Chính vì vậy không những chúng ta cần phải chữa, phòng, tránh bệnh vùng quanh răng mà xa hơn chúng ta cần phải nâng cao nhận thức, thái độ, hànhvi của chính đối tượng cũng như của cộng đ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh quanh răng là một trong những răng miệng phổ biến nhất ở ViệtNam và nhiều nước trên thế giới Tỷ lệ người có bệnh quanh răng ở nước tarất cao, lên tới 96,7% [1], theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm
2001 của Trần Văn Trường và cộng sự Đặc biệt bệnh có tỷ lệ mắc tăng dầntheo tuổi: Số người trên 45 tuổi có ít nhất 3 vùng lục phân lành mạnh chỉchiếm có 5% [1] Khi mà cuộc sống được nâng cao, tuổi thọ tăng thì nước tađang có xu hướng già hóa dân nhanh chóng thì rất cần thiết phải quan tâm tớicăn bệnh này đặc biệt là đối với đối tượng người cao tuổi (NCT) thật sự vôcùng đáng quan tâm
Bệnh vùng quanh răng ảnh hưởng rất nhiều tới chất lượng cuộc sốngnhư hôi miệng, viêm lợi, chảy máu chân răng lung lay răng, và đặc biệt lànguyên nhân hàng đầu gây mất răng ở người cao tuổi Không những ảnhhưởng đến chức năng ăn nhai, thẩm mỹ, phát âm mà còn có thể gây nhiềubiến chứng nặng nề tại chỗ hay toàn thân, thậm chí còn ảnh hưởng đến tínhmạng của người cao tuổi, qua đó làm ảnh hưởng đến sức khoẻ và chất lượngcuộc sống cũng như kinh tế của người bệnh
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, tuổi thọ của con người ngàymột nâng cao, lực lượng NCT ngày một tăng chiếm một lực lượng không hềnhỏ 8 triệu NCT chiếm 9,4% dân số tính tới cuối năm 2010 NCT là vốn quýcủa xã hội, chăm sóc tốt NCT không chỉ là trách nhiệm mà còn thể hiện đạo lý
“Ăn quả nhớ kẻ người trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn” của toàn xã hội nóichung cũng như với mỗi cá nhân, gia đình nói riêng Nhưng thực tế thì ngườicao tuổi thường ít quan tâm tới vấn đề răng miệng hơn so với người trẻ, ở nôngthôn kém hơn thành thị Theo kết quả điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốcnăm 2000 trên 999 người 45 tuổi trở lên thì có tới 55% chưa đi khám răng miệnglần nào [1] Theo Phạm Văn Việt và cộng sự nghiên cứu năm 2004 cho biết tỷ lệ
Trang 2sâu răng của người cao tuổi tại Hà Nội là 55,1%, tỷ lệ mắc bệnh quanh răng là
96,1% [2] Chính vì vậy không những chúng ta cần phải chữa, phòng, tránh
bệnh vùng quanh răng mà xa hơn chúng ta cần phải nâng cao nhận thức, thái
độ, hànhvi của chính đối tượng cũng như của cộng đồng xung quanh thì việcchăm sóc sức khỏe răng miệng sẽ hiệu quả hơn
Thành Phố Cần Thơ là một thành phố trực thuộc trung ương nằm bênhữu ngạn sông Hậu thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long Theo tổng cụcthống kê năm 2013 dân số có 1.222.400 người Tính cho tới nay, tại đây chưa
có một nghiên cứu nào về bệnh vùng quanh răng ở người cao tuổi
Xuất phát từ những vấn đề đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị và mối liên quan với kiến thức, thái độ, hành vi chăm sóc răng miệng của người cao tuổi tại Thành Phố Cần Thơ, năm 2015”, với các mục tiêu sau đây:
1 Mô tả thực trạng bệnh vùng quanh răng, nhu cầu điều trị của người cao
tuổi tại Thành phố Cần Thơ, năm 2015.
2 Phân tích một số mối liên quan giữa thực trạng bệnh vùng quanh răng với
kiến thức, thái độ, hành vi chăm sóc răng miệng ở đối tượng trên.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm giải phẫu vùng quanh răng
1.1.1 Giải phẫu vùng quanh răng
Hình 1.1: Giải phẫu răng và vùng quanh răng [3]
Vùng quanh răng lập thành một bộ phận hình thái và chức năng, cùng vớirăng tạo nên một cơ quan chức năng trong cơ thể, nó bao gồm toàn bộ tổ chức baobọc quanh răng: Lợi, dây chằng quanh răng, xương răng, xương ổ răng, tuầnhoàn và thần kinh vùng quanh răng
Vai trò:
- Nâng đỡ, lưu giữ, dinh dưỡng và cảm giác cho răng
- Là một phần của hệ thống nhai, góp phần vào thực hiện chức năng: ănnhai, phát âm, thẩm mỹ.
1.1.1.1 Lợi
Lợi được chia thành 2 phần: lợi dính và lợi tự do [4]:
Dây chằng quanh răng
Xương răng
Trang 4* Lợi tự do: Gồm nhú lợi và đường viền lợi.
Nhú lợi là phần lợi che kín các kẽ răng Có một nhú phía ngoài, mộtnhú phía trong, giữa hai nhú là một vùng lõm
Đường viền lợi ôm sát cổ răng, và cùng với cổ răng tạo nên một khegọi là rãnh lợi bình thường rãnh sâu 0,5-2mm
Hình thể của nhú lợi và đường viền lợi phụ thuộc hình thể của chânrăng và xương ổ răng, nó còn phụ thuộc vào sự liên quan giữa các răng và vịtrí của răng trên xương hàm
* Lợi dính: là phần lợi bám dính vào chân răng và xương ổ răng Bềrộng của lợi dính có ý nghĩa quan trọng đối với việc giữ cho vùng quanh răngbình thường
- Tổ chức lợi: bao gồm biểu mô và tổ chức đệm
Phủ bề mặt lợi dính và mặt ngoài viền lợi là lớp biểu bì sừng hoá Từsâu ra nông gồm 4 lớp tế bào: TB đáy, TB gai, TB hạt và TB sừng hoá
Phủ mặt trong rãnh lợi là biểu mô không sừng hoá, liên tiếp với phíatrên bởi biểu mô sừng hoá của lợi tự do và phía dưới bởi biểu mô bám dính.Biểu mô bám dính là biểu mô ở đáy rãnh lợi bám dính vào răng Lớp biểu mônày không sừng hoá, không có các lồi ăn sâu vào tổ chức đệm ở dưới, và bámvào men răng, xương răng bởi các bán Desmosom Tổ chức đệm: là tổ chứcliên kết nhiều sợi keo ít sợi chun Những sợi keo xếp thành những bó sợi lớntạo nên hệ thống sợi của lợi, trong đó đáng chú ý là các nhóm sợi răng- lợi,xương ổ răng- lợi và nhóm sợi vòng
1.1.1.2 Dây chằng QR
Dây chằng quanh răng là mô liên kết nối liền răng với xương ổ răng.Dây chằng quanh răng bao gồm các tế bào, sợi liên kết, chất căn bản và mạchmáu, thần kinh [12]
Trang 5Nó giữ răng trong ổ răng và đảm bảo sự liên quan sinh lý giữa răng và
ổ răng nhờ những TB liên kết đặc biệt trong tổ chức dây chằng Bề rộng củadây chằng quanh răng khoảng 0,15- 0,21mm Tuỳ theo sự sắp xếp và hướng
đi của các bó sợi mà người ta phân ra thành 5 nhóm sau:
* Nhóm cổ răng (hay nhóm mào ổ răng): Gồm những bó sợi đi từ màoxương ổ răng đến xương răng gần cổ răng
* Nhóm ngang: Gồm những sợi đi từ xương răng ở chân răng thẳng gócvới trục của răng đến xương ổ răng
* Nhóm chéo: Gồm những bó sợi đi từ xương ổ răng chếch xuống dướiphía chân răng, bám vào xương răng Nhóm này chiếm số lượng nhiều nhấttrong dây chằng QR
* Nhóm cuống răng: Gồm những bó sợi đi từ xương răng ở cuống răng,toả hình nan quạt để đến bám vào xương ổ răng vùng cuống răng
* Nhóm giữa các chân răng: Đối với răng nhiều chân còn có các bó sợi
đi từ kẽ giữa 2 hay 3 chân răng đến bám vào vách xương ổ răng
Trong tổ chức liên kết của dây chằng thường thấy có 3 thành phần là:
TB chất tựa, sợi, chất nền Dây chằng QR cấu tạo bởi những sợi Collagen,những sợi đó lồng vào trong xương răng, chùm lên chân răng giải phẫu và
từ đó chạy vào lá đáy của túi lợi, màng xương phủ huyệt răng và xương ổrăng, xương răng của răng bên cạnh, quan trọng nhất là trực tiếp vào trongxương ổ răng riêng biệt
1.1.1.3 Xương ổ răng
Xương ổ răng là một phần của xương hàm để giữ chân răng gồm có:
* Bản xương: có cấu tạo là xương đặc Bản xương ngoài là xương vỏ ở mặtngoài và mặt trong của xương ổ răng, được màng xương che phủ Còn bản xươngtrong ( gọi là lá sàng ) nằm liền kề với chân răng, có nhiều lỗ thủng (lỗ sàng)
* Xương xốp: nằm giữa hai bản xương trên và giữa các lá sàng [4]
Trang 61.1.1.4 Xương răng
Xương răng được hình thành trong quá trình hình thành chân răng, bọcphần ngà răng ở chân răng Là một dạng đặc biệt của xương, trong đó thànhphần vô cơ và hữu cơ chiếm tỷ lệ ngang nhau, nhưng không có hệ thốngHavers và mạch máu [4]
Xương răng bao phủ chân răng và đi qua phần men răng, phủ trên bềmặt men ở cổ răng Bề dày của xương răng thay đổi theo tuổi, tuỳ vùng vàchức năng, dày nhất là vùng cuống răng, mỏng nhất là vùng cổ răng Zandernghiên cứu và đo bề dày xương răng giữa các vùng khác nhau của chân răng,giữa người già và người trẻ cho thấy: sự đắp dày thêm của xương răng xảy ra
từ từ và đều đặn theo tuổi Ngoài ra còn do các yếu tố khác như: kích thíchcủa quá trình viêm, hoá chất vùng cuống răng và do chuyển hoá
Về cấu trúc, xương răng gồm 2 loại: Xương răng không có tế bào vàxương răng có tế bào Xương răng không có tế bào là lớp đầu tiên được tạo ratrong quá trình tạo ngà ở chân răng, phủ lên chân răng bởi xương răng thứphát (hay xương răng có tế bào) Quá trình tạo xương răng có tế bào nhanh,những tế bào tạo xương răng non bám chắc và giữ lại tới lúc phát sinh lớpxương răng mới và tế bào xương răng được trưởng thành Sự bồi đắp xươngrăng liên tục, suốt đời, ở cuống răng thì nhanh hơn ở cổ răng, những lớp đượcbồi đắp tạo điều kiện cho sự bám chắc của những dây chằng mới giữ cho bềrộng vùng QR, xương răng không bị tiêu sinh lý và thay đổi cấu trúc nhưxương Về mặt chức phận, xương răng tham gia vào sự hình thành hệ thống
cơ học nối liền răng với xương răng, cùng với xương ổ răng giữ bề rộng cầnthiết cho vùng QR, bảo vệ ngà răng và tham gia sửa chữa ở một số trường hợptổn thương ngà chân răng
Trang 71.1.2 Tuần hoàn quanh răng
Răng, dây chằng QR và xương ổ răng thường có một mạch máu nuôidưỡng Mỗi răng và khe QR được nuôi dưỡng bởi một động mạch nhỏ là mộtnhánh của động mạch chính trong xương tới lỗ cuống răng, trước khi vào lỗcuống răng nó tách ra các nhánh vào trong xương ổ răng, một nhánh vào khe
QR nuôi các dây chằng QR Nhánh chính đi vào tuỷ răng qua lỗ cuống răng,động mạch tuỷ răng không có nhánh nối với bên ngoài Còn trong xương ổ răngthì có nhiều mạng nối chằng chịt với nhau, ở vùng dây chằng QR cũng vậy, cónhững nhánh xuyên qua bản xương thành trong huyệt răng nối với mạng lướituần hoàn trong khe QR Tĩnh mạch đi song song với động mạch và đặc biệt làmạng lưới nối tĩnh mạch ở vùng QR tập trung quanh lỗ cuống răng
1.1.3 Thần kinh vùng quanh răng: Có hai loại:
- Các sợi giao cảm chạy song song với mạch máu, điều hoà máu chảytrong các mao mạch
- Các sợi cảm giác hầu hết là các nhánh có Myelin của nhánh II hoặc
nhánh III của dây thần kinh tam thoa.Vùng dây chằng QR giàu mạng lướimạch máu và cũng giàu các sợi cảm giác Người ta tìm thấy có hai loại thầnkinh tận cùng: là có vỏ bọc và không có vỏ bọc ở đầu tận cùng Nhánh tậnđầu tự do đáp ứng với cảm giác đau, trong khi đó đầu có vỏ bọc đáp ứng vớithay đổi áp lực; ở những đầu có vỏ bọc cấu trúc phức tạp hơn nhiều so với ở
da và niêm mạc miệng, hơn nữa phần lớn nó đáp ứng với khả năng nhạy cảmcủa dây chằng quanh răng
1.2 Một số đặc điểm biến đổi sinh lý, bệnh lý vùng quanh răng ở người cao tuổi
1.2.1 Định nghĩa người cao tuổi
Người cao tuổi (NCT) là người từ 60 tuổi trở lên theo quy ước chung củaLiên Hợp Quốc và theo luật người cao tuổi của nước ta (được Quốc hội khóa
Trang 8XII thông qua ngày 23/11/2009, có hiệu lực từ ngày 1/7/2010) Dân số NCT
đã trở thành một trong những vấn đề được coi là quan trọng ở nhiều nướctrong những thập niên qua Tính tới cuối năm 2010, Việt Nam đã có hơn 8triệu NCT (chiếm 9,4% dân số) Số lượng NCT đã tăng lên nhanh chóng,trong khi tỷ lệ hỗ trợ tiềm năng, tỷ lệ giữa dân số độ tuổi lao động và nhữngNCT đang giảm đáng kể Thời gian để Việt Nam chuyển từ giai đoạn “lãohóa” sang một cơ cấu dân số “già” sẽ ngắn hơn và nhanh hơn nhiều so vớinhiều nước phát triển: giai đoạn này khoảng 85 năm ở Thụy Điển, 22 năm ởThái Lan, trong khi dự kiến có chỉ 20 năm cho Việt Nam , từ năm 2011 ViệtNam đã chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số Như vậy cùng với việcnâng cao sức khỏe nói chung thì việc chăm sóc sức khỏe răng miệng chongười cao tuổi rất cần được quan tâm.Trong đó công tác chăm sóc phòngngừa bệnh vùng quanh răng cho người cao tuổi của ngành Răng Hàm Mặt nóiriêng là một nhiệm vụ rất quan trọng
1.2.2 Biến đổi sinh lý chung
Lão hóa đưa đến những thoái triển biến đổi dần và không phục hồi vềhình thái và chức năng ở các cơ quan, khả năng thích nghi với những biến đổicủa môi trường xung quanh ngày càng bị rối loạn [11],[12],[13]
Lão hóa bắt đầu từ da: Da cứng và nhăn nheo, tăng lớp mỡ dưới da ởbụng, ngực, đùi, mông
Tóc chuyển bạc, trước ít và chậm sau nhiều và nhanh hơn
Mắt điều tiết kém đi gây lão hóa và thị lực giảm Thính lực kém đi Hoạt động chức năng các cơ quan, phủ tạng giảm dần, bài tiết dịch vịkém ăn uống kém ngon và chậm tiêu, hoạt động chức năng gan, thận cũnggiảm dần, hệ thống nội tiết yếu đi
Sự thích ứng với những thay đổi ngoại cảnh kém dần như thời tiếtnóng, lạnh Chức năng hô hấp giảm, chức năng tim mạch kém thích ứng vớilao động nặng
Trang 9Giảm khả năng làm việc trí óc, nhanh mệt, tư duy nghèo dần, liêntưởng kém, trí nhớ giảm hay quên, kém nhạy bén, chậm chạp
Thời gian phục hồi vết thương kéo dài, xương dễ gãy do chứng loãngxương Khả năng đáp ứng của cơ thể trước các kháng nguyên ngoại lai, vi khuẩngiảm dễ dẫn đến nhiễm trùng và nổi lên là hiện tượng tự miễn [12]
Tất cả những lão hóa đó là nguyên nhân làm cho sức khỏe người caotuổi giảm sút và hay mắc các bệnh mãn tính và cấp tính
1.2.3 Ảnh hưởng của lão hóa tới mô niêm mạc miệng
mô và mô liên kết bị xẹp xuống làm cho lớp biểu mô dễ bị bong trước.Thờigian thay thế tế bào biểu mô kéo dài số lượng tế bào Langerhans ít đi Vì cácbiến đổi nêu trên, nên bề mặt của niêm mạc miệng kém chịu đựng trước cáckích thích như nóng, lạnh, sức đề kháng với nhiễm trùng giảm đi, niêm mạc
dễ bị tổn thương và khi bị tổn thương thì cũng lâu lành
* Niêm mạc lưỡi:
Các nghiên cứu cho thấy các gai lưỡi có hiện tượng giảm và teo Số gaihình dây của lưỡi giảm làm cho lưỡi có vẻ trơn láng, gai lưỡi hình đài bị teonhiều nhất với số lượng giảm hoặc mất dần các nụ vị giác gây ra những rối loạn
vị giác với các chất ngọt, chua, mặn….Nói chung, niêm mạc lưỡi miệng nhợtnhạt, teo mỏng do giảm chất gian bào, giảm khả năng tăng sinh tế bào và giảmđáp ứng miễn dịch tại chỗ cũng như toàn thân thường thấy ở người cao tuổi
Trang 101.2.4 Ảnh hưởng của lão hóa tới vùng quanh răng
1.2.4.1 Biểu mô lợi
Nhiều nghiên cứu cho thấy sự mỏng đi và giảm sừng hóa của biểu mô lợi
theo tuổi, vì vậy làm tính thấm của biểu mô với kháng nguyên vi khuẩn vàgiảm sức đề kháng với các sang chấn chức năng có thể ảnh hưởng lâu dài đếnvùng quanh răng Ngoài ra, còn có một số thay đổi khác liên quan đến lão hóanhư các gai biểu bì phẳng hơn và thay đổi mật độ tế bào biểu mô
Tụt lợi: đây có thể là hậu quả tích lũy của quá trình viêm hoặc chấn thương
mô quanh răng Cùng với sự tụt lợi, chiều rộng của lợi dính sẽ giảm theo tuổi.Ngoài ra, sự di chuyển của biểu mô nối về phía chóp có thể là hậu quả của sựmọc răng liên tục qua biểu mô lợi trong nỗ lực duy trì mặt phẳng cắn với răngđối diện để thích nghi với sự mòn răng (sự mọc răng thụ động)
1.2.4.2 Mô liên kết lợi
Mô liên kết lợi ngày càng thô hơn và dày đặc hơn theo tuổi, ngoài racòn có sự thay đổi về số lượng và chất lượng sợi collagen Những thay đổinày bao gồm sự tăng tỷ lệ chuyển đổi từ collagen hoàn thành collagen khônghoàn toàn, tăng sức mạnh cơ học và tăng nhiệt độ làm biến tính collagen.Như vậy, có sự tăng tính ổn định của collagen do những thay đổi trong cấutrúc phân tử
Tuy nhiên, tỷ lệ collagen được tổng hợp lại giảm đi theo tuổi
1.2.4.3 Dây chằng nha chu
Những thay đổi trong dây chằng nha chu do lão hóa bao gồm giảm sốlượng nguyên bào sợi và tăng bất thường cấu trúc Ngoài ra, có sự giảm sảnxuất các chất hữu cơ căn bản, ngừng hoạt động các tế bào biểu mô và tăng sốlượng sợi đàn hồi Nhiều kết quả trái chiều đã được ghi nhận về sự thay đổichiều rộng của dây chằng nha chu theo tuổi trong các mẫu vật của người và
Trang 11động vật Một điều chắc chắn là chiều rộng của khoảng quanh răng sẽ giảmnếu răng không được nhai đến (giảm chức năng) hoặc chịu lực nhai quá mức.
Cả hai tình huống trên đều dẫn đến sự mất răng sớm
1.2.4.4 Xương răng
Có sự gia tăng chiều dày xương răng theo tuổi do sự bồi đắp liên tục saukhi mọc răng Sự gia tăng chiều dày này nhiều hơn ở vùng chóp và mặt lưỡi.Khả năng sửa chữa xương răng là hạn chế, những bất thường trên bề mặt xươngrăng như những hõm tiêu xương răng xuất hiện ngày càng nhiều theo tuổi
1.2.4.5 Xương ổ răng
Hình thái lá cứng xương ổ răng thay đổi liên quan với tuổi, có ngàycàng nhiều bất thường trên bề mặt xương ổ răng và giảm số lượng kết nối bấtthường với sợi collagen Ngoài ra, có sự giảm mạch máu trong xương, giảmtrao đổi chất và khả năng tự sữa chữa, tăng quá trình hủy xương và giảm táitạo xương Trong ghép xương đồng loại đông khô khử khoáng, nếu sử dụngvật liệu ghép từ người cho trên 50 tuổi thì khả năng tạo mô xương ít hơn sovới vật liệu lấy từ người cho trẻ hơn
Tuy nhiên, tỷ lệ lành xương (can xương) của xương vùng ổ răng đã nhổkhông liên quan tới tuổi tác Thật vậy, những thành công trong tích hợpxương trong cấy ghép nha khoa dựa trên đáp ứng lành thương ở mọi môxương lành, không liên quan với tuổi tác
Trang 12lớn tuổi Tuy nhiên, cần thận trọng trong việc giải thích kết quả này do sự giatăng của những chủng loại vi khuẩn trên trong miệng của những người lớn tuổi.
Có sự thay đổi một số tác nhân gây bênh nha chu với tuổi tác, đặc biệt là
vai trò ngày càng tăng của Porphyromonas ginggivalis và vai trò ngày càng giảm của Actinobacillus actinomycetemcomitans Tuy nhiên, tác động của lão hóa lên
sự thay đổi sinh thái học vi khuẩn quanh răng vẫn còn chưa thực sự rõ ràng
1.2.5 Ảnh hưởng quá trình lão hóa lên sự tiến triển của bệnh nha chu
Sự nhạy cảm của bệnh nha chu tăng theo tuổi Trong một nghiên cứuthực nghiệm kinh điển về viêm lợi, đối tượng nghiên cứu được loại trừ hoàntoàn mảng bám và viêm bằng các phương pháp làm sạch và điều trị chuyênbiệt Sau đó đối tượng không thực hiện bất kỳ biện pháp vệ sinh răng miệngnào trong thời gian 3 tuần để tạo điều kiện cho viêm lợi phát triển So sánh sựphát triển viêm lợi giữa các cá thể trẻ tuổi và lớn tuổi đã được chứng minhphản ứng viêm mạnh hơn ở những đối tượng nghiên cứu lớn tuổi hơn, kể cảngười và chó Trong nhóm người lớn tuổi hơn (từ 65 đến 80 tuổi), người tanhận thấy khoảng mô liên kết bị thâm nhiễm lớn hơn, gia tăng dịch rỉ viêm vàtăng chỉ số lợi Ngay cả khi các đối tượng đều có tình trạng lợi hoàn toàn bìnhthường trước thử nghiệm, sự khác biệt vẫn có thể tồn tại giữa các nhóm tuổitrong đó những người càng lớn tuổi thì tình trạng viêm càng nhiều Ở ngườicao tuổi, bệnh viêm lợi thường tiến triển thầm lặng dẫn tới viêm quanh răng
và hậu quả là tiêu xương và mất răng
Rõ ràng khi tuổi cao sẽ không tránh khỏi việc gia tăng sự mất môliên kết bám dính Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc vào sự phơi nhiễmvới một số yếu tố gây phá hủy tổ chức quanh răng như: mảng bám, sangchấn cơ học mạn tính do đánh răng, những tác động không mong muốn dothầy thuốc gây ra trong phục hình răng, lấy cao răng, kiểm soát bề mặt
Trang 13chân răng Ảnh hưởng của những phơi nhiễm này đi theo một hướng duynhất là làm gia tăng mất bám dính
Một số nghiên cứu đã được thiết kế để loại bỏ những yếu tố nhiễu vàhướng tới làm rõ câu hỏi tuổi cao có phải là yếu tố nguy cơ của bệnh nha chu(yếu tố nguy cơ được định nghĩa là một phơi nhiễm hoặc tác nhân làm tăngxác suất xảy ra bệnh) Những nghiên cứu này đều cho thấy tác động của tuổitác là không tồn tại hoặc ít có ý nghĩa lâm sàng làm gia tăng sự mất bảo vệvùng nha chu: tỷ suất chênh cuẩ tình trạng vệ sinh răng miệng kém đối vớiviêm quanh răng là 20,52 trong khi tỷ suất chênh của tuổi tác chỉ là 1,24 Nhưvậy, có thể nói tuổi cao không phải là một yêu tố nguy cơ thực sự nhưng lànền tảng hoặc một yếu tố kết hợp của sự phát triển viêm quanh răng
1.3 Phân loại bệnh quanh răng
1.3.1 Phân loại của tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1961
Viêm Lợi:
Viêm lợi loét hoại tử cấp (bệnh vincent)
Viêm lợi cấp không đặc hiệu
- Thể mãn tính:
Viêm lợi mãn tính
Viêm lợi mãn tính phì đại
Viêm quanh răng:
- Viêm quanh răng cấp tính:
Abces quanh răng
Viêm quanh răng loét
- Viêm quanh răng mãn tính:
Viêm quanh răng đơn giản: Tiêu xươngngang mào xương ổ răng
Trang 14 Viêm quanh răng phức tạp: Tiêu xươngkhông đồng đều
1.3.2 Phân loại bệnh quanh răng theo hội nghị quốc tế năm 1999, bao gồm
8 nhóm bệnh dưới đây
Các bệnh lợi
Viêm quanh răng mạn
Viêm quanh răng phá hủy
Viêm quanh răng là biểu lộ các bệnh toàn thân
Các bệnh quanh răng hoại tử
Các apxe vùng quanh răng
Viêm quanh răng do các tổn thương nội nha
Các biến dạng và tình trạng mắc phải hay trong quá trình phát triển
1.4 Hành vi chăm sóc sức khỏe răng miệng
1.4.1 Hành vi sức khỏe
Hành vi sức khỏe bao gồm nhiều hành động chịu ảnh hưởng bởi nhữngyếu tố như di truyền, môi trường kinh tế - xã hội và chính trị Hành vi sứckhỏe có một vai trò vô cùng quan trọng để tạo lập cho sức khỏe mỗi cá nhân
Sự hiểu biết phụ thuộc vào yếu
tố văn hóa, xã hội, kinh tế
Tư duy, lập trường,quan điểm
Các hoạt độngcủa con người
1.4.2 Kiến thức (Knowledge)
Trang 15Kiến thức là sự hiểu biết của con người thường khác nhau và thường bắtnguồn từ kinh nghiệm, vốn sống hoặc của người khác truyền lại Hiểu biết rấtkhó thay đổi khi hiểu biết sai và trở thành định kiến bởi đó là của chủ thể Vìvậy rất cần sự cập nhật về kiến thức sức khỏe răng miệng một cách đúng đắn
để đánh giá trình độ nhận thức của chủ thể với kiến thức chuẩn Kiến thứcphòng bệnh răng rất cần thiết trong phòng tránh bệnh răng miệng
1.4.3 Thái độ (Attitude)
Là tư duy, lập trường, quan điểm của đối tượng đối với một vấn đề Nó
có thể bị ảnh hưởng bởi trình độ văn hóa, điều kiện kinh tế, xã hội, gia đình,khu vực sinh sống Chính vì thái độ ảnh hưởng bởi tính cách của đối tượngnên rất cần sự quan tâm cuẩ cộng đồng đoàn thể và gia đình mới có kết quảtốt trong việc thực hiện chăm sóc sức khỏe một cách tốt nhất được
1.4.4 Hành vi (Practice)
Xuất phát từ những hiểu biết, có kiến thức và thái độ dẫn đến nhữnghành động của đối tượng Kiến thức và thái độ đúng sẽ có hành động đúng vàngược lại
1.5 Vấn đề kiến thức, thái độ và hành vi sức khỏe răng miệng ở người cao tuổi
Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đã được đặc biệt quan tâm ở nước tacũng như nhiều quốc gia trên thế giới, song với việc chăm sóc sức khỏe răngmiệng nói riêng ở người cao tuổi còn ít được quan tâm và triển khai một cách
hệ thống Do sinh ra trong thời gian sự nhận thức về sức khỏe răng miệng cònhạn hẹp nên những người cao tuổi thường thiếu những thông tin cần thiết để
tự chăm sóc bảo vệ sức khỏe răng miệng, bản thân họ cũng không tích cựctrong việc thực hiện các biện pháp vệ sinh răng miệng như: ít chải răng, haythực hiện các thói quen không tốt cho răng miệng như xỉa tăm, đánh cau khô,
ăn trầu, hút thuốc và đặc biệt rất ít khi kiểm tra răng miệng thường xuyên
Trang 16Khi gặp các vấn đề về răng miệng họ cũng ít đi khám nha sĩ hơn nhữngngười trẻ, họ mặc nhiên chấp nhận và chịu đựng đau, hay khó chịu ở vùngrăng miệng…Cũng vì vậy, nguyện vọng của họ thường rất thấp so với nhucầu thực tế cần được chăm sóc, điều trị Đối với một bộ phận những người cósức khỏe yếu hay khuyết tật không độc lập trong sinh hoạt cá nhân thì các vấn
đề trên càng trở nên nặng nề
1.5.1 Đặc điểm chung
Sức khỏe là biểu hiện của nhiều yếu tố tác động, trong đó vấn đề kiếnthức, thái độ và thực hành sức khỏe đóng vai trò cực kì quan trọng, nó có thểthúc đẩy tình trạng sức khỏe tốt lên hay xấu đi
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Kiến thức về chăm sóc sức khỏe răngmiệng ở người cao tuổi chủ yếu là kinh nghiệm tích lũy của bản thân hoặc dongười khác truyền lại, mà trên thực tế theo quan điểm y học hiện đại thì cáckinh nghiệm đó đôi khi đi ngược lại và có thể làm cho tình trạng sức khỏe răngmiệng xấu đi Hơn nữa, kiến thức chăm sóc răng miệng ở người cao tuổi cũngphụ thuộc nhiều yếu tố như: Trình độ văn hóa, nghề nghiệp, mức sống, khu vựcsinh sống, sự tự tìm hiểu của từng cá nhân…Thông thường ý niệm về bệnh tậtchỉ được quan tâm khi có cảm giác đau, thẩm mỹ bị ảnh hưởng, giao tiếp xãhội bị hạn chế Đây là những nhận biết có thể có ở hầu hết người cao tuổi.Nhưng nếu để hiểu nguyên nhân, hậu quả và các biện pháp phòng chống bệnhthì đa số tỏ ra không biết hoặc hiểu sai các kiến thức cơ bản, thông thường.Thực tiễn này đặt ra trách nhiệm cho vấn đề giáo dục nha khoa trong chươngtrình nâng cao hiểu biết đối với sức khỏe răng miệng cho người cao tuổi
Trên cơ sở nhận thức và thái độ có nhiều hạn chế nên thực hành chăm sócsức khỏe răng miệng của người cao tuổi đã thể hiện nhiều yếu tố tiêu cực: Cáchthức vệ sinh răng miệng không tốt, biểu hiện bằng việc ít chải răng và kỹ thuậtchải răng không tốt Họ sử dụng nhiều biện pháp vệ sinh răng miệng không cơ
Trang 17bản và có nhiều thói quen không tốt cho sức khỏe răng miệng Rất ít người cóthói quen đi khám răng miệng định kì để phát hiện và điều trị sớm [21],[14].
1.5.2 Các yếu tố tác động đến kiến thức, thái độ và hành vi chăm sóc sức khỏe răng miệng ở người cao tuổi
Sức khỏe răng miệng người cao tuổi chịu sự tác động của nhiều yếu tố.Nguy cơ ảnh hưởng tới sức khoẻ răng miệng có thể bắt nguồn từ những nguy
cơ nội tại do sự ngấm vôi kém ở men răng, răng mọc lệch lạc, chen chúc…Nguy cơ cũng đến từ các thói quen có hại: Hút thuốc, uống rượu, ăn trầu…Các yếu tố ảnh hưởng khác có thể do trình độ học vấn, mức thu nhập khôngcao, sức khỏe chung yếu, tập quán văn hóa và nhất là yếu tố không đượcchăm sóc bởi các dịch vụ nha khoa Các yếu tố này liên quan chặt chẽ vớinhau và cần được tìm hiểu để đưa ra giải pháp can thiệp hợp lý Nhằm tăngcường nhận thức, thay đổi thái độ, hành vi sức khỏe người cao tuổi, chúng tacần giúp họ loại bỏ những thói quen có hại, giáo dục các đối tượng tự chăm sócsức khỏe răng miệng có khoa học và có ý thức thăm khám răng định kì tại các cơ
sở nha khoa Đây là một quá trình cần có sự tác động nhiều mặt, nhưng ý thứcbản thân luôn luôn là một yếu tốt quyết định quan trọng nhất [22]
1.6 Nghiên cứu về bệnh quanh răng ở người cao tuổi trên Thế Giới và Việt Nam
* Ở Việt Nam:
Tại Việt Nam, từ năm 1960 đến nay đã có nhiều công trình điều tra vềbệnh quanh răng ở một số địa phương Các kết quả điều tra đều cho thấy bệnhquanh răng chiếm tỷ lệ cao và ở mức báo động Trần Văn Trường và LâmNgọc Ấn đã tiến hành điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc qua 2 đợt thìnhận thấy rằng qua 2 lần tỷ lệ bệnh quanh răng của nhóm tuổi >45 tuổi khôngbiến đổi nhiều, đều trên 90% [1]
Trang 18Về tình hình bệnh tổ chức quanh răng, theo điều tra cơ bản tại khu vực
Hà Nội của Nguyễn Đức Thắng [26] với lứa tuổi 45-64 và cỡ mẫu (n=150) thì
có CPITN 1 tỉ lệ là 1,33% và CPITN 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 64,67% NguyễnVăn Cát và Renneberg T và cs (1992) khám 181 người từ 44 đến 64 tuổikhông thấy người nào có mô quanh răng lành mạnh, chỉ số CPITN 1 tỉ lệ là1,2 cao nhất là chỉ số 3 có tỉ lệ 45,8 Theo tác giả Dương Thị Hoài Giang năm
2009 khám trên 303 người từ 60 tuổi trở lên tại Hoàng Mai – Hà Nội thấy tỷ lệ người mắc bệnh quanh răng là 93,1% [17].
* Trên thế giới:
Bảng 1.1: Tình trạng túi lợi ở người cao tuổi của các nghiên cứu trên thế giới
Quốc gia, tác giả Năm Tuổi Người Túi lợi nông
(%)
Túi lợi sâu (%)
Trung bình cao răng
Trung bình túi lợi
Một số điều tra khác như; theo điều tra sức khỏe quốc gia 1971-1974 của
Mỹ, tình hình bệnh nha chu theo độ tuổi như sau: với độ tuổi 55-64 (có nambệnh nha chu chiếm 46,9%, còn nữ chiếm 35,8%) Theo điều tra của P D.Barnard năm 1988 ở Astraulia [31] thì số trung bình lục phân có số CPITNcao nhất ở lứa tuổi từ 65 tuổi trở lên thì thấy tỷ lệ CPITN 4 chiếm tới 70%.Theo Brown và cộng sự 1981 ở Mỹ 65% người lứa tuổi từ 19-65 có túi lợi sâu
≥ 3 mm, 28% có túi lợi sâu 4-6 mm và 8% có túi lợi sâu > 6 mm
1.7 Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành vi chăm sóc sức khỏe răng miệng ở người cao tuổi
Trang 19Qua một số nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng: Những ngườicao tuổi thường không có hiểu biết nhiều về răng miệng Vì vậy, mà việc tựchăm sóc sức khỏe răng miệng ở họ cũng có rất nhiều hạn chế Schwarz E và
Lo E C (1994) phỏng vấn 559 đối tượng tuổi 65-74 ở Hồng Kông cho thấy có
tỉ lệ rất cao về số người không hiểu rõ về sâu răng, viêm lợi [19] Smith J M và
Cs điều tra tại Anh năm 1980 cho thấy 22% người cao tuổi có từ 1-5 năm và26% có từ 6-20 năm không đi khám răng miệng Theo Strayer M S (1993) tại
Mỹ đã có 60% các bang có chương trình giáo dục sức khỏe răng miệng chongười cao tuổi Hầu hết các nghiên cứu đều cho nhận xét là bệnh răng miệng ởngười cao tuổi thường cao hơn các lứa tuổi khác và kiến thức, thái độ và thựchành của họ cũng rất hạn chế Theo điều tra của Rademakers L (tại Hà Lannăm 2008), Carter G và cộng sự (tại Christchurch năm 2004) và Sweeney MP
và cộng sự (tại Glasgow năm 2007) cho kết quả tương tự là người cao tuổi ítquan tâm tới việc chăm sóc răng miệng Thêm vào đó, số lần chăm sóc răngmiệng của người cao tuổi lại không phụ thuộc vào tuổi mà phụ thuộc vào sốrăng hiện có (theo nghiên cứu của Niessen LC tại Mỹ năm 2002) Bệnh răngmiệng của người cao tuổi không phải do cảm nhiễm (susceptibility) mà do quátrình tích lũy bệnh tật theo thời gian sống của họ Người cao tuổi ở vùng nôngthôn và từ 70 tuổi trở lên thường ít quan tâm tới nhu cầu chăm sóc răng miệng
so với nhu cầu thực tế [16]
Ở Việt Nam, theo điều tra của Phạm Văn Việt (1999) tại Hà Nội, trong
556 người ≥ 60 tuổi có gần 90% không hiểu hoặc chỉ biết một phần về vai trò,chức năng răng miệng cũng như bệnh sâu răng và viêm quanh răng, chỉ cómột tỉ lệ rất nhỏ biết về nguy cơ lây nhiễm HIV khi nhổ răng Khi răng miệng
có vấn đề, chỉ có 26,7% tìm đến nha sĩ, chỉ có 20,2% người mất răng cónguyện vọng làm răng giả để thay thế
Trang 20Tại Việt nam, theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2000 thì
tỷ lệ sâu răng ở người trên 45 tuổi là 89,7%, cao nhất trong tất cả các lứa tuổi[13] Kết quả một số nghiên cứu trước đó cho thấy người cao tuổi có hiểu biếthạn chế và ít quan tâm tới việc chăm sóc răng miệng Ví dụ như nghiên cứucủa Phạm văn Việt tại Hà Nội cho kết quả 90% người cao tuổi (từ 60 trở lên)trong diện nghiên cứu không hiểu biết hoặc chỉ hiểu biết một phần về vai trò,chức năng răng miệng cũng như bệnh sâu răng và viêm quanh răng Kết quảđiều tra SKRM toàn quốc năm 2000 trên 999 người độ tuổi từ 45 trở lên cótới 55% chưa đi khám răng miệng lần nào và 12,7% đi khám răng lần cuốicùng trước đó 5 năm
Các bệnh răng miệng không những làm ảnh hưởng tới chức năng ăn nhai,thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe toàn thân, thậm chí nếu không điều trịkịp thời nó còn có thể gây nhiều biến chứng nặng nề tại chỗ hoặc toàn thân
1.8 Một số đặc điểm sinh thái của Thành phố Cần Thơ
Cần Thơ là một thành phố trực thuộc trung ương, nằm bên hữu ngạncủa sông Hậu, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long Đây là một trong
5 thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam
Do nằm cạnh sông lớn, nên Cần Thơ có mạng lưới sông, kênh, rạch kháchằng chịt Vùng tứ giác Long Xuyên, thấp trũng, chịu ảnh hưởng lũ trực tiếphàng năm Đồng bằng châu thổ chịu ảnh hưởng triều cùng lũ cuối vụ
Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ít bão, quanh nămnóng ẩm, không có mùa lạnh Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đếntháng 11, mùakhô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 28 °C,
số giờ nắng trung bình cả năm khoảng 2.249,2h, lượng mưa trung bình nămđạt 1600mm Độ ẩm trung bình năm dao động từ 82% - 87% Do chịu ảnhhưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lợi thế về nền nhiệt độ, chế độ bức xạnhiệt, chế độ nắng cao và ổn định theo hai mùa trong năm
Trang 22Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Những người có độ tuổi từ 60 trở lên tại thời điểm điều tra và có khảnăng tham gia vào nghiên cứu (trả lời được phỏng vấn và tham gia vào khámrăng miệng)
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
* Những người dưới 60 tuổi tại thời điểm điều tra
* Mất răng toàn bộ
* Những người từ 60 tuổi trở lên tại thời điểm điều tra nhưng không trảlời được phỏng vấn, đang mắc bệnh toàn thân cấp tính hoặc có rối loạn tâmthần tại thời điểm điều tra
* Những người đến sinh sống tạm thời trong thời gian ngắn ở địa bànđiều tra
* Những người không hợp tác để khám hoặc phỏng vấn điều tra
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Thành Phố Cần Thơ
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9/2015 tới tháng 10/2016
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu
Trang 23* Cỡ mẫu:
Cỡ mẫu trong nghiên cứu này được tính theo công thức:
* Trong đó:
n: Cỡ mẫu nghiên cứu cần có.
p: Tỉ lệ người có bệnh ở người cao tuổi, lấy p = 78%.(theo đề tài cấp bộ)
: Mức chính xác tương đối, lấy bằng 0,05 của p.
α: Mức ý nghĩa thống kê; lấy α = 0,05, nên Z 1-α/2= 1,96
DE: Hệ số thiết kế mẫu nghiên cứu, (DE = 1,5).
Áp dụng công thức này, tính được cỡ mẫu cần có trong nghiên cứu là
1350 người
Cách chọn mẫu:
Bước 1: Thành phố Cần Thơ, chọn 30 chùm ngẫu nhiên, mỗi chùm là 1
xã (phường)
Bước 2: Chọn đối tượng nghiên cứu: Lên danh sách người cao tuổi trong
xã (phường), chọn ngẫu nhiên đơn khoảng 45 người cao tuổi từ danh sách đó
2.4.3 Kỹ thuật thu thập số liệu
Nghiên cứu sẽ thu thập thông tin qua các kỹ thuật:
* Dụng cụ thăm khám: ở từng đối tượng nghiên cứu, chủ yếu là quan
sát bởi các giác quan bằng nhìn, sờ, gõ răng Thăm khám với sự trợ giúp củacác dụng cụ thăm khám như gương, kẹp nha khoa, thám châm, khay khám vàsonde khám nha chu do tổ chức y tế thế giới (WHO) quy định
- Sonde khám nha chu (Periodontal Probe) của WHO:
Đây là dụng cụ thăm khám quanh răng đặc biệt của tổ chức y tế thếgiới Mục đích đo độ sâu của túi lợi, phát hiện cao răng dưới lợi, chảy máutrong và sau khi thăm khám
n=Z1−α /22 × p(1− p)
d2 ×DE
Trang 24Cây thăm dò có tay cầm mảnh, nặng 30 gam, đầu cây thăm dò có hìnhcầu đường kính 0,5 mm, có đánh dấu vạch màu đen, giới hạn dưới của vạchđen cách đầu tận cùng của cây thăm dò 3,5 mm, giới hạn trên của vạch màuđen cách đầu tận cùng của cây thăm dò 5,5 mm
Hình 2.1: Sonde khám nha chu của WHO [33]
Hình 2.2: Phần đầu của sonde khám nha chu [33]
Cách sử dụng cây thăm dò:
- Cầm cây thăm dò sao cho trục của cây thăm dò song song với trục củarăng được khám, đưa đầu cây thăm dò nhẹ nhàng vào trong túi lợi (giữakhoảng cách răng và lợi) tới độ sâu nhất định cảm giác được
- Túi quanh răng:
+ Xác định vị trí của túi quanh răng: Dùng cây thăm dò quanh răng củaWHO thăm ở mặt ngoài và mặt trong của các răng
+ Đo độ sâu túi quanh răng: Là khoảng cách từ bờ của đường viền lợitới đáy của túi quanh răng Thăm túi quanh răng ở các mặt răng để xác định vị
Trang 25trí của túi đồng thời đo và ghi lại chiều sâu của túi Lấy giá trị đo được ở vị trísâu nhất của túi tương ứng với mỗi mặt răng Mỗi răng đo 2 mặt (trong vàngoài), đo ở tất cả các răng (trừ răng 8).
- Mức mất bám dính quanh răng: Được tính từ chỗ nối men- xươngrăng tới đáy túi quanh răng Đo ở mặt trong và mặt ngoài của răng và lấy sốliệu ở vị trí sâu nhất cho mỗi mặt răng
- Theo dõi hiện tượng chảy máu lợi trong vòng khoảng 10 giây
- Bước 4: Tổ chức phỏng vấn và khám lâm sàng
Chào hỏi, làm quen nhằm tạo không khí cởi mở, gần gũi
Lắng nghe
Phỏng vấn theo bộ câu hỏi của phiếu điều tra
Khám dưới ánh sáng tự nhiên hoặc đèn điện kết hợp dụng cụ khám,gương có đèn
2.4.4 Chỉ số nghiên cứu chính
a Thông tin chung của bệnh nhân: giới (nam/nữ), nhóm tuổi (60-64,
65-74 và 75+) [40], hiện sống với ai, điều kiện kinh tế, trình độ học vấn
b Các chỉ số chính:
Các tiêu chí được đánh giá, thực hiện theo mẫu điều tra sức khỏe răngmiệng cộng đồng của tổ chức y tế thế giới năm 1997 nhưng đi sâu vào các chỉ
số về thực trạng bệnh vùng quanh răng
Trang 26 Chỉ số quanh răng cộng đồng CPITN (Community Periodontal Index
of Treatment Needs).
Để đánh giá 3 tiêu chí là: chảy máu lợi, cao răng và túi lợi
Dựa trên cơ sở miệng với hai cung răng được chia thành 6 phần(sextant) lục phân Một vùng chỉ được tính khi còn ≥ 2 răng và các răng nàykhông có chỉ định nhổ
Hình 2.3: Biểu diễn cách chia vùng lục phân [34]
Các răng chỉ định để đánh giá tình trạng viêm nhiễm và mất bám dínhquanh răng như sau:
* Tiêu chuẩn:
Mã số 0: Lành mạnh
Mã số 1: Chảy máu lợi trực tiếp hay ngay sau khi thăm khám
Mã số 2: Cao răng trên và dưới lợi phát hiện được trong khi thăm dònhưng toàn bộ vạch đen của cây thăm dò túi lợi còn nhìn thấy
1
6
5
4 3 2
Trang 27Mã số 3: Túi lợi sâu 4-5 mm, bờ lợi viền răng nằm trong lòng vạch đencủa cây thăm dò túi lợi.
Mã số 4: Túi sâu > 6 mm, vạch đen của cây thăm khám không nhìn thấy Đánh dấu X vào vùng lục phân bị loại (do hiện có ít hơn 2 răng)
Chú ý: không được lấy cao răng trước khi đi khám
* Phân loại nhu cầu điều trị (TN):
0 = Không cần điều trị (code 0)
I = Hướng dẫn vệ sinh răng miệng (code 1)
II = I + Lấy cao răng và làm nhẵn bề mặt chân răng, loại trừ mảng bám, sửa lại sai sót trong hàn răng và chụp răng (code 2, 3)
III = I + II + Điều trị phức hợp lấy cao răng và làm nhẵn mặt chân răng, nạo mở có tê và phẫu thuật quanh răng (code 4)
2.4.5 Điều tra kiến thức, thái độ, hành vi chăm sóc răng miệng của người cao tuổi bằng phỏng vấn bộ câu hỏi
* Nội dung điều tra:
Những hiểu biết của NCT về bệnh sâu răng và sức khỏe răng miệng
Thái độ của đối tượng trước các vấn đề răng miệng
Thực hành của đối tượng chăm sóc răng miệng
* Tiêu chuẩn đánh giá:
1 Kiến thức: Gồm các kiến thức về sự hiểu biết trong CSSKRM hàng ngày của NCT
Trang 28 Kiến thức kém: Có dưới 3 yếu tố.
2 Thái độ : Thể hiện thái độ của NCT khi có vấn đề răng miệng:
Thái độ quan tâm tốt : Có 4 yếu tố
Thái độ quan tâm trung bình: có 3 yếu tố
Thái độ quan tâm kém: Có dưới 3 yếu tố
- Kiểm tra số liệu
- Vào số liệu: các số liệu được mã hóa được nhập vào máy tính sử dụngphần mềm Epi-data 3.1
- Phân tích số liệu: được thực hiện với phần mềm SSPS 16.0
2.4.7 Các biện pháp hạn chế sai số
- Chọn đối tượng theo đúng tiêu chuẩn nghiên cứu
- Bộ câu hỏi được xây dựng theo mục tiêu, dễ hiểu và thu thập thử đểchỉnh sửa cho rõ ràng, dễ sử dụng và sát với thực tế
- Các định nghĩa được thống nhất trong nhóm nghiên cứu thông qua tậphuấn và sau tiến khi tiến hành thu thập thử
- Người thu thập thông tin phải được tập huấn kỹ mục đích và cách thuthập số liệu
- Phương pháp khám lâm sàng được thống nhất trong nhóm nghiêncứu, sử dụng cùng bộ dụng cụ
2.4.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện khi có sự đồng ý của Hội đồng khoa học,
Hội đồng đạo đức trường Đại học Y Hà Nội
Trang 29- Giải thích rõ cho đối tượng về mục đích của nghiên cứu, trách nhiệm củangười nghiên cứu, trách nhiệm và quyền lợi của người tham gia nghiên cứu.
- Nghiên cứu khi đối tượng hoàn toàn tự nguyện, không ép buộc và trên
tinh thần hợp tác
- Sẵn sàng tư vấn cho đối tượng nếu đối tượng có đề nghị
- Mọi thông tin thu nhập được đảm bảo bí mật cho đối tượng lựa chọn,chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu mà không phục vụ cho bất kỳ mục đíchnào khác
- Nghiên cứu được sự đồng ý và phê duyệt của địa phương và các cấplãnh đạo liên quan
- Kết quả nghiên cứu được phản hồi cho các địa điểm nghiên cứu
Trang 30Chương 3
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng bệnh quanh răng và nhu cầu điều trị
3.1.1 Chỉ số quanh răng cộng đồng CPI:
Bảng 3.1: Phân bố tỷ lệ người có CPI cao nhất theo giới
Trang 31Nữ
Chung