Các nghiên cứu đã phân tích, mô tả nhiều hiện tượng SKRM nổi bật của người cao tuổi: Sâu răng, viêm quanh răng, mòn răng… Sâu răng và viêm quanh răng vẫn luôn được nhắc tới như là 2 bệnh
Trang 1NGUYỄN ĐỨC TÍN
THùC TR¹NG BÖNH S¢U R¡NG Vµ MéT Sè YÕU Tè LI£N QUAN
ë NG¦êI CAO TUæI T¹I KHU VùC N¤NG TH¤N MéT Sè TØNH
PHÝA NAM, VIÖT NAM N¡M 2015
Chuyên ngành: Răng hàm mặt
Mã số: 60720601
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa khọc:
TS TRỊNH THỊ THÁI HÀ
HÀ NỘI – 2015
Trang 3PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Những thập niên gần đây do chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, công tác giáo dục và chăm sóc sức khỏe phát triển dẫn tới tuổi thọ trung bình mỗi người cũng như số lượng và tỷ lệ người cao tuổi tăng nhanh trong cộng đồng dân số.Theo Luật người cao tuổi Việt Nam số 39/2009/QH12 được Quốc hội ban hành ngày 23 tháng 11 năm 2009, những người Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên được gọi là người cao tuổi [1] Tính tới cuối năm 2010, Việt Nam đã có hơn 8 triệu người cao tuổi (chiếm 9,4% dân số), tuổi thọ trung bình là 73 [2] tương đối cao so với các nước đang phát triển Theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (2010) thì tỷ
lệ người cao tuổi so với tổng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, hay dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017.
Đối với người cao tuổi, mọi khả năng thích nghi đối với môi trường sống thường kém đi Họ rất dễ mắc bệnh và có thể mắc nhiều loại bệnh cùng một lúc Những rối loạn ở vùng răng miệng người cao tuổi ngoài đặc điểm chung nêu trên còn có những biểu hiện bệnh lý và rối loạn riêng do cấu trúc
và chức năng chuyên biệt Các nghiên cứu đã phân tích, mô tả nhiều hiện tượng SKRM nổi bật của người cao tuổi: Sâu răng, viêm quanh răng, mòn răng… Sâu răng và viêm quanh răng vẫn luôn được nhắc tới như là 2 bệnh răng miệng phổ biến nhất, đã có nhiều nghiên cứu về tỷ lệ mắc, chẩn đoán, điều trị cũng như các biện pháp dự phòng ngay từ khi mọc răng Theo số liệu điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2001 cho thấy tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn có chiều hướng tăng theo tuổi, tỷ lệ sâu răng của đối tượng
từ 45 tuổi trở lên là 78% [3] Phan Văn Việt năm 2004 đã nghiên cứu trên
850 người cao tuổi ở Hà Nội cho thấy tỷ lệ sâu răng là 55,1%, chỉ số SMT
là 12,6 [4]
Trang 6Nhiều quốc gia trên thế giới đã tiến hành các nghiên cứu cơ bản, ứng dụng, đưa vấn đề răng miệng người cao tuổi thành chuyên khoa sâu, và đã có nhiều đề tài nghiên cứu về răng miệng người cao tuổi.
Tuy nhiên tại Việt Nam, đặc biệt ở các vùng nông thôn các chương trình sức khoẻ răng miệng người cao tuổi còn hạn chế, có ít nghiên cứu và chưa có nhiều hệ thống đào tạo cũng như cơ sở điều trị chuyên biệt Việc đánh giá tình trạng bệnh sâu răng và nhu cầu điều trị bệnh sâu răng mang tính chất chưa hệ thống và thống nhất nên việc đánh giá và so sánh về tình hình, tỉ lệ bệnh răng miệng ở người cao tuổi còn gặp nhiều khó khăn.
Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa trên chúng tôi thực hiện đề tài:
“Thực trạng bệnh sâu răng và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại khu vực nông thôn một số tỉnh thành phía nam, Việt Nam năm 2015” với 2
Trang 7Chương 1
Trang 8TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm cấu tạo tổ chức học của răng
Cấu tạo của răng gồm: men răng, ngà răng, cement và tủy răng
Hình 1.1 Giải phẫu răng [7]
1.1.1 Men răng
Men răng phủ mặt ngoài ngà thân răng, có nguồn gốc từ ngoại bì, là mô cứng nhất trong cơ thể, có tỷ lệ chất vô cơ cao nhất (khoảng 96%) nhiều hơn so với ngà răng và xương răng, chất hữu cơ chiếm 1,7%, nước chiếm 2,3%
Men răng dày mỏng tùy vị trí khác nhau, dày nhất ở núm răng là 1,5mm và mỏng nhất ở vùng cổ răng Ở trạng thái bình thường men răng trong suốt, song men có thể thay đổi màu sắc do một số yếu tố tác động khác, lúc đó men răng có màu vàng nhạt, vàng sẫm, tím xanh,
Hình dáng và bề dày của men được xác định từ trước khi răng mọc ra Trong đời sống, men răng không có sự bồi đắp thêm mà chỉ mòn dần theo tuổi nhưng có sự trao đổi về vật lý và hóa học với môi trường trong miệng
Trang 91.1.2 Ngà răng
Có nguồn gốc từ trung bì, kém cứng hơn men, chứa tỷ lệ chất vô cơ thấp hơn men (70%), chủ yếu là 3[(PO4)2Ca3)2H2O], nước và chất hữu cơ chiếm 30% Trong ngà răng có nhiều ống ngà, chứa đuôi bào tương của nguyên bào ngà Bề dày ngà răng thay đổi trong đời sống do hoạt động của nguyên bào ngà, ngà răng ngày càng dày theo hướng về phía hốc tủy răng, làm hẹp dần ống tủy
Về tổ chức học ngà răng được chia làm hai loại:
Ngà tiên phát: chiếm khối lượng chủ yếu và được tạo nên trong quá trình hình thành răng bao gồm ống ngà, chất giữa ống ngà và dây Tome
- Ống ngà chính: xuất phát từ bề mặt của tủy chạy suốt theo chiều dày của ngà đến đường ranh giới men – ngà
- Ống tủy phụ: là những ống nhỏ của nhánh bên, nhánh tận của ống ngà chính hoặc là những nối giữa các ống ngà chính
Ngà thứ phát: được sinh ra khi răng đã hình thành gồm ngà thứ phát sinh
- Chất giữa ống ngà: được hình thành bởi sự ngấm vôi, thành phần hữu cơ có cấu trúc sợi, chủ yếu là sợi keo sắp xếp thẳng góc với ống ngà
- Dây tome: nằm giữa ống ngà, là đuôi nguyên sinh chất kéo dài của tế bào tạo ngà, nó đảm bảo sự trao đổi chuyển hóa và khả năng tạo ngà
Trang 101.1.3 Tuỷ răng
Là mô liên kết mềm, nằm trong hốc tuỷ gồm tuỷ chân và tủy thân Tuỷ răng trong buồng tủy gọi là tủy thân hoặc tủy buồng, tuỷ răng trong ống tủy gọi là tủy chân Các nguyên bào ngà nằm sát vách hốc tủy
Tuỷ răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng cụ thể là duy trì sự sống của nguyên bào ngà, tạo ngà thứ cấp và nhận cảm giác của răng Trong tủy răng có chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng của thần kinh
1.1.4 Cement chân răng
Là tổ chức canxi hóa bao phủ vùng ngà chân răng bắt đầu từ cổ răng đến chóp chân răng, cấu trúc cement chia làm 2 loại:
• Cement tiên phát: ở sát lớp ngà vùng cổ răng và là loại cement không có tế bào
• Cement thứ phát: có tế bào tạo cement bao phủ vùng ngà 2/3 dưới chân răng và cuống răng Độ dày cement thay đổi chân răng và cuống răng Độ dày của cement thay đổi theo vị trí, tuổi, mỏng nhất cổ răng và dày nhất ở cuống răng
1.2 Đặc điểm sinh lý – bệnh lý người cao tuổi
1.2.1 Biến đổi sinh lý chung
Lão hóa đưa đến những thoái triển biển đổi dần và không phục hồi về hình thái và chức năng ở các cơ quan, khả năng thích nghi với những biến đổi của môi trường xung quanh ngày càng bị rối loạn Quá trình lão hóa bắt đầu từ da, tóc, thị lực và thính lực giảm sút Các hoạt động chức năng cũng giảm và yếu dần đi [8].
Sự thích ứng với những thay đổi với môi trường kém dần, giảm khả năng làm việc trí óc, nhanh mệt, tư duy chậm, thời gian lành thương kéo dài, xương dễ gãy do loãng xương Khả năng đáp ứng của cơ thể trước các kháng nguyên lạ và vi khuẩn kém nên người cao tuổi dễ nhiễm trùng và các hiện tượng tự miễn [38].
Tất cả những lão hóa đó là nguyên nhân làm cho sức khỏe người cao tuổi giảm sút và hay mắc các bệnh cấp và mạn tính.
1.2.2 Biến đổi trên tổ chức học của răng
Biến đổi trên men và ngà răng [8],[38]
Về khối lượng: Mòn mặt nhai tùy theo cá nhân, nhưng tăng lên theo tuổi, thường là mòn không đều tùy theo khớp cắn của từng người Mòn có thể làm
Trang 11mất hết lớp men để lộ ra lớp ngà mà nó nhanh chóng đổi thành màu nâu Mức
độ và tốc độ mòn phụ thuộc vào độ cứng của men ngà, tính chất của thức ăn, yếu tố nghề nghiệp và thói quen nghiến răng Do mòn, nhiều khi mặt nhai trở thành bằng phẳng làm cho khớp cắn mất ổn định và hiệu quả nhai kém Mòn mặt bên làm cho điểm tiếp xúc giữa các răng trở thành diện tiếp xúc kèm theo
sự di lệch gần của răng Mòn mặt bên sẽ làm giảm chiều dài trước sau của cung răng, tạo sự chênh lệch trước sau ở vùng răng hàm và khớp cắn đầu chạm đầu ở phía trước
Về chất lượng: Mô cứng của răng trở nên cứng hơn nhưng khả năng thẩm thấu, chuyển hóa cơ bản của men, ngà đều kém Theo thời gian sống, tỉ lệ chất khoáng và kích thước các tinh thể bề mặt men răng tăng lên Ở người già dây Tome thường ngắn lại, ống Tome bị bịt kín Lòng các ống ngà bị thu hẹp do sự bồi đắp của ngà thứ phát, bị vôi hóa hẹp dần đến tắc lại và ngà trở nên trong được gọi là ngà trong hay ngà xơ hóa Do sự thoái hóa của tủy, tạo ngà bào bị giảm hoặc mất tạo nên một số ống ngà không có dây Tome, ngà
ở đây không có sự chuyển hóa và tạo nên một vùng ngà chết, giảm tạo ngà thứ phát bảo vệ, làm cho răng người già một mặt có khả năng chống đỡ sự tấn công của axit gây sâu răng, mặt khác lại làm giảm khả năng tự bảo vệ của tủy, do ngà khoáng hóa cao về mặt cơ học nên dễ gãy hơn và thường răng bị gãy, vỡ khi có miếng trám to
Biến đổi trên tủy răng
Do có sự hình thành ngà thứ phát sinh lý theo tuổi và ngà thứ phát bệnh
lý do sâu răng, mòn răng, tiêu cổ răng, dẫn tới buồng tủy thu hẹp dần lại Biểu hiện từ mất sừng tủy đến trần buồng tủy thấp xuống, đôi khi sát hoặc chạm sàn buồng tủy trên phim X.quang Ở người trên 50 tuổi thường thấy buồng tủy, ống tủy chân rất hẹp, nhỏ, ống tủy cách cuống răng 4-5mm thường không nhìn thấy và khi điều trị rất khó đi qua
Mật độ tế bào đệm giảm đi, các tế bào thần kinh và mạch máu cũng có những biến đổi tương tự
Trang 121.3 Bệnh sâu răng ở người cao tuổi
1.3.1 Định nghĩa bệnh sâu răng
Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn tổ chức canxi hóa được đặc trưng bởi sự hủy khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần hữu cơ của mô cứng [9].
1.3.2 Bệnh căn bệnh sâu răng
Người ta cho rằng sâu răng là một bệnh đa nguyên nhân, trong đó vi khuẩn đóng vai trò là một nguyên nhân quan trọng đặc biệt là Streptococcus Ngoài vi khuẩn ra, một số điều kiện thuận lợi cho sâu răng phát triển cũng đóng vai trò quan trọng không kém, cụ thể như:
Chế độ ăn uống tạo điều kiện cho sâu răng phát triển: Sự gây ra sâu răng của thức ăn được nhắc đến nhiều nhất là đường, là cơ sở quan trọng để vi khuẩn bám vào đó sinh sôi nảy nở, nhất là ăn nhiều đường, ăn đồ ngọt, không chải răng trước khi đi ngủ sẽ làm môi trường thuận lợi cho vi khuẩn gây sâu răng phát triển
Tình trạng của răng và tổ chức cứng của răng: Khả năng chống sâu của răng tuỳ thuộc vào mức độ khoáng hóa răng, sự sắp xếp răng đều đặn trên cung hàm,
Tình trạng vệ sinh răng miệng không tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển và gây sâu răng
Tình trạng môi trường miệng như: nước bọt, pH…
Nguyên nhân của sâu răng được giải thích bằng sơ đồ WHITE như sau:
Trang 13Hình 1.2 Sơ đồ WHITE (1975) [11]
Với mô hình này, người ta quan tâm đến một số yếu tố sau:
- Răng: ảnh hưởng bởi các yếu tố như tuổi, fluoride, dinh dưỡng…
- Vi khuẩn: đặc biệt là Streptococcus Mutans
- Chất nền: ảnh hưởng bởi yếu tố VSRM, việc sử dụng Fluor, pH, khả năng trung hòa của nước bọt
Sơ đồ WHITE cho thấy có nhiều yếu tố tác động đến việc sâu răng như: hạn chế quá trình hủy khoáng, tăng cường quá trình tái khoáng và có tác dụng bảo vệ răng không bị sâu như nước bọt, khả năng acid của men, các ion F-,
Ca++, pH > 5 và sự trám bít hố rãnh… Với những hiểu biết sâu hơn về cơ chế bệnh sinh của quá trình sâu răng nên trong hai thập kỷ qua con người đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc dự phòng sâu răng cho cộng đồng
1.3.3 Bệnh sinh bệnh sâu răng
Cơ chế bệnh sinh học sâu răng được thể hiện bằng hai quá trình hủy khoáng và tái khoáng Nếu quá trình hủy khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ gây sâu răng [10]
Tóm tắt cơ chế sâu răng như sau:
Sâu răng = Hủy khoáng > Tái khoáng
Trang 14- Mảng bám vi khuẩn;
- Chế độ ăn nhiều đường;
- Nước bọt thiếu hay acid;
- Acid dạ dày tràn lên miệng;
- pH < 5,5
- Nước bọt
- Khả năng kháng acid của men răng
- Fluor có ở bề mặt men răng
- Trám bít hố rãnh
- pH > 5,5
Các yếu tố bảo vệ:
Các yếu tố gây mất ổn định làm sâu răng:
Hình 1.3 Cơ chế gây sâu răng [10]
1.3.4 Các yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng
Sâu răng là một bệnh đa yếu tố, khi xác định có sự xuất hiện, ổn định hay tiến triển của bệnh cần đánh giá mối liên quan của 3 nhóm yếu tố: yếu tố chỉ thị bệnh, yếu tố nguyên nhân và yếu tố bảo vệ [13]
1.3.4.1 Các yếu tố chỉ thị bệnh
Những yếu tố chỉ thị bệnh chỉ quan sát lâm sàng cho thấy hoạt động bệnh trong quá khứ và hiện tại, không cho biết nguyên nhân và cách điều trị bệnh Đó là những triệu chứng: lỗ sâu, đốm trắng đục, thấu quang trên phim X- quang,
Có 4 yếu tố chỉ thị bệnh được nêu ra, bao gồm:
- Đốm trắng đục
- Miếng trám > 3 năm
- Các tổn thương men nhận thấy trên phim X.quang
- Các lỗ sâu ở ngà nhận thấy khi khám hoặc trên phim X- quang
Trang 151.3.4.2 Các yếu tố nguy cơ
Các yếu tố nguy cơ sâu răng là các yếu tố sinh học góp phần nâng cao nguy cơ có tổn thương sâu răng mới trong tương lai hoặc có những tổn thương tiếp tục phát triển
Các yếu tố nguy cơ bao gồm:
- Sự hiện diện vi khuẩn S mutans và Lactobacillus
- Mảng bám,cao răng thấy nhiều trên bề mặt răng
- Thường xuyên ăn vặt trên 3 lần/ ngày giữa các bữa ăn
Các yếu tố được xem là bảo vệ gồm:
- Sống tại vùng có Fluor hóa cho cộng đồng
- Chải răng với kem đánh răng có Fluor ≥ 2 lần/ ngày
- Thường xuyên khám và điều trị nha sỹ 3- 6 tháng/ lần
- Sử dụng thuốc súc miệng có chlorhexidine
- Lưu lượng nước bọt thích hợp trên 1ml khi có kích thích
1.3.5 Một số đặc điểm bệnh sâu răng ở người cao tuổi:
Sâu răng ở người cao tuổi thường tiến triển chậm, triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, khi thăm lỗ sâu thường thấy đáy lỗ sâu có màu nâu sẫm, men bờ
Trang 16lỗ sâu sứt mẻ, bệnh nhân ít ê buốt, tủy thường bị ảnh hưởng chậm nhưng thường là tủy viêm không hồi phục hoặc tủy hoại tử (do không đau nên bệnh nhân thường ít đi khám chữa sớm)
Có thể gặp thể sâu ngừng hoạt động với đáy cứng Theo vị trí, lỗ sâu ít gặp ở mặt nhai, mặt láng, nếu có thường là sâu tái phát xung quanh mối hàn
cũ Thể sâu ở cổ chân răng thường hay gặp ở những răng tụt lợi Mặt xương chân răng thường không nhẵn, tạo điều kiện dễ dàng cho mảng bám hình thành Lỗ sâu chân răng có thể gặp ở mặt ngoài, trong, đặc biệt là mặt bên ngay sát cổ răng Tổn thương phát triển có khuynh hướng lan theo chiều rộng
về phía chân răng và các mặt răng kế cận, không tạo hốc rõ ràng, thường có hiện tượng quá cảm (được gọi là thể sâu răng lan) [7] Người cao tuổi thường
có nhiều chân răng trong miệng do sâu vỡ hết thân răng hay hình ảnh tổn thương sâu cộng với rạn nứt, vi khuẩn chính là Actinomyces và các chủng vi khuẩn khác như S mutans và Lactobacillus [8]
1.3.6 Chẩn đoán bệnh sâu răng
Chẩn đoán sâu menRất khó phát hiện Triệu chứng ban đầu là răng đổi màu dạng đốm trắng trên một vùng có nguy có sâu cao như trên các rãnh kẽ mặt nhai, mặt bên của các răng hàm, lúc này người bệnh chưa cảm thấy gì, lỗ sâu răng chưa có và kích thích do thức ăn nóng, lạnh chưa xảy ra Khi xuất hiện những đốm trắng trên lâm sàng thì sâu răng đã tới đường men ngà
Chẩn đoán sâu ngà
Là sâu răng giai đoạn hình thành lỗ sâu
Dựa vào chiều sâu của lỗ sâu, người ta phân loại sâu ngà răng thành sâu ngà nông (nếu tổn thương sâu dưới 2mm) và sâu ngà sâu nếu tổn thương có chiều sâu từ 2 – 4mm)
Trang 17- Triệu chứng cơ năng: bệnh nhân thường thấy ê buốt khi có các kích thích nóng, lạnh, chua ngọt Hết kích thích, hết ê buốt Bệnh nhân có sâu ngà sâu thì dễ nhạy cảm với các kích thích hơn sâu ngà nông.
- Lâm sàng:
+ Tổn thương có thể gặp ở tất cả các mặt của răng
+ Nhìn thấy có lỗ sâu, đáy gồ ghề, thay đổi màu sắc (màu nâu hoặc đen)
+ Thăm khám bằng thám trâm thấy đáy lỗ sâu mềm, có nhiều ngà mềm, ngà mủn, có dấu hiệu mắc thám trâm Tuy nhiên nếu sâu răng ở giai đoạn ổn định, thăm khám bằng thám trâm thấy đáy lỗ sâu cứng nhưng mắc thám trâm
+ Sử dụng các thử nghiệm tủy: dương tính
-X.quang: dựa vào phim cận chóp để chẩn đoán Phim cận chóp cho phép đánh giá mức độ sâu và khoảng cách từ đáy lỗ sâu với tủy răng để có biện pháp điều trị phù hợp Với những lỗ sâu mặt bên, phim cánh cắn rất có ích trong hỗ trợ chẩn đoán.
Chẩn đoán xác định: dựa vào lâm sàng, X.quang, thử nhiệm tủy dương tính
Chẩn đoán phân biệt sâu răng với:
- Thiểu sản: thường là những vệt mất men dài tạo thành dải, ngấn bậc thang và thường
đi kèm với nhiễm tetracylin.
- Lõm hình chêm: vết lõm thường gặp ở vùng cổ răng, nhẵnbóng và không lắng cặn thức ăn.
- Vết tiền sâu răng: là những đốm trắng nhỏ trên mặt men nhưng chưa tạo lỗ.
- Men răng đổi màu do nhiễm fluor: thường gặp ở một nhóm răng, tạo thành những dải đổi màu, bề mặt men lồi lõm.
- Mòn mặt nhai: thường gặp ở răng hàm, bề mặt nhẵn bóng, đáy cứng không lắng đọng thức ăn
1.4 Tình hình mắc sâu răng và nhu cầu điều trị ở người cao tuổi trong nước và
thế giới
1.4.1 Tình hình thế giới
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ mắc sâu răng ở người cao tuổi là tương đối cao, tỷ lệ khác nhau giữa các quốc gia với các vùng địa lý và điều kiện kinh tế khác nhau Trên
Trang 18thế giới, các nghiên cứu về bệnh sâu răng ở người cao tuổi chưa liên kết thành hệ thống để đánh giá được xu hướng của bệnh này.
Tác giả, Quốc gia Năm Tuổi n
T.số còn răng
Tỷ lệ
% Sâu Mất Trám SMT Châu Âu
Trang 19Cs, Jerysalem Denmark [17]
-Nghiên cứu của WHO trên người độ tuổi từ 65- 74 ở Madagascar 2004, chỉ số DMFT là 20.2, trong đó trung bình sâu răng không được điều trị ở mức cao (DT=5,3), trung bình răng sâu được điều trị rất thấp (FT=0,4) [28] Trung quốc năm 2002 chỉ số DMFT=2,5 [29] Các dữ liệu hiện có trên thế giới cho thấy vấn đề sâu răng là một tình trạng bệnh lý chính ở người cao tuổi và có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố xã hội và hành vi, hầu hết xuất hiện ở người có điều kiện kinh tế thấp và không được tiếp xúc với điều trị nha khoa
Ở các nước đang phát triển, hiện có rất ít các nghiên cứu về thực trạng sâu răng người già.
1.4.2 Tình hình trong nước
Ở Việt Nam, điều tra 1989 – 1990 và năm 2000 trên toàn quốc để đánh giá tình trạng sức khỏe và nhu cầu chăm sóc răng miệng nói chung nhưng chưa cụ thể về nhu cầu của người cao tuổi [37].
- Phạm Văn Việt và cs (2004) cho biết tỷ lệ sâu răng ở người cao tuổi Hà Nội là 55,1%, DMFT là 12,6 [12].
- Trương Mạnh Dũng (2007) nghiên cứu 427 người cao tuổi tại phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội thấy tỷ lệ sâu răng chung là 54,33% trong đó tỷ lệ SMT chung là 11,89% trong đó nhóm tuổi 60- 64 là 8,12%, nhóm tuổi 65- 74 là 11,26%, nhóm tuổi >=75 là 16,31% [6].
- Nguyễn Trà Mi và cs (2012) nghiên cứu trên 133 người cao tuổi gồm 48 nam và 85
nữ ở phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, Hà Nội thấy tỷ lệ SMT trung bình 5,34 ± 6,47 [31].
Bảng 1 Tình hình SMT qua một số nghiên cứu tại Việt Nam
Tác giả ,Quốc gia Năm Tuổi n Tỷ lệ
Nguyễn Võ Duyên Thơ
Và Cs,TP HCM [21]
1992 ≥60 318 96,8 7,90 10,0 0,2 18,10
Trang 20-Các kết quả nghiên cứu đơn lẻ khác tại các vùng miền của Việt Nam đang ở mức cao, nhu cầu điều trị bệnh là lớn Tỷ lệ người cao tuổi mắc bệnh sâu răng và nhu cầu điều trị là rất khác nhau cho các nhóm người cao tuổi Một số yếu tố ảnh hưởng bao gồm: dân tộc, tuổi, giới tính, vùng miền, tình trạng kinh tế, hộ gia đình, trình độ học vấn,…
1.5 Sâu răng ảnh hưởng chất lượng cuộc sống
Răng bị sâu khác với bộ phận khác bị tổn thương, vì đây là một quá trình và là một
bộ phận duy nhất trong cơ thể không có khả năng tự phục hồi, phải chữa trị Thông thường sâu răng phát triển liên tục từ lớp nông đến lớp sâu của răng.
Triệu chứng ban đầu là răng đổi màu, lúc này người bệnh chưa cảm thấy gì, lỗ sâu răng chưa có và kích thích do thức ăn nóng, lạnh chưa xảy ra Một thời gian sau, răng biến đổi sang màu nâu hoặc màu đen Lỗ sâu ở răng xuất hiện, người bệnh cảm thấy khó chịu khi thức ăn giắt vào lỗ sâu, cảm thấy buốt khi ăn thức
ăn nóng, lạnh, đau do thức ăn nóng giắt vào.
Nếu lỗ sâu tiếp tục bị sâu thì phần đáy lỗ bị bong calcium và mềm hoá, nhiễm vào tầng sâu của răng, làm cho bệnh nặng hơn Khi răng đau kéo dài, hoặc mức độ đau gia tăng thì rất có thể tuỷ răng đã bị viêm Bên cạnh đó, khi bị sâu răng, hơi thở của người bệnh còn
có mùi hôi.
1.6 Vài nét khái quát về người cao tuổi và tình hình kinh tế - xã hội miền Nam
Việt Nam
Nam bộ Việt Nam có vị trí địa lý phía tây giáp Vịnh Thái Lan, phía đông
và Đông Nam giáp biển Đông, phía bắc và Tây Bắc giáp Campuchia và một phần phía tây Bắc giáp Nam Trung Bộ
Trang 21Nam Bộ bao gồm 17 tỉnh từ Bình Phước trở xuống phía nam và hai thành phố là Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Cần Thơ.
Gồm 2 tiểu vùng:
Đông Nam Bộ, bao gồm: Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây
Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh
Tây Nam Bộ, bao gồm: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà
Vinh, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, và Thành phố Cần Thơ
Trong đó Thành phố Hồ CHí Minh và thành phố Cần Thơ là các trung tâm chính trị-kinh tế, văn hóa-xã hội của cả vùng
Diện tích (Km2)
Dân số trung bình (Nghìn người)
Mật độ dân số (Người/km2)
Trang 22lệ cao trong cơ cấu kinh tế ngành nghề toàn vùng Cơ cấu số người trong độ tuổi lao động ở khu vực nông thôn có tham gia hoạt động nông nghiệp phân theo mức độ tham gia và địa phương thường cao hơn 75% , thấp nhất là Thành phố Hồ Chí Minh với 68%, cao nhất là Bình Phước với 89% (số liệu của Tổng cục Thống kê -2014)
Về mặt xã hội, Nam bộ còn là khu vực tập trung tương đối cao lượng người cao tuổi còn tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp Xét theo vùng kinh tế - xã hội, người cao tuổi sống nhiều nhất ở hai vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long - những vùng sản xuất nông nghiệp chủ yếu của cả nước Ở Đông Nam bộ và đồng băng Sông Cửu Long lần lượt là 14,92% và 20,95% theo Điều tra Dân số và Nhà ở 2009 Theo khu vực thành thị - nông thôn, số liệu Điều tra mức sống hộ gia đình từ 1992/93 - 2008 cho thấy phần lớn người cao tuổi vẫn sống ở nông thôn dù rằng quá trình đô thị hóa đang diễn
ra nhanh chóng ở Việt Nam Xét theo cơ cấu thu nhập hộ gia đình người cao tuổi, số liệu từ Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2008 cho thấy thu nhập sản xuất nông nghiệp và từ tiền công lao động là thu nhập chủ yếu của hộ gia đình cao tuổi
Trang 23Việt Nam là một trong những quốc gia có thu nhập thấp với 72% dân số sống ở nông thôn [9] Điều kiện để người dân ở nông thôn được tiếp cận và tham gia các chương trình, các dịch vụ y tế-chăm sóc sức khỏe toàn thân nói chung và sức khỏe răng miệng nói riêng còn rất hạn chế Ngoài ra, nguồn lực nha khoa tại Việt Nam cũng thiếu chưa thể nào đáp ứng được với nhu cầu khám và điều trị của nhân dân Hầu hết các nha khoa áp dụng được đặt tại khu vực đô thị và chỉ có vài người dân nông thôn được tiếp cận với các dịch vụ sức khỏe răng miệng [5] Trong năm 2008, dân số ở miền Nam Việt Nam là khoảng
45 triệu trong khi có khoảng 850 bác sĩ răng hàm mặt hoạt động, 400 bác sĩ, và
800 y tá nha khoa trong hệ thống chăm sóc răng miệng của chính phủ Trên trung bình tỷ lệ của các bác sĩ răng hàm mặt so với dân số nói chung trong khu vực này là 1/43,000, dao động từ 1/178,500 ở khu vực nông thôn đến 1/13,400 trong khu vực đô thị Đáng chú ý, trong 156 huyện (trong tổng số 363 huyện) không có bác sĩ răng hàm mặt [5]
Trang 24Chương 2
Trang 25ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu: 2 huyện tại tỉnh Bình Dương và 2 huyện tại thành phố Cần Thơ 2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9/2015 đến tháng 10/2015
2.2 Đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Là người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) sống tại địa bàn 2 huyện tại tỉnh Bình Dương
và 2 huyện tại thành phố Cần Thơ trong thời gian điều tra Hai tỉnh Bình Dương và thành phố Cần Thơ được chọn ngẫu nhiên đại diện cho hai vùng sinh thái Đông và Tây Nam Bộ là một phần trong Nghiên cứu cấp Bộ về thực trạng và nhu cầu điều trị bệnh răng miệng
ở người cao tuổi Việt Nam
- Tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Nhỏ hơn 60 tuổi
- Mất răng toàn bộ
- Không tự nguyện tham gia nghiên cứu.
- Là người không có mặt vào lúc điều tra do các nguyên nhân khác nhau:
+ Người đến sinh sống tạm thời trong thời gian ngắn ở khu vực lấy mẫu + Vắng mặt tại địa bàn trong thời gian thu thập số liệu
+ Đang bị bệnh lý toàn thân cấp tính
- Người không có khả năng hợp tác như tâm thần, câm, điếc,
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Là nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
• Áp dụng công thức [33]
Trang 26- n: Là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu
- p = tỷ lệ mắc sâu răng tại cộng đồng (p=0,78 [3])
- Z 2 (1- α / 2) là hệ số giới hạn tin cậy, với α = 0 05, Z(1-α / 2) = 1,96 tương ứng
với độ tin cậy 95%.
- d = 15% là độ chính xác tuyệt đối giữa tham số mẫu và tham số quần thể.
- DE = 1,5 (do sử dụng kỹ thuật chọn mẫu chùm ngẫu nhiên nên cỡ mẫu cần nhân với hệ số thiết kế mẫu)
Thay vào công thức, cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu là 1350 (người)
2.3.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên đơn, các đối tượng được chọn đại diện cho vùng dân số nông thôn tại hai tỉnh Bình Dương và Cần Thơ Sau đó lên danh sách các người cao tuổi trong xã mời đến trạm y tế xã để phỏng vấn và khám lâm sàng bằng giấy mời thông qua hội người cao tuổi và trạm y tế xã.
2.4 Phương pháp thu thập thông tin
2.4.1 Công cụ thu thập số liệu
Số liệu được thu thập thông qua phiếu khám răng miệng có kết hợp giữa phỏng vấn
và khám lâm sàng với nội dung theo phiếu khám in sẵn Phiếu khám răng miệng gồm 2 phần: phỏng vấn và khám lâm sàng.
• Phỏng vấn bao gồm các nội dung: (Phụ lục phiếu khám răng miệng)
- Thông tin về đối tượng nghiên cứu
- Thông tin về thực trạng kinh tế- xã hội của đối tượng nghiên cứu
- Thông tin về một số yếu tố liên quan với bệnh sâu răng
• Khám lâm sàng:
Dụng cụ: