoài Còn trong xương ổ răng thì có nhiều mạng nối chằng chịt với nhau, ở vùng dây chằng QR cũng vậy,có những nhánh xuyên qua bản xương thành trong huyệt răng nối với mạng lưới tuần hoàn trong khe QR Tĩnh mạch đi song song với động mạch và đặc biệt là mạng lưới nối tĩnh mạch ở vùng QR tập trung quanh lỗ cuống răng

1.1.3 Thần kinh vùng quanh răng: Có hai loại:

- Các sợi giao cảm chạy song song với mạch máu, điều hoà máu chảy trong các mao mạch

- Các sợi cảm giác hầu hết là các nhánh có Myelin của nhánh II hoặc

nhánh III của dây thần kinh tam thoa.Vùng dây chằng QR giàu mạng lưới mạch máu và cũng giàu các sợi cảm giác Người ta tìm thấy có hai loại thần kinh tận cùng: là có vỏ bọc và không có vỏ bọc ở đầu tận cùng Nhánh tận đầu tự do đáp ứng với cảm giác đau, trong khi đó đầu có vỏ bọc đáp ứng với thay đổi áp lực; ở những đầu có vỏ bọc cấu trúc phức tạp hơn nhiều so với ở

da và niêm mạc miệng, hơn nữa phần lớn nó đáp ứng với khả năng nhạy cảm của dây chằng quanh răng

1.2 Một số đặc điểm biến đổi sinh lý, bệnh lý vùng quanh răng ở người cao tuổi

1.2.1 Biến đổi sinh lý chung

Lão hóa đưa đến những thoái triển biến đổi dần và không phục hồi về hình thái và chức năng ở các cơ quan, khả năng thích nghi với những biến đổi của môi trường xung quanh ngày càng bị rối loạn [7],[8],[9]

Lão hóa bắt đầu từ da: Da cứng và nhăn nheo, tăng lớp mỡ dưới da ở bụng, ngực, đùi, mông

Trang 9

Tóc chuyển bạc, trước ít và chậm sau nhiều và nhanh hơn.

Mắt điều tiết kém đi gây lão hóa và thị lực giảm Thính lực kém đi Hoạt động chức năng các cơ quan, phủ tạng giảm dần, bài tiết dịch vị kém ăn uống kém ngon và chậm tiêu, hoạt động chức năng gan, thận cũng giảm dần, hệ thống nội tiết yếu đi

Sự thích ứng với những thay đổi ngoại cảnh kém dần như thời tiết nóng, lạnh Chức năng hô hấp giảm, chức năng tim mạch kém thích ứng với lao động nặng

Giảm khả năng làm việc trí óc, nhanh mệt, tư duy nghèo dần, liên tưởng kém, trí nhớ giảm hay quên, kém nhạy bén, chậm chạp

Thời gian phục hồi vết thương kéo dài, xương dễ gãy do chứng loãng xương Khả năng đáp ứng của cơ thể trước các kháng nguyên ngoại lai, vi khuẩn giảm dễ dẫn đến nhiễm trùng và nổi lên là hiện tượng tự miễn [8]

Tất cả những lão hóa đó là nguyên nhân làm cho sức khỏe người cao tuổi giảm sút và hay mắc các bệnh mãn tính và cấp tính

1.2.2 Biến đổi ở mô niêm mạc miệng

mô và mô liên kết bị xẹp xuống làm cho lớp biểu mô dễ bị bong trước.Thời gian thay thế tế bào biểu mô kéo dài số lượng tế bào Langerhans ít đi Vì các biến đổi nêu trên, nên bề mặt của niêm mạc miệng kém chịu đựng trước các

Trang 10

kích thích như nóng, lạnh, sức đề kháng với nhiễm trùng giảm đi, niêm mạc

dễ bị tổn thương và khi bị tổn thương thì cũng lâu lành

Trang 11

* Niêm mạc lưỡi:

Các nghiên cứu cho thấy các gai lưỡi có hiện tượng giảm và teo Số gai hình dây của lưỡi giảm làm cho lưỡi có vẻ trơn láng, gai lưỡi hình đài bị teo nhiều nhất với số lượng giảm hoặc mất dần các nụ vị giác gây ra những rối loạn

vị giác với các chất ngọt, chua, mặn….Nói chung, niêm mạc lưỡi miệng nhợt nhạt, teo mỏng do giảm chất gian bào, giảm khả năng tăng sinh tế bào và giảm đáp ứng miễn dịch tại chỗ cũng như toàn thân thường thấy ở người cao tuổi

1.2.3 Biến đổi ở khớp thái dương hàm, xương hàm, tổ chức cứng của răng

* Khớp thái dương hàm:

Ở khớp thái dương hàm thường gặp sự xơ hóa và thoái hóa khớp, thể tích lồi cầu xương hàm giảm, diện khớp trở lên phẳng, các dây chằng dão Cùng với sự thoái triển nêu trên, trương lực của các cơ nâng hàm và hạ hàm mất dần làm cho khớp mất tính ổn định, vận động của hàm bị ảnh hưởng, khớp cắn mất cân bằng dẫn đến khả năng nhai, nghiền thức ăn kém, dễ gây đau, mỏi và có tiếng kêu ổ khớp

* Xương hàm

Xương hàm cũng có những biến đổi thoái triển chung theo hệ xương của cơ thể Trước hết, xương hàm giảm khối lượng do độ đậm đặc bởi hiện tượng loãng xương sinh lý Trên phim X-quang xương, người già ít cản quang, có những vạch sáng chiều rộng vài mm Xương hàm người cao tuổiyếu và dễ gãy, khi bị gãy thường can xấu và chậm Sống hàm trên tiêu nhiều hơn theo chiều hướng tâm, sống hàm dưới ít tiêu hơn theo chiều ly tâm Như vậy, sau khi mất răng, hình thái các xương hàm trên và dưới sẽ có những biến đổi sâu sắc

* Tổ chức cứng của răng

Trang 12

- Sự thay đổi cấu trúc lợi như là kết quả của sự lộ chân răng Bề mặt chân răng bị lộ trong miệng sẽ thu hút những khoáng chất vô cơ từ những chất lỏng trong miệng hình thành những lớp trên bề mặt.Hiện tượng này xảy ra dù

bề mặt chân răng là ngà răng hay xương răng (Halls- 1977) Quá trình bào mòn bề mặt chân răng diễn ra ở giai đoạn đầu của vết thương với sự phá hủy

bề mặt ở nhiều vị trí khác nhau

- Hình dáng răng thay đổi, sự thay đổi tiếp xúc giữa các răng hoặc mất tiếp xúc

- Sự mòn răng có thể định nghĩa như việc mất đi chất khoáng hóa trên

bề mặt răng, là kết quả của việc bào mòn chất hóa học Sự mòn răng sẽ tăng lên cùng với sự gia tăng của tuổi tác

1.2.4 Biến đổi trên các chức năng vùng miệng

* Chức năng nhai:

Tốc độ và biên độ chuyển động của hàm dưới giảm trong quá trình vận động há, ngậm và độ rộng lên xuống trong khi chiều sang bên thì vẫn giữ nguyên Vì vậy, thời gian của chu kì nhai không có khác nhiều so với thời kỳ trung niên Tuy nhiên, hiệu quả của nhai bị giảm sút do răng suy yếu, hệ thống môi, má, lưỡi và các cơ giảm sự khéo léo, khả năng phối hợp

Trang 13

Các biến đổi nét mặt là do mất răng và do giảm hoặc mất trương lực các cơ ở mặt Thường có sự thấp tầng mặt dưới, những thay đổi này không chỉ

là thẩm mỹ mà còn là sự trở ngại tới chức năng nhai, nuốt

* Chức năng tiết nước bọt:

Nhu mô tuyến nước bọt suy thoái dẫn đến giảm tiết về số lượng nước bọt kể cả chức năng tổng hợp các protein nước bọt, IgA giảm 2/3 Trên thực tế tình trạng khô miệng còn do 1 số bệnh lý ở tuyến, đặc biệt do hậu quả một số thuốc điều trị cao huyết áp, tâm thần…

1.2.5 Ảnh hưởng của lão hóa trên cấu tạo mô nha chu

1.2.5.1 Biểu mô lợi

Nhiều nghiên cứu cho thấy sự mỏng đi và giảm sừng hóa của biểu mô lợi theo tuổi, vì vậy làm tính thấm của biểu mô với kháng nguyên vi khuẩn và giảm sức đề kháng với các sang chấn chức năng có thể ảnh hưởng lâu dài đến vùng quanh răng Ngoài ra, còn có một số thay đổi khác liên quan đến lão hóa như các gai biểu bì phẳng hơn và thay đổi mật độ tế bào biểu mô

Tác động của quá trình lão hóa lên vị trí của biểu mô nối là chủ đề được nghiên cứu nhiều nhất Một số nghiên cứu cho thấy sự di chuyển về phía chóp của biểu mô nối trên bề mặt chân răng ở người có men răng bình thường

đi kèm với sự tụt lợi Cùng với sự tụt lợi, chiều rộng của lợi dính sẽ giảm theo tuổi Ngoài ra, sự di chuyển của biểu mô nối về phía chóp có thể là hậu quả của sự mọc răng liên tục qua biểu mô lợi trong nỗ lực duy trì mặt phẳng cắn với răng đối diện để thích nghi với sự mòn răng (sự mọc răng thụ động) Tuy nhiên, tụt lợi không phải là một quá trình sinh lý không thể tránh khỏi của người già mà do hậu quả tích lũy của quá trình viêm hoặc chấn thương mô nha chu [7]

1.2.5.2 Mô liên kết lợi

Trang 14

Mô liên kết lợi ngày càng thô hơn và dày đặc hơn theo tuổi, ngoài ra còn có sự thay đổi về số lượng và chất lượng sợi collagen Những thay đổi này bao gồm sự tăng tỷ lệ chuyển đổi từ collagen hoàn thành collagen không hoàn toàn, tăng sức mạnh cơ học và tăng nhiệt độ làm biến tính collagen Như vậy, có sự tăng tính ổn định của collagen do những thay đổi trong cấu trúc phân tử

Tuy nhiên, tỷ lệ collagen được tổng hợp lại giảm đi theo tuổi

1.2.5.3 Dây chằng nha chu

Những thay đổi trong dây chằng nha chu do lão hóa bao gồm giảm số lượng nguyên bào sợi và tăng bất thường cấu trúc Ngoài ra, có sự giảm sản xuất các chất hữu cơ căn bản, ngừng hoạt động các tế bào biểu mô và tăng số lượng sợi đàn hồi Nhiều kết quả trái chiều đã được ghi nhận về sự thay đổi chiều rộng của dây chằng nha chu theo tuổi trong các mẫu vật của người và động vật Một điều chắc chắn là chiều rộng của khoảng quanh răng sẽ giảm nếu răng không được nhai đến (giảm chức năng) hoặc chịu lực nhai quá mức

Cả hai tình huống trên đều dẫn đến sự mất răng sớm

1.2.5.4 Xương răng

Có sự gia tăng chiều dày xương răng theo tuổi do sự bồi đắp liên tục sau khi mọc răng Sự gia tăng chiều dày này nhiều hơn ở vùng chóp và mặt lưỡi Khả năng sửa chữa xương răng là hạn chế, những bất thường trên bề mặt xương răng như những hõm tiêu xương răng xuất hiện ngày càng nhiều theo tuổi

1.2.5.5 Xương ổ răng

Hình thái lá cứng xương ổ răng thay đổi liên quan với tuổi, có ngày càng nhiều bất thường trên bề mặt xương ổ răng và giảm số lượng kết nối bất thường với sợi collagen Ngoài ra, có sự giảm mạch máu trong xương, giảm trao đổi chất và khả năng tự sữa chữa, tăng quá trình hủy xương và giảm tái

Trang 15

tạo xương Trong ghép xương đồng loại đông khô khử khoáng, nếu sử dụng vật liệu ghép từ người cho trên 50 tuổi thì khả năng tạo mô xương ít hơn so với vật liệu lấy từ người cho trẻ hơn

Tuy nhiên, tỷ lệ lành xương (can xương) của xương vùng ổ răng đã nhổ không liên quan tới tuổi tác Thật vậy, những thành công trong tích hợp xương trong cấy ghép nha khoa dựa trên đáp ứng lành thương ở mọi mô xương lành, không liên quan với tuổi tác

Có sự thay đổi một số tác nhân gây bênh nha chu với tuổi tác, đặc biệt là

vai trò ngày càng tăng của Porphyromonas ginggivalis và vai trò ngày càng giảm của Actinobacillus actinomycetemcomitans.Tuy nhiên, tác động của lão hóa lên sự

thay đổi sinh thái học vi khuẩn quanh răng vẫn còn chưa thực sự rõ ràng

1.2.5.7 Đáp ứng miễn dịch

Những tiến bộ mới đây trong sự nghiên cứu về tác động của quá trình lão hóa trên các phản ứng miễn dịch cho thấy yếu tố tuổi có ảnh hưởng lên đáp ứng miễn dịch của vật chủ ít hơn so với suy nghĩ trước đây

Ở người lớn tuổi có sự giảm đáp ứng miễn dịch của tế bào T và B, các cytokine và tế bào diệt tự nhiên nhưng không có sự khác biệt về đáp ứng miễn dịch của tế bào đa nhân và đại thực bào hoạt động Nếu có sự hiện diện của

Trang 16

mảng bám, phản ứng viêm của vùng quanh răng của người lớn tuổi sẽ diễn ra nhanh hơn và mạnh hơn.

1.2.6 Ảnh hưởng quá trình lão hóa lên sự tiến triển của bệnh nha chu

Sự nhạy cảm của bệnh nha chu tăng theo tuổi Trong một nghiên cứu thực nghiệm kinh điển về viêm lợi, đối tượng nghiên cứu được loại trừ hoàn toàn mảng bám và viêm bằng các phương pháp làm sạch và điều trị chuyên biệt Sau đó đối tượng không thực hiện bất kỳ biện pháp vệ sinh răng miệng nào trong thời gian 3 tuần để tạo điều kiện cho viêm lợi phát triển So sánh sự phát triển viêm lợi giữa các cá thể trẻ tuổi và lớn tuổi đã được chứng minh phản ứng viêm mạnh hơn ở những đối tượng nghiên cứu lớn tuổi hơn, kể cả người và chó Trong nhóm người lớn tuổi hơn (từ 65 đến 80 tuổi), người ta nhận thấy khoảng mô liên kết bị thâm nhiễm lớn hơn, gia tăng dịch rỉ viêm và tăng chỉ số lợi Ngay cả khi các đối tượng đều có tình trạng lợi hoàn toàn bình thường trước thử nghiệm, sự khác biệt vẫn có thể tồn tại giữa các nhóm tuổi trong đó những người càng lớn tuổi thì tình trạng viêm càng nhiều Ở người cao tuổi, bệnh viêm lợi thường tiến triển thầm lặng dẫn tới viêm quanh răng

và hậu quả là tiêu xương và mất răng [7]

Rõ ràng khi tuổi cao sẽ không tránh khỏi việc gia tăng sự mất mô liên kết bám dính Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc vào sự phơi nhiễm với một

số yếu tố gây phá hủy tổ chức quanh răng như: mảng bám, sang chấn cơ học mạn tính do đánh răng, những tác động không mong muốn do thầy thuốc gây

ra trong phục hình răng,lấy cao răng, kiểm soát bề mặt chân răng Ảnh hưởng của những phơi nhiễm này đi theo một hướng duy nhất là làm gia tăng mất bám dính

Trang 17

Một số nghiên cứu đã được thiết kế để loại bỏ những yếu tố nhiễu và hướng tới làm rõ câu hỏi tuổi cao có phải là yếu tố nguy cơ của bệnh nha chu (yếu tố nguy cơ được định nghĩa là một phơi nhiễm hoặc tác nhân làm tăng xác suất xảy ra bệnh) Những nghiên cứu này đều cho thấy tác động của tuổi tác là không tồn tại hoặc ít có ý nghĩa lâm sàng làm gia tăng sự mất bảo vệ vùng nha chu: tỷ suất chênh cuẩ tình trạng vệ sinh răng miệng kém đối với viêm quanh răng là 20,52 trong khi tỷ suất chênh của tuổi tác chỉ là 1,24 Như vậy, có thể nói tuổi cao không phải là một yêu tố nguy cơ thực sự nhưng là nền tảng hoặc một yếu tố kết hợp của sự phát triển viêm quanh răng

1.3 Phân loại bệnh quanh răng

Việc phân loại bệnh quanh răng có ý nghĩa quan trọng trong việc chẩn đoán, tiên lượng và làm kế hoạch điều trị Có rất nhiều cách phân loại bệnh quanh răng Nhưng theo các xu hướng chung và các quan điểm hiện đại, người ta chia bệnh quanh răng thành ra làm 2 loại chính là: bệnh của lợi và các bệnh của cấu trúc chống đỡ răng [7]

* Các bệnh lợi bao gồm các bệnh mà chỉ có tổn thương ở lợi

* Các bệnh của cấu trúc chống đỡ bao gồm các bệnh liên quan tới cấu trúc chống đỡ răng như: dây chằng quanh răng, xương ổ răng và xương răng

Sau đây là phân loại bệnh quanh răng theo hội nghị quốc tế năm 1999, bao gồm 8 nhóm bệnh dưới đây:

 Các bệnh lợi

 Viêm quanh răng mạn

 Viêm quanh răng phá hủy

 Viêm quanh răng là biểu lộ các bệnh toàn thân

 Các bệnh quanh răng hoại tử

 Các apxe vùng quanh răng

 Viêm quanh răng do các tổn thương nội nha

 Các biến dạng và tình trạng mắc phải hay trong quá trình phát triển

Trang 18

1.4 Dịch tễ học bệnh quanh răng

Dịch tễ trong bệnh nha chu vẫn còn là khoa học khá trẻ Các nghiên cứu trong những thập niên qua cho thấy bệnh nha chu là một trong những nỗi phiền phức lớn nhất của con người

Các nghiên cứu thuộc phương pháp dịch tễ học được chú trong để giải quyết các vấn đề về nha chu hiện nay Các nghiên cứu cần thiết hiện nay là xác định tình trạng nha chu, nhu cầu điều trị và đánh giá nhu cầu điều trị ở các nhóm có nguy cơ bị bệnh nha chu cao Điều chính yếu là làm sao sử dụng kiến thức tổng hợp có sẵn về bệnh nha chu để đem lại lợi ích cao nhất cho cộng đồng Cuối cùng, các phương pháp dịch tễ học ccòn được đòi hỏi để theo dõi sức khỏe nha chu, đánh giá hiệu quả của các phương pháp và chương trình dự phòng bệnh nha chu

1.5 Các cấp dự phòng bệnh quanh răng

Theo WHO, giáo dục sức khoe bệnh quanh răng và vệ sinh răng miệng là nội dung chủ yếu nhất, là nền tảng cho 3 cấp dự phòng bệnh quanh răng[10]

1.5.1 Dự phòng cấp 1 : tiền sinh bệnh

Nội dung chủ yếu là hướng dẫn vệ sinh răng miệng Cụ thể là :

- Giáo dục sức khỏe để cải tiến việ vệ sinh răng miệng và chế độ dinh dưỡng hợp lý

- Khám răng định kỳ để đề phòng viêm lợi

Bác sỹ có nhiệm vụ và vai trò : giáo dục sức khỏe trong dân, chẩn đoán viêm lợi và lấy cao răng, hướng dẫn chải răng, hàn răng sâu và sửa chữa sai sót điều trị

Trang 19

1.5.2 Dự phòng cấp 2: điều trị sớm

- Dự phòng câp 2 gồm có: điều trị những dấu hiệu hoặc triệu chứng đầu tiên của bệnh quanh răng nhằm ngăn chặn bệnh phát triển Cấp dự phòng này cũng bao gồm cả việc giáo dục vệ sinh răng miệng, dùng fluor, lấy cao răng, loại bỏ yếu tố lưu giữ mảng bám

- Ở giai đoạn này, công việc chủ yếu là tập trung vào khâu theo dõi, khám kiểm soát vệ sinh răng miệng và điều trị răng sâu

+ Trong điều trị cho cá nhân : dự phòng cấp 2 đồng nghĩa với việc điều trị duy trì như : khám định kỳ 6 tháng/ lần

+ Trong điều trị cho cộng đồng : dự phòng cấp 2 tương đương với mức độ chăm sóc CL2 ( care level 2) : hướng dẫn tự chăm sóc, đặt lịch hẹn khám định kỳ 2-3-6tháng…

1.5.3 Dự phòng cấp 3: điều trị phục hồi tránh tái phát

- Dự phòng cấp 3 là điều trị phục hồi chức năng cho răng đã trải qua thời

kỳ bị bệnh quanh răng đồng thời phòng ngừa không cho bệnh tái phát hoặc có những biến chứng khác

- Điều trị để dự phòng cấp 3 : có thể la phẫu thuật nha chu, phục hình răng, điều chỉnh khớp cắn…

1.6 Một số yếu tố liên quan tới tình trạng bệnh vùng quanh răng ở người cao tuổi

1.6.1 Vấn đề kiến thức, thái độ và thực hành đối với sức khoẻ răng miệng của người cao tuổi

Đánh giá chung về nhận thức đối với SKRM của người cao tuổi, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: kiến thức SKRM của người cao tuổi chủ yếu là những kinh nghiệm tích luỹ của bản thân hoặc do người khác truyền lại ở nhiều quốc gia, nguồn kiến thức này thường đến từ kinh nghiệm dân gian,

Trang 20

theo quan điểm Y học truyền thống, nhiều khi đối lập với các thông tin cơ bản theo quan điểm Y học hiện đại Có thể do các thông tin giáo dục nha khoa còn hạn chế nên người cao tuổi hiểu biết rất ít về các vấn đề răng miệng cơ bản, thông thường Vì vậy, kiến thức RM của họ phụ thuộc rất nhiều vào trình độ văn hoá, nghề nghiệp, mức sống, khu vực sống, sự tự tìm hiểu của từng cá nhân Thông thường, ý niệm về bệnh tật chỉ được quan tâm khi có cảm giác đau, thẩm mỹ bị ảnh hưởng, giao tiếp xã hội bị hạn chế Đây là những nhận biết có thể có ở hầu hết người cao tuổi Nhưng nếu để hiểu nguyên nhân, hậu quả và các biện pháp phòng chống bệnh thì đa số tỏ ra không biết, hoặc hiểu sai các kiến thức bản, thông thường Thực tiễn này, đặt ra trách nhiệm cho nội dung giáo dục nha khoa trong chương trình nâng cao hiểu biết đối với SKRM người cao tuổi [33].

1.6.2 Các yếu tố tác động tới kiến thức, thái độ, thực hành đối với sức khoẻ răng miệng người cao tuổi

Sức khoẻ răng miệng người cao tuổi chịu sự tác động của nhiều yếu tố Sức khoẻ kém có thể bắt nguồn từ những nguy cơ nội tại do sự ngấm vôi kém

ở men răng, răng mọc lệch lạc, chen chúc, hở… Nguy cơ cũng đến từ các thói quen có hại: hút thuốc, uống rượu, ăn trầu Các yếu tố ảnh hưởng khác có thể

do trình độ học vấn thấp, mức thu nhập không cao, sức khoẻ chung suy yếu, tập quán văn hoá và nhất là yếu tố không được chăm sóc bởi cơ sở dịch vụ nha khoa Các yếu tố này liên quan chặt chẽ với nhau và cần được nhận định, đánh giá để tìm ra các giải pháp can thiệp Nhằm tăng cường nhận thức, thay đổi thái độ, xây dựng hành động đúng, chúng ta cần phân tích, phê phán, sửa chữa những hành động, thói quen chưa đúng hay có hại Trên cơ sở đó, giáo dục các đối tượng tự chăm sóc SKRM có khoa học và có ý thức thăm khám định kỳ tại các cơ sở nha khoa Đây là một quá trình cần có sự tác động nhiều mặt, nhưng ý thức bản thân luôn luôn là yếu tố quyết định quan trọng nhất [34]

Trang 21

1.6.3 Tình tình nghiên cứu về giáo dục nha khoa, thái độ và thực hành của người cao tuổi đối với sức khoẻ răng miệng

* Đối với các đối tượng còn tự lực trong các sinh hoạt cá nhân

Đánh giá các chương trình can thiệp trên cộng đồng người cao tuổi về giáo dục, mạng lưới cơ sở dịch vụ nha khoa và thực trạng hành vi SKRM qua

số liệu điều tra ở một số quốc gia cho thấy: chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi nói chung đã được quan tâm triển khai, nhưng riêng với SKRM là công việc

mà hầu như mới có rất ít quốc gia thực hiện Ngay tại Mỹ, nước giàu có và dân số già rất đông, nhưng các cơ sở dịch vụ nha khoa vẫn thiếu thốn, chưa thuận lợi và phí tổn chăm sóc chưa hợp lý

* Đối với các đối tượng không thể tự lực được trong các sinh hoạt cá nhân

Những người bị suy nhược hay có những biến chứng do bệnh toàn thân phải nhờ vào sự giúp đỡ (gia đình, điều dưỡng viên tại các trung tâm chăm sóc…) có tình trạng kém hơn nhiều so với người tự lập trong sinh hoạt và việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc cho các đối tượng này thường bị bỏ quên Điều này do thiếu sự giúp đỡ thích hợp của dịch vụ chăm sóc răng miệng cùng với sức khoẻ thể chất hay tâm thần kém

* Một số lý do không đến với dịch vụ răng miệng của các đối tượng nghiên cứu

Để giải thích sự khác nhau giữa yêu cầu chăm sóc răng miệng của bản thân người cao tuổi với nhu cầu thực sự về tình trạng răng miệng của họ, nhiều công trình đã phân tích các yếu tố thực tiễn nhằm đề ra phương hướng, biện pháp tổ chức, phát triển nhân lực, giáo dục nha khoa, chính sách ưu tiên một cách thích hợp để có thể mang lại hiệu quả chăm sóc

Nhiều nghiên cứu đã phỏng vấn lý do tại sao các đối tượng không đến với dịch vụ răng miệng Câu trả lời đa số liên quan tới hiểu biết (họ không biết mình có bệnh) Có một số rào cản khác thuộc về phí tổn khám chữa răng được cho là quá cao, chờ đợi lâu, xa xôi không thuận lợi, tâm lý e ngại sợ nhổ răng đau, lây nhiễm

Trang 22

1.7 Nghiên cứu về bệnh quanh răng ở người cao tuổi trên Thế Giới và Việt Nam

* Ở Việt Nam:

Tại Việt Nam, từ năm 1960 đến nay đã có nhiều công trình điều tra về bệnh quanh răng ở một số địa phương Các kết quả điều tra đều cho thấy bệnh quanh răng chiếm tỷ lệ cao và ở mức báo động [18],[23],[24],[25] Trần Văn Trường và Lâm Ngọc Ấn đã tiến hành điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc qua 2 đợt thì nhận thấy rằng qua 2 lần tỷ lệ bệnh quanh răng của nhóm tuổi >45 tuổi không biến đổi nhiều, đều trên 90% [1]

Về tình hình bệnh tổ chức quanh răng, theo điều tra cơ bản tại khu vực

Hà Nội của Nguyễn Đức Thắng [26] với lứa tuổi 45-64 và cỡ mẫu (n=150) thì

có CPITN 1 tỉ lệ là 1,33% và CPITN 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 64,67%.Nguyễn Văn Cát và Renneberg T và cs (1992) khám 181 người từ 44 đến 64 tuổi không thấy người nào có mô quanh răng lành mạnh, chỉ số CPITN 1 tỉ lệ là 1,2 cao nhất là chỉ số 3 có tỉ lệ 45,8 Theo tác giả Dương Thị Hoài Giang năm

2009 khám trên 303 người từ 60 tuổi trở lên tại Hoàng Mai – Hà Nội thấy tỷ lệ người mắc bệnh quanh răng là 93,1% [17]

* Trên thế giới:

Bảng 1.1: Tình trạng túi lợi ở người cao tuổi của các nghiên cứu trên thế giới

Quốc gia, tác giả Năm Tuổi Người

Túi lợi nông (%)

Túi lợi sâu (%)

Trung bình cao răng

Trung bình túi lợi

Trang 23

Một số điều tra khác như; theo điều tra sức khỏe quốc gia 1971-1974 của Mỹ,tình hình bệnh nha chu theo độ tuổi [30] như sau: với độ tuổi 55-64 (có nam bệnh nha chu chiếm 46,9%, còn nữ chiếm 35,8%) Theo điều tra của P.D.Barnard năm 1988 ở Astraulia [31] thì số trung bình lục phân có số CPITN cao nhất ở lứa tuổi từ 65 tuổi trở lên thì thấy tỷ lệ CPITN 4 chiếm tới 70% Theo Brown và cộng sự 1981 ở Mỹ 65% người lứa tuổi từ 19-65 có túi lợi sâu ≥ 3mm, 28% có túi lợi sâu 4-6mm và 8% có túi lợi sâu > 6mm [33].

1.8 Một số đặc điểm sinh thái của tỉnh Cần Thơ

Thành phố Cần Thơ nằm ở vùng hạ lưu của Sông Mê Kông và ở vị trí trung tâm

đồng bằng châu thổ Sông Cửu Long , nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km, cách thành phố Cà Mau hơn 150 km, cách thành phố Rạch Giá gần 120 km, cách biển khoảng hơn 80 km theo đường nam sông Hậu (quốc lộ 91C).

Cần Thơ có tọa độ địa lý 105013’38" - 105050’35" kinh độ Đông và 9055’08" - 10019’38" vĩ độ Bắc, trải dài trên 60 km dọc bờ Tây sông Hậu Phía bắc giáp tỉnh An Giang , phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long , phía tây giáp tỉnh Kiên Giang , phía nam giáp tỉnh Hậu Giang Diện tích nội thành là 53 km²

Thành phố Cần Thơ có tổng diện tích tự nhiên là 1.409,0 km², chiếm 3,49% diện tích toàn vùng và dân số vào khoảng 1.200.300 người, mật độ dân số tính đến 2011

là 852 người/km² Cần Thơ là thành phố lớn thứ tư của cả nước, cũng là thành phố hiện đại và lớn nhất của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông

Thành phố Cần Thơ có các điểm cực sau:

Cực Bắc là phường Thới Thuận , quận Thốt Nốt

Cực Tây là xã Thạnh Lợi , huyện Vĩnh Thạnh

Cực Nam là xã Trường Xuân A , huyện Thới Lai

Cực Đông là phường Tân Phú , quận Cái Răng

Trang 24

Hình 1.1: Bản đồ tỉnh Cần Thơ[37]

Ngày 26 tháng 11 năm 2003 , Quốc Hội Việt Nam thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11 [16] về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh Theo đó, chia tỉnh Cần Thơ thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang như sau:

Thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương có diện tích tự nhiên là 138.959,99 ha và dân số hiện tại là 1.112.121 ngưười, bao gồm: diện tích và số dân của thành phố Cần Thơ cũ; huyện Ô Môn; huyện Thốt Nốt; một phần của huyện Châu Thành, bao gồm: thị trấn Cái Răng; các ấp Thạnh Mỹ, Thạnh Huề, Thạnh Thắng, Yên Hạ và 176 ha diện tích cùng với 2.216 ngưười của ấp Phú Quới thuộc

xã Đông Thạnh; các ấp Thạnh Hóa, Thạnh Hưưng, Thạnh Thuận, An Hưng, Thạnh Phú, Phú Khánh, Khánh Bình và 254,19 ha diện tích cùng với 1.806 người của ấp Phú Hưng thuộc xã Phú An; các ấp Phú Thành, Phú Thạnh, Phú Thuận, Phú Thuận

A và 304,61 ha diện tích cùng với 1.262 người của ấp Phú Lợi thuộc xã Đông Phú;

Trang 25

một phần của huyện Châu Thành A, bao gồm: xã Trưường Long; xã Nhơn ái; xã Nhơn Nghĩa; ấp Tân Thạnh Đông và 84,7 ha diện tích cùng với 640 người của ấp Tân Thạnh Tây thuộc xã Tân Phú Thạnh.

Tỉnh Hậu Giang có diện tích tự nhiên là 160.772,49 ha và dân số hiện tại là 766.105 người, bao gồm: diện tích và số dân của thị xã Vị Thanh; huyện Phụng Hiệp; huyện Long Mỹ; huyện Vị Thuỷ; phần còn lại của huyện Châu Thành và huyện Châu Thành A, trừ phần diện tích và số dân của hai huyện này đã được điều chỉnh về thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương quy định như trên Tỉnh lỵ tỉnh Hậu Giang đặt tại thị xã Vị Thanh.

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm nghiên cứu

30 xã được chọn ngẫu nhiên ở tỉnh Cần Thơ và Viện đào tạo Răng hàm mặt Đại học Y Hà Nội

2.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 9/2014 đến tháng 9/2015

2.3 Đối tượng nghiên cứu

2.3.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Những người có độ tuổi từ 60 trở lên tại thời điểm điều tra và có khả năng tham gia vào nghiên cứu (trả lời được phỏng vấn và tham gia vào khám răng miệng).

2.3.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Trang 26

* Những người dưới 60 tuổi tại thời điểm điều tra.

* Những người từ 60 tuổi trở lên tại thời điểm điều tra nhưng không trả lời được phỏng vấn, đang mắc bệnh toàn thân cấp tính hoặc có rối loạn tâm thần tại thời điểm điều tra

* Những người đến sinh sống tạm thời trong thời gian ngắn ở địa bàn điều tra

* Những người không hợp tác để khám hoặc phỏng vấn điều tra

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang (kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính)

2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu

* Cỡ mẫu:

DE d

p p Z

n = 2− × −2 ×

2 / 1

) 1

n: Cỡ mẫu nghiên cứu cần có.

p: Tỉ lệ người có bệnh quanh răng ở người cao tuổi, lấy p = 78%

ε: Mức chính xác tương đối, lấy bằng 0,05 của p

α: Mức ý nghĩa thống kê; lấy α = 0,05, nên Z1-α/2= 1,96

DE: Hệ số thiết kế mẫu nghiên cứu, (DE = 1,5).

Áp dụng công thức này, tính được cỡ mẫu cần có trong nghiên cứu là

Trang 27

Bước 3:Chọn đối tượng nghiên cứu: Lên danh sách người cao tuổi trong xã (phường), chọn ngẫu nhiên đơn khoảng 45 người cao tuổi từ danh sách đó.

2.4.3 Kỹ thuật thu thập số liệu

Nghiên cứu sẽ thu thập thông tin qua các kỹ thuật:

* Thăm khám lâm sàng: ở từng đối tượng nghiên cứu, chủ yếu là quan sát

bởi các giác quan bằng nhìn, sờ, gõ răng Thăm khám với sự trợ giúp của các dụng

cụ thăm khám như gương, kẹp nha khoa, thám châm, khay khám và sonde khám nha chu do tổ chức y tế thế giới (WHO) quy định

Trang 28

- Sonde khám nha chu (Periodontal Probe) của WHO:

Đây là dụng cụ thăm khám quanh răng đặc biệt của tổ chức y tế thế giới Mục đích

đo độ sâu của túi lợi, phát hiện cao răng dưới lợi, chảy máu trong và sau khi thăm khám.

Cây thăm dò có tay cầm mảnh, nặng 30 gam, đầu cây thăm dò có hình cầu đường kính 0,5 mm, có đánh dấu vạch màu đen, giới hạn dưới của vạch đen cách đầu tận cùng của cây thăm dò 3,5 mm, giới hạn trên của vạch màu đen cách đầu tận cùng của cây thăm

dò 5,5 mm

Hình 2.1: Sonde khám nha chu của WHO [33].

Hình 2.2: Phần đầu của sonde khám nha chu [33].

Cách sử dụng cây thăm dò:

- Cầm cây thăm dò sao cho trục của cây thăm dò song song với trục của răng được khám, đưa đầu cây thăm dò nhẹ nhàng vào trong túi lợi (giữa khoảng cách răng và lợi) tới

độ sâu nhất định cảm giác được.

- Túi quanh răng:

Trang 29

+ Xác định vị trí của túi quanh răng: Dùng cây thăm dò quanh răng của WHO thăm

ở mặt ngoài và mặt trong của các răng.

+ Đo độ sâu túi quanh răng: Là khoảng cách từ bờ của đường viền lợi tới đáy của túi quanh răng Thăm túi quanh răng ở các mặt răng để xác định vị trí của túi đồng thời đo

và ghi lại chiều sâu của túi Lấy giá trị đo được ở vị trí sâu nhất của túi tương ứng với mỗi mặt răng Mỗi răng đo 2 mặt (trong và ngoài), đo ở tất cả các răng (trừ răng 8).

- Mức mất bám dính quanh răng: Được tính từ chỗ nối men- xương răng tới đáy túi quanh răng Đo ở mặt trong và mặt ngoài của răng và lấy số liệu ở vị trí sâu nhất cho mỗi mặt răng.

- Theo dõi hiện tượng chảy máu lợi trong vòng khoảng 10 giây.

* Phỏng vấn trực tiếp từng đối tượng theo bộ câu hỏi: được xây dựng

theo cấu trúc có sẵn (phụ lục 1).

2.4.4 Chỉ số nghiên cứu chính

a Thông tin chung của bệnh nhân: giới (nam/nữ), nhóm tuổi

(60-64,65-74 và 75+)[40], hiện sống với ai, điều kiện kinh tế, trình độ học vấn

b Các chỉ số chính:

Các tiêu chí được đánh giá, thực hiện theo mẫu điều tra sức khỏe răng miệng cộng đồng của tổ chức y tế thế giới năm 1997 nhưng đi sâu vào các chỉ

số về thực trạng bệnh vùng quanh răng

1 Chỉ số lợi GI (Gingival Index):

Chỉ số đánh giá mắc độ nặng của lợi dựa trên cơ sở màu sắc, trương lực

và chảy máu khi khám

Trang 30

Hình 2.3:Cách dùng sonde khám nha chu [11]

Trang 31

Để đánh giá 3 tiêu chí là: chảy máu lợi, cao răng và túi lợi Dựa trên cơ sở

miệng với hai cung răng được chia thành 6 phần (sextant) lục phân Một vùng chỉ được tính khi còn ≥ 2 răng và các răng này không có chỉ định nhổ

Hình 2.4: Biểu diễn cách chia vùng lục phân [34].

Các răng chỉ định để đánh giá tình trạng viêm nhiễm và mất bám dính quanh răng như sau:

* Tiêu chuẩn :

Mã số 0: Lành mạnh

Mã số 1: Chảy máu lợi trực tiếp hay ngay sau khi thăm khám

Mã số 2: Cao răng trên và dưới lợi phát hiện được trong khi thăm dò nhưng toàn bộ vạch đen của cây thăm dò túi lợi còn nhìn thấy

1

6

5

4 3 2

Trang 32

Mã số 3: Túi lợi sâu 4-5mm,bờ lợi viền răng nằm trong lòng vạch đen của cây thăm dò túi lợi.

Mã số 4: Túi sâu >6 mm,vạch đen của cây thăm khám không nhìn thấy Đánh dấu X vào vùng lục phân bị loại (do hiện có ít hơn 2 răng)

Hình 2.5: Phân loại CPI [32]

Kế hoạch điều trị được dựa vào cơ sở các mã số như:

0 : Không cần điều trị

1 : Cần tăng cường chăm sóc răng miệng tại nhà

2 và 3 : Cần lấy cao răng trên lợi và dưới lợi, tăng cường chăm sóc răng miệng tại nhà

4 : Đòi hỏi điều trị phức tạp hơn như lấy cao răng trên lợi và dưới lợi, làm nhẵn chân răng, tăng cường chăm sóc răng miệng tại nhà và phẫu thuật quanh răng

Chú ý: không được lấy cao răng trước khi đi khám

3 Chỉ số mất bám dính LOA(Loss of Attachment):

Ngày đăng: 12/07/2016, 13:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bản đồ tỉnh Cần Thơ[37] - Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015
Hình 1.1 Bản đồ tỉnh Cần Thơ[37] (Trang 24)
Hình 2.2: Phần đầu của sonde khám nha chu [33]. - Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015
Hình 2.2 Phần đầu của sonde khám nha chu [33] (Trang 28)
Hình 2.1: Sonde khám nha chu của WHO [33]. - Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015
Hình 2.1 Sonde khám nha chu của WHO [33] (Trang 28)
Hình 2.3:Cách dùng sonde khám nha chu [11] - Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015
Hình 2.3 Cách dùng sonde khám nha chu [11] (Trang 30)
Hình 2.4: Biểu diễn cách chia vùng lục phân [34]. - Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015
Hình 2.4 Biểu diễn cách chia vùng lục phân [34] (Trang 31)
Hình 2.5: Phân loại CPI [32] - Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015
Hình 2.5 Phân loại CPI [32] (Trang 32)
Hình 2.7: Cách khám răng chỉ số OHI-S [10]. - Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015
Hình 2.7 Cách khám răng chỉ số OHI-S [10] (Trang 34)
Hình 2.8: Phân loại DI-S,CI-S [33]. - Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015
Hình 2.8 Phân loại DI-S,CI-S [33] (Trang 35)
Bảng 2.2: DI-S và CI-S - Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015
Bảng 2.2 DI-S và CI-S (Trang 36)
Bảng 3.5: Phân bố chỉ số lợi (GI) theo giới. - Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015
Bảng 3.5 Phân bố chỉ số lợi (GI) theo giới (Trang 40)
Bảng 3.7: Phân bố chỉ số lợi (GI) theo nhóm bệnh toàn thân - Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015
Bảng 3.7 Phân bố chỉ số lợi (GI) theo nhóm bệnh toàn thân (Trang 41)
Bảng 3.8: Phân bố chỉ số lợi (GI) theo thói quen chải răng. - Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015
Bảng 3.8 Phân bố chỉ số lợi (GI) theo thói quen chải răng (Trang 42)
Bảng 3.12: Phân bố chỉ số mất bám dính theo nhóm tuổi - Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015
Bảng 3.12 Phân bố chỉ số mất bám dính theo nhóm tuổi (Trang 43)
Bảng 3.16: Phân bố tỷ lệ người có CPITN cao nhất theo hoc vấn - Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015
Bảng 3.16 Phân bố tỷ lệ người có CPITN cao nhất theo hoc vấn (Trang 44)
Bảng 3.19: Thái độ của người cao tuổi khi có vấn đề về răng miệng theo giới - Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố liên quan của người cao tuổi tại tỉnh cần thơ năm 2015
Bảng 3.19 Thái độ của người cao tuổi khi có vấn đề về răng miệng theo giới (Trang 45)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w